Thứ tư 23/09/2026 14:13
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Bàn về chi phí tố tụng khác và quyền khởi kiện lại vụ án dân sự

Bài viết tập trung phân tích vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật về việc Tòa án đình chỉ giải quyết vụ án do đương sự không nộp chi phí đo, lập bản vẽ sơ đồ hiện trạng và việc đương sự không có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết lại vụ án dân sự khi đã có quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự đó, từ đó, đưa ra một số đề xuất, kiến nghị liên quan đến các vấn đề này.

Trong đời sống xã hội, khi phát sinh mâu thuẫn, tranh chấp mà các bên không thể tự thương lượng, hòa giải thì việc khởi kiện ra Tòa án là một trong những cách thức phổ biến mà các bên lựa chọn để giải quyết tranh chấp và đây cũng là cơ sở để Tòa án khởi động quy trình tố tụng dân sự. Bằng bản án, quyết định của mình, Tòa án giải quyết nội dung tranh chấp, xác định rõ quyền, nghĩa vụ của các bên trong tranh chấp. Tuy nhiên, trong quá trình thụ lý, xét xử, đã phát sinh không ít những khó khăn, vướng mắc mà trước hết xuất phát từ những quy định của pháp luật còn chưa rõ ràng, chưa có quy định về vấn đề cần giải quyết… Trong phạm vi bài viết này, tác giả chỉ ra một số tồn tại, bất cập của quy định của pháp luật và đề xuất, kiến nghị liên quan đến việc Tòa án đình chỉ giải quyết vụ án do đương sự không nộp chi phí đo, lập bản vẽ sơ đồ hiện trạng và quyền khởi kiện lại vụ án dân sự. Cụ thể:

1. Quy định của pháp luật về việc Tòa án đình chỉ giải quyết vụ án do đương sự không nộp chi phí đo, lập bản vẽ sơ đồ hiện trạng

Để làm rõ quy định này, tác giả đưa ra và phân tích Vụ án dân sự thụ lý số 200/2011/TLST-DS ngày 10/6/2011 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất ” với nội dung cụ thể như sau: Theo Công văn số 1531/UB ngày 12/11/2015 của Ủy ban nhân dân xã X, huyện Y, thành phố Z xác minh nguồn gốc phần đất tranh chấp có 03 căn nhà hiện hữu như sau: 01 căn do ông Trần Văn M quản lý, sử dụng; 01 căn nhà do bà Trần Thị M1 quản lý, sử dụng và 01 căn do bà Trần Thị Mỹ H quản lý, sử dụng phù hợp với biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 19/5/2020 ghi nhận phần đất tranh chấp hiện có 03 căn nhà đã được cấp số nhà và 01 số công trình phụ trên đất. Các đương sự trong vụ án cùng xác nhận phần đất tranh chấp đã thay đổi hiện trạng không phù hợp so với Bản đồ hiện trạng vị trí ngày 26/12/2011 của Trung tâm đo đạc bản đồ, Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố Hồ Chí Minh do Bản đồ hiện trạng vị trí ngày 26/12/2011 không thể hiện 03 căn nhà và một số công trình phụ trên đất tranh chấp. Vì vậy, Tòa án đã ra Thông báo nộp tiền tạm ứng chi phí tố tụng số 77/TB-TA ngày 17/11/2020 yêu cầu nguyên đơn là bà Trần Thị T nộp tiền tạm ứng chi phí thực hiện đo vẽ lại hiện trạng phần tài sản trên phần đất tranh chấp.

Ngày 04/4/2023, Tòa án nhân dân huyện Y ban hành Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự số 124/2023/QĐST-DS với lý do nguyên đơn là bà Trần Thị T không nộp tiền chi phí tố tụng theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và hậu quả của việc đình chỉ giải quyết vụ án là bà Trần Thị T không có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết lại vụ án dân sự đó, nếu việc khởi kiện vụ án sau không có gì khác với vụ án trước về nguyên đơn, bị đơn và quan hệ pháp luật có tranh chấp, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 192, điểm c khoản 1 Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và các trường hợp khác theo quy định của pháp luật.

Ngày 06/4/2023, bà Trần Thị T kháng cáo với lý do: Phần đất tranh chấp của bà đã được Tòa án lập bản vẽ hiện trạng vị trí ngày 26/12/2011, đã tiến hành xem xét, thẩm định tại chỗ nên Tòa án yêu cầu bà T đo vẽ lại là không hợp lý, gây ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của bà, ngoài ra bà đã lớn tuổi (thuộc diện được miễn án phí), không có thu nhập nhưng chi phí đo vẽ là 21.106.206 đồng phải đóng lại quá lớn đối với bà.

Tại Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án số 740/2023/QĐ-PT ngày 17/7/2023 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh nhận định: Chi phí đo, lập bản vẽ hiện trạng đất không phải là chi phí tố tụng khác được quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 217 và Mục 2 (các chi phí tố tụng khác) Chương IX Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 nên cần phải hủy bỏ Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự số 124/2023/QĐST-DS ngày 04/4/2023 của Tòa án nhân dân huyện Y, giao lại hồ sơ cho Tòa án cấp sơ thẩm xem xét, giải quyết vụ án theo thủ tục chung.

Từ ví dụ trên và căn cứ thực tiễn xét xử, có thể thấy, việc đo, lập bản vẽ sơ đồ hiện trạng và thủ tục xem xét, thẩm định tại chỗ có hai quan điểm chính như sau:

Quan điểm thứ nhất cho rằng, việc đo, lập bản vẽ sơ đồ hiện trạng là một phần của thủ tục xem xét, thẩm định tại chỗ được quy định tại Điều 101 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Bởi lẽ, thủ tục xem xét, thẩm định tại chỗ mục đích là để ghi nhận và mô tả đúng tính chất, nội dung hiện trạng của đối tượng tranh chấp, thể hiện hình dạng, kích thước, vị trí, số lượng, chất lượng… được thể hiện chi tiết, đầy đủ, toàn diện trong biên bản để cho người tham gia tố tụng và tiến hành tố tụng có cách nhìn, cách tiếp cận về đối tượng cần xem xét nhằm đưa ra được các quyết định rõ ràng, minh bạch.

Quan điểm thứ hai cho rằng, việc đo, lập bản vẽ sơ đồ hiện trạng và thủ tục xem xét, thẩm định tại chỗ là hai thủ tục tố tụng hoàn toàn khác nhau về trình tự, thủ tục và được thực hiện bởi đơn vị có chức năng chuyên môn theo yêu cầu của đương sự hoặc Tòa án. Ngoài ra, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 cũng không quy định về thủ tục cũng như chi phí đo, lập bản vẽ sơ đồ hiện trạng này.

Tác giả đồng tình với quan điểm thứ nhất rằng, việc đo, lập bản vẽ sơ đồ hiện trạng là một phần của thủ tục xem xét, thẩm định tại chỗ được quy định tại Điều 101 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Bởi lẽ, biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ phải ghi nhận tại thời điểm xem xét, thẩm định tại chỗ đất tranh chấp, các công trình, hiện vật có trên đất tranh chấp có hiện trạng thế nào? Tứ cận, vị trí, tọa độ ra sao? Diện tích là bao nhiêu?… Đó là những thông tin quan trọng để thi hành án nên cần phải được xác định một cách cụ thể, chi tiết và toàn diện nhất được thực hiện bởi đơn vị và bằng thiết bị chuyên môn, mà mắt thường không thể xác định được. Tại thời điểm đó, đơn vị đo, lập bản vẽ sơ đồ hiện trạng cung cấp sơ bộ cho thẩm phán để ghi vào biên bản, rồi sau đó phát hành bản vẽ hiện trạng để người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng đối chiếu bản vẽ và biên bản xem xét, thẩm định để tránh sai sót như tình huống nêu trên. Biên bản phải ghi rõ kết quả xem xét, thẩm định, mô tả rõ hiện trường, có chữ ký của người xem xét, thẩm định và chữ ký hoặc điểm chỉ của đương sự nếu họ có mặt, của đại diện Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc Công an xã, phường, thị trấn hoặc cơ quan, tổ chức nơi có đối tượng được xem xét, thẩm định và những người khác được mời tham gia việc xem xét, thẩm định. Sau khi lập xong biên bản, người xem xét, thẩm định phải yêu cầu đại diện Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc Công an xã, phường, thị trấn hoặc cơ quan, tổ chức nơi có đối tượng được xem xét, thẩm định ký tên và đóng dấu xác nhận. Nếu cho rằng việc đo, lập bản vẽ sơ đồ hiện trạng và thủ tục xem xét, thẩm định tại chỗ là hai thủ tục khác nhau, đương sự chỉ nộp tiền xem xét, thẩm định tại chỗ mà không nộp tiền tạm ứng chi phí đo, lập bản vẽ sơ đồ hiện trạng như vụ án nêu trên thì Tòa án không được đình chỉ giải quyết vụ án theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Nếu tiếp tục giải quyết thì vụ án không đủ căn cứ để tuyên án hoặc tuyên án thông qua các tài liệu, chứng cứ gián tiếp (sổ mục kê, đơn kê khai, giấy tờ chuyển nhượng quyền sử dụng đất, mua bán nhà ở gắn liền với đất, giấy chứng nhận do chế độ cũ cấp...) không đúng với hiện trạng tại thời điểm giải quyết tranh chấp về vị trí ranh giới đất, tọa độ, tứ cận, diện tích nhà đất tranh chấp, sai số lớn so với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án nêu trên, dẫn đến bản án, quyết định thiếu chính xác, khó thi hành án, hoặc bản án, quyết định của Tòa án cấp dưới dễ bị Tòa án cấp trên hủy với lý do cần xác minh, thu thập thêm tài liệu, chứng cứ.

Từ những phân tích nêu trên, tác giả cho rằng, chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ phải bao gồm chi phí chi trả cho đơn vị thực hiện đo, lập bản vẽ sơ đồ hiện trạng. Do đó, khi ra thông báo nộp tiền chí phí xem xét, thẩm định tại chỗ, thẩm phán phải dự trù tổng chi phí bao gồm chi phí đo, lập bản vẽ sơ đồ hiện trạng để yêu cầu đương sự phải nộp và bảo đảm các thủ tục được tiến hành theo đúng quy định của pháp luật.

2. Quy định của pháp luật về quyền khởi kiện lại vụ án dân sự

Chi phí tố tụng là số tiền cần thiết và hợp lý mà đương sự phải nộp theo yêu cầu của Tòa án trước khi thụ lý vụ án, trong quá trình tiến hành tố tụng và kết thúc vụ án chuyển sang giai đoạn thi hành án được pháp luật quy định, nhằm nâng cao tinh thần trách nhiệm của đương sự với yêu cầu khởi kiện của mình. Các chi phí tố tụng bao gồm: (i) Án phí, lệ phí (Điều 1 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án và Mục 1 Chương IX Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015) được thu nhằm mục đích bù đắp một phần chi phí mà Nhà nước đã sử dụng cho hoạt động chung của Tòa án để đáp ứng yêu cầu về quản lý nhà nước, xác lập quyền và nghĩa vụ của người yêu cầu Tòa án giải quyết vụ việc dân sự. (ii) Các chi phí tố tụng khác (Mục 2 Chương IX Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015) là những chi phí không phải là án phí hay lệ phí và chỉ bao gồm các loại chi phí như sau: Chi phí ủy thác tư pháp ra nước ngoài; chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ; chi phí giám định, định giá tài sản; chi phí cho người làm chứng, người phiên dịch; chi phí tố tụng khác do luật khác quy định (Điều 169 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015) được thu nhằm mục đích chi trả cho cá nhân, hội đồng (nhóm người), tổ chức có nhiệm vụ, chức năng chuyên môn thực hiện các thủ tục tố tụng và xác minh, thu thập chứng cứ theo yêu cầu của Tòa án. (iii) Tạm ứng án phí, tạm ứng lệ phí, tạm ứng chi phí tố tụng khác là số tiền mà Tòa án tạm tính, yêu cầu đương sự phải nộp để thực hiện các thủ tục tố tụng như thụ lý, ủy thác tư pháp, định giá… làm căn cứ giải quyết vụ án.

Trường hợp đương sự không nộp hoặc nộp không đủ và đúng thời hạn một trong các tạm ứng chi phí tố tụng này thì theo quy định tại điểm đ, g khoản 1 Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án đều ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự. Tuy nhiên, hậu quả của việc đình chỉ giải quyết vụ án giữa điểm đ và điểm g trong cùng khoản 1 Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 lại có sự khác biệt và ảnh hưởng lớn đến đương sự là đó là quyền khởi kiện lại vụ án. Cụ thể:

Tại khoản 1 Điều 218 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định: “Khi có quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự, đương sự không có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết lại vụ án dân sự đó, nếu việc khởi kiện vụ án sau không có gì khác với vụ án trước về nguyên đơn, bị đơn và quan hệ pháp luật có tranh chấp, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 192, điểm c khoản 1 Điều 217 của Bộ luật này và các trường hợp khác theo quy định của pháp luật”. Theo đó, quyền được khởi kiện lại đối với vụ án đã có quyết định đình chỉ, thuộc các trường hợp được liệt kê như sau: (i) Người khởi kiện đã có đủ năng lực hành vi tố tụng dân sự. (ii) Yêu cầu ly hôn, yêu cầu thay đổi nuôi con, thay đổi mức cấp dưỡng, mức bồi thường thiệt hại, yêu cầu thay đổi người quản lý tài sản, thay đổi người quản lý di sản, thay đổi người giám hộ hoặc vụ án đòi tài sản, đòi tài sản cho thuê, cho mượn, đòi nhà, đòi quyền sử dụng đất cho thuê, cho mượn, cho ở nhờ mà trước đó Tòa án chưa chấp nhận yêu cầu mà theo quy định của pháp luật được quyền khởi kiện lại. (iii) Đã có đủ điều kiện khởi kiện. (iv) Người khởi kiện rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện hoặc nguyên đơn đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt, trừ trường hợp họ đề nghị xét xử vắng mặt hoặc vì sự kiện bất khả kháng, trở ngại khách quan. (v) Các trường hợp khác theo quy định tại khoản 4 Điều 6 và Điều 7 Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/05/2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về việc hướng dẫn một số quy định tại khoản 1 và khoản 3 Điều 192 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 về trả lại đơn khởi kiện, quyền nộp đơn khởi kiện lại vụ án.

Đối với trường hợp (iii) thì tại điểm d khoản 1 và điểm c khoản 3 Điều 192 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 đã cho phép người khởi kiện được quyền khởi kiện lại vụ án khi người khởi kiện không nộp biên lai thu tiền tạm ứng án phí cho Tòa án bởi nhiều lý do, trong đó, đương sự có khó khăn về kinh tế không thể nộp đủ, đúng trong thời hạn 07 ngày, kể từ ngày nhận được giấy báo của Tòa án (khoản 2 Điều 195 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015). Mặt khác, ngày 30/12/2016, Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, bảo đảm công bằng trong tiếp cận công lý đối với cá nhân là người yếu thế thuộc hộ nghèo, cận nghèo; người cao tuổi; người khuyết tật; người có công với cách mạng; đồng bào dân tộc thiểu số ở các xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, người gặp sự kiện bất khả kháng dẫn đến không có đủ tài sản để nộp tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án... Điều này bảo đảm rằng, mọi người đều có cơ hội yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, tăng cường tính dân chủ, công bằng trong xã hội mà không bị hạn chế bởi yếu tố tài chính.

Tuy nhiên, đối với trường hợp đương sự có khó khăn về tài chính như đã nêu trên, vụ án đã được thụ lý nhưng đương sự không thể nộp đủ và đúng thời gian số tiền tạm ứng chi phí định giá tài sản và chi phí tố tụng khác, Tòa án cũng không thể đợi được đến khi đương sự có đủ tiền để nộp vì Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 đã quy định thời hạn giải quyết vụ án và tránh làm ảnh hưởng đến quyền lợi của các đương sự khác. Cho nên, buộc Tòa án phải ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự, trường hợp này, đương sự không có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết lại vụ án dân sự đó, nếu việc khởi kiện vụ án sau không có gì khác với vụ án trước về nguyên đơn, bị đơn và quan hệ pháp luật có tranh chấp theo quy định tại khoản 1 Điều 218 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Tác giả cho rằng, quy định này có mặt hạn chế và chưa hợp lý, bởi số tiền tạm ứng chi phí tố tụng khác buộc phải nộp theo yêu cầu của Tòa án đa phần đều lớn hơn số tiền tạm ứng án phí và số tiền tạm ứng chi phí tố tụng khác này thì không thể được miễn, giảm vì nó khác với mục đích thu chi so với án phí, lệ phí Tòa án. Như vậy, vô hình chung sẽ tạo ra tình trạng không công bằng khi đương sự không thể yêu cầu Tòa án một lần nữa bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của mình và mâu thuẫn với các nguyên tắc quy định tại điều 4, 5, 8, 9 Bộ luật Tố tụng dân sự hướng đến.

Vì vậy, tác giả đề xuất, cần sửa đổi, bổ sung quy định tại khoản 1 Điều 218 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 về hậu quả của việc đình chỉ giải quyết vụ án dân sự như sau: Khi có quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự, đương sự không có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết lại vụ án dân sự đó, nếu việc khởi kiện vụ án sau không có gì khác với vụ án trước về nguyên đơn, bị đơn và quan hệ pháp luật có tranh chấp, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 192, điểm c, đ khoản 1 Điều 217 của Bộ luật này và các trường hợp khác theo quy định của pháp luật.

ThS. Lê Đức Anh

Tòa Dân sự, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh

(Ảnh: Internet)

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 1 (Số 390), tháng 10/2023)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2026 được ban hành với nhiều điểm mới nhằm khắc phục những khó khăn, vướng mắc của Luật hiện hành; đổi mới hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật theo hướng lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm; bảo đảm quyền tiếp cận pháp luật, quyền tham gia góp ý, phản ánh, kiến nghị về chính sách, pháp luật; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo; đồng thời góp phần xây dựng văn hóa thượng tôn pháp luật và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chủ trương khởi nghiệp sáng tạo tại Việt Nam được Đảng và Nhà nước nhận thức, định hướng trong sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư khi nền sản xuất toàn cầu có sự kết hợp của các công nghệ hiện đại như trí tuệ nhân tạo, Internet of Things (IoT), robot tự động, dữ liệu lớn và nhiều công nghệ tiên tiến khác. Để thúc đẩy, tạo động lực cho cá nhân, tổ chức phát huy đam mê khởi nghiệp sáng tạo, tối đa hóa năng lực, nguồn lực, cống hiến trí tuệ cho sự phát triển chung của đất nước, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế- xã hội, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã từng bước đề ra chủ trương, chính sách pháp luật, chiến lược lâu dài nhằm kiến tạo hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo. Từ định hướng chiến lược tại Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân, đến việc thể chế hóa chủ trương của Đảng trong Luật Khoa học, Công nghệ và đổi mới sáng tạo năm 2025 và Chính phủ cụ thể hóa thông qua Nghị quyết số 86/NQ-CP ban hành Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo. Những chủ trương, chính sách đã góp phần thúc đẩy khởi nghiệp sáng tạo trong hệ thống kinh tế tư nhân trở thành một động lực phát triển quan trọng của đất nước trong kỷ nguyên số.
Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô số 02/2026/QH16 được Quốc hội khóa XVI thông qua ngày 23/4/2026, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026, thay thế Luật Thủ đô số 39/2024/QH15. Với 09 chương, 36 điều, Luật Thủ đô năm 2026 tiếp tục thể chế hóa chủ trương xây dựng Thủ đô Hà Nội trở thành trung tâm chính trị, hành chính quốc gia, trung tâm lớn về kinh tế, văn hóa, khoa học, giáo dục, đào tạo và đổi mới sáng tạo; đồng thời tạo dựng một không gian pháp lý mới với mức độ phân quyền, phân cấp và trao quyền mạnh mẽ hơn cho Thành phố.
Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Tại Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI đã thông qua Luật Phát triển đô thị số 18/2026/QH16, Luật có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/10/2026. Luật được kết cấu gồm 05 chương, 66 điều quy định các cơ chế, chính sách nhằm tạo lập hành lang pháp lý ổn định, đồng bộ, đột phá và khả thi để thúc đẩy phát triển Thành phố Hồ Chí Minh, phát triển đô thị đặc biệt khác, thành phố khác và khu kinh tế đặc biệt; bảo đảm cơ sở pháp lý cho việc áp dụng các cơ chế, chính sách đặc thù, vượt trội phù hợp với điều kiện, yêu cầu phát triển và năng lực thực thi của từng địa phương; qua đó khai thác hiệu quả tiềm năng, lợi thế, tạo không gian phát triển mới, thu hút nguồn lực đầu tư chất lượng cao và hình thành các động lực tăng trưởng mới.
Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Trên cơ sở kế thừa những quy định của Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013 đã được thực tiễn chứng minh là phù hợp, Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026 đồng thời bổ sung nhiều quy định để tháo gỡ những vướng mắc, bất cập, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, tạo cơ sở pháp lý đầy đủ, đồng bộ cho công tác hòa giải ở cơ sở.
Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chuyển đổi số trong hoạt động ngân hàng đã làm thay đổi căn bản phương thức xác lập và thực hiện các hợp đồng, giao dịch. Nhiều giao dịch được thực hiện hoàn toàn trên môi trường điện tử thông qua Internet Banking, Mobile Banking, eKYC, chữ ký điện tử, xác thực OTP và các hệ thống ngân hàng lõi (Core Banking). Khi phát sinh tranh chấp, chứng cứ không chỉ là hồ sơ giấy mà còn là dữ liệu điện tử được lưu giữ trên các hệ thống thông tin của ngân hàng và của khách hàng. Mặc dù Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015) và Luật Giao dịch điện tử năm 2023 đã thiết lập cơ sở pháp lý quan trọng cho việc thừa nhận dữ liệu điện tử là nguồn chứng cứ. Tuy nhiên, việc xác định giá trị chứng minh của loại chứng cứ này vẫn còn nhiều khoảng trống cần tiếp tục hoàn thiện.
Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Ngày 25/6/2025, Quốc hội khóa XV đã thông qua Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 (Luật số 89/2025/QH15) đánh dấu bước quan trọng trong tư duy lập pháp, quản lý của Nhà nước đối với hệ thống ngân sách nhà nước, đáp ứng yêu cầu tổ chức mô hình chính quyền địa phương hai cấp trên phạm vi toàn quốc. Bài viết đề cập nội dung của Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 gắn với việc tổ chức mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, làm rõ những kết quả từ việc sửa đổi Luật phù hợp với thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội, tổ chức bộ máy hành chính hiện nay.
THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

Trong cấu trúc an ninh phi truyền thống hiện đại, an ninh năng lượng đóng vai trò là “mạch máu” sống còn, quyết định sức bền kinh tế và vị thế quốc gia. Bước vào giai đoạn 2026 - 2030, trước yêu cầu bứt phá tăng trưởng GDP ở mức hai con số gắn liền với cam kết lịch sử phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050, Việt Nam đứng trước bài toán vừa bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng trước biến động địa chính trị toàn cầu, vừa chủ động chuyển dịch năng lượng xanh theo chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước.
Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp, cải cách thủ tục hành chính tiếp tục được đẩy mạnh gắn với chuyển đổi số, phân cấp, phân quyền và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Kết quả thực hiện trong tháng 8/2026 cho thấy nhiều chuyển biến tích cực, đồng thời đặt ra yêu cầu tiếp tục đồng bộ dữ liệu, hoàn thiện quy trình và nâng cao hiệu quả phối hợp trong cải cách thủ tục hành chính.
Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp về tình hình, kết quả cải cách thủ tục hành chính (TTHC) tháng 8 và nhiệm vụ trọng tâm tháng 9/2026, cải cách TTHC đang chuyển sang một giai đoạn mới, trong đó dữ liệu và công nghệ số ngày càng giữ vai trò quan trọng trong quản trị và tổ chức thực hiện. Việc khai thác, kết nối, chia sẻ dữ liệu để tái cấu trúc quy trình, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục đang từng bước làm thay đổi phương thức quản lý, hướng tới nền hành chính hiện đại, hiệu quả, phục vụ tốt hơn người dân và doanh nghiệp.
Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bài viết phân tích yêu cầu tái cấu trúc phương thức bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong điều kiện tiếp tục tinh gọn tổ chức bộ máy và đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia. Từ cách tiếp cận hệ thống, bài viết làm rõ sự dịch chuyển từ bảo vệ bằng tuyên truyền tuyến tính sang bảo vệ bằng năng lực thể chế hóa, năng lực quản trị và hiệu quả tổ chức thực hiện; đồng thời phân tích vai trò của Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 66-NQ/TW) và Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 57-NQ/TW) như hai trục lớn của quá trình tái cấu trúc này. Trên cơ sở đó, bài viết khảo sát thực tiễn thi hành án dân sự, qua đó cho thấy “gọn hơn về tổ chức, mạnh hơn về quản trị” không chỉ là yêu cầu cải cách hành chính, mà còn là một phương thức củng cố niềm tin của Nhân dân vào hệ thống chính trị.
THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả không chỉ là giảm bớt hóa đơn tiền điện, mà còn trở thành “chìa khóa” bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, bảo vệ môi trường và hướng tới tăng trưởng xanh. Đứng trước những biến động phức tạp của chuỗi cung ứng toàn cầu, sự ra đời của các văn bản chỉ đạo chiến lược như Chỉ thị số 09/CT-TTg, Chỉ thị số 10/CT-TTg và Công điện số 27/CĐ-TTg từ Chính phủ đang tạo ra những bước ngoặt lớn. Cuộc cách mạng này đòi hỏi sự đồng bộ từ hoàn thiện hành lang pháp lý, đổi mới công nghệ, đến sự thay đổi tư duy và hành động của mỗi người dân, doanh nghiệp.
“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 2)

“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 2)

Du lịch xanh, du lịch bền vững đã trở thành xu hướng phổ biến tại Việt Nam, nhưng để tiến tới mục tiêu "du lịch Net Zero", ngành Du lịch cần có nhiều thay đổi theo chiều sâu: từ việc xây dựng những sản phẩm xanh sang xây dựng những doanh nghiệp lữ hành thực sự bền vững. Đây là cả một quá trình bởi phát triển "du lịch Net Zero" không chỉ liên quan đến môi trường mà còn đòi hỏi sự thay đổi đồng bộ về mô hình kinh doanh, sản phẩm, công nghệ, nhân lực, quan hệ với cộng đồng và cách thức ứng xử với các giá trị văn hóa.
“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 1)

“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 1)

Du lịch Việt Nam đang đứng trước một giai đoạn phát triển mới, trong đó yêu cầu tăng trưởng không thể tách rời nhiệm vụ bảo tồn và phát huy những giá trị làm nên bản sắc dân tộc. Nếu thiên nhiên tạo nên diện mạo của đất nước thì văn hóa chính là chiều sâu, là ký ức, là “hồn cốt” để Việt Nam trở thành một điểm đến khác biệt trong mắt du khách trong nước và quốc tế. Bởi vậy, phát triển du lịch hôm nay không chỉ là câu chuyện về lượng khách, doanh thu hay số lượng cơ sở lưu trú, mà còn là câu chuyện về cách gìn giữ di sản, bảo vệ cảnh quan, duy trì lối sống cộng đồng và trao truyền những giá trị văn hóa Việt Nam cho các thế hệ mai sau. Trong câu chuyện đó, doanh nghiệp lữ hành đóng vai trò trung tâm, là “cầu nối” đưa văn hoá Việt Nam đến với du khách.
Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Trong bối cảnh tai nạn lao động vẫn diễn biến phức tạp, chuyển đổi số đang mở ra khả năng thay đổi căn bản phương thức quản trị an toàn, vệ sinh lao động (ATVSLĐ) tại doanh nghiệp. Từ số hóa hoạt động huấn luyện, cấp chứng nhận điện tử đến ứng dụng trí tuệ nhân tạo, cảm biến và robot để nhận diện, cảnh báo sớm nguy cơ, vấn đề đặt ra hiện nay là cần tiếp tục hoàn thiện hành lang pháp lý để chuyển từ quản lý mang tính thủ tục, hậu kiểm sang quản trị chủ động, lấy phòng ngừa rủi ro làm trọng tâm.

Theo dõi chúng tôi trên: