Thứ tư 11/03/2026 13:37
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Bàn về chi phí tố tụng khác và quyền khởi kiện lại vụ án dân sự

Bài viết tập trung phân tích vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật về việc Tòa án đình chỉ giải quyết vụ án do đương sự không nộp chi phí đo, lập bản vẽ sơ đồ hiện trạng và việc đương sự không có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết lại vụ án dân sự khi đã có quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự đó, từ đó, đưa ra một số đề xuất, kiến nghị liên quan đến các vấn đề này.

Trong đời sống xã hội, khi phát sinh mâu thuẫn, tranh chấp mà các bên không thể tự thương lượng, hòa giải thì việc khởi kiện ra Tòa án là một trong những cách thức phổ biến mà các bên lựa chọn để giải quyết tranh chấp và đây cũng là cơ sở để Tòa án khởi động quy trình tố tụng dân sự. Bằng bản án, quyết định của mình, Tòa án giải quyết nội dung tranh chấp, xác định rõ quyền, nghĩa vụ của các bên trong tranh chấp. Tuy nhiên, trong quá trình thụ lý, xét xử, đã phát sinh không ít những khó khăn, vướng mắc mà trước hết xuất phát từ những quy định của pháp luật còn chưa rõ ràng, chưa có quy định về vấn đề cần giải quyết… Trong phạm vi bài viết này, tác giả chỉ ra một số tồn tại, bất cập của quy định của pháp luật và đề xuất, kiến nghị liên quan đến việc Tòa án đình chỉ giải quyết vụ án do đương sự không nộp chi phí đo, lập bản vẽ sơ đồ hiện trạng và quyền khởi kiện lại vụ án dân sự. Cụ thể:

1. Quy định của pháp luật về việc Tòa án đình chỉ giải quyết vụ án do đương sự không nộp chi phí đo, lập bản vẽ sơ đồ hiện trạng

Để làm rõ quy định này, tác giả đưa ra và phân tích Vụ án dân sự thụ lý số 200/2011/TLST-DS ngày 10/6/2011 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất ” với nội dung cụ thể như sau: Theo Công văn số 1531/UB ngày 12/11/2015 của Ủy ban nhân dân xã X, huyện Y, thành phố Z xác minh nguồn gốc phần đất tranh chấp có 03 căn nhà hiện hữu như sau: 01 căn do ông Trần Văn M quản lý, sử dụng; 01 căn nhà do bà Trần Thị M1 quản lý, sử dụng và 01 căn do bà Trần Thị Mỹ H quản lý, sử dụng phù hợp với biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 19/5/2020 ghi nhận phần đất tranh chấp hiện có 03 căn nhà đã được cấp số nhà và 01 số công trình phụ trên đất. Các đương sự trong vụ án cùng xác nhận phần đất tranh chấp đã thay đổi hiện trạng không phù hợp so với Bản đồ hiện trạng vị trí ngày 26/12/2011 của Trung tâm đo đạc bản đồ, Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố Hồ Chí Minh do Bản đồ hiện trạng vị trí ngày 26/12/2011 không thể hiện 03 căn nhà và một số công trình phụ trên đất tranh chấp. Vì vậy, Tòa án đã ra Thông báo nộp tiền tạm ứng chi phí tố tụng số 77/TB-TA ngày 17/11/2020 yêu cầu nguyên đơn là bà Trần Thị T nộp tiền tạm ứng chi phí thực hiện đo vẽ lại hiện trạng phần tài sản trên phần đất tranh chấp.

Ngày 04/4/2023, Tòa án nhân dân huyện Y ban hành Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự số 124/2023/QĐST-DS với lý do nguyên đơn là bà Trần Thị T không nộp tiền chi phí tố tụng theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và hậu quả của việc đình chỉ giải quyết vụ án là bà Trần Thị T không có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết lại vụ án dân sự đó, nếu việc khởi kiện vụ án sau không có gì khác với vụ án trước về nguyên đơn, bị đơn và quan hệ pháp luật có tranh chấp, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 192, điểm c khoản 1 Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và các trường hợp khác theo quy định của pháp luật.

Ngày 06/4/2023, bà Trần Thị T kháng cáo với lý do: Phần đất tranh chấp của bà đã được Tòa án lập bản vẽ hiện trạng vị trí ngày 26/12/2011, đã tiến hành xem xét, thẩm định tại chỗ nên Tòa án yêu cầu bà T đo vẽ lại là không hợp lý, gây ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của bà, ngoài ra bà đã lớn tuổi (thuộc diện được miễn án phí), không có thu nhập nhưng chi phí đo vẽ là 21.106.206 đồng phải đóng lại quá lớn đối với bà.

Tại Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án số 740/2023/QĐ-PT ngày 17/7/2023 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh nhận định: Chi phí đo, lập bản vẽ hiện trạng đất không phải là chi phí tố tụng khác được quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 217 và Mục 2 (các chi phí tố tụng khác) Chương IX Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 nên cần phải hủy bỏ Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự số 124/2023/QĐST-DS ngày 04/4/2023 của Tòa án nhân dân huyện Y, giao lại hồ sơ cho Tòa án cấp sơ thẩm xem xét, giải quyết vụ án theo thủ tục chung.

Từ ví dụ trên và căn cứ thực tiễn xét xử, có thể thấy, việc đo, lập bản vẽ sơ đồ hiện trạng và thủ tục xem xét, thẩm định tại chỗ có hai quan điểm chính như sau:

Quan điểm thứ nhất cho rằng, việc đo, lập bản vẽ sơ đồ hiện trạng là một phần của thủ tục xem xét, thẩm định tại chỗ được quy định tại Điều 101 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Bởi lẽ, thủ tục xem xét, thẩm định tại chỗ mục đích là để ghi nhận và mô tả đúng tính chất, nội dung hiện trạng của đối tượng tranh chấp, thể hiện hình dạng, kích thước, vị trí, số lượng, chất lượng… được thể hiện chi tiết, đầy đủ, toàn diện trong biên bản để cho người tham gia tố tụng và tiến hành tố tụng có cách nhìn, cách tiếp cận về đối tượng cần xem xét nhằm đưa ra được các quyết định rõ ràng, minh bạch.

Quan điểm thứ hai cho rằng, việc đo, lập bản vẽ sơ đồ hiện trạng và thủ tục xem xét, thẩm định tại chỗ là hai thủ tục tố tụng hoàn toàn khác nhau về trình tự, thủ tục và được thực hiện bởi đơn vị có chức năng chuyên môn theo yêu cầu của đương sự hoặc Tòa án. Ngoài ra, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 cũng không quy định về thủ tục cũng như chi phí đo, lập bản vẽ sơ đồ hiện trạng này.

Tác giả đồng tình với quan điểm thứ nhất rằng, việc đo, lập bản vẽ sơ đồ hiện trạng là một phần của thủ tục xem xét, thẩm định tại chỗ được quy định tại Điều 101 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Bởi lẽ, biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ phải ghi nhận tại thời điểm xem xét, thẩm định tại chỗ đất tranh chấp, các công trình, hiện vật có trên đất tranh chấp có hiện trạng thế nào? Tứ cận, vị trí, tọa độ ra sao? Diện tích là bao nhiêu?… Đó là những thông tin quan trọng để thi hành án nên cần phải được xác định một cách cụ thể, chi tiết và toàn diện nhất được thực hiện bởi đơn vị và bằng thiết bị chuyên môn, mà mắt thường không thể xác định được. Tại thời điểm đó, đơn vị đo, lập bản vẽ sơ đồ hiện trạng cung cấp sơ bộ cho thẩm phán để ghi vào biên bản, rồi sau đó phát hành bản vẽ hiện trạng để người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng đối chiếu bản vẽ và biên bản xem xét, thẩm định để tránh sai sót như tình huống nêu trên. Biên bản phải ghi rõ kết quả xem xét, thẩm định, mô tả rõ hiện trường, có chữ ký của người xem xét, thẩm định và chữ ký hoặc điểm chỉ của đương sự nếu họ có mặt, của đại diện Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc Công an xã, phường, thị trấn hoặc cơ quan, tổ chức nơi có đối tượng được xem xét, thẩm định và những người khác được mời tham gia việc xem xét, thẩm định. Sau khi lập xong biên bản, người xem xét, thẩm định phải yêu cầu đại diện Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc Công an xã, phường, thị trấn hoặc cơ quan, tổ chức nơi có đối tượng được xem xét, thẩm định ký tên và đóng dấu xác nhận. Nếu cho rằng việc đo, lập bản vẽ sơ đồ hiện trạng và thủ tục xem xét, thẩm định tại chỗ là hai thủ tục khác nhau, đương sự chỉ nộp tiền xem xét, thẩm định tại chỗ mà không nộp tiền tạm ứng chi phí đo, lập bản vẽ sơ đồ hiện trạng như vụ án nêu trên thì Tòa án không được đình chỉ giải quyết vụ án theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Nếu tiếp tục giải quyết thì vụ án không đủ căn cứ để tuyên án hoặc tuyên án thông qua các tài liệu, chứng cứ gián tiếp (sổ mục kê, đơn kê khai, giấy tờ chuyển nhượng quyền sử dụng đất, mua bán nhà ở gắn liền với đất, giấy chứng nhận do chế độ cũ cấp...) không đúng với hiện trạng tại thời điểm giải quyết tranh chấp về vị trí ranh giới đất, tọa độ, tứ cận, diện tích nhà đất tranh chấp, sai số lớn so với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án nêu trên, dẫn đến bản án, quyết định thiếu chính xác, khó thi hành án, hoặc bản án, quyết định của Tòa án cấp dưới dễ bị Tòa án cấp trên hủy với lý do cần xác minh, thu thập thêm tài liệu, chứng cứ.

Từ những phân tích nêu trên, tác giả cho rằng, chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ phải bao gồm chi phí chi trả cho đơn vị thực hiện đo, lập bản vẽ sơ đồ hiện trạng. Do đó, khi ra thông báo nộp tiền chí phí xem xét, thẩm định tại chỗ, thẩm phán phải dự trù tổng chi phí bao gồm chi phí đo, lập bản vẽ sơ đồ hiện trạng để yêu cầu đương sự phải nộp và bảo đảm các thủ tục được tiến hành theo đúng quy định của pháp luật.

2. Quy định của pháp luật về quyền khởi kiện lại vụ án dân sự

Chi phí tố tụng là số tiền cần thiết và hợp lý mà đương sự phải nộp theo yêu cầu của Tòa án trước khi thụ lý vụ án, trong quá trình tiến hành tố tụng và kết thúc vụ án chuyển sang giai đoạn thi hành án được pháp luật quy định, nhằm nâng cao tinh thần trách nhiệm của đương sự với yêu cầu khởi kiện của mình. Các chi phí tố tụng bao gồm: (i) Án phí, lệ phí (Điều 1 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án và Mục 1 Chương IX Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015) được thu nhằm mục đích bù đắp một phần chi phí mà Nhà nước đã sử dụng cho hoạt động chung của Tòa án để đáp ứng yêu cầu về quản lý nhà nước, xác lập quyền và nghĩa vụ của người yêu cầu Tòa án giải quyết vụ việc dân sự. (ii) Các chi phí tố tụng khác (Mục 2 Chương IX Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015) là những chi phí không phải là án phí hay lệ phí và chỉ bao gồm các loại chi phí như sau: Chi phí ủy thác tư pháp ra nước ngoài; chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ; chi phí giám định, định giá tài sản; chi phí cho người làm chứng, người phiên dịch; chi phí tố tụng khác do luật khác quy định (Điều 169 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015) được thu nhằm mục đích chi trả cho cá nhân, hội đồng (nhóm người), tổ chức có nhiệm vụ, chức năng chuyên môn thực hiện các thủ tục tố tụng và xác minh, thu thập chứng cứ theo yêu cầu của Tòa án. (iii) Tạm ứng án phí, tạm ứng lệ phí, tạm ứng chi phí tố tụng khác là số tiền mà Tòa án tạm tính, yêu cầu đương sự phải nộp để thực hiện các thủ tục tố tụng như thụ lý, ủy thác tư pháp, định giá… làm căn cứ giải quyết vụ án.

Trường hợp đương sự không nộp hoặc nộp không đủ và đúng thời hạn một trong các tạm ứng chi phí tố tụng này thì theo quy định tại điểm đ, g khoản 1 Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án đều ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự. Tuy nhiên, hậu quả của việc đình chỉ giải quyết vụ án giữa điểm đ và điểm g trong cùng khoản 1 Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 lại có sự khác biệt và ảnh hưởng lớn đến đương sự là đó là quyền khởi kiện lại vụ án. Cụ thể:

Tại khoản 1 Điều 218 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định: “Khi có quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự, đương sự không có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết lại vụ án dân sự đó, nếu việc khởi kiện vụ án sau không có gì khác với vụ án trước về nguyên đơn, bị đơn và quan hệ pháp luật có tranh chấp, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 192, điểm c khoản 1 Điều 217 của Bộ luật này và các trường hợp khác theo quy định của pháp luật”. Theo đó, quyền được khởi kiện lại đối với vụ án đã có quyết định đình chỉ, thuộc các trường hợp được liệt kê như sau: (i) Người khởi kiện đã có đủ năng lực hành vi tố tụng dân sự. (ii) Yêu cầu ly hôn, yêu cầu thay đổi nuôi con, thay đổi mức cấp dưỡng, mức bồi thường thiệt hại, yêu cầu thay đổi người quản lý tài sản, thay đổi người quản lý di sản, thay đổi người giám hộ hoặc vụ án đòi tài sản, đòi tài sản cho thuê, cho mượn, đòi nhà, đòi quyền sử dụng đất cho thuê, cho mượn, cho ở nhờ mà trước đó Tòa án chưa chấp nhận yêu cầu mà theo quy định của pháp luật được quyền khởi kiện lại. (iii) Đã có đủ điều kiện khởi kiện. (iv) Người khởi kiện rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện hoặc nguyên đơn đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt, trừ trường hợp họ đề nghị xét xử vắng mặt hoặc vì sự kiện bất khả kháng, trở ngại khách quan. (v) Các trường hợp khác theo quy định tại khoản 4 Điều 6 và Điều 7 Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/05/2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về việc hướng dẫn một số quy định tại khoản 1 và khoản 3 Điều 192 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 về trả lại đơn khởi kiện, quyền nộp đơn khởi kiện lại vụ án.

Đối với trường hợp (iii) thì tại điểm d khoản 1 và điểm c khoản 3 Điều 192 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 đã cho phép người khởi kiện được quyền khởi kiện lại vụ án khi người khởi kiện không nộp biên lai thu tiền tạm ứng án phí cho Tòa án bởi nhiều lý do, trong đó, đương sự có khó khăn về kinh tế không thể nộp đủ, đúng trong thời hạn 07 ngày, kể từ ngày nhận được giấy báo của Tòa án (khoản 2 Điều 195 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015). Mặt khác, ngày 30/12/2016, Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, bảo đảm công bằng trong tiếp cận công lý đối với cá nhân là người yếu thế thuộc hộ nghèo, cận nghèo; người cao tuổi; người khuyết tật; người có công với cách mạng; đồng bào dân tộc thiểu số ở các xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, người gặp sự kiện bất khả kháng dẫn đến không có đủ tài sản để nộp tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án... Điều này bảo đảm rằng, mọi người đều có cơ hội yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, tăng cường tính dân chủ, công bằng trong xã hội mà không bị hạn chế bởi yếu tố tài chính.

Tuy nhiên, đối với trường hợp đương sự có khó khăn về tài chính như đã nêu trên, vụ án đã được thụ lý nhưng đương sự không thể nộp đủ và đúng thời gian số tiền tạm ứng chi phí định giá tài sản và chi phí tố tụng khác, Tòa án cũng không thể đợi được đến khi đương sự có đủ tiền để nộp vì Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 đã quy định thời hạn giải quyết vụ án và tránh làm ảnh hưởng đến quyền lợi của các đương sự khác. Cho nên, buộc Tòa án phải ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự, trường hợp này, đương sự không có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết lại vụ án dân sự đó, nếu việc khởi kiện vụ án sau không có gì khác với vụ án trước về nguyên đơn, bị đơn và quan hệ pháp luật có tranh chấp theo quy định tại khoản 1 Điều 218 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Tác giả cho rằng, quy định này có mặt hạn chế và chưa hợp lý, bởi số tiền tạm ứng chi phí tố tụng khác buộc phải nộp theo yêu cầu của Tòa án đa phần đều lớn hơn số tiền tạm ứng án phí và số tiền tạm ứng chi phí tố tụng khác này thì không thể được miễn, giảm vì nó khác với mục đích thu chi so với án phí, lệ phí Tòa án. Như vậy, vô hình chung sẽ tạo ra tình trạng không công bằng khi đương sự không thể yêu cầu Tòa án một lần nữa bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của mình và mâu thuẫn với các nguyên tắc quy định tại điều 4, 5, 8, 9 Bộ luật Tố tụng dân sự hướng đến.

Vì vậy, tác giả đề xuất, cần sửa đổi, bổ sung quy định tại khoản 1 Điều 218 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 về hậu quả của việc đình chỉ giải quyết vụ án dân sự như sau: Khi có quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự, đương sự không có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết lại vụ án dân sự đó, nếu việc khởi kiện vụ án sau không có gì khác với vụ án trước về nguyên đơn, bị đơn và quan hệ pháp luật có tranh chấp, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 192, điểm c, đ khoản 1 Điều 217 của Bộ luật này và các trường hợp khác theo quy định của pháp luật.

ThS. Lê Đức Anh

Tòa Dân sự, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh

(Ảnh: Internet)

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 1 (Số 390), tháng 10/2023)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Trong quá trình tổ chức bầu cử, có thể phát sinh một số tình huống đặc biệt như dịch bệnh, thiên tai, hỏa hoạn hoặc vấn đề về an ninh, trật tự. Pháp luật về bầu cử đã quy định rõ thẩm quyền và phương án xử lý nhằm bảo đảm cuộc bầu cử được tổ chức an toàn, đúng quy định và bảo đảm quyền bầu cử của cử tri.
Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Để chuẩn bị cho “Ngày hội non sông” - Ngày bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031, công tác phân chia đơn vị bầu cử cần phải được triển khai với những yêu cầu khắt khe hơn bao giờ hết với mục tiêu trọng tâm là bảo đảm cân đối, tránh chênh lệch lớn, thuận tiện cho cử tri thực hiện quyền bầu cử như: Các khu vực đô thị, khu công nghiệp có đông cử tri; các khu vực miền núi, hải đảo có ít cử tri.
Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Pháp luật quy định cụ thể về nguyên tắc bỏ phiếu, cách ghi phiếu bầu, việc viết hộ, bỏ hộ phiếu và xử lý Thẻ cử tri nhằm bảo đảm việc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân diễn ra đúng quy định.
Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Cơ chế giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân giữ vai trò quan trọng trong việc bảo đảm tính dân chủ, minh bạch và hợp pháp của quá trình bầu cử. Pháp luật Việt Nam thiết lập cơ chế này trên cơ sở kết hợp giữa các quy định đặc thù của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân với các quy định chung của pháp luật về khiếu nại, tố cáo, qua đó hình thành khung pháp lý cho việc tiếp nhận, xem xét và xử lý các khiếu nại, tố cáo phát sinh trong quá trình bầu cử.
Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Một vụ án in và phát hành sách giáo khoa giả vừa được đưa ra xét xử đã tiếp tục gióng lên hồi chuông cảnh báo về tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực xuất bản, đặc biệt là đối với sách giáo dục - mặt hàng có nhu cầu cao và ảnh hưởng trực tiếp đến hàng triệu học sinh.
Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức thống nhất vào ngày 15/3/2026 theo Nghị quyết của Quốc hội. Tuy nhiên, pháp luật cho phép tổ chức bỏ phiếu sớm trong những trường hợp đặc biệt nhằm bảo đảm quyền bầu cử của công dân không thể tham gia bỏ phiếu vào ngày chính thức. Việc tổ chức bầu cử sớm phải tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc về thẩm quyền quyết định, trình tự thủ tục, kiểm phiếu, niêm phong, bảo mật kết quả và kỷ luật thời gian bỏ phiếu theo đúng quy định của Luật Bầu cử và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Vận động bầu cử của người ứng cử là hoạt động gặp gỡ, tiếp xúc cử tri hoặc thông qua phương tiện thông tin đại chúng để người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân báo cáo với cử tri về dự kiến chương trình hành động của mình nhằm thực hiện trách nhiệm đại biểu nếu được bầu làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân và trao đổi những vấn đề mà cử tri quan tâm; tạo điều kiện để cử tri tiếp xúc với người ứng cử, hiểu rõ hơn người ứng cử; trên cơ sở đó cân nhắc, lựa chọn, bầu những người đủ tiêu chuẩn làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.
Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, yêu cầu thượng tôn Hiến pháp và pháp luật không chỉ đặt ra đối với hoạt động của bộ máy nhà nước mà trở thành chuẩn mực ứng xử phổ biến trong xã hội. Pháp luật chỉ thực sự phát huy vai trò điều chỉnh các quan hệ xã hội khi được các chủ thể tiếp nhận, tôn trọng, tuân thủ thực hiện trên tinh thần chủ động, tự giác, gắn với niềm tin vào công bằng và trật tự xã hội. Thực tiễn cho thấy, hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, nhưng tình trạng vi phạm pháp luật trong một số lĩnh vực vẫn diễn biến phức tạp; còn tồn tại khoảng trống giữa nhận thức pháp luật và hành vi tuân thủ; tâm lý tuân thủ thụ động, mang tính tình thế, phụ thuộc vào sự kiểm tra, giám sát và xử lý của cơ quan có thẩm quyền. Những biểu hiện này phản ánh việc tuân thủ pháp luật chưa thực sự trở thành chuẩn mực văn hóa trong xã hội. Vì vậy, việc nghiên cứu, nhận diện các yếu tố tác động, đánh giá đúng thực trạng, đề xuất nhiệm vụ, giải pháp xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn, góp phần thể chế hóa chủ trương của Đảng, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, mạnh, bền vững trong bối cảnh mới.
Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Tết Nguyên đán là dịp đoàn viên, nghỉ ngơi và tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí đầu năm, góp phần làm phong phú đời sống văn hóa, tinh thần của mỗi gia đình và cộng đồng. Tuy nhiên, một số hình thức vui chơi có thưởng có thể vượt ngoài khuôn khổ pháp luật nếu không được nhận diện đúng. Từ yêu cầu bảo đảm kỷ cương, pháp luật trong dịp Tết, việc làm rõ ranh giới pháp lý giữa vui xuân có thưởng và hành vi vi phạm pháp luật có ý nghĩa quan trọng.
Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết 71-NQ/TW) đặt ra những yêu cầu mang tính chiến lược đối với xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, giáo dục đại học giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành lớp trí thức mới - vừa có năng lực chuyên môn, vừa có bản lĩnh, nhân cách và tinh thần phụng sự xã hội. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật phỏng vấn Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đào Thanh Trường - Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội, xung quanh quan điểm xây dựng con người toàn diện, các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp, cũng như những định hướng tích hợp giáo dục nhân văn với khoa học, công nghệ trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Mùa xuân về không chỉ mang theo nhựa sống của thiên nhiên mà còn là thời điểm để nhìn lại những thành quả của năm qua. Xuân Bính Ngọ 2026, với Trường Cao đẳng Cơ điện Hà Nội (HCEM), là một mùa xuân đặc biệt - mùa xuân của sự cộng hưởng giữa niềm tự hào về hành trình 80 năm đất nước độc lập và quyết tâm chính trị cao để hiện thực hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị. Đây chính là “chìa khóa” để HCEM bứt phá, vươn tầm quốc tế, trở thành biểu tượng của nền giáo dục nghề nghiệp (GDNN) hiện đại trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Năm 2025 được xem là cột mốc bản lề trên hành trình đưa Việt Nam bước vào kỷ nguyên số toàn diện. Trong không khí Xuân Bính Ngọ 2026, Cục trưởng Cục Chuyển đổi số quốc gia (Bộ KH&CN) Trần Duy Ninh chia sẻ với Tạp chí Dân chủ và Pháp luật về những thành quả nổi bật, tầm nhìn, cơ hội và kỳ vọng đặt vào đội ngũ trí thức công nghệ, với khát vọng xây dựng đất nước Việt Nam hùng cường, tự chủ và thịnh vượng trên nền tảng số.
Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Nhìn lại hành trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đội ngũ doanh nhân Việt Nam tiếp tục là lực lượng năng động, sáng tạo và đóng góp quan trọng vào tăng trưởng. Tuy nhiên, bối cảnh hội nhập sâu, rộng đặt ra yêu cầu cao hơn đối với việc hoàn thiện pháp luật về kinh doanh. Nhân dịp xuân mới, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Quang Vinh - Phó Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) về kỳ vọng đổi mới và yêu cầu xây dựng hành lang pháp lý ổn định để doanh nghiệp Việt Nam tự tin phát triển trong giai đoạn mới.
Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với mục tiêu đến năm 2045 trở thành nước phát triển có thu nhập cao, đội ngũ doanh nhân Việt Nam được kỳ vọng trở thành lực lượng kiến tạo thịnh vượng quốc gia. Khát vọng ấy chỉ có thể nảy nở và lớn lên trong hệ sinh thái pháp lý minh bạch, an toàn và tạo động lực.
Tiên phong xây dựng hệ sinh thái bảo quản thuốc thông minh - Khi công nghệ mang lại sự an tâm cho sức khỏe cộng đồng

Tiên phong xây dựng hệ sinh thái bảo quản thuốc thông minh - Khi công nghệ mang lại sự an tâm cho sức khỏe cộng đồng

Trong hành trình chăm sóc sức khỏe người dân, có một mắt xích âm thầm nhưng vô cùng quan trọng: bảo quản thuốc. Chất lượng của từng viên thuốc, từng lọ vaccine hay mỗi loại dược liệu đều phụ thuộc tuyệt đối vào môi trường chúng được gìn giữ. Chỉ một biến động nhỏ về nhiệt độ, độ ẩm hay ánh sáng cũng đủ ảnh hưởng đến hiệu lực điều trị và an toàn của sản phẩm.

Theo dõi chúng tôi trên: