Thứ năm 12/03/2026 12:13
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Bàn về chứng cứ có nguồn là dữ liệu điện tử trong pháp luật tố tụng hình sự

Bài viết bàn về quy định của pháp luật tố tụng hình sự về chứng cứ có nguồn là dữ liệu điện tử, đồng thời, phân tích một số vấn đề vướng mắc trong quy định của pháp luật và thực tiễn thu thập chứng cứ có nguồn là dữ liệu điện tử; từ đó, đưa ra một số kiến nghị liên quan đến vấn đề này.

1. Quy định của pháp luật tố tụng hình sự về chứng cứ có nguồn là dữ liệu điện tử

Chứng cứ là những gì có thật, được thu thập theo trình tự, thủ tục do Bộ luật Tố tụng hình sự quy định, được dùng làm căn cứ để xác định có hay không có hành vi phạm tội, người thực hiện hành vi phạm tội và những tình tiết khác có ý nghĩa trong việc giải quyết vụ án. Chứng cứ được thu thập từ các nguồn chứng cứ như: Vật chứng; lời khai, lời trình bày; dữ liệu điện tử; kết luận giám định, định giá tài sản; biên bản hoạt động khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử; kết quả từ hoạt động ủy thác tư pháp và hợp tác quốc tế; đồ vật, tài liệu khác.

Trong các nguồn chứng cứ nêu trên, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2021 (Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015) lần đầu tiên ghi nhận dữ liệu điện tử là một trong những nguồn chứng cứ[1] nhằm đáp ứng yêu cầu thực tiễn giải quyết vụ án hình sự trong thời đại công nghệ 4.0. Dữ liệu điện tử là những ký hiệu, chữ viết, chữ số, hình ảnh, âm thanh hoặc dạng tương tự được tạo ra, lưu trữ, truyền đi hoặc nhận được bởi phương tiện điện tử[2]. Dữ liệu điện tử có thể xem là nguồn của chứng cứ thường tồn tại ở hai dạng: (i) Dữ liệu điện tử do máy tính tự động tạo ra như: “Cookies”, “URL”, E-mail logs, webserver logs, firewallserver logs, IP, thông tin truy cập, website, mã độc..., chứng minh về nguồn gốc truy cập, tấn công vào website, cơ sở dữ liệu, thư điện tử, tài khoản, dấu vết hoạt động phạm tội (tấn công DDOS, cài trojan, keylogger, sniffer nghe lén, lấy cắp hoặc phá hoại dữ liệu...). (ii) Dữ liệu điện tử do người sử dụng tạo ra và được lưu lại trong bộ nhớ điện tử như: Văn bản, bảng biểu, hình ảnh số, thư điện tử, các trang web, thông tin người sử dụng các dịch vụ, nội dung các cuộc trò truyện trên mạng, những phản ánh của khách hàng...

Dữ liệu điện tử được thu thập từ phương tiện điện tử, mạng máy tính, mạng viễn thông, trên đường truyền hoặc từ các nguồn điện tử khác[3]. Giá trị chứng minh của chứng cứ là dữ liệu điện tử được căn cứ vào cách thức khởi tạo, lưu trữ hoặc truyền gửi dữ liệu điện tử; cách thức bảo đảm và duy trì được tính toàn vẹn của dữ liệu điện tử; cách thức xác định người khởi tạo và các yếu tố phù hợp khác. Khi thu thập chứng cứ là dữ liệu điện tử, cơ quan có thẩm quyền (có thể mời thêm người có chuyên môn tham gia)[4] tiến hành thu giữ các phương tiện điện tử, thiết bị ngoại vi kèm theo, dữ liệu điện tử có liên quan. Trường hợp không thể thu giữ phương tiện lưu trữ dữ liệu điện tử thì cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng tiến hành sao lưu dữ liệu điện tử đó vào phương tiện điện tử và tiến hành bảo quản như đối với vật chứng. Khi thu thập, chặn thu, sao lưu dữ liệu điện tử từ phương tiện điện tử, mạng máy tính, mạng viễn thông hoặc trên đường truyền, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải lập biên bản mô tả đầy đủ, đúng thực trạng, tiến hành niêm phong theo quy định của pháp luật[5]. Hoạt động thu thập chứng cứ là dữ liệu điện tử diễn ra ở tất cả các giai đoạn tố tụng hình sự và có đầy đủ các thuộc tính của chứng cứ gồm: Tính liên quan, tính khách quan và tính hợp pháp.

2. Một số vấn đề vướng mắc trong quy định của pháp luật và thực tiễn thu thập chứng cứ có nguồn là dữ liệu điện tử

Thứ nhất, tại khoản 1 Điều 107 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quy định: “Phương tiện điện tử phải được thu giữ kịp thời, đầy đủ, mô tả đúng thực trạng” hoặc “trường hợp không thể thu giữ phương tiện lưu trữ dữ liệu điện tử thì cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng sao lưu dữ liệu điện tử đó vào phương tiện điện tử và bảo quản như đối với vật chứng”. Trong khi đó, tên của Điều 107 lại là “Thu thập phương tiện điện tử, dữ liệu điện tử”. Trong khoa học pháp lý, “thu thập” và “thu giữ” tuy có những điểm giống nhau nhưng không thống nhất về nội hàm. Dữ liệu điện tử là một trong những loại nguồn của chứng cứ nên cần được “thu thập”[6] để chứng minh trong vụ án hình sự[7]. Ngược lại, phương tiện điện tử là nơi chứa đựng dữ liệu điện tử mà cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng cần phải “thu giữ” để “thu thập” chứng cứ là dữ liệu điện tử. Do đó, tên của Điều 107 là chưa hợp lý khi “đánh đồng” hai khái niệm “thu thập” và “thu giữ”. Ngoài ra, tại khoản 1 Điều 196 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 có nêu: “Trường hợp không thể thu giữ được thì phải sao lưu vào phương tiện lưu trữ và thu giữ như đối với vật chứng”. Như vậy, “phương tiện lưu trữ” có đồng nhất với “phương tiện điện tử” hay không? Tại sao lại có quy định khác nhau và cần phải hiểu như thế nào cho đúng?[8].

Thứ hai, căn cứ vào quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành, hoạt động thu thập chứng cứ nói chung và thu thập chứng cứ có nguồn là dữ liệu điện tử nói riêng chưa có sự phân biệt. Trong khi đó, chứng cứ là dữ liệu điện tử có những đặc điểm riêng biệt như: Dễ bị thay đổi, chỉnh sửa; có thể bị hỏng dữ liệu bất cứ lúc nào bởi nhiều lý do khách quan; có thể phục hồi dữ liệu điện tử nếu đã bị xóa hoặc dữ liệu điện tử trên môi trường mạng như: Tài khoản email, địa chỉ IP, cookie thì cách thức thu thập không thể thực hiện giống như thông thường.

Bên cạnh đó, theo quy định tại Điều 223 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, sau khi khởi tố vụ án, trong quá trình điều tra, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng có thể áp dụng biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt gồm: Ghi âm, ghi hình bí mật; nghe điện thoại bí mật; thu thập bí mật dữ liệu điện tử. Vậy, quy định này được tiến hành như thế nào để bảo đảm rằng sẽ có giá trị chứng minh và được sử dụng làm chứng cứ vụ án khi chưa có văn bản hướng dẫn về trình tự, thủ tục, cách thức tiến hành. Đặc biệt là đối với việc thu thập dữ liệu điện tử bí mật, cơ quan có thẩm quyền có được phép thu thập bí mật dữ liệu điện tử khi sử dụng những chương trình gián điệp như virus; keylogker; backdoor… nhằm xác định vị trí đối tượng; bí mật thu thập tin nhắn; ghi âm; thu thập dữ liệu file hình ảnh, video từ điện thoại; địa chỉ IP… để sử dụng làm chứng cứ hay không thì đến nay vẫn chưa có hướng dẫn cụ thể. Thực tiễn và căn cứ vào quy định pháp luật hiện hành, nếu thu được những thông tin, tài liệu nêu trên không thể đáp ứng tính hợp pháp của chứng cứ được quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, do còn thiếu những quy định về trình tự, thủ tục đối với hoạt động thu thập chứng cứ này.

Thứ ba, theo quy định tại Điều 206 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, dữ liệu điện tử khi được thu thập như: File âm thanh, hình ảnh, video… không thuộc trường hợp bắt buộc phải giám định. Như vậy, rất khó để bảo đảm tính khách quan của dữ liệu điện tử này khi được sử dụng làm chứng cứ để chứng minh trong suốt quá trình giải quyết vụ án hình sự. Ngoài ra, nếu người bào chữa khi thu thập dữ liệu điện tử bàn giao cho cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng để kiểm tra, xác minh nhưng không tiến hành giám định dữ liệu điện tử này thì rất khó thuyết phục người bào chữa là vì sao cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng không sử dụng dữ liệu điện tử do người bào chữa cung cấp để làm chứng cứ[9].

Thứ tư, ngày 10/9/2012, Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Bộ Tư pháp, Bộ Thông tin và Truyền thông, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao đã ban hành Thông tư liên tịch số 10/2012/TTLT-BCA-BQP-BTP-BTTTT-VKSNDTC-TANDTC hướng dẫn áp dụng quy định của Bộ luật Hình sự về một số tội phạm trong lĩnh vực công nghệ thông tin và viễn thông. Đây là văn bản hướng dẫn áp dụng quy định của Bộ luật Hình sự năm 1999, trong đó có quy định về trình tự, thủ tục thu thập dữ liệu điện tử cũng như chuyển hóa những thông tin, tài liệu được lưu trữ trong các phương tiện điện tử thành chứng cứ của vụ án. Tuy nhiên, căn cứ vào Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2020) thì Thông tư này mặc dù cho đến nay chưa có văn bản thay thế hoặc hủy bỏ nhưng cũng đã bị hết hiệu lực (do đây là văn bản hướng dẫn Bộ luật Hình sự năm 1999, được sửa đổi, bổ sung năm 2009). Hiện nay, vẫn chưa có văn bản hướng dẫn cụ thể các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 về quy trình thu thập, phục hồi, phân tích dữ liệu điện tử, do đó, đã gây một số khó khăn nhất định cho các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng.

3. Một số kiến nghị

Thứ nhất, cần nghiên cứu sửa đổi, bổ sung tên Điều 107 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 từ “Thu thập phương tiện điện tử, dữ liệu điện tử” thành “Thu giữ phương tiện điện tử, dữ liệu điện tử” để bảo đảm thể hiện đầy đủ nội hàm và sự thống nhất về thuật ngữ pháp lý trong tố tụng hình sự.

Thứ hai, cần quy định các nguyên tắc trong thu thập chứng cứ điện tử trên tinh thần bảo đảm rằng, không làm thay đổi thông tin được lưu trong máy tính hoặc các thiết bị kỹ thuật số; khi phải tiếp cận với thông tin gốc được lưu giữ trong máy tính hoặc trong các thiết bị kỹ thuật số thì người tiếp cận phải là những chuyên gia được đào tạo để thực hiện việc thu thập và phục hồi chứng cứ điện tử; việc ghi lại dữ liệu (copy) phải được thực hiện đúng quy trình, phải sử dụng các thiết bị và phần mềm được thế giới công nhận và có thể kiểm chứng được; phải bảo vệ được tính nguyên vẹn của dữ liệu điện tử lưu trong máy. Đồng thời, quy trình thu thập chứng cứ là dữ liệu điện tử phải bảo đảm yếu tố có khả năng phục hồi được nếu có sự cố xảy ra mất dữ liệu do nguyên nhân khách quan và chủ quan.

Đối với trình tự, thủ tục thu thập, bảo quản chứng cứ điện tử, cần hướng dẫn cụ thể theo hướng: Khi tiến hành thu thập chứng cứ điện tử từ máy vi tính không tắt CPU theo trình tự thông thường (shutdown) mà ngắt nguồn cung cấp điện trực tiếp cho CPU máy tính để bàn hoặc máy tính xách tay. Việc thu thập như vậy mới giúp các thông tin điện tử còn lưu trên máy tính, để khi bàn giao cho cán bộ có trách nhiệm phục hồi dữ liệu điện tử mới có thể bảo đảm tính nguyên vẹn. Trong đó, cần chú trọng xây dựng các biện pháp và chỉ dẫn kỹ thuật liên quan đến việc áp dụng như tên, đặc điểm, xuất xứ các loại máy móc, thiết bị ghi âm, ghi hình, phần mềm thu thập dữ liệu điện tử được phép sử dụng.

Đối với việc áp dụng các biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt, nhất là biện pháp thu thập bí mật dữ liệu điện tử, giữa Bộ Công an và Viện kiểm sát nhân dân tối cao cần có văn bản hướng dẫn để thống nhất phương pháp tiến hành phù hợp với quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và tình hình thực tế đấu tranh phòng, chống tội phạm. Theo tác giả, cần nghiên cứu theo hướng cho phép các đơn vị nghiệp vụ của Bộ Công an áp dụng mọi biện pháp nghiệp vụ và các phương tiện kỹ thuật số để có thể thu thập tài liệu, chứng cứ theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Thứ ba, để thu thập chứng cứ có nguồn là dữ liệu điện tử, ngoài việc bảo đảm nắm vững các quy định của pháp luật tố tụng hình sự về trình tự, thủ tục thu thập chứng cứ thì người tiến hành tố tụng còn phải chú ý đến việc nâng cao trình độ công nghệ thông tin. Để thực hiện giải pháp này, đỏi hỏi phải thường xuyên đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ, kỹ năng phát hiện và thu thập dữ liệu điện tử cho các chủ thể có thẩm quyền trong quá trình giải quyết vụ án hình sự, nhất là các cán bộ trực tiếp đấu tranh phòng, chống tội phạm, kỹ thuật hình sự, giám định tư pháp như các khóa học thu thập, phục hồi dữ liệu; đào tạo kiến thức chuyên sâu về hệ thống an ninh, an toàn mạng…

Thứ tư, hoàn thiện về tổ chức, ưu tiên trang bị phương tiện cho các cơ quan có thẩm quyền trong hoạt động thu thập chứng cứ có nguồn là dữ liệu điện tử tại cấp huyện, đồng thời nâng cao trình độ khai thác và sử dụng thiết bị chuyên dụng để thu thập, phục hồi dữ liệu chứng cứ điện tử phục vụ công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm. Kinh phí để trang bị công cụ, phương tiện có thể đề xuất từ các nguồn của trung ương, địa phương, ngoài ra, có thể vận động kinh phí từ các doanh nghiệp, doanh nhân và nhân dân để bảo đảm nguồn lực cho việc thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ của chiến lược./.

TS. Nguyễn Tiến Nam

Trường Đại học Cảnh sát nhân dân

[1]. Điều 87 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

[2]. Khoản 1 Điều 99 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

[3]. Khoản 2 Điều 99 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

[4]. Khoản 1 Điều 169 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

[5]. Khoản 1, 2 Điều 107 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

[6]. Điều 88 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

[7]. Điều 85 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

[8]. Võ Minh Tuấn (2021), Khó khăn, vướng mắc về dữ liệu điện tử trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Tạp chí Tòa án nhân dân điện tử, https://tapchitoaan.vn/bai-viet/nghien-cuu/kho-khan-vuong-mac-ve-du-lieu-dien-tu-trong-bo-luat-to-tung-hinh-su-nam-2015.

[9]. Trịnh Duy Thuyên, “Bàn về tính khách quan, hợp pháp của chứng cứ do người bào chữa thu thập trong vụ án hình sự”, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, Bộ Tư pháp, số tháng 7/2022.

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 1 (Số 406), tháng 6/2024)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Để bảo đảm cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân được tiến hành dân chủ, đúng pháp luật, các quy định về phiếu bầu cử cũng như nguyên tắc, trình tự bỏ phiếu đã được quy định chặt chẽ[1]. Việc nắm rõ các quy định này giúp cử tri thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ trong ngày bầu cử.
[1] Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 và Nghị quyết số 40/NQ-HĐBCQG ngày 29/9/2025 của Hội đồng bầu cử quốc gia quy định mẫu văn bản hồ sơ ứng cử và việc hồ sơ ứng cử; nội quy phòng bỏ phiếu trong công tác bầu cử ĐBQH khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031
Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Trong quá trình tổ chức bầu cử, có thể phát sinh một số tình huống đặc biệt như dịch bệnh, thiên tai, hỏa hoạn hoặc vấn đề về an ninh, trật tự. Pháp luật về bầu cử đã quy định rõ thẩm quyền và phương án xử lý nhằm bảo đảm cuộc bầu cử được tổ chức an toàn, đúng quy định và bảo đảm quyền bầu cử của cử tri.
Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Để chuẩn bị cho “Ngày hội non sông” - Ngày bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031, công tác phân chia đơn vị bầu cử cần phải được triển khai với những yêu cầu khắt khe hơn bao giờ hết với mục tiêu trọng tâm là bảo đảm cân đối, tránh chênh lệch lớn, thuận tiện cho cử tri thực hiện quyền bầu cử như: Các khu vực đô thị, khu công nghiệp có đông cử tri; các khu vực miền núi, hải đảo có ít cử tri.
Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Pháp luật quy định cụ thể về nguyên tắc bỏ phiếu, cách ghi phiếu bầu, việc viết hộ, bỏ hộ phiếu và xử lý Thẻ cử tri nhằm bảo đảm việc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân diễn ra đúng quy định.
Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Cơ chế giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân giữ vai trò quan trọng trong việc bảo đảm tính dân chủ, minh bạch và hợp pháp của quá trình bầu cử. Pháp luật Việt Nam thiết lập cơ chế này trên cơ sở kết hợp giữa các quy định đặc thù của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân với các quy định chung của pháp luật về khiếu nại, tố cáo, qua đó hình thành khung pháp lý cho việc tiếp nhận, xem xét và xử lý các khiếu nại, tố cáo phát sinh trong quá trình bầu cử.
Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Một vụ án in và phát hành sách giáo khoa giả vừa được đưa ra xét xử đã tiếp tục gióng lên hồi chuông cảnh báo về tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực xuất bản, đặc biệt là đối với sách giáo dục - mặt hàng có nhu cầu cao và ảnh hưởng trực tiếp đến hàng triệu học sinh.
Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức thống nhất vào ngày 15/3/2026 theo Nghị quyết của Quốc hội. Tuy nhiên, pháp luật cho phép tổ chức bỏ phiếu sớm trong những trường hợp đặc biệt nhằm bảo đảm quyền bầu cử của công dân không thể tham gia bỏ phiếu vào ngày chính thức. Việc tổ chức bầu cử sớm phải tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc về thẩm quyền quyết định, trình tự thủ tục, kiểm phiếu, niêm phong, bảo mật kết quả và kỷ luật thời gian bỏ phiếu theo đúng quy định của Luật Bầu cử và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Vận động bầu cử của người ứng cử là hoạt động gặp gỡ, tiếp xúc cử tri hoặc thông qua phương tiện thông tin đại chúng để người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân báo cáo với cử tri về dự kiến chương trình hành động của mình nhằm thực hiện trách nhiệm đại biểu nếu được bầu làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân và trao đổi những vấn đề mà cử tri quan tâm; tạo điều kiện để cử tri tiếp xúc với người ứng cử, hiểu rõ hơn người ứng cử; trên cơ sở đó cân nhắc, lựa chọn, bầu những người đủ tiêu chuẩn làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.
Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, yêu cầu thượng tôn Hiến pháp và pháp luật không chỉ đặt ra đối với hoạt động của bộ máy nhà nước mà trở thành chuẩn mực ứng xử phổ biến trong xã hội. Pháp luật chỉ thực sự phát huy vai trò điều chỉnh các quan hệ xã hội khi được các chủ thể tiếp nhận, tôn trọng, tuân thủ thực hiện trên tinh thần chủ động, tự giác, gắn với niềm tin vào công bằng và trật tự xã hội. Thực tiễn cho thấy, hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, nhưng tình trạng vi phạm pháp luật trong một số lĩnh vực vẫn diễn biến phức tạp; còn tồn tại khoảng trống giữa nhận thức pháp luật và hành vi tuân thủ; tâm lý tuân thủ thụ động, mang tính tình thế, phụ thuộc vào sự kiểm tra, giám sát và xử lý của cơ quan có thẩm quyền. Những biểu hiện này phản ánh việc tuân thủ pháp luật chưa thực sự trở thành chuẩn mực văn hóa trong xã hội. Vì vậy, việc nghiên cứu, nhận diện các yếu tố tác động, đánh giá đúng thực trạng, đề xuất nhiệm vụ, giải pháp xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn, góp phần thể chế hóa chủ trương của Đảng, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, mạnh, bền vững trong bối cảnh mới.
Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Tết Nguyên đán là dịp đoàn viên, nghỉ ngơi và tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí đầu năm, góp phần làm phong phú đời sống văn hóa, tinh thần của mỗi gia đình và cộng đồng. Tuy nhiên, một số hình thức vui chơi có thưởng có thể vượt ngoài khuôn khổ pháp luật nếu không được nhận diện đúng. Từ yêu cầu bảo đảm kỷ cương, pháp luật trong dịp Tết, việc làm rõ ranh giới pháp lý giữa vui xuân có thưởng và hành vi vi phạm pháp luật có ý nghĩa quan trọng.
Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết 71-NQ/TW) đặt ra những yêu cầu mang tính chiến lược đối với xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, giáo dục đại học giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành lớp trí thức mới - vừa có năng lực chuyên môn, vừa có bản lĩnh, nhân cách và tinh thần phụng sự xã hội. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật phỏng vấn Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đào Thanh Trường - Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội, xung quanh quan điểm xây dựng con người toàn diện, các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp, cũng như những định hướng tích hợp giáo dục nhân văn với khoa học, công nghệ trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Mùa xuân về không chỉ mang theo nhựa sống của thiên nhiên mà còn là thời điểm để nhìn lại những thành quả của năm qua. Xuân Bính Ngọ 2026, với Trường Cao đẳng Cơ điện Hà Nội (HCEM), là một mùa xuân đặc biệt - mùa xuân của sự cộng hưởng giữa niềm tự hào về hành trình 80 năm đất nước độc lập và quyết tâm chính trị cao để hiện thực hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị. Đây chính là “chìa khóa” để HCEM bứt phá, vươn tầm quốc tế, trở thành biểu tượng của nền giáo dục nghề nghiệp (GDNN) hiện đại trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Năm 2025 được xem là cột mốc bản lề trên hành trình đưa Việt Nam bước vào kỷ nguyên số toàn diện. Trong không khí Xuân Bính Ngọ 2026, Cục trưởng Cục Chuyển đổi số quốc gia (Bộ KH&CN) Trần Duy Ninh chia sẻ với Tạp chí Dân chủ và Pháp luật về những thành quả nổi bật, tầm nhìn, cơ hội và kỳ vọng đặt vào đội ngũ trí thức công nghệ, với khát vọng xây dựng đất nước Việt Nam hùng cường, tự chủ và thịnh vượng trên nền tảng số.
Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Nhìn lại hành trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đội ngũ doanh nhân Việt Nam tiếp tục là lực lượng năng động, sáng tạo và đóng góp quan trọng vào tăng trưởng. Tuy nhiên, bối cảnh hội nhập sâu, rộng đặt ra yêu cầu cao hơn đối với việc hoàn thiện pháp luật về kinh doanh. Nhân dịp xuân mới, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Quang Vinh - Phó Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) về kỳ vọng đổi mới và yêu cầu xây dựng hành lang pháp lý ổn định để doanh nghiệp Việt Nam tự tin phát triển trong giai đoạn mới.
Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với mục tiêu đến năm 2045 trở thành nước phát triển có thu nhập cao, đội ngũ doanh nhân Việt Nam được kỳ vọng trở thành lực lượng kiến tạo thịnh vượng quốc gia. Khát vọng ấy chỉ có thể nảy nở và lớn lên trong hệ sinh thái pháp lý minh bạch, an toàn và tạo động lực.

Theo dõi chúng tôi trên: