Thứ sáu 13/03/2026 01:32
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Bàn về điều kiện độ tuổi trong nuôi con nuôi

Tóm tắt: Bài viết nêu lên những bấp cập trong thực tiễn áp dụng quy định của pháp luật về điều kiện độ tuổi trong nuôi con nuôi, đặc biệt là ở vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng biên giới và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về vấn đề này.

Abstract: The article points out insufficiencies in the practice of application of legal provisions with respect to age term in the adoption, especially in mountainous, remote areas, in ethnic groups, in the border and recommendations for completion of this issue.

Nuôi con nuôi là một vấn đề mang tính đạo đức xã hội sâu sắc, thể hiện tính tương thân, tương ái giúp đỡ lẫn nhau giữa con người và con người. Nuôi con nuôi cũng thể hiện rõ quan điểm, trẻ em cần phải được bảo vệ và chăm sóc, đặc biệt là bảo vệ quyền lợi của những trẻ em có hoàn cảnh gia đình đặc biệt khó khăn hoặc không nơi nương tựa. Việc nuôi con nuôi trước hết phải xuất phát từ mục đích quan trọng là vì lợi ích của người được nhận làm con nuôi, nhằm mang lại cho đứa trẻ được nhận làm con nuôi một mái ấm gia đình, được yêu thương, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Bên cạnh đó, việc nuôi con nuôi cũng xuất phát từ nhu cầu tình cảm của người nhận nuôi, nhằm thiết lập quan hệ tình cảm gắn bó giữa cha mẹ và con cái. Do đó, người con nuôi được phát triển cả về thể chất và tinh thần.

Công ước của Liên Hợp Quốc về quyền trẻ em đã khẳng định: “Để phát triển đầy đủ và hài hòa nhân cách của mình, trẻ em cần được trưởng thành hơn trong môi trường gia đình, trong bầu không khí hạnh phúc, yêu thương và thông cảm”. Đảng, Nhà nước ta luôn có những hoạch định đường lối, chính sách, pháp luật về nuôi con nuôi phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế - xã hội, các điều ước quốc tế. Điều này có thể chứng minh rằng, ngay cả đạo luật có giá trị pháp lý cao nhất là Hiến pháp, đến bộ luật, luật, nghị quyết, nghị định, thông tư… đều có những quy định đầy đủ về nguyên tắc, điều kiện, trình tự, thủ tục cho, nhận con nuôi.

Năm 2010, lần đầu tiên trong lịch sử lập pháp, Quốc hội ban hành Luật Nuôi con nuôi (trước đó, các quy định về nuôi con nuôi được điều chỉnh bởi Luật Hôn nhân và gia đình, Bộ luật Dân sự và các văn bản quy phạm pháp luật khác). Theo đó, các quy định về nuôi con nuôi được thể hiện rõ nét hơn. Ý nghĩa của việc nuôi con nuôi một lần nữa được khẳng định trong một đạo luật quan trọng. Tuy nhiên, bài viết chỉ bàn đến một số vần đề điều kiện về độ tuổi trong nhận nuôi con nuôi.

Theo quy định tại Điều 8 Luật Nuôi con nuôi năm 2010, điều kiện của người được nhận làm con nuôi là: (i) Trẻ em dưới 16 tuổi; (ii) Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây: Được cha dượng, mẹ kế nhận làm con nuôi; được cô, cậu, dì, chú, bác ruột nhận làm con nuôi; (iii) Một người chỉ được làm con nuôi của một người độc thân hoặc của cả hai người là vợ chồng.

Luật Nuôi con nuôi năm 2010 cũng quy định một nguyên tắc cơ bản trong nhận nuôi con nuôi tại khoản 4 Điều 8 là: “Nhà nước khuyến khích việc nhận trẻ em mồ côi, trẻ em bị bỏ rơi, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khác làm con nuôi”. Tương ứng với điều kiện của người được nhận làm con nuôi, điều kiện của người nhận con nuôi cũng được quy định tại khoản 1 Điều 14 Luật Nuôi con nuôi, cụ thể như sau: “Người nhận con nuôi phải có đủ các điều kiện sau đây: Có năng lực hành vi dân sự đầy đủ; hơn con nuôi từ 20 tuổi trở lên; có điều kiện về sức khỏe, kinh tế, chỗ ở bảo đảm việc chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con nuôi; có tư cách đạo đức tốt”.

Trong thực tiễn áp dụng pháp luật liên quan điều kiện về độ tuổi trong nuôi con nuôi, tác giả thấy có một số bất cập, đặc biệt là đối với vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, nơi dân cư sống thưa thớt. Sự bất cập về điều kiện độ tuổi trong nuôi con nuôi có liên quan đến điều kiện về độ tuổi đăng ký kết hôn. Cụ thể, điểm a khoản 1 Điều 8 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định điều kiện về độ tuổi kết hôn như sau: “Nam, nữ kết hôn với nhau phải tuân theo các điều kiện sau đây: Nam từ đủ 20 tuổi trở lên, nữ từ đủ 18 tuổi trở lên”. Như vậy, người nhận con nuôi phải hơn con nuôi từ 20 tuổi trở lên (ít nhất là đủ 19 năm 01 ngày), không phân biệt giới tính là nam hay nữ. Thế nhưng, điều kiện kết hôn lại phân biệt độ tuổi giữa nam và nữ: Nam từ đủ 20 tuổi trở lên, nữ từ đủ 18 tuổi trở lên.

Sự không tương đồng về độ tuổi như trên dẫn đến các trường hợp:

Trường hợp thứ nhất: Một cặp vợ chồng, chồng từ đủ 20 tuổi trở lên, người vợ từ đủ 18 tuổi trở lên nhưng chưa đủ 20 tuổi, cặp vợ chồng này có thể có con đẻ, nhưng lại không đủ điều kiện nhận con nuôi, do vợ chưa đủ điều kiện “hơn con nuôi từ 20 tuổi trở lên”. Vì vậy, người vợ trong trường hợp này đủ điều kiện làm vợ, làm mẹ theo quy định của pháp luật, nhưng không đủ điều kiện làm mẹ nuôi cũng bởi các quy định của pháp luật. Giải thích về sự không tương đồng điều kiện về độ tuổi này, một số quan điểm cho rằng, việc quy định về độ tuổi trong điều kiện nhận nuôi con nuôi “lệch” so với điều kiện về độ tuổi trong kết hôn là để tạo điều kiện cho cặp vợ chồng hiếm muộn có một khoảng thời gian chung sống, để có con chung. Bởi lẽ, tâm lý của người Á Đông là “một đống con nuôi, không bằng một người con đẻ”. Trong khoảng thời gian người vợ từ đủ 18 tuổi đến dưới 20 tuổi (như trong trường hợp này), người vợ ở trong điều kiện độ tuổi vẫn còn trẻ, còn có cơ hội sinh con, nên không nhất thiết phải nhận con nuôi.

Việc lý giải như vậy có vẻ hợp lý, tuy nhiên, xin đưa ra ví dụ sau để chứng minh sự bất cập trong quy định trên của pháp luật: Gia đình ông Giàng Bả Tủa cư trú tại bản Huổi Sang, xã Sam Kha, huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La. Cả bản Huổi Sang có 16 hộ gia đình, trong đó có 15 hộ gia đình là hộ nghèo. Ngày 13/12/2016, vợ chồng ông Tủa chết vì bị tai nạn giao thông. Cháu Giàng Bả Dở (sinh ngày 20/10/2016) là con của ông Tủa không có người chăm sóc. Vợ chồng ông Hạng A Chống (sinh ngày 16/5/1995) và chị Sộng Thị Mỷ (sinh ngày 28/01/1998) cư trú tại bản Huổi Sang, là gia đình duy nhất trong bản không phải là hộ nghèo. Mặt khác, ông Chống và bà Mỷ cũng có con nhỏ là cháu Hạng A Vạ (sinh ngày 10/10/2016) nên muốn nhận cháu Dở làm con nuôi, vừa là giúp đỡ cháu Dở, vừa là cho con đẻ của ông Chống bà Mỷ có thêm anh, thêm em. Tuy nhiên, ngày 20/01/2017, khi thực hiện thủ tục đăng ký nhận nuôi con nuôi tại Ủy ban nhân dân xã Sam Kha, công chức tư pháp - hộ tịch của xã đã từ chối thụ lý hồ sơ với lý do: Bà Sộng Thị Mỷ không đủ điều kiện nhận con nuôi vì không thỏa mãn điều kiện về độ tuổi theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 14 Luật Nuôi con nuôi là “hơn con nuôi từ 20 tuổi trở lên”.

Ở ví dụ cụ thể này, bà Sộng Thị Mỷ đã kết hôn đúng độ tuổi theo quy định của pháp luật, sau đó mới mang thai và sinh con. Tuy nhiên, bà Mỷ lại không đủ điều kiện để nhận con nuôi, mặc dù người được nhận nuôi bằng tuổi hoặc thậm chí kém tuổi (nếu tính cả về ngày, tháng) con đẻ của mình. Trong hoàn cảnh này, cháu Dở mồ côi, nên rất cần nhận được sự yêu thương, chăm sóc. Mặt khác, gia đình ông Chống và bà Mỷ là hộ duy nhất trong bản không phải là hộ nghèo, nên có đủ điều kiện về kinh tế. Bên cạnh đó, Bà Mỷ cũng vừa mới sinh cháu Vạ, nên việc nhận nuôi cháu Dở cũng là tạo điều kiện cho cháu Dở được hưởng dòng sữa mẹ. Nếu như Ủy ban nhân dân xã Sam Kha thụ lý giải quyết theo nguyên tắc “Nhà nước khuyến khích việc nhận trẻ em mồ côi, trẻ em bị bỏ rơi, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khác làm con nuôi” sẽ được thực hiện. Tuy nhiên, quan hệ cha, mẹ - con nuôi đã không được thiết lập do sự “bất tương đồng” trong các quy định của pháp luật.

Trường hợp thứ hai: Một người nam giới đơn thân, đã đủ 19 tuổi 01 ngày trở lên, nhưng chưa đủ 20 tuổi chưa đủ điều kiện kết hôn, nhưng lại đủ điều kiện nhận con nuôi.

Ví dụ: Bà Tòng Thị Chung, cư trú tại bản Gia Lan, xã Mường Giàng, huyện Quỳnh Nhai, tỉnh Sơn La, có con ngoài giá thú là cháu Tòng Văn Hải (sinh ngày 22/02/2017). Ngày 18/4/2017, bà Chung kết hôn với ông Quàng Văn Bạt. Do đó, bà Chung đã đồng ý cho cháu Hải làm con nuôi của ông Lò Trung Thành (sinh ngày 16/01/1998). Ngày 25/4/2017, ông Thành đã đăng ký nhận nuôi con nuôi tại Ủy ban nhân dân xã Mường Giàng. Tuy nhiên, là đàn ông, lại đơn thân, lại phải đi làm nương, nên ông Thành thường xuyên phải gửi cháu Hải cho hàng xóm. Do đó, việc chăm sóc con nhỏ cùng công việc nương rẫy của ông trở nên rất khó khăn và không được đảm bảo. Để gánh nặng được chia sẻ, ông Thành quyết định kết hôn cùng bà Vì Thị Tuyết. Ngày 16/5/2017, ông Thành và bà Tuyết đến Ủy ban nhân dân xã Mường Giàng đăng ký kết hôn. Tuy nhiên, công chức tư pháp - hộ tịch xã đã từ chối thụ lý, bởi ông Thành chưa đủ điều kiện về độ tuổi kết hôn theo quy định điểm a khoản 1 Điều 8 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 “nam từ đủ 20 tuổi trở lên, nữ từ đủ 18 tuổi trở lên”. Như vậy, ở ví dụ này, chúng ta thấy sự ngược lại của ví dụ trong trường hợp 1, nếu cùng xét điều kiện về độ tuổi. Ở ví dụ trong trường hợp 1 thì người nhận con nuôi đủ điều kiện kết hôn, nhưng không đủ điều kiện nhận con nuôi. Ở ví dụ trong trường hợp 2 thì người nhận con nuôi đủ điều kiện nhận con nuôi, nhưng lại không đủ điều kiện kết hôn.

Trong thực tiễn đăng ký nuôi con nuôi hiện nay ở vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới, đối với các trường hợp vướng mắc trên, nếu công chức tư pháp - hộ tịch không thụ lý giải quyết thì sẽ dễ nảy sinh ra những vi phạm pháp luật khác. Vì đứa trẻ được nhận làm con nuôi còn rất nhỏ (mới được vài tháng tuổi), thậm chí có trường hợp còn chưa đăng ký khai sinh. Khi xảy ra những vướng mắc điều kiện độ tuổi trong trường hợp trên, người nhận con nuôi thường “lách luật” bằng cách đi xin lại giấy chứng sinh để biến con nuôi thành con đẻ (trong ví dụ của trường hợp 1) hoặc đổi lại ngày, tháng, năm sinh của đứa trẻ được nhận làm con nuôi cho phù hợp với điều kiện của pháp luật (trong ví dụ của trường hợp 2); hoặc họ không có giấy chứng sinh mà chỉ viết cam đoan về việc sinh (vì sinh ra ở nhà) nhưng các thông tin về việc sinh đó đã bị thay đổi, không đúng sự thật. Vẫn biết rằng, việc cấp giấy chứng sinh và viết cam đoan như vậy là không đúng quy định, nhưng công tác kiểm soát và kiểm tra là rất khó khăn đối với vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới, vùng có địa hình rộng, mật độ dân cư thưa thớt. Bởi nếu xét hồ sơ, giấy tờ, thì không phát hiện ra sai phạm, trừ khi công chức tư pháp - hộ tịch biết rõ về việc sinh.

Qua các trường hợp trên, để có sự tương thích, thống nhất giữa các đạo luật, thiết nghĩ nên có sự điều chỉnh về độ tuổi chênh lệch giữa người nhận con nuôi và người được nhận làm con nuôi theo giới tính của người nhận con nuôi. Ví dụ, điểm b khoản 1 Điều 14 có thể sửa thành: “Người được nhận làm con nuôi phải kém người được nhận làm cha nuôi ít nhất từ đủ 20 tuổi trở lên, kém người được nhận làm mẹ nuôi ít nhất từ đủ 18 tuổi trở lên”.

Trên đây là một số ý kiến trao đổi về điều kiện về độ tuổi trong nuôi con nuôi, rất mong các nhà làm luật lưu tâm và có những sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với thực tiễn áp dụng pháp luật, nhất là địa bàn vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và vùng biên giới.

Cao Thị Quỳnh

Trường Chính trị tỉnh Sơn La

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Để bảo đảm cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân được tiến hành dân chủ, đúng pháp luật, các quy định về phiếu bầu cử cũng như nguyên tắc, trình tự bỏ phiếu đã được quy định chặt chẽ[1]. Việc nắm rõ các quy định này giúp cử tri thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ trong ngày bầu cử.
[1] Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 và Nghị quyết số 40/NQ-HĐBCQG ngày 29/9/2025 của Hội đồng bầu cử quốc gia quy định mẫu văn bản hồ sơ ứng cử và việc hồ sơ ứng cử; nội quy phòng bỏ phiếu trong công tác bầu cử ĐBQH khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031
Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Trong quá trình tổ chức bầu cử, có thể phát sinh một số tình huống đặc biệt như dịch bệnh, thiên tai, hỏa hoạn hoặc vấn đề về an ninh, trật tự. Pháp luật về bầu cử đã quy định rõ thẩm quyền và phương án xử lý nhằm bảo đảm cuộc bầu cử được tổ chức an toàn, đúng quy định và bảo đảm quyền bầu cử của cử tri.
Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Để chuẩn bị cho “Ngày hội non sông” - Ngày bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031, công tác phân chia đơn vị bầu cử cần phải được triển khai với những yêu cầu khắt khe hơn bao giờ hết với mục tiêu trọng tâm là bảo đảm cân đối, tránh chênh lệch lớn, thuận tiện cho cử tri thực hiện quyền bầu cử như: Các khu vực đô thị, khu công nghiệp có đông cử tri; các khu vực miền núi, hải đảo có ít cử tri.
Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Pháp luật quy định cụ thể về nguyên tắc bỏ phiếu, cách ghi phiếu bầu, việc viết hộ, bỏ hộ phiếu và xử lý Thẻ cử tri nhằm bảo đảm việc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân diễn ra đúng quy định.
Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Cơ chế giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân giữ vai trò quan trọng trong việc bảo đảm tính dân chủ, minh bạch và hợp pháp của quá trình bầu cử. Pháp luật Việt Nam thiết lập cơ chế này trên cơ sở kết hợp giữa các quy định đặc thù của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân với các quy định chung của pháp luật về khiếu nại, tố cáo, qua đó hình thành khung pháp lý cho việc tiếp nhận, xem xét và xử lý các khiếu nại, tố cáo phát sinh trong quá trình bầu cử.
Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Một vụ án in và phát hành sách giáo khoa giả vừa được đưa ra xét xử đã tiếp tục gióng lên hồi chuông cảnh báo về tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực xuất bản, đặc biệt là đối với sách giáo dục - mặt hàng có nhu cầu cao và ảnh hưởng trực tiếp đến hàng triệu học sinh.
Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức thống nhất vào ngày 15/3/2026 theo Nghị quyết của Quốc hội. Tuy nhiên, pháp luật cho phép tổ chức bỏ phiếu sớm trong những trường hợp đặc biệt nhằm bảo đảm quyền bầu cử của công dân không thể tham gia bỏ phiếu vào ngày chính thức. Việc tổ chức bầu cử sớm phải tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc về thẩm quyền quyết định, trình tự thủ tục, kiểm phiếu, niêm phong, bảo mật kết quả và kỷ luật thời gian bỏ phiếu theo đúng quy định của Luật Bầu cử và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Vận động bầu cử của người ứng cử là hoạt động gặp gỡ, tiếp xúc cử tri hoặc thông qua phương tiện thông tin đại chúng để người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân báo cáo với cử tri về dự kiến chương trình hành động của mình nhằm thực hiện trách nhiệm đại biểu nếu được bầu làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân và trao đổi những vấn đề mà cử tri quan tâm; tạo điều kiện để cử tri tiếp xúc với người ứng cử, hiểu rõ hơn người ứng cử; trên cơ sở đó cân nhắc, lựa chọn, bầu những người đủ tiêu chuẩn làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.
Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, yêu cầu thượng tôn Hiến pháp và pháp luật không chỉ đặt ra đối với hoạt động của bộ máy nhà nước mà trở thành chuẩn mực ứng xử phổ biến trong xã hội. Pháp luật chỉ thực sự phát huy vai trò điều chỉnh các quan hệ xã hội khi được các chủ thể tiếp nhận, tôn trọng, tuân thủ thực hiện trên tinh thần chủ động, tự giác, gắn với niềm tin vào công bằng và trật tự xã hội. Thực tiễn cho thấy, hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, nhưng tình trạng vi phạm pháp luật trong một số lĩnh vực vẫn diễn biến phức tạp; còn tồn tại khoảng trống giữa nhận thức pháp luật và hành vi tuân thủ; tâm lý tuân thủ thụ động, mang tính tình thế, phụ thuộc vào sự kiểm tra, giám sát và xử lý của cơ quan có thẩm quyền. Những biểu hiện này phản ánh việc tuân thủ pháp luật chưa thực sự trở thành chuẩn mực văn hóa trong xã hội. Vì vậy, việc nghiên cứu, nhận diện các yếu tố tác động, đánh giá đúng thực trạng, đề xuất nhiệm vụ, giải pháp xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn, góp phần thể chế hóa chủ trương của Đảng, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, mạnh, bền vững trong bối cảnh mới.
Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Tết Nguyên đán là dịp đoàn viên, nghỉ ngơi và tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí đầu năm, góp phần làm phong phú đời sống văn hóa, tinh thần của mỗi gia đình và cộng đồng. Tuy nhiên, một số hình thức vui chơi có thưởng có thể vượt ngoài khuôn khổ pháp luật nếu không được nhận diện đúng. Từ yêu cầu bảo đảm kỷ cương, pháp luật trong dịp Tết, việc làm rõ ranh giới pháp lý giữa vui xuân có thưởng và hành vi vi phạm pháp luật có ý nghĩa quan trọng.
Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết 71-NQ/TW) đặt ra những yêu cầu mang tính chiến lược đối với xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, giáo dục đại học giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành lớp trí thức mới - vừa có năng lực chuyên môn, vừa có bản lĩnh, nhân cách và tinh thần phụng sự xã hội. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật phỏng vấn Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đào Thanh Trường - Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội, xung quanh quan điểm xây dựng con người toàn diện, các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp, cũng như những định hướng tích hợp giáo dục nhân văn với khoa học, công nghệ trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Mùa xuân về không chỉ mang theo nhựa sống của thiên nhiên mà còn là thời điểm để nhìn lại những thành quả của năm qua. Xuân Bính Ngọ 2026, với Trường Cao đẳng Cơ điện Hà Nội (HCEM), là một mùa xuân đặc biệt - mùa xuân của sự cộng hưởng giữa niềm tự hào về hành trình 80 năm đất nước độc lập và quyết tâm chính trị cao để hiện thực hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị. Đây chính là “chìa khóa” để HCEM bứt phá, vươn tầm quốc tế, trở thành biểu tượng của nền giáo dục nghề nghiệp (GDNN) hiện đại trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Năm 2025 được xem là cột mốc bản lề trên hành trình đưa Việt Nam bước vào kỷ nguyên số toàn diện. Trong không khí Xuân Bính Ngọ 2026, Cục trưởng Cục Chuyển đổi số quốc gia (Bộ KH&CN) Trần Duy Ninh chia sẻ với Tạp chí Dân chủ và Pháp luật về những thành quả nổi bật, tầm nhìn, cơ hội và kỳ vọng đặt vào đội ngũ trí thức công nghệ, với khát vọng xây dựng đất nước Việt Nam hùng cường, tự chủ và thịnh vượng trên nền tảng số.
Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Nhìn lại hành trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đội ngũ doanh nhân Việt Nam tiếp tục là lực lượng năng động, sáng tạo và đóng góp quan trọng vào tăng trưởng. Tuy nhiên, bối cảnh hội nhập sâu, rộng đặt ra yêu cầu cao hơn đối với việc hoàn thiện pháp luật về kinh doanh. Nhân dịp xuân mới, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Quang Vinh - Phó Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) về kỳ vọng đổi mới và yêu cầu xây dựng hành lang pháp lý ổn định để doanh nghiệp Việt Nam tự tin phát triển trong giai đoạn mới.
Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với mục tiêu đến năm 2045 trở thành nước phát triển có thu nhập cao, đội ngũ doanh nhân Việt Nam được kỳ vọng trở thành lực lượng kiến tạo thịnh vượng quốc gia. Khát vọng ấy chỉ có thể nảy nở và lớn lên trong hệ sinh thái pháp lý minh bạch, an toàn và tạo động lực.

Theo dõi chúng tôi trên: