Thứ ba 03/03/2026 17:18
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Bàn về điều kiện giao dịch chung trong hợp đồng dịch vụ logistics

Điều kiện giao dịch chung do bên cung ứng dịch vụ đưa ra, áp dụng chung cho bên sử dụng dịch vụ và bên sử dụng dịch vụ chấp nhận giao kết hợp đồng thì phải chấp nhận điều kiện này. Điều kiện giao dịch chung do một bên đưa ra nên nó thường được xây dựng theo hướng có lợi cho người soạn ra nó, tạo lợi thế cho mình, áp đặt đối tác còn lại. Để tạo sự bình đẳng giữa các bên thì điều kiện giao dịch chung phải đảm bảo sự bình đằng giữa các bên. Trường hợp điều kiện giao dịch chung do bên kinh doanh dịch vụ đưa ra có những điều khoản gây bất lợi cho khách hàng, miễn trách nhiệm của mình thì điều kiện đó vô hiệu.


Điều kiện giao dịch chung là bộ phận không tách rời hợp đồng dịch vụ logistics. Trong hợp đồng dịch vụ logisics, một chủ thể cung ứng dịch vụ như hãng hàng không, các hãng tàu biển, các nhà cung ứng dịch vụ bảo hiểm hàng hóa… không thể đàm phán hết được với tất cả các khách hàng trong cùng một điều kiện vận chuyển, cùng tính chất của một loại hàng hóa. Họ áp dụng điều kiện giao dịch chung nhằm giảm bớt thời gian đàm phán, tiết kiệm chi phí đi lại, tạo thuận tiện cho các bên (cho chính họ và đối tác).

Trong bài viết, tác giả bên cạnh việc phân tích lý luận pháp luật về điều kiện giao dịch chung còn nêu các quy định của pháp luật Việt Nam về điều kiện giao dịch chung trong hợp đồng dịch vụ logistics, qua đó bàn luận sâu về một số vấn đề đặt ra trong việc giao kết và thực hiện hợp đồng dịch vụ logistics có sử dụng điều kiện giao dịch chung.

1. Lý luận pháp luật về điều kiện giao dịch chung

Điều kiện giao dịch chung xuất hiện trên thế giới từ khoảng thế kỷ XIX nhưng ở nước ta được luật hóa trong Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010 và sau đó là Bộ luật Dân sự năm 2015. Theo xu hướng của nền sản xuất đại trà, các hợp đồng sản xuất, phân phối và chuyển giao hàng hóa và dịch vụ thường được điều chỉnh bởi các điều khoản và điều kiện soạn sẵn của một trong các bên trong hợp đồng (General Terms and Conditions - GTSs) hay “standard terms”[1]. Hợp đồng vận tải hàng hóa và hợp đồng bảo hiểm hàng hóa do bên cung ứng dịch cung cấp dịch vụ cho nhiều khách hàng có cùng một nhu cầu giống nhau, vì vậy họ sẽ sử dụng điều kiện giao dịch chung. Điều kiện giao dịch chung là những điều khoản soạn sẵn, được chuẩn bị trước, được sử dụng lặp lại bởi một bên và thường được sử dụng mà không thương lượng với bất kỳ bên nào khác. Đặc trưng tiêu biểu của các điều khoản soạn sẵn là không thương lượng riêng với các bên trong hợp đồng[2].

Điều kiện giao dịch chung do bên cung ứng dịch vụ đưa ra, áp dụng chung cho bên sử dụng dịch vụ và bên sử dụng dịch vụ chấp nhận giao kết hợp đồng thì phải chấp nhận điều kiện này. Mục đích của điều kiện giao dịch chung là giúp cho các bên giao kết dễ dàng, tiết kiệm thời gian và chi phí. Khi giao kết hợp đồng, các bên hướng đến điều kiện giao dịch chung chính là hướng đến tính ổn định, tiêu chuẩn và thống nhất trong hợp đồng. Điều kiện giao dịch chung do một bên đưa ra nên thường được xây dựng theo hướng có lợi cho người soạn ra nó, tạo lợi thế cho mình, áp đặt đối tác còn lại. Để tạo sự công bằng giữa các bên thì điều kiện giao dịch chung phải đảm bảo sự bình đẳng. Trường hợp điều kiện giao dịch chung do bên kinh doanh dịch vụ đưa ra có những điều khoản gây bất lợi cho khách hàng, miễn trách nhiệm của mình thì điều kiện đó vô hiệu.

Từ lý luận trên đây, có thể thấy điều kiện giao dịch chung có những đặc điểm sau đây:

Một là, điều kiện giao dịch chung là những quy tắc ổn định do một bên đơn phương thiết lập mà không thông qua sự thỏa thuận từ phía đối tác. Điều kiện giao dịch chung thể hiện ý chí của một bên trong quan hệ hợp đồng và có tính chất ổn định, lâu dài.

Hai là, điều kiện giao dịch chung là một bộ phận không tách rời của hợp đồng, có sự ràng buộc pháp lý đối với bên được đề nghị. Bên được đề nghị ký hợp đồng là chấp nhận điều kiện giao dịch chung và không thể sửa chữa, thay đổi.

Ba là, điều kiện giao dịch chung chỉ có hiệu lực khi được công bố công khai và bên được đề nghị phải được biết điều đó hoặc phải được phổ biến, được tiếp cận dễ dàng.

Bốn là, điều kiện giao dịch chung phải đảm bảo bình đẳng giữa các bên. Trường hợp điều kiện giao dịch chung không đảm bảo được yếu tố này sẽ bị vô hiệu (trừ khi các bên có thỏa thuận khác).

Điều kiện giao dịch chung là bộ phận không tách rời hợp đồng dịch vụ logistics. Trong hợp đồng dịch vụ logisics, một chủ thể cung ứng dịch vụ như hãng hàng không, các hãng tàu biển, các nhà cung ứng dịch vụ bảo hiểm hàng hóa… không thể đàm phán hết được với tất cả các khách hàng trong cùng một điều kiện vận chuyển, cùng tính chất của một loại hàng hóa. Họ áp dụng điều kiện giao dịch chung nhằm giảm bớt thời gian đàm phán, tiết kiệm chi phí đi lại, tạo thuận tiện cho các bên (cho chính họ và đối tác). Đây là việc rất phổ biến trong thực tế, có thể dễ dàng nhận thấy các điều lệ vận chuyển hay các điều kiện bảo hiểm hàng hóa được niêm kết công khai trên các phương tiện thông tin đại chúng, các trang thông tin điện tử, thậm chí là tại nơi làm việc của các nhà cung cấp dịch vụ này.

Hợp đồng dịch vụ logistics thường qua nhiều khâu, nhiều công đoạn và mỗi một công đoạn có điều kiện giao dịch chung khác nhau. Điều kiện giao dịch chung trong hợp đồng dịch vụ logistics còn được gọi nhiều tên khác nhau như điều lệ vận chuyển, quy tắc bảo hiểm... Luật Hàng không dân dụng Việt Nam năm 2006 quy định Điều lệ vận chuyển phải được đăng ký với Bộ Giao thông vận tải. Điều lệ là một phần không tách rời của hợp đồng hoặc bất kỳ thỏa thuận nào giữa hãng hàng không với khách hàng. Điều 111 Luật Hàng không dân dụng Việt Nam năm 2006 quy định: “Điều lệ vận chuyển là bộ phận cấu thành của hợp đồng vận chuyển hàng không, quy định các điều kiện của người vận chuyển đối với việc vận chuyển hành khách, hành lý, hàng hoá, bưu gửi bằng đường hàng không”.

Trên trang thông tin điện tử của hãng hàng không Vietnam Airline đăng tải công khai về Điều lệ vận chuyển hàng hóa[3]. Khi ký kết hợp đồng vận chuyển, khách hàng mặc nhiên phải biết và được coi là chấp nhận điều kiện giao dịch này. Thông thường, hợp đồng sẽ dẫn chiếu đến các điều lệ và quy tắc trên, điều lệ và quy tắc đó là một phần không tách rời của hợp đồng. Ví dụ, Điều 128 Luật Hàng không dân dụng Việt Nam năm 2006 quy định về hợp đồng vận chuyển hàng hoá như sau: “Hợp đồng vận chuyển hàng hoá là sự thoả thuận giữa người vận chuyển và người thuê vận chuyển, theo đó người vận chuyển có nghĩa vụ vận chuyển hàng hoá đến địa điểm đến và trả hàng hoá cho người có quyền nhận; người thuê vận chuyển có nghĩa vụ thanh toán giá dịch vụ vận chuyển. Người vận chuyển là tổ chức cung cấp dịch vụ vận chuyển thương mại bằng đường hàng không. Vận đơn hàng không, các thoả thuận khác bằng văn bản giữa hai bên, Điều lệ vận chuyển, bảng giá dịch vụ vận chuyển là tài liệu của hợp đồng vận chuyển hàng hóa”.

Trong vận đơn cũng có những điều kiện giao dịch chung ở mặt sau do hãng vận chuyển phát hành và khách hàng không được đàm phán những điều kiện này (thường là những điều khoản miễn trách của người chuyên chở, trường hợp bất khả kháng, miễn trừ rủi ro).

2. Quy định pháp luật Việt Nam về điều kiện giao dịch chung trong hợp đồng dịch vụ logistics

Khoản 6 Điều 3 Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010 quy định: “Điều kiện giao dịch chung là những quy định, quy tắc bán hàng, cung ứng dịch vụ do tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ công bố và áp dụng đối với người tiêu dùng”. Luật này cũng quy định cụ thể về các điều khoản của giao dịch chung không có hiệu lực pháp luật (Điều 16), thực hiện điều kiện giao dịch chung (Điều 18), kiểm soát hợp đồng theo mẫu, điều kiện giao dịch chung (Điều 19).

Với phương thức giao dịch điện tử, nội dung điều kiện giao dịch chung được quy định tại Điều 32 Nghị định số 52/2013/NP-CP ngày 16/5/2013 của Chính phủ về thương mại điện tử. Bên cạnh đó, khoản 3 Điều 32 Nghị định này quy định: “Trong trường hợp website có chức năng đặt hàng trực tuyến, người bán phải có cơ chế để khách hàng đọc và bày tỏ sự đồng ý riêng với các điều kiện giao dịch chung trước khi gửi đề nghị giao kết hợp đồng”.

Điều 406 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: “Điều kiện giao dịch chung là những điều khoản ổn định do một bên công bố để áp dụng chung cho bên được đề nghị giao kết hợp đồng”. Nếu bên được đề nghị chấp nhận giao kết hợp đồng thì coi như chấp nhận các điều khoản này. Điều kiện giao dịch chung thực chất là các điều khoản mẫu trong hợp đồng do một bên soạn sẵn để áp dụng, bên còn lại không có khả năng đàm phán thay đổi nội dung mà chỉ có quyền chấp nhận hoặc từ chối.

Vấn đề đặt ra là liệu rằng điều kiện giao dịch chung có làm mất đi tính bình đẳng, nguyên tắc tự do, tự nguyện cam kết thỏa thuận trong quan hệ dân sự hay không khi bên còn lại hầu như không có quyền thương lượng đối với các điều khoản là điều kiện giao dịch chung và việc sử dụng điều kiện giao dịch chung có thể tạo ra các điều khoản gây bất lợi cho bên kia, như vậy sẽ không đảm bảo được nguyên tắc bình đẳng quy định tại khoản 1 Điều 3 Bộ luật Dân sự năm 2015.

Để đảm bảo hài hòa quyền lợi của các bên trong hợp đồng, Điều 406 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định về điều kiện để giao dịch chung trong giao kết hợp đồng có hiệu lực là: Phải được công khai để bên xác lập giao dịch biết hoặc phải biết về điều kiện đó; trình tự, thể thức công khai điều kiện giao dịch chung thực hiện theo quy định của pháp luật; phải bảo đảm sự bình đẳng giữa các bên, trường hợp điều kiện giao dịch chung có quy định về miễn trách nhiệm của bên đưa ra điều kiện giao dịch chung, tăng trách nhiệm hoặc loại bỏ quyền lợi chính đáng của bên kia thì quy định này không có hiệu lực, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

So với Bộ luật Dân sự năm 2015 thì Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010 có những quy định cụ thể hơn về các điều khoản sẽ vô hiệu nếu được ghi nhận trong điều kiện giao dịch chung tại khoản 1 Điều 16, cụ thể là: (i) Loại trừ trách nhiệm của tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ đối với người tiêu dùng theo quy định của pháp luật; (ii) Hạn chế, loại trừ quyền khiếu nại, khởi kiện của người tiêu dùng; (iii) Cho phép tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ đơn phương thay đổi điều kiện của hợp đồng đã thỏa thuận trước với người tiêu dùng hoặc quy tắc, quy định bán hàng, cung ứng dịch vụ áp dụng đối với người tiêu dùng khi mua, sử dụng hàng hóa, dịch vụ không được thể hiện cụ thể trong hợp đồng; (iv) Cho phép tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ đơn phương xác định người tiêu dùng không thực hiện một hoặc một số nghĩa vụ; (v) Cho phép tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ quy định hoặc thay đổi giá tại thời điểm giao hàng hóa, cung ứng dịch vụ; (vi) Cho phép tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ giải thích hợp đồng trong trường hợp điều khoản của hợp đồng được hiểu khác nhau; (vii) Loại trừ trách nhiệm của tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ trong trường hợp tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ thông qua bên thứ ba; (viii) Bắt buộc người tiêu dùng phải tuân thủ các nghĩa vụ ngay cả khi tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ không hoàn thành nghĩa vụ của mình; (ix) Cho phép tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ chuyển giao quyền, nghĩa vụ cho bên thứ ba mà không được người tiêu dùng đồng ý.

Điều kiện giao dịch chung còn được quy định từ Điều 7 đến Điều 16 Nghị định số 99/2011/NĐ-CP ngày 27/10/2011 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng (Nghị định số 99/2011/NĐ-CP), cụ thể: Hợp đồng theo mẫu và điều kiện giao dịch chung phải được lập thành văn bản và phải đáp ứng đủ các điều kiện sau: Ngôn ngữ sử dụng bằng tiếng Việt, nội dung phải rõ ràng, dễ hiểu; cỡ chữ ít nhất là 12; nền giấy và màu mực thể hiện nội dung hợp đồng theo mẫu và điều kiện giao dịch chung phải tương phản nhau. Hợp đồng theo mẫu, điều kiện giao dịch chung thuộc danh mục hàng hóa, dịch vụ phải đăng ký theo quy định của Thủ tướng Chính phủ, tổ chức, cá nhân kinh doanh phải thực hiện việc đăng ký theo quy định của Nghị định này. Hợp đồng theo mẫu, điều kiện giao dịch chung chỉ được áp dụng đối với người tiêu dùng khi việc đăng ký được hoàn thành theo quy định tại Điều 14 Nghị định số 99/2011/NĐ-CP.

Các hợp đồng theo mẫu và điều kiện giao dịch chung áp dụng trên phạm vi cả nước hoặc áp dụng trên phạm vi từ hai tỉnh trở lên phải đăng ký với Bộ Công thương và với Sở Công thương nếu có phạm vi áp dụng trong tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.

Danh mục hàng hóa, dịch vụ thiết yếu phải đăng ký hợp đồng theo mẫu, điều kiện giao dịch chung được ban hành theo các quyết định sau: Quyết định số 02/2012/QĐ-TTg ngày 13/01/2012 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành danh mục hàng hóa, dịch vụ thiết yếu phải đăng ký hợp đồng theo mẫu, điều kiện giao dịch chung; Quyết định số 35/2015/QĐ-TTg ngày 20/8/2015 của Thủ tướng Chính phủ về việc sửa đổi, bổ sung Quyết định số 02/2012/QĐ-TTg ngày 13/01/2012 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành danh mục hàng hóa, dịch vụ thiết yếu phải đăng ký hợp đồng theo mẫu, điều kiện giao dịch chung; Quyết định số 38/2018/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ sửa đổi Quyết định số 35/2015/QĐ-TTg ngày 20/8/2015 về việc sửa đổi, bổ sung Quyết định số 02/2012/QĐ-TTg ngày 13/01/2012 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành danh mục hàng hóa, dịch vụ thiết yếu phải đăng ký hợp đồng theo mẫu, điều kiện giao dịch chung.

3. Những vấn đề đặt ra trong việc giao kết và thực hiện hợp đồng dịch vụ logistics có sử dụng diều kiện giao dịch chung

3.1. Đối với bên đề nghị sử dụng điều kiện giao dịch chung

Điều kiện giao dịch chung do bên cung ứng dịch vụ đề nghị, đưa ra trước và đặt khách hàng vào thế buộc phải giao kết. Điều này là rất phổ biến trong vận tải và bảo hiểm hàng hóa. Việc các doanh nghiệp sử dụng hợp đồng mẫu và điều kiện giao dịch chung đã hạn chế phần nào nguyên tắc tự do hợp đồng. Khách hàng thường phải chấp nhận các điều kiện mà bên cung ứng đưa ra hoặc ít có cơ hội đàm phán, khách hàng ở thế yếu, phải chấp nhận, đôi khi không biết đến quyền bảo lưu. Theo pháp luật, hợp đồng là quan hệ ý chí, là sự thống nhất ý chí thật và tự do, là luật của các bên tham gia hợp đồng. Trên thực tế, hợp đồng mẫu và điều kiện giao dịch chung đã làm mờ đi quyền tự do của khách hàng. Ví dụ như: Điều kiện giao dịch chung của bộ vận đơn. Mặt trước là các thông tin người gửi hàng, người nhận, tên tàu bay/tàu biển, ngày đi, ngày đến, mô tả hàng hóa, kích thước, khối lượng. Mặt sau quy định về các trường hợp miễn trách, mức bồi thường hư hỏng mất mát... Mặt sau của đơn bảo hiểm, chứng thư bảo hiểm đều thể hiện các điều kiện giao dịch chung, áp dụng cho mọi hợp đồng bảo hiểm, các rủi ro tổn thất được bảo hiểm, các rủi ro loại trừ, phạm vi, trách nhiệm bảo hiệm về không gian, thời gian, quyền và nghĩa vụ các bên, quy định về giám định, bồi thường, khiếu nại, giải quyết tranh chấp.

Đối với doanh nghiệp cung ứng dịch vụ logistics, khi đưa ra điều kiện giao dịch chung cần nắm được tinh thần của luật vì nếu không doanh nghiệp sẽ rất dễ đưa vào hợp đồng và điều kiện giao dịch chung mang những điều khoản trái pháp luật, từ đó dẫn đến tranh chấp xảy ra, có thể dẫn đến kiện tụng, sẽ gây thiệt hại về uy tín và tiền bạc cho doanh nghiệp. Tuy nhiên, với tính chất ổn định, không bị sửa chữa điều chỉnh, không gặp bất lợi khi giải thích thì các tổ chức, cá nhân cung ứng dịch vụ vẫn nên xây dựng và áp dụng trong các hợp đồng của mình nhưng phải đảm bảo: Công khai các điều kiện giao dịch chung trên website của đơn vị hoặc phổ biến cho người đề nghị giao kết được biết; hạn chế tối đa các điều khoản tăng trách nhiệm hoặc loại bỏ quyền lợi chính đáng của bên kia khi trường hợp hai bên không có thỏa thuận chấp nhận nó.

3.2. Đối với bên sử dụng dịch vụ logistics

Cá nhân, tổ chức sử dụng dịch vụ logistics cần lưu ý các điều kiện giao dịch chung, hợp đồng mẫu mà bên cung ứng dịch vụ đưa ra trước. Điều kiện giao dịch chung do bên cung ứng soạn thảo thường có xu hướng quy định những điều khoản có lợi cho mình trong mọi trường hợp và có điều khoản gây bất lợi cho khách hàng ở một khía cạnh nào đó. Những điều kiện giao dịch chung mà bên cung ứng dịch vụ đưa ra khách hàng không thể thay đổi được mà chỉ có hai lựa chọn một là chấp nhận, hai là từ chối. Nếu chấp nhận những điều khoản đó thì một khi tranh chấp xảy ra khách hàng phần lớn chịu thiệt về mình.

Khi hợp đồng có chứa đựng các điều kiện giao dịch chung, bên được đề nghị giao kết hợp đồng, các tổ chức, cá nhân cần phải chú ý: Yêu cầu bên đưa ra điều kiện giao dịch chung giải thích rõ về tất cả các điều khoản trong hợp đồng; cân nhắc, xem xét thật kỹ các điều kiện giao dịch chung, những điều khoản loại bỏ quyền và lợi ích hợp pháp, tăng thêm trách nhiệm và không thỏa thuận chấp nhận các điều khoản này; đàm phán đối với những điều khoản dễ gây bất lợi cho mình.

Để tránh những bất lợi, bên sử dụng dịch vụ cần đọc kỹ điều kiện giao dịch chung, lưu ý nghĩa vụ của bên cung ứng vì những điều khoản này thường thiết kế theo hướng giám thiểu tối đa trách nhiệm của bên cung ứng dịch vụ, so sánh các điều khoản mẫu đó có phù hợp với pháp luật hay không, có xâm phạm đến quyền và lợi ích của mình hay không, từ đó mới đi đến quyết định có nên ký hợp đồng hay không. Với những hợp đồng có giá trị lớn, bên sử dụng dịch vụ nên tìm các đối tác có uy tín, đáng tin cậy, chất lượng dịch vụ tốt để đàm phán và ký hợp đồng. Tổ chức, cá nhân khi đàm phán hợp đồng cần đưa ra chi tiết các điều khoản về nghĩa vụ của bên cung ứng để ràng buộc trách nhiệm của họ đối với chất lượng dịch vụ cung ứng.

3.3. Đối với cơ quan quản lý nhà nước

Do đặc thù của điều kiện giao dịch chung mà trước khi đưa vào áp dụng cần phải tiến hành đăng ký. Việc đăng ký nhằm đảm bảo quyền lợi hợp pháp cho người sử dụng, thông qua việc chấp thuận về việc đăng ký này cũng giúp Nhà nước kiểm soát được hoạt động của doanh nghiệp, đồng thời kiểm soát rủi ro cho người sử dụng dịch vụ. Vai trò của các đơn vị chức năng là kiểm tra sự chấp hành các điều kiện giao dịch chung qua các tiêu chí như:

Thứ nhất, về thủ tục hành chính: Doanh nghiệp có đăng ký với cơ quan nhà nước có thẩm quyền hay không. Nhiều điều kiện giao dịch chung pháp luật chuyên ngành quy định cần phải đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Do đó, cần kiểm tra sự tuân thủ này tại các tổ chức, cá nhân và doanh nghiệp (ví dụ như Điều lệ vận chuyển phải được đăng ký với Bộ Giao thông vận tải).

Thứ hai, hình thức thực hiện điều kiện giao dịch chung: Đảm bảo sự tuân thủ pháp luật về ngôn ngữ thể hiện bằng tiếng Việt, cỡ chữ, nền giấy và màu mực tương phản nhau đúng quy định (theo Nghị định số 99/2011/NĐ-CP).

Thứ ba, về thực hiện điều kiện giao dịch chung: Kiểm tra sự niêm yết công khai, công bố rộng rãi tại địa điểm giao dịch.

Thứ tư, về các điều khoản không có hiệu lực: Kiểm tra những điều khoản bất công bằng, tăng trách nhiệm và giảm quyền lợi của bên được đề nghị.

ThS. Đào Thị Cấm

Vụ Pháp chế, Bộ Công Thương







[1]. Bộ Công Thương, Vụ Pháp chế (2018), Tìm hiểu chung về CISG từ các án lệ tiêu biểu, Nxb. Thanh niên, tr. 58.

[2]. Tlđd tr. 59.

[3]. Https://www.vietnamairlines.com/nz/vi/legal/conditions

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Một vụ án in và phát hành sách giáo khoa giả vừa được đưa ra xét xử đã tiếp tục gióng lên hồi chuông cảnh báo về tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực xuất bản, đặc biệt là đối với sách giáo dục - mặt hàng có nhu cầu cao và ảnh hưởng trực tiếp đến hàng triệu học sinh.
Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức thống nhất vào ngày 15/3/2026 theo Nghị quyết của Quốc hội. Tuy nhiên, pháp luật cho phép tổ chức bỏ phiếu sớm trong những trường hợp đặc biệt nhằm bảo đảm quyền bầu cử của công dân không thể tham gia bỏ phiếu vào ngày chính thức. Việc tổ chức bầu cử sớm phải tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc về thẩm quyền quyết định, trình tự thủ tục, kiểm phiếu, niêm phong, bảo mật kết quả và kỷ luật thời gian bỏ phiếu theo đúng quy định của Luật Bầu cử và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Vận động bầu cử của người ứng cử là hoạt động gặp gỡ, tiếp xúc cử tri hoặc thông qua phương tiện thông tin đại chúng để người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân báo cáo với cử tri về dự kiến chương trình hành động của mình nhằm thực hiện trách nhiệm đại biểu nếu được bầu làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân và trao đổi những vấn đề mà cử tri quan tâm; tạo điều kiện để cử tri tiếp xúc với người ứng cử, hiểu rõ hơn người ứng cử; trên cơ sở đó cân nhắc, lựa chọn, bầu những người đủ tiêu chuẩn làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.
Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, yêu cầu thượng tôn Hiến pháp và pháp luật không chỉ đặt ra đối với hoạt động của bộ máy nhà nước mà trở thành chuẩn mực ứng xử phổ biến trong xã hội. Pháp luật chỉ thực sự phát huy vai trò điều chỉnh các quan hệ xã hội khi được các chủ thể tiếp nhận, tôn trọng, tuân thủ thực hiện trên tinh thần chủ động, tự giác, gắn với niềm tin vào công bằng và trật tự xã hội. Thực tiễn cho thấy, hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, nhưng tình trạng vi phạm pháp luật trong một số lĩnh vực vẫn diễn biến phức tạp; còn tồn tại khoảng trống giữa nhận thức pháp luật và hành vi tuân thủ; tâm lý tuân thủ thụ động, mang tính tình thế, phụ thuộc vào sự kiểm tra, giám sát và xử lý của cơ quan có thẩm quyền. Những biểu hiện này phản ánh việc tuân thủ pháp luật chưa thực sự trở thành chuẩn mực văn hóa trong xã hội. Vì vậy, việc nghiên cứu, nhận diện các yếu tố tác động, đánh giá đúng thực trạng, đề xuất nhiệm vụ, giải pháp xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn, góp phần thể chế hóa chủ trương của Đảng, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, mạnh, bền vững trong bối cảnh mới.
Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Tết Nguyên đán là dịp đoàn viên, nghỉ ngơi và tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí đầu năm, góp phần làm phong phú đời sống văn hóa, tinh thần của mỗi gia đình và cộng đồng. Tuy nhiên, một số hình thức vui chơi có thưởng có thể vượt ngoài khuôn khổ pháp luật nếu không được nhận diện đúng. Từ yêu cầu bảo đảm kỷ cương, pháp luật trong dịp Tết, việc làm rõ ranh giới pháp lý giữa vui xuân có thưởng và hành vi vi phạm pháp luật có ý nghĩa quan trọng.
Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết 71-NQ/TW) đặt ra những yêu cầu mang tính chiến lược đối với xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, giáo dục đại học giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành lớp trí thức mới - vừa có năng lực chuyên môn, vừa có bản lĩnh, nhân cách và tinh thần phụng sự xã hội. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật phỏng vấn Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đào Thanh Trường - Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội, xung quanh quan điểm xây dựng con người toàn diện, các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp, cũng như những định hướng tích hợp giáo dục nhân văn với khoa học, công nghệ trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Mùa xuân về không chỉ mang theo nhựa sống của thiên nhiên mà còn là thời điểm để nhìn lại những thành quả của năm qua. Xuân Bính Ngọ 2026, với Trường Cao đẳng Cơ điện Hà Nội (HCEM), là một mùa xuân đặc biệt - mùa xuân của sự cộng hưởng giữa niềm tự hào về hành trình 80 năm đất nước độc lập và quyết tâm chính trị cao để hiện thực hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị. Đây chính là “chìa khóa” để HCEM bứt phá, vươn tầm quốc tế, trở thành biểu tượng của nền giáo dục nghề nghiệp (GDNN) hiện đại trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Năm 2025 được xem là cột mốc bản lề trên hành trình đưa Việt Nam bước vào kỷ nguyên số toàn diện. Trong không khí Xuân Bính Ngọ 2026, Cục trưởng Cục Chuyển đổi số quốc gia (Bộ KH&CN) Trần Duy Ninh chia sẻ với Tạp chí Dân chủ và Pháp luật về những thành quả nổi bật, tầm nhìn, cơ hội và kỳ vọng đặt vào đội ngũ trí thức công nghệ, với khát vọng xây dựng đất nước Việt Nam hùng cường, tự chủ và thịnh vượng trên nền tảng số.
Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Nhìn lại hành trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đội ngũ doanh nhân Việt Nam tiếp tục là lực lượng năng động, sáng tạo và đóng góp quan trọng vào tăng trưởng. Tuy nhiên, bối cảnh hội nhập sâu, rộng đặt ra yêu cầu cao hơn đối với việc hoàn thiện pháp luật về kinh doanh. Nhân dịp xuân mới, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Quang Vinh - Phó Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) về kỳ vọng đổi mới và yêu cầu xây dựng hành lang pháp lý ổn định để doanh nghiệp Việt Nam tự tin phát triển trong giai đoạn mới.
Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với mục tiêu đến năm 2045 trở thành nước phát triển có thu nhập cao, đội ngũ doanh nhân Việt Nam được kỳ vọng trở thành lực lượng kiến tạo thịnh vượng quốc gia. Khát vọng ấy chỉ có thể nảy nở và lớn lên trong hệ sinh thái pháp lý minh bạch, an toàn và tạo động lực.
Tiên phong xây dựng hệ sinh thái bảo quản thuốc thông minh - Khi công nghệ mang lại sự an tâm cho sức khỏe cộng đồng

Tiên phong xây dựng hệ sinh thái bảo quản thuốc thông minh - Khi công nghệ mang lại sự an tâm cho sức khỏe cộng đồng

Trong hành trình chăm sóc sức khỏe người dân, có một mắt xích âm thầm nhưng vô cùng quan trọng: bảo quản thuốc. Chất lượng của từng viên thuốc, từng lọ vaccine hay mỗi loại dược liệu đều phụ thuộc tuyệt đối vào môi trường chúng được gìn giữ. Chỉ một biến động nhỏ về nhiệt độ, độ ẩm hay ánh sáng cũng đủ ảnh hưởng đến hiệu lực điều trị và an toàn của sản phẩm.
EVN - Bảo đảm an ninh năng lượng, hiện thực hóa Nghị quyết và yêu cầu hoàn thiện thể chế pháp luật

EVN - Bảo đảm an ninh năng lượng, hiện thực hóa Nghị quyết và yêu cầu hoàn thiện thể chế pháp luật

Năng lượng không chỉ là “đầu vào” của sản xuất, mà còn là hạ tầng nền tảng quan trọng quyết định sức cạnh tranh quốc gia, chất lượng sống của người dân và năng lực tự chủ của nền kinh tế đất nước trong giai đoạn phát triển mới. Trong bối cảnh nhu cầu điện tăng cao, biến động nguồn cung nhiên liệu toàn cầu, áp lực chuyển dịch xanh và yêu cầu vận hành hệ thống an toàn, minh bạch, đặt ra bài toán lớn đối với ngành điện: vừa phải bảo đảm đủ điện cho phát triển nhanh và bền vững, vừa phải thiết kế lại cơ chế, chính sách để thu hút đầu tư, phát triển thị trường và tăng năng lực quản trị.
Hương Việt Sinh tiên phong số hóa suất ăn học đường: Minh bạch nguồn gốc thực phẩm chỉ bằng một cú chạm

Hương Việt Sinh tiên phong số hóa suất ăn học đường: Minh bạch nguồn gốc thực phẩm chỉ bằng một cú chạm

An toàn thực phẩm tại bếp ăn trường học luôn là nỗi trăn trở của các bậc phụ huynh và nhà quản lý giáo dục. Trước bài toán này, thay vì quản lý bằng giấy tờ, Công ty TNHH Hương Việt Sinh đã có bước đi tiên phong, xây dựng hệ sinh thái số, thiết lập tiêu chuẩn mới về sự minh bạch và an toàn trong lĩnh vực cung cấp suất ăn bán trú.
Điều chỉnh quy hoạch phát triển điện lực quốc gia - bước đi cấp bách trong giai đoạn tăng tốc phát triển

Điều chỉnh quy hoạch phát triển điện lực quốc gia - bước đi cấp bách trong giai đoạn tăng tốc phát triển

Trong giai đoạn đất nước chuyển mình mạnh mẽ, mục tiêu đưa Việt Nam trở thành quốc gia phát triển có thu nhập cao vào năm 2045 đặt ra yêu cầu ngày càng lớn đối với hệ thống năng lượng, đặc biệt là điện lực. Việc bảo đảm đủ điện cho sản xuất, kinh doanh và đời sống của Nhân dân không chỉ là nhiệm vụ kinh tế mà còn là vấn đề an ninh quốc gia. Trong bối cảnh đó, công tác điều chỉnh quy hoạch phát triển điện lực quốc gia giai đoạn 2021 - 2030, tầm nhìn đến 2050 (QHĐ VIII) nhận được sự quan tâm đặc biệt của Chính phủ, các bộ ngành và cộng đồng doanh nghiệp.
LILAMA bứt phá theo tinh thần Nghị quyết số 79-NQ/TW: Từ doanh nghiệp lắp máy truyền thống đến lực lượng tiên phong làm chủ công nghệ

LILAMA bứt phá theo tinh thần Nghị quyết số 79-NQ/TW: Từ doanh nghiệp lắp máy truyền thống đến lực lượng tiên phong làm chủ công nghệ

Nghị quyết số 79-NQ/TW ngày 06/01/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế nhà nước (Nghị quyết số 79-NQ/TW) được ban hành không chỉ khẳng định vai trò chủ đạo, dẫn dắt của doanh nghiệp nhà nước, mà còn đặt ra yêu cầu cao hơn về hiệu quả, năng lực cạnh tranh và khả năng làm chủ công nghệ. Trong dòng chảy đó, Tổng công ty Lắp máy Việt Nam - LILAMA đang cho thấy những nỗ lực rõ nét nhằm bứt phá, tái định vị từ một doanh nghiệp lắp máy truyền thống thành lực lượng tiên phong trong chế tạo, tổng thầu và làm chủ công nghệ công nghiệp - năng lượng.

Theo dõi chúng tôi trên: