Thứ năm 12/03/2026 20:39
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Bàn về đối tượng thụ hưởng công tác hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp

Trong Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa năm 2017, chế định hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp lần đầu tiên đã được “luật hóa” tại khoản 3 Điều 14 của Luật

Trong Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa năm 2017, chế định hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp lần đầu tiên đã được “luật hóa” tại khoản 3 Điều 14 của Luật, theo đó, các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan, tổ chức, trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, thực hiện các hoạt động để hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp nhỏ và vừa[1]. Đối tượng thụ hưởng công tác hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp được quy định trong Luật này là “doanh nghiệp nhỏ và vừa”. Tiêu chí xác định doanh nghiệp nhỏ và vừa được xác định tại Điều 4 của Luật như sau: “1. Doanh nghiệp nhỏ và vừa bao gồm doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ và doanh nghiệp vừa, có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 200 người và đáp ứng một trong hai tiêu chí sau đây: a) Tổng nguồn vốn không quá 100 tỷ đồng; b) Tổng doanh thu của năm trước liền kề không quá 300 tỷ đồng. 2. Doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ và doanh nghiệp vừa được xác định theo lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản; công nghiệp và xây dựng; thương mại và dịch vụ”[2].

Khoản 3 Điều 14 Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa năm 2017 đã giới hạn phạm vi đối tượng trong công tác hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp là doanh nghiệp nhỏ và vừa với các tiêu chí xác định như trên, hẹp hơn nhiều so với đối tượng được quy định tại Nghị định số 66/2008/NĐ-CP ngày 28/5/2008 của Chính phủ về hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp đã được ban hành từ năm 2008 (Nghị định số 66/2008/Đ-CP). Điều 1 Nghị định số 66/2008/NĐ-CP được ban hành năm 2008 quy định đối tượng hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp như sau: “Nghị định này quy định hình thức, nội dung hỗ trợ pháp lý, điều kiện bảo đảm hoạt động hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp và tổ chức, cá nhân kinh doanh (sau đây gọi chung là doanh nghiệp)…”. Như vậy, Nghị định xác định rõ hoạt động hỗ trợ pháp lý dành cho doanh nghiệp và tổ chức, cá nhân kinh doanh[3].

Doanh nghiệp và tổ chức, cá nhân kinh doanh được pháp luật hiện hành quy định một cách cụ thể: Doanh nghiệp là tổ chức có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch, được đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh (theo khoản 7 Điều 4 Luật Doanh nghiệp năm 2014). Tổ chức, cá nhân kinh doanh theo Điều 3 Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng 2010: “Tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ là tổ chức, cá nhân thực hiện một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ hàng hóa hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi”.

Khoản 3 Điều 14 Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa năm 2017 quy định về hỗ trợ pháp lý với đối tượng là doanh nghiệp nhỏ và vừa nhưng trên thực tế cá nhân kinh doanh (khoảng 05 triệu hộ kinh doanh cá thể), hợp tác xã (19.487)[4] và doanh nghiệp lớn (khoảng 15.000 doanh nghiệp)[5] vẫn có nhu cầu về hỗ trợ pháp lý thì căn cứ vào quy định hỗ trợ pháp lý hiện hành (quy định ở Nghị định), trên cơ sở nguồn lực của mình, Nhà nước vẫn thực hiện các hình thức hỗ trợ pháp lý cho các đối tượng trên tương tự như đối tượng doanh nghiệp nhỏ và vừa.

Việc hỗ trợ pháp lý cho các đối tượng không phải là doanh nghiệp nhỏ và vừa không trái với Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa. Điều 1 Nghị định số 66/2008/NĐ-CP quy định đối tượng hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp là “doanh nghiệp và tổ chức, cá nhân kinh doanh”; theo đó, quy định này sẽ không bỏ trống đối tượng là các doanh nghiệp khác (như: Doanh nghiệp lớn, các hợp tác xã, hộ kinh doanh cá thể...) và trên thực tế, các đối tượng trên vẫn có nhu cầu hỗ trợ pháp lý. Thời gian qua, Nhà nước ta đã thực hiện hiệu quả việc hỗ trợ pháp lý cho các đối tượng này. Việc hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp như vậy cũng thể hiện trách nhiệm của Chính phủ đối với doanh nghiệp nói chung. Quy định trên cần được xây dựng theo hướng tùy thuộc vào nguồn lực của các cơ quan, tổ chức, bộ, ngành, chính quyền địa phương để áp dụng tương tự các nội dung, hình thức về hỗ trợ pháp lý đối với các đối tượng không phải là doanh nghiệp nhỏ và vừa.

Tuy nhiên, việc chỉ quy định đối tượng được hỗ trợ pháp lý là doanh nghiệp nhỏ và vừa theo khoản 3 Điều 14 Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa sẽ bỏ trống đối tượng cần được hỗ trợ pháp lý là các doanh nghiệp khác ngoài doanh nghiệp nhỏ và vừa. Trên thực tế, bộ, cơ quan ngang bộ, chính quyền địa phương cấp tỉnh vẫn phải hỗ trợ pháp lý cho các doanh nghiệp này nhưng sẽ không có căn cứ pháp lý để hỗ trợ. Thực tế cho thấy, theo thống kê, số lượng hộ kinh doanh hiện nay là khá lớn, ước tính khoảng hơn 05 triệu hộ, có đóng góp lớn cho nền kinh tế, nhưng hoạt động tản mạn, khả năng quản trị hạn chế, thiếu tính minh bạch. Nếu chính sách hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp của Nhà nước tổ chức thực hiện tốt, có hiệu quả thì đương nhiên sẽ thúc đẩy sự phát triển của các hộ kinh doanh này.

Luật Hợp tác xã năm 2012 được ban hành đã khẳng định bản chất của hợp tác xã không phải là doanh nghiệp. Hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã hoạt động hiệu quả và theo đuổi mục tiêu cao nhất là đáp ứng nhu cầu về sản phẩm, dịch vụ của thành viên, vì vậy, đối tượng này cũng rất cần Nhà nước hỗ trợ pháp lý cho mình. Tuy nhiên, trên thực tế, trong thời gian qua, việc triển khai các hình thức hỗ trợ pháp lý cho nhóm đối tượng này cũng rất hạn chế, chỉ dừng lại ở mức cập nhật, phổ biến các quy định về pháp luật hợp tác xã chứ chưa thực hiện hỗ trợ, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc pháp lý được nhiều cho đối tượng này.

Về doanh nghiệp FDI, doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài (Foreign Direct Investment). Theo quy định của pháp luật hiện hành thì đối tượng hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp vẫn bao gồm cả các doanh nghiệp FDI. Các thành phần kinh tế đều là bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế quốc dân, bình đẳng, hợp tác và cạnh tranh theo pháp luật. Tuy nhiên, trên thực tế, các doanh nghiệp FDI chưa thực sự là đối tượng thụ hưởng chủ yếu của các chính sách, chương trình hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp trong thời gian qua. Do nguồn lực hạn chế nên các chương trình hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp được thiết kế tập trung cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa, doanh nghiệp ở địa bàn kinh tế - xã hội khó khăn, đặc biệt khó khăn. Những nội dung mang tính “kỹ thuật” này đã hạn chế đối tượng là doanh nghiệp FDI nhận được sự hỗ trợ pháp lý của Nhà nước trong thời gian qua. Tuy nhiên, các chính sách thu hút FDI của Nhà nước hiện nay cũng đang có rất nhiều chính sách ưu đãi cho nhóm doanh nghiệp này.

Thực tế, trên thế giới cũng có một số quốc gia có quy định đối tượng áp dụng các chính sách hỗ trợ cho doanh nghiệp nói chung (trong đó có hỗ trợ pháp lý) là hỗ trợ cho doanh nghiệp nhỏ và vừa do người bản địa nắm giữ hoặc sở hữu (như Phillipines, Malaysia…) và cũng có những quốc gia quy định đối tượng áp dụng các chính sách hỗ trợ của Nhà nước bao gồm cả các doanh nghiệp FDI (Singapore quy định hỗ trợ của Nhà nước không chỉ dành cho các doanh nghiệp trong nước mà còn tạo điều kiện thuận lợi cho cả doanh nghiệp nước ngoài đầu tư vào Singapore)[6].

Ngoài ra, đối tượng áp dụng của hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp tại Việt Nam thực tế bao gồm cả các doanh nghiệp nhỏ và vừa thuộc nhóm công ty hoạt động theo hình thức công ty mẹ - công ty con, tập đoàn kinh tế vì các doanh nghiệp này cũng rất cần nhận được sự hỗ trợ về mặt pháp lý khi kinh doanh ra thị trường quốc tế, tuy nhiên trên thực tế, sự hỗ trợ của Nhà nước chưa kết hợp được với nguồn lực của các doanh nghiệp lớn, các công ty mẹ, các tập đoàn kinh tế… để góp phần triển khai có hiệu quả việc hỗ trợ pháp lý cho nhóm doanh nghiệp này tại Việt Nam.

Việc nghiên cứu để thống nhất đối tượng hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp trong bối cảnh Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa đã được ban hành năm 2017 chỉ quy định đối tượng hỗ trợ theo luật là doanh nghiệp nhỏ và vừa, tuy nhiên, Nghị định số 66/2008/NĐ-CP lại quy định cả đối tượng là các doanh nghiệp lớn, hộ kinh doanh, hợp tác xã, vì vậy, việc nghiên cứu làm rõ đối tượng, nhu cầu để tiếp tục triển khai các hình thức hỗ trợ pháp lý nói riêng và các hình thức hỗ trợ khác của Nhà nước cho các đối tượng là doanh nghiệp nói chung là rất cần thiết và cần được quán triệt thống nhất trong quá trình thực hiện từ các cơ quan trung ương tới các địa phương, các tổ chức đại diện cho doanh nghiệp.

ThS. Nguyễn Nhật Tuấn

Đại học Kinh tế quốc dân





[1]. Hiện nay, Việt Nam có trên 624.000 doanh nghiệp đăng ký hoạt động, trong đó có 97,7% là doanh nghiệp nhỏ và vừa. Báo cáo ngày 11/4/2017 của Tổng cục Thống kê - Bộ Kế hoạch và Đầu tư công bố chỉ số phát triển doanh nghiệp đối với các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương năm 2016.

[2]. Điều 4 Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa năm 2017.

[3]. Hiện nay, có 624.000 doanh nghiệp; khoảng 05 triệu hộ kinh doanh cá thể; 19.487 hợp tác xã (Báo cáo 06 tháng đầu năm 2018 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư).

[4]. Báo cáo của Bộ Kế hoạch và Đầu tư tại Hội thảo ngày 21/02/2019 tại Hà Nội lấy ý kiến doanh nghiệp về Dự thảo Luật sửa đổi Luật Đầu tư, Luật Doanh nghiệp.

[5]. Nhiều công ty lớn có phạm vi hoạt động mạnh trong nước và quốc tế như Vietnam Airlines, FPT, Vinamilk, TH True milk, Biti’s, Hãng hàng không VietJet, Saigon Tourist… cũng có nhu cầu cần hỗ trợ pháp lý, nhất là trong lĩnh vực thương mại quốc tế, giải quyết tranh chấp quốc tế…

[6]. Báo cáo về kinh nghiệm quốc tế xây dựng Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa (Kèm theo Tờ trình số 342/TTr-CP ngày 28/9/2016 của Chính phủ).

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Để bảo đảm cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân được tiến hành dân chủ, đúng pháp luật, các quy định về phiếu bầu cử cũng như nguyên tắc, trình tự bỏ phiếu đã được quy định chặt chẽ[1]. Việc nắm rõ các quy định này giúp cử tri thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ trong ngày bầu cử.
[1] Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 và Nghị quyết số 40/NQ-HĐBCQG ngày 29/9/2025 của Hội đồng bầu cử quốc gia quy định mẫu văn bản hồ sơ ứng cử và việc hồ sơ ứng cử; nội quy phòng bỏ phiếu trong công tác bầu cử ĐBQH khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031
Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Trong quá trình tổ chức bầu cử, có thể phát sinh một số tình huống đặc biệt như dịch bệnh, thiên tai, hỏa hoạn hoặc vấn đề về an ninh, trật tự. Pháp luật về bầu cử đã quy định rõ thẩm quyền và phương án xử lý nhằm bảo đảm cuộc bầu cử được tổ chức an toàn, đúng quy định và bảo đảm quyền bầu cử của cử tri.
Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Để chuẩn bị cho “Ngày hội non sông” - Ngày bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031, công tác phân chia đơn vị bầu cử cần phải được triển khai với những yêu cầu khắt khe hơn bao giờ hết với mục tiêu trọng tâm là bảo đảm cân đối, tránh chênh lệch lớn, thuận tiện cho cử tri thực hiện quyền bầu cử như: Các khu vực đô thị, khu công nghiệp có đông cử tri; các khu vực miền núi, hải đảo có ít cử tri.
Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Pháp luật quy định cụ thể về nguyên tắc bỏ phiếu, cách ghi phiếu bầu, việc viết hộ, bỏ hộ phiếu và xử lý Thẻ cử tri nhằm bảo đảm việc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân diễn ra đúng quy định.
Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Cơ chế giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân giữ vai trò quan trọng trong việc bảo đảm tính dân chủ, minh bạch và hợp pháp của quá trình bầu cử. Pháp luật Việt Nam thiết lập cơ chế này trên cơ sở kết hợp giữa các quy định đặc thù của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân với các quy định chung của pháp luật về khiếu nại, tố cáo, qua đó hình thành khung pháp lý cho việc tiếp nhận, xem xét và xử lý các khiếu nại, tố cáo phát sinh trong quá trình bầu cử.
Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Một vụ án in và phát hành sách giáo khoa giả vừa được đưa ra xét xử đã tiếp tục gióng lên hồi chuông cảnh báo về tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực xuất bản, đặc biệt là đối với sách giáo dục - mặt hàng có nhu cầu cao và ảnh hưởng trực tiếp đến hàng triệu học sinh.
Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức thống nhất vào ngày 15/3/2026 theo Nghị quyết của Quốc hội. Tuy nhiên, pháp luật cho phép tổ chức bỏ phiếu sớm trong những trường hợp đặc biệt nhằm bảo đảm quyền bầu cử của công dân không thể tham gia bỏ phiếu vào ngày chính thức. Việc tổ chức bầu cử sớm phải tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc về thẩm quyền quyết định, trình tự thủ tục, kiểm phiếu, niêm phong, bảo mật kết quả và kỷ luật thời gian bỏ phiếu theo đúng quy định của Luật Bầu cử và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Vận động bầu cử của người ứng cử là hoạt động gặp gỡ, tiếp xúc cử tri hoặc thông qua phương tiện thông tin đại chúng để người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân báo cáo với cử tri về dự kiến chương trình hành động của mình nhằm thực hiện trách nhiệm đại biểu nếu được bầu làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân và trao đổi những vấn đề mà cử tri quan tâm; tạo điều kiện để cử tri tiếp xúc với người ứng cử, hiểu rõ hơn người ứng cử; trên cơ sở đó cân nhắc, lựa chọn, bầu những người đủ tiêu chuẩn làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.
Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, yêu cầu thượng tôn Hiến pháp và pháp luật không chỉ đặt ra đối với hoạt động của bộ máy nhà nước mà trở thành chuẩn mực ứng xử phổ biến trong xã hội. Pháp luật chỉ thực sự phát huy vai trò điều chỉnh các quan hệ xã hội khi được các chủ thể tiếp nhận, tôn trọng, tuân thủ thực hiện trên tinh thần chủ động, tự giác, gắn với niềm tin vào công bằng và trật tự xã hội. Thực tiễn cho thấy, hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, nhưng tình trạng vi phạm pháp luật trong một số lĩnh vực vẫn diễn biến phức tạp; còn tồn tại khoảng trống giữa nhận thức pháp luật và hành vi tuân thủ; tâm lý tuân thủ thụ động, mang tính tình thế, phụ thuộc vào sự kiểm tra, giám sát và xử lý của cơ quan có thẩm quyền. Những biểu hiện này phản ánh việc tuân thủ pháp luật chưa thực sự trở thành chuẩn mực văn hóa trong xã hội. Vì vậy, việc nghiên cứu, nhận diện các yếu tố tác động, đánh giá đúng thực trạng, đề xuất nhiệm vụ, giải pháp xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn, góp phần thể chế hóa chủ trương của Đảng, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, mạnh, bền vững trong bối cảnh mới.
Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Tết Nguyên đán là dịp đoàn viên, nghỉ ngơi và tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí đầu năm, góp phần làm phong phú đời sống văn hóa, tinh thần của mỗi gia đình và cộng đồng. Tuy nhiên, một số hình thức vui chơi có thưởng có thể vượt ngoài khuôn khổ pháp luật nếu không được nhận diện đúng. Từ yêu cầu bảo đảm kỷ cương, pháp luật trong dịp Tết, việc làm rõ ranh giới pháp lý giữa vui xuân có thưởng và hành vi vi phạm pháp luật có ý nghĩa quan trọng.
Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết 71-NQ/TW) đặt ra những yêu cầu mang tính chiến lược đối với xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, giáo dục đại học giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành lớp trí thức mới - vừa có năng lực chuyên môn, vừa có bản lĩnh, nhân cách và tinh thần phụng sự xã hội. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật phỏng vấn Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đào Thanh Trường - Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội, xung quanh quan điểm xây dựng con người toàn diện, các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp, cũng như những định hướng tích hợp giáo dục nhân văn với khoa học, công nghệ trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Mùa xuân về không chỉ mang theo nhựa sống của thiên nhiên mà còn là thời điểm để nhìn lại những thành quả của năm qua. Xuân Bính Ngọ 2026, với Trường Cao đẳng Cơ điện Hà Nội (HCEM), là một mùa xuân đặc biệt - mùa xuân của sự cộng hưởng giữa niềm tự hào về hành trình 80 năm đất nước độc lập và quyết tâm chính trị cao để hiện thực hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị. Đây chính là “chìa khóa” để HCEM bứt phá, vươn tầm quốc tế, trở thành biểu tượng của nền giáo dục nghề nghiệp (GDNN) hiện đại trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Năm 2025 được xem là cột mốc bản lề trên hành trình đưa Việt Nam bước vào kỷ nguyên số toàn diện. Trong không khí Xuân Bính Ngọ 2026, Cục trưởng Cục Chuyển đổi số quốc gia (Bộ KH&CN) Trần Duy Ninh chia sẻ với Tạp chí Dân chủ và Pháp luật về những thành quả nổi bật, tầm nhìn, cơ hội và kỳ vọng đặt vào đội ngũ trí thức công nghệ, với khát vọng xây dựng đất nước Việt Nam hùng cường, tự chủ và thịnh vượng trên nền tảng số.
Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Nhìn lại hành trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đội ngũ doanh nhân Việt Nam tiếp tục là lực lượng năng động, sáng tạo và đóng góp quan trọng vào tăng trưởng. Tuy nhiên, bối cảnh hội nhập sâu, rộng đặt ra yêu cầu cao hơn đối với việc hoàn thiện pháp luật về kinh doanh. Nhân dịp xuân mới, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Quang Vinh - Phó Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) về kỳ vọng đổi mới và yêu cầu xây dựng hành lang pháp lý ổn định để doanh nghiệp Việt Nam tự tin phát triển trong giai đoạn mới.
Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với mục tiêu đến năm 2045 trở thành nước phát triển có thu nhập cao, đội ngũ doanh nhân Việt Nam được kỳ vọng trở thành lực lượng kiến tạo thịnh vượng quốc gia. Khát vọng ấy chỉ có thể nảy nở và lớn lên trong hệ sinh thái pháp lý minh bạch, an toàn và tạo động lực.

Theo dõi chúng tôi trên: