Thứ bảy 30/05/2026 18:44
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Bàn về đối tượng thụ hưởng công tác hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp

Trong Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa năm 2017, chế định hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp lần đầu tiên đã được “luật hóa” tại khoản 3 Điều 14 của Luật

Trong Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa năm 2017, chế định hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp lần đầu tiên đã được “luật hóa” tại khoản 3 Điều 14 của Luật, theo đó, các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan, tổ chức, trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, thực hiện các hoạt động để hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp nhỏ và vừa[1]. Đối tượng thụ hưởng công tác hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp được quy định trong Luật này là “doanh nghiệp nhỏ và vừa”. Tiêu chí xác định doanh nghiệp nhỏ và vừa được xác định tại Điều 4 của Luật như sau: “1. Doanh nghiệp nhỏ và vừa bao gồm doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ và doanh nghiệp vừa, có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 200 người và đáp ứng một trong hai tiêu chí sau đây: a) Tổng nguồn vốn không quá 100 tỷ đồng; b) Tổng doanh thu của năm trước liền kề không quá 300 tỷ đồng. 2. Doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ và doanh nghiệp vừa được xác định theo lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản; công nghiệp và xây dựng; thương mại và dịch vụ”[2].

Khoản 3 Điều 14 Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa năm 2017 đã giới hạn phạm vi đối tượng trong công tác hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp là doanh nghiệp nhỏ và vừa với các tiêu chí xác định như trên, hẹp hơn nhiều so với đối tượng được quy định tại Nghị định số 66/2008/NĐ-CP ngày 28/5/2008 của Chính phủ về hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp đã được ban hành từ năm 2008 (Nghị định số 66/2008/Đ-CP). Điều 1 Nghị định số 66/2008/NĐ-CP được ban hành năm 2008 quy định đối tượng hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp như sau: “Nghị định này quy định hình thức, nội dung hỗ trợ pháp lý, điều kiện bảo đảm hoạt động hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp và tổ chức, cá nhân kinh doanh (sau đây gọi chung là doanh nghiệp)…”. Như vậy, Nghị định xác định rõ hoạt động hỗ trợ pháp lý dành cho doanh nghiệp và tổ chức, cá nhân kinh doanh[3].

Doanh nghiệp và tổ chức, cá nhân kinh doanh được pháp luật hiện hành quy định một cách cụ thể: Doanh nghiệp là tổ chức có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch, được đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh (theo khoản 7 Điều 4 Luật Doanh nghiệp năm 2014). Tổ chức, cá nhân kinh doanh theo Điều 3 Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng 2010: “Tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ là tổ chức, cá nhân thực hiện một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ hàng hóa hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi”.

Khoản 3 Điều 14 Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa năm 2017 quy định về hỗ trợ pháp lý với đối tượng là doanh nghiệp nhỏ và vừa nhưng trên thực tế cá nhân kinh doanh (khoảng 05 triệu hộ kinh doanh cá thể), hợp tác xã (19.487)[4] và doanh nghiệp lớn (khoảng 15.000 doanh nghiệp)[5] vẫn có nhu cầu về hỗ trợ pháp lý thì căn cứ vào quy định hỗ trợ pháp lý hiện hành (quy định ở Nghị định), trên cơ sở nguồn lực của mình, Nhà nước vẫn thực hiện các hình thức hỗ trợ pháp lý cho các đối tượng trên tương tự như đối tượng doanh nghiệp nhỏ và vừa.

Việc hỗ trợ pháp lý cho các đối tượng không phải là doanh nghiệp nhỏ và vừa không trái với Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa. Điều 1 Nghị định số 66/2008/NĐ-CP quy định đối tượng hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp là “doanh nghiệp và tổ chức, cá nhân kinh doanh”; theo đó, quy định này sẽ không bỏ trống đối tượng là các doanh nghiệp khác (như: Doanh nghiệp lớn, các hợp tác xã, hộ kinh doanh cá thể...) và trên thực tế, các đối tượng trên vẫn có nhu cầu hỗ trợ pháp lý. Thời gian qua, Nhà nước ta đã thực hiện hiệu quả việc hỗ trợ pháp lý cho các đối tượng này. Việc hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp như vậy cũng thể hiện trách nhiệm của Chính phủ đối với doanh nghiệp nói chung. Quy định trên cần được xây dựng theo hướng tùy thuộc vào nguồn lực của các cơ quan, tổ chức, bộ, ngành, chính quyền địa phương để áp dụng tương tự các nội dung, hình thức về hỗ trợ pháp lý đối với các đối tượng không phải là doanh nghiệp nhỏ và vừa.

Tuy nhiên, việc chỉ quy định đối tượng được hỗ trợ pháp lý là doanh nghiệp nhỏ và vừa theo khoản 3 Điều 14 Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa sẽ bỏ trống đối tượng cần được hỗ trợ pháp lý là các doanh nghiệp khác ngoài doanh nghiệp nhỏ và vừa. Trên thực tế, bộ, cơ quan ngang bộ, chính quyền địa phương cấp tỉnh vẫn phải hỗ trợ pháp lý cho các doanh nghiệp này nhưng sẽ không có căn cứ pháp lý để hỗ trợ. Thực tế cho thấy, theo thống kê, số lượng hộ kinh doanh hiện nay là khá lớn, ước tính khoảng hơn 05 triệu hộ, có đóng góp lớn cho nền kinh tế, nhưng hoạt động tản mạn, khả năng quản trị hạn chế, thiếu tính minh bạch. Nếu chính sách hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp của Nhà nước tổ chức thực hiện tốt, có hiệu quả thì đương nhiên sẽ thúc đẩy sự phát triển của các hộ kinh doanh này.

Luật Hợp tác xã năm 2012 được ban hành đã khẳng định bản chất của hợp tác xã không phải là doanh nghiệp. Hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã hoạt động hiệu quả và theo đuổi mục tiêu cao nhất là đáp ứng nhu cầu về sản phẩm, dịch vụ của thành viên, vì vậy, đối tượng này cũng rất cần Nhà nước hỗ trợ pháp lý cho mình. Tuy nhiên, trên thực tế, trong thời gian qua, việc triển khai các hình thức hỗ trợ pháp lý cho nhóm đối tượng này cũng rất hạn chế, chỉ dừng lại ở mức cập nhật, phổ biến các quy định về pháp luật hợp tác xã chứ chưa thực hiện hỗ trợ, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc pháp lý được nhiều cho đối tượng này.

Về doanh nghiệp FDI, doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài (Foreign Direct Investment). Theo quy định của pháp luật hiện hành thì đối tượng hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp vẫn bao gồm cả các doanh nghiệp FDI. Các thành phần kinh tế đều là bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế quốc dân, bình đẳng, hợp tác và cạnh tranh theo pháp luật. Tuy nhiên, trên thực tế, các doanh nghiệp FDI chưa thực sự là đối tượng thụ hưởng chủ yếu của các chính sách, chương trình hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp trong thời gian qua. Do nguồn lực hạn chế nên các chương trình hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp được thiết kế tập trung cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa, doanh nghiệp ở địa bàn kinh tế - xã hội khó khăn, đặc biệt khó khăn. Những nội dung mang tính “kỹ thuật” này đã hạn chế đối tượng là doanh nghiệp FDI nhận được sự hỗ trợ pháp lý của Nhà nước trong thời gian qua. Tuy nhiên, các chính sách thu hút FDI của Nhà nước hiện nay cũng đang có rất nhiều chính sách ưu đãi cho nhóm doanh nghiệp này.

Thực tế, trên thế giới cũng có một số quốc gia có quy định đối tượng áp dụng các chính sách hỗ trợ cho doanh nghiệp nói chung (trong đó có hỗ trợ pháp lý) là hỗ trợ cho doanh nghiệp nhỏ và vừa do người bản địa nắm giữ hoặc sở hữu (như Phillipines, Malaysia…) và cũng có những quốc gia quy định đối tượng áp dụng các chính sách hỗ trợ của Nhà nước bao gồm cả các doanh nghiệp FDI (Singapore quy định hỗ trợ của Nhà nước không chỉ dành cho các doanh nghiệp trong nước mà còn tạo điều kiện thuận lợi cho cả doanh nghiệp nước ngoài đầu tư vào Singapore)[6].

Ngoài ra, đối tượng áp dụng của hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp tại Việt Nam thực tế bao gồm cả các doanh nghiệp nhỏ và vừa thuộc nhóm công ty hoạt động theo hình thức công ty mẹ - công ty con, tập đoàn kinh tế vì các doanh nghiệp này cũng rất cần nhận được sự hỗ trợ về mặt pháp lý khi kinh doanh ra thị trường quốc tế, tuy nhiên trên thực tế, sự hỗ trợ của Nhà nước chưa kết hợp được với nguồn lực của các doanh nghiệp lớn, các công ty mẹ, các tập đoàn kinh tế… để góp phần triển khai có hiệu quả việc hỗ trợ pháp lý cho nhóm doanh nghiệp này tại Việt Nam.

Việc nghiên cứu để thống nhất đối tượng hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp trong bối cảnh Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa đã được ban hành năm 2017 chỉ quy định đối tượng hỗ trợ theo luật là doanh nghiệp nhỏ và vừa, tuy nhiên, Nghị định số 66/2008/NĐ-CP lại quy định cả đối tượng là các doanh nghiệp lớn, hộ kinh doanh, hợp tác xã, vì vậy, việc nghiên cứu làm rõ đối tượng, nhu cầu để tiếp tục triển khai các hình thức hỗ trợ pháp lý nói riêng và các hình thức hỗ trợ khác của Nhà nước cho các đối tượng là doanh nghiệp nói chung là rất cần thiết và cần được quán triệt thống nhất trong quá trình thực hiện từ các cơ quan trung ương tới các địa phương, các tổ chức đại diện cho doanh nghiệp.

ThS. Nguyễn Nhật Tuấn

Đại học Kinh tế quốc dân





[1]. Hiện nay, Việt Nam có trên 624.000 doanh nghiệp đăng ký hoạt động, trong đó có 97,7% là doanh nghiệp nhỏ và vừa. Báo cáo ngày 11/4/2017 của Tổng cục Thống kê - Bộ Kế hoạch và Đầu tư công bố chỉ số phát triển doanh nghiệp đối với các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương năm 2016.

[2]. Điều 4 Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa năm 2017.

[3]. Hiện nay, có 624.000 doanh nghiệp; khoảng 05 triệu hộ kinh doanh cá thể; 19.487 hợp tác xã (Báo cáo 06 tháng đầu năm 2018 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư).

[4]. Báo cáo của Bộ Kế hoạch và Đầu tư tại Hội thảo ngày 21/02/2019 tại Hà Nội lấy ý kiến doanh nghiệp về Dự thảo Luật sửa đổi Luật Đầu tư, Luật Doanh nghiệp.

[5]. Nhiều công ty lớn có phạm vi hoạt động mạnh trong nước và quốc tế như Vietnam Airlines, FPT, Vinamilk, TH True milk, Biti’s, Hãng hàng không VietJet, Saigon Tourist… cũng có nhu cầu cần hỗ trợ pháp lý, nhất là trong lĩnh vực thương mại quốc tế, giải quyết tranh chấp quốc tế…

[6]. Báo cáo về kinh nghiệm quốc tế xây dựng Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa (Kèm theo Tờ trình số 342/TTr-CP ngày 28/9/2016 của Chính phủ).

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Công tác kiểm tra, giám sát Đảng ủy cấp xã tại Hà Nội hiện nay

Công tác kiểm tra, giám sát Đảng ủy cấp xã tại Hà Nội hiện nay

Đổi mới công tác kiểm tra, giám sát không chỉ dừng lại ở việc xử lý vi phạm mà cốt lõi là để cảnh báo, phòng ngừa và kiến tạo sự phát triển. Trước thực trạng 70% cán bộ kiểm tra cấp xã còn lúng túng về nghiệp vụ và áp lực từ việc thiếu vắng sự giám sát của Hội đồng nhân dân tại các xã, phường, Hà Nội đang nỗ lực tìm kiếm những mô hình mới như "giám sát dữ liệu số" hay cơ chế bảo vệ cán bộ "dám nói, dám làm". Đây chính là chìa khóa để bảo đảm bộ máy chính quyền Thủ đô vận hành liêm chính và hiệu quả sau khi tinh gọn.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định và tổ chức thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Kiến nghị hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định và tổ chức thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 là đạo luật quan trọng nhằm cụ thể hóa quyền tiếp cận thông tin của công dân theo Hiến pháp năm 2013[*], góp phần nâng cao tính công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Sau 08 năm thi hành, bên cạnh những kết quả đạt được, thực tiễn cho thấy còn bộc lộ một số hạn chế, bất cập trong quy định pháp luật và tổ chức thi hành, đặc biệt, liên quan đến phạm vi thông tin, trách nhiệm cung cấp thông tin, trình tự, thủ tục và điều kiện bảo đảm thực hiện quyền. Trên cơ sở nhận diện các vướng mắc, bất cập, nghiên cứu đề xuất định hướng sửa đổi, bổ sung Luật theo hướng bảo đảm tính đồng bộ với hệ thống pháp luật hiện hành, phù hợp với yêu cầu chuyển đổi số và tổ chức bộ máy nhà nước, đồng thời kiến nghị các giải pháp nâng cao hiệu quả tổ chức thi hành, qua đó góp phần bảo đảm tốt hơn quyền tiếp cận thông tin của công dân và xây dựng nền hành chính công khai, minh bạch.
Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018) sau hơn 08 năm thi hành đã bộc lộ nhiều bất cập trước sự vận động nhanh chóng của thực tiễn, đặc biệt là sự xuất hiện của các hình thức hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng và các quan hệ tôn giáo có yếu tố nước ngoài ngày càng phức tạp. Vì vậy, việc tăng cường quản lý nhà nước đối với các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng là yêu cầu cấp thiết không chỉ bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân mà còn nhằm giữ vững an ninh, trật tự xã hội và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới.
Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Thẩm quyền ban hành VBQPPL là nội dung trọng tâm nhằm bảo đảm mỗi loại VBQPPL được ban hành bởi đúng cơ quan, đúng cấp, vừa phù hợp với phạm vi pháp lý, vừa hạn chế rủi ro và xung đột giữa các văn bản.
Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Việc ban hành Luật Ban hành VBQPPL số 64/2025/QH15 được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 87/2025/QH15 và các nghị định hướng dẫn thi hành có ý nghĩa đặc biệt trong bối cảnh đổi mới tư duy xây dựng pháp luật, gắn kết chặt chẽ giữa xây dựng và thi hành pháp luật.
Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Bài viết phân tích quy trình xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ của Quốc hội và quy trình xây dựng chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội, từ đó, đưa ra một số lưu ý nhằm nâng cao hiệu quả việc thực hiện hai quy trình này.
Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Tóm tắt: Bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra góp phần bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp cần miễm trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra để bảo vệ lợi ích hợp pháp của các nhà sản xuất kinh doanh. Bài viết nghiên cứu những trường hợp miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023, đồng thời chỉ ra ưu, nhược điểm và hạn chế của Luật, từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Trong bối cảnh nhiều thách thức, đội ngũ luật sư với kiến thức chuyên môn và kỹ năng nghề nghiệp của mình, đóng vai trò then chốt trong việc nâng cao chất lượng, hiệu quả trợ giúp pháp lý.
Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Những năm qua, công tác trợ giúp pháp lý trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận. Nhiều vụ việc được trợ giúp pháp lý kịp thời, góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người nghèo, người có công với cách mạng và các nhóm yếu thế khác.
Ứng dụng công nghệ số, nền tảng trực tuyến, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động trợ giúp pháp lý

Ứng dụng công nghệ số, nền tảng trực tuyến, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động trợ giúp pháp lý

Những nỗ lực số hóa hồ sơ, vận hành Hệ thống quản lý trợ giúp pháp lý, kết nối dữ liệu dân cư, phát triển tư vấn trực tuyến… đã mở ra hướng tiếp cận mới, góp phần nâng cao chất lượng và tính minh bạch của dịch vụ trợ giúp pháp lý.
Tăng cường hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế trong tố tụng hình sự

Tăng cường hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế trong tố tụng hình sự

Trong tiến trình cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, việc bảo đảm quyền con người luôn là sợi chỉ đỏ xuyên suốt, đặc biệt, với đối tượng yếu thế, yêu cầu này càng trở nên cấp thiết và nhân văn. Trong tố tụng hình sự (TTHS), đối tượng yếu thế với tư cách bị hại, người làm chứng hay bị can, bị cáo, đã và đang phải đối mặt với hệ thống tư pháp hình sự. Đối tượng yếu thế có được tiếp cận công lý bình đẳng hay không phụ thuộc vào sự công tâm, chuyên nghiệp và nhạy cảm của các cơ quan trong hoạt động tố tụng, trong đó có vai trò của hoạt động trợ giúp pháp lý.
Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo trong bối cảnh mới

Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo trong bối cảnh mới

Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và thúc đẩy phát triển bền vững, hoạt động trợ giúp pháp lý đóng vai trò quan trọng trong việc bảo đảm công bằng xã hội và tiếp cận công lý cho người dân, đặc biệt là người nghèo thuộc nhóm đối tượng yếu thế.
Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Đây là giải pháp quan trọng nhằm khắc phục khó khăn, vướng mắc, nâng cao chất lượng tổ chức thi hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo.
Ưu điểm, hạn chế và một số vấn đề chính cần rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Ưu điểm, hạn chế và một số vấn đề chính cần rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 đã góp phần quan trọng trong việc bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của cá nhân, tổ chức, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đối với lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo. Tuy nhiên, thực tiễn triển khai Luật cũng bộc lộ những bất cập, hạn chế cần sửa đổi, hoàn thiện nhằm đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới.
Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là một trong những loại tội phạm có diễn biến ngày càng phức tạp, đa dạng và tinh vi. Phương thức thực hiện tội phạm không ngừng biến đổi, đặc biệt là việc sử dụng công nghệ cao để phạm tội, gây thiệt hại lớn đối với tài sản và tâm lý hoang mang cho người dân, ảnh hưởng đến trật tự, an toàn xã hội. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng các quy định của Bộ luật Hình sự về tội này vẫn còn tồn tại một số vướng mắc, bất cập từ chính quy định của pháp luật.

Theo dõi chúng tôi trên: