Thứ tư 26/08/2026 02:50
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Bàn về đối tượng thụ hưởng công tác hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp

Trong Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa năm 2017, chế định hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp lần đầu tiên đã được “luật hóa” tại khoản 3 Điều 14 của Luật

Trong Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa năm 2017, chế định hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp lần đầu tiên đã được “luật hóa” tại khoản 3 Điều 14 của Luật, theo đó, các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan, tổ chức, trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, thực hiện các hoạt động để hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp nhỏ và vừa[1]. Đối tượng thụ hưởng công tác hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp được quy định trong Luật này là “doanh nghiệp nhỏ và vừa”. Tiêu chí xác định doanh nghiệp nhỏ và vừa được xác định tại Điều 4 của Luật như sau: “1. Doanh nghiệp nhỏ và vừa bao gồm doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ và doanh nghiệp vừa, có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 200 người và đáp ứng một trong hai tiêu chí sau đây: a) Tổng nguồn vốn không quá 100 tỷ đồng; b) Tổng doanh thu của năm trước liền kề không quá 300 tỷ đồng. 2. Doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ và doanh nghiệp vừa được xác định theo lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản; công nghiệp và xây dựng; thương mại và dịch vụ”[2].

Khoản 3 Điều 14 Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa năm 2017 đã giới hạn phạm vi đối tượng trong công tác hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp là doanh nghiệp nhỏ và vừa với các tiêu chí xác định như trên, hẹp hơn nhiều so với đối tượng được quy định tại Nghị định số 66/2008/NĐ-CP ngày 28/5/2008 của Chính phủ về hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp đã được ban hành từ năm 2008 (Nghị định số 66/2008/Đ-CP). Điều 1 Nghị định số 66/2008/NĐ-CP được ban hành năm 2008 quy định đối tượng hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp như sau: “Nghị định này quy định hình thức, nội dung hỗ trợ pháp lý, điều kiện bảo đảm hoạt động hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp và tổ chức, cá nhân kinh doanh (sau đây gọi chung là doanh nghiệp)…”. Như vậy, Nghị định xác định rõ hoạt động hỗ trợ pháp lý dành cho doanh nghiệp và tổ chức, cá nhân kinh doanh[3].

Doanh nghiệp và tổ chức, cá nhân kinh doanh được pháp luật hiện hành quy định một cách cụ thể: Doanh nghiệp là tổ chức có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch, được đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh (theo khoản 7 Điều 4 Luật Doanh nghiệp năm 2014). Tổ chức, cá nhân kinh doanh theo Điều 3 Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng 2010: “Tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ là tổ chức, cá nhân thực hiện một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ hàng hóa hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi”.

Khoản 3 Điều 14 Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa năm 2017 quy định về hỗ trợ pháp lý với đối tượng là doanh nghiệp nhỏ và vừa nhưng trên thực tế cá nhân kinh doanh (khoảng 05 triệu hộ kinh doanh cá thể), hợp tác xã (19.487)[4] và doanh nghiệp lớn (khoảng 15.000 doanh nghiệp)[5] vẫn có nhu cầu về hỗ trợ pháp lý thì căn cứ vào quy định hỗ trợ pháp lý hiện hành (quy định ở Nghị định), trên cơ sở nguồn lực của mình, Nhà nước vẫn thực hiện các hình thức hỗ trợ pháp lý cho các đối tượng trên tương tự như đối tượng doanh nghiệp nhỏ và vừa.

Việc hỗ trợ pháp lý cho các đối tượng không phải là doanh nghiệp nhỏ và vừa không trái với Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa. Điều 1 Nghị định số 66/2008/NĐ-CP quy định đối tượng hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp là “doanh nghiệp và tổ chức, cá nhân kinh doanh”; theo đó, quy định này sẽ không bỏ trống đối tượng là các doanh nghiệp khác (như: Doanh nghiệp lớn, các hợp tác xã, hộ kinh doanh cá thể...) và trên thực tế, các đối tượng trên vẫn có nhu cầu hỗ trợ pháp lý. Thời gian qua, Nhà nước ta đã thực hiện hiệu quả việc hỗ trợ pháp lý cho các đối tượng này. Việc hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp như vậy cũng thể hiện trách nhiệm của Chính phủ đối với doanh nghiệp nói chung. Quy định trên cần được xây dựng theo hướng tùy thuộc vào nguồn lực của các cơ quan, tổ chức, bộ, ngành, chính quyền địa phương để áp dụng tương tự các nội dung, hình thức về hỗ trợ pháp lý đối với các đối tượng không phải là doanh nghiệp nhỏ và vừa.

Tuy nhiên, việc chỉ quy định đối tượng được hỗ trợ pháp lý là doanh nghiệp nhỏ và vừa theo khoản 3 Điều 14 Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa sẽ bỏ trống đối tượng cần được hỗ trợ pháp lý là các doanh nghiệp khác ngoài doanh nghiệp nhỏ và vừa. Trên thực tế, bộ, cơ quan ngang bộ, chính quyền địa phương cấp tỉnh vẫn phải hỗ trợ pháp lý cho các doanh nghiệp này nhưng sẽ không có căn cứ pháp lý để hỗ trợ. Thực tế cho thấy, theo thống kê, số lượng hộ kinh doanh hiện nay là khá lớn, ước tính khoảng hơn 05 triệu hộ, có đóng góp lớn cho nền kinh tế, nhưng hoạt động tản mạn, khả năng quản trị hạn chế, thiếu tính minh bạch. Nếu chính sách hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp của Nhà nước tổ chức thực hiện tốt, có hiệu quả thì đương nhiên sẽ thúc đẩy sự phát triển của các hộ kinh doanh này.

Luật Hợp tác xã năm 2012 được ban hành đã khẳng định bản chất của hợp tác xã không phải là doanh nghiệp. Hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã hoạt động hiệu quả và theo đuổi mục tiêu cao nhất là đáp ứng nhu cầu về sản phẩm, dịch vụ của thành viên, vì vậy, đối tượng này cũng rất cần Nhà nước hỗ trợ pháp lý cho mình. Tuy nhiên, trên thực tế, trong thời gian qua, việc triển khai các hình thức hỗ trợ pháp lý cho nhóm đối tượng này cũng rất hạn chế, chỉ dừng lại ở mức cập nhật, phổ biến các quy định về pháp luật hợp tác xã chứ chưa thực hiện hỗ trợ, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc pháp lý được nhiều cho đối tượng này.

Về doanh nghiệp FDI, doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài (Foreign Direct Investment). Theo quy định của pháp luật hiện hành thì đối tượng hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp vẫn bao gồm cả các doanh nghiệp FDI. Các thành phần kinh tế đều là bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế quốc dân, bình đẳng, hợp tác và cạnh tranh theo pháp luật. Tuy nhiên, trên thực tế, các doanh nghiệp FDI chưa thực sự là đối tượng thụ hưởng chủ yếu của các chính sách, chương trình hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp trong thời gian qua. Do nguồn lực hạn chế nên các chương trình hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp được thiết kế tập trung cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa, doanh nghiệp ở địa bàn kinh tế - xã hội khó khăn, đặc biệt khó khăn. Những nội dung mang tính “kỹ thuật” này đã hạn chế đối tượng là doanh nghiệp FDI nhận được sự hỗ trợ pháp lý của Nhà nước trong thời gian qua. Tuy nhiên, các chính sách thu hút FDI của Nhà nước hiện nay cũng đang có rất nhiều chính sách ưu đãi cho nhóm doanh nghiệp này.

Thực tế, trên thế giới cũng có một số quốc gia có quy định đối tượng áp dụng các chính sách hỗ trợ cho doanh nghiệp nói chung (trong đó có hỗ trợ pháp lý) là hỗ trợ cho doanh nghiệp nhỏ và vừa do người bản địa nắm giữ hoặc sở hữu (như Phillipines, Malaysia…) và cũng có những quốc gia quy định đối tượng áp dụng các chính sách hỗ trợ của Nhà nước bao gồm cả các doanh nghiệp FDI (Singapore quy định hỗ trợ của Nhà nước không chỉ dành cho các doanh nghiệp trong nước mà còn tạo điều kiện thuận lợi cho cả doanh nghiệp nước ngoài đầu tư vào Singapore)[6].

Ngoài ra, đối tượng áp dụng của hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp tại Việt Nam thực tế bao gồm cả các doanh nghiệp nhỏ và vừa thuộc nhóm công ty hoạt động theo hình thức công ty mẹ - công ty con, tập đoàn kinh tế vì các doanh nghiệp này cũng rất cần nhận được sự hỗ trợ về mặt pháp lý khi kinh doanh ra thị trường quốc tế, tuy nhiên trên thực tế, sự hỗ trợ của Nhà nước chưa kết hợp được với nguồn lực của các doanh nghiệp lớn, các công ty mẹ, các tập đoàn kinh tế… để góp phần triển khai có hiệu quả việc hỗ trợ pháp lý cho nhóm doanh nghiệp này tại Việt Nam.

Việc nghiên cứu để thống nhất đối tượng hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp trong bối cảnh Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa đã được ban hành năm 2017 chỉ quy định đối tượng hỗ trợ theo luật là doanh nghiệp nhỏ và vừa, tuy nhiên, Nghị định số 66/2008/NĐ-CP lại quy định cả đối tượng là các doanh nghiệp lớn, hộ kinh doanh, hợp tác xã, vì vậy, việc nghiên cứu làm rõ đối tượng, nhu cầu để tiếp tục triển khai các hình thức hỗ trợ pháp lý nói riêng và các hình thức hỗ trợ khác của Nhà nước cho các đối tượng là doanh nghiệp nói chung là rất cần thiết và cần được quán triệt thống nhất trong quá trình thực hiện từ các cơ quan trung ương tới các địa phương, các tổ chức đại diện cho doanh nghiệp.

ThS. Nguyễn Nhật Tuấn

Đại học Kinh tế quốc dân





[1]. Hiện nay, Việt Nam có trên 624.000 doanh nghiệp đăng ký hoạt động, trong đó có 97,7% là doanh nghiệp nhỏ và vừa. Báo cáo ngày 11/4/2017 của Tổng cục Thống kê - Bộ Kế hoạch và Đầu tư công bố chỉ số phát triển doanh nghiệp đối với các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương năm 2016.

[2]. Điều 4 Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa năm 2017.

[3]. Hiện nay, có 624.000 doanh nghiệp; khoảng 05 triệu hộ kinh doanh cá thể; 19.487 hợp tác xã (Báo cáo 06 tháng đầu năm 2018 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư).

[4]. Báo cáo của Bộ Kế hoạch và Đầu tư tại Hội thảo ngày 21/02/2019 tại Hà Nội lấy ý kiến doanh nghiệp về Dự thảo Luật sửa đổi Luật Đầu tư, Luật Doanh nghiệp.

[5]. Nhiều công ty lớn có phạm vi hoạt động mạnh trong nước và quốc tế như Vietnam Airlines, FPT, Vinamilk, TH True milk, Biti’s, Hãng hàng không VietJet, Saigon Tourist… cũng có nhu cầu cần hỗ trợ pháp lý, nhất là trong lĩnh vực thương mại quốc tế, giải quyết tranh chấp quốc tế…

[6]. Báo cáo về kinh nghiệm quốc tế xây dựng Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa (Kèm theo Tờ trình số 342/TTr-CP ngày 28/9/2016 của Chính phủ).

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Trong bối cảnh tai nạn lao động vẫn diễn biến phức tạp, chuyển đổi số đang mở ra khả năng thay đổi căn bản phương thức quản trị an toàn, vệ sinh lao động (ATVSLĐ) tại doanh nghiệp. Từ số hóa hoạt động huấn luyện, cấp chứng nhận điện tử đến ứng dụng trí tuệ nhân tạo, cảm biến và robot để nhận diện, cảnh báo sớm nguy cơ, vấn đề đặt ra hiện nay là cần tiếp tục hoàn thiện hành lang pháp lý để chuyển từ quản lý mang tính thủ tục, hậu kiểm sang quản trị chủ động, lấy phòng ngừa rủi ro làm trọng tâm.
Đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

Đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

Với mục tiêu đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, thành phố Hà Nội đặt trọng tâm vào đổi mới nội dung, hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật, tăng cường ứng dụng công nghệ số và xây dựng đội ngũ làm công tác phổ biến, giáo dục pháp luật am hiểu địa bàn, phong tục, tập quán và văn hóa của người dân nơi đây.
Quan điểm, định hướng mới của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai

Quan điểm, định hướng mới của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai

Ngày 16/6/2022, Ban chấp hành trung ương Đảng khóa XIII ban hành Nghị quyết số 18-NQ/TW về "Tiếp tục đổi mới, hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý và sử dụng đất, tạo động lực đưa nước ta trở thành nước phát triển có thu nhập cao" (Nghị quyết số 18-NQ/TW). Để hiện thực hóa mục tiêu đưa đất nước trở thành nước phát triển có thu nhập cao, trong thời điểm hiện tại, nhằm phù hợp với sự phát triển chung của đất nước, Hội nghị lần thứ ba, Ban chấp hành trung ương Đảng khóa XIV đã đưa ra những quan điểm, định hướng sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan tại Nghị quyết số 21-NQ/TW ngày 28/7/2026 (Nghị quyết số 21-NQ/TW) làm kim chỉ nam cho mọi hoạt động sửa đổi chính sách pháp luật sau này. Nghị quyết số 21-NQ/TW đã thể hiện những điểm mới trong chủ trương của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan.
Luật Thủ đô năm 2026: Mở rộng cơ hội đầu tư cho nhiều dự án

Luật Thủ đô năm 2026: Mở rộng cơ hội đầu tư cho nhiều dự án

Luật Thủ đô năm 2026 được Quốc hội thông qua ngày 23/4/2026 và có hiệu lực từ ngày 01/7/2026, tiếp tục hoàn thiện các cơ chế, chính sách đặc thù nhằm xây dựng và phát triển Thủ đô. Đáng chú ý, tại Điều 26 của Luật đã thiết lập khung chính sách tương đối toàn diện về thu hút đầu tư, ưu đãi, hỗ trợ đầu tư và phát triển doanh nghiệp, mở rộng cơ hội cho nhiều dự án trên địa bàn Thành phố được tiếp cận các chính sách ưu đãi về đất đai, thuế, tín dụng, hạ tầng, phát triển nhân lực và đổi mới sáng tạo.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Tóm tắt: Trong bối cảnh hệ thống pháp luật ngày càng phức tạp và thường xuyên thay đổi, việc tiếp cận, hiểu và sử dụng pháp luật trở thành thách thức đối với người dân. Mô hình phổ biến, giáo dục pháp luật hiện nay chủ yếu tập trung vào truyền đạt văn bản, chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu hỗ trợ người dân sử dụng pháp luật trong thực tiễn. Trên cơ sở phân tích xu hướng quốc tế về tiếp cận công lý lấy người dân làm trung tâm và ứng dụng công nghệ số, nghiên cứu đề xuất chuyển từ mô hình “phổ biến pháp luật” sang “hạ tầng tuân thủ phòng ngừa”, gắn phổ biến pháp luật với nhu cầu thực tiễn, cảnh báo sớm rủi ro pháp lý và hỗ trợ tra cứu, sử dụng pháp luật hiệu quả trong môi trường số.
Nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng cho người gửi tiền ở Việt Nam

Nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng cho người gửi tiền ở Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh ngân hàng số phát triển, thông tin chưa được kiểm chứng có thể tác động nhanh đến tâm lý và hành vi của người gửi tiền. Nghiên cứu phân tích quy định pháp luật và thực tiễn phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cho thấy, hoạt động này chưa chú trọng đầy đủ đến mức độ hiểu và khả năng vận dụng pháp luật của người gửi tiền; nội dung còn thiên về tính chuyên môn; phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật và cơ chế cung cấp thông tin kịp thời còn hạn chế. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá, tích hợp thông tin pháp luật ngắn gọn vào dịch vụ ngân hàng số và tăng cường cung cấp thông tin chính thức, kịp thời nhằm bảo vệ người gửi tiền và củng cố niềm tin vào hệ thống ngân hàng.
Phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Tóm tắt: Quyền con người phản ánh sự kết tinh những giá trị nhân phẩm cao quý của nhân loại. Nghiên cứu công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người là phân tích, đánh giá phương thức thể chế hóa các chủ trương của Đảng về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đồng thời, đề xuất giải pháp khắc phục những hạn chế của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 trước thách thức mới từ công nghệ số. Trên cơ sở tổng hợp và so sánh luật học, nghiên cứu phân tích, đánh giá vai trò của công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người và thực trạng thi hành Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012. Đồng thời, nghiên cứu đánh giá tính phù hợp, khả thi của dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)* (dự thảo Luật). Từ đó, kiến nghị và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Luật Phòng, chống ma túy năm 2021 quy định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi nghiện ma túy mà không tự nguyện cai nghiện. Mặc dù không được xem là biện pháp xử lý hành chính nhưng biện pháp này mang tính cách ly người bị áp dụng khỏi cộng đồng. Để bảo vệ quyền của người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi, pháp luật cho phép các chủ thể liên quan khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành chưa quy định quyền khởi kiện hay kháng cáo đối với quyết định này. Nghiên cứu phân tích bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi, đồng thời, đề xuất giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật nhằm bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người bị áp dụng biện pháp này.
Nâng cao trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Nâng cao trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã xác định rõ trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật. Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, cải cách tư pháp và chuyển đổi số quốc gia, vai trò này ngày càng trở nên quan trọng. Nghiên cứu phân tích cơ sở chính trị, pháp lý, thực trạng quy định pháp luật và thực tiễn triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật của Tòa án nhân dân; trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện hoạt động này trong hệ thống Tòa án nhân dân.
Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Sự phát triển của nền tảng số, mạng xã hội và trí tuệ nhân tạo tạo sinh đang làm thay đổi phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật, đồng thời, đặt ra nhiều thách thức trong kiểm soát thông tin pháp luật trên môi trường số. Bên cạnh việc mở rộng khả năng tiếp cận pháp luật của người dân, tình trạng lan truyền thông tin pháp luật sai lệch, thiếu kiểm chứng hoặc được tạo sinh bởi hệ thống trí tuệ nhân tạo đang ảnh hưởng đến hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật và quyền tiếp cận thông tin pháp luật chính xác. Trên cơ sở phân tích các vấn đề lý luận, đánh giá thực trạng quy định và thực tiễn áp dụng pháp luật tại Việt Nam, nghiên cứu phân tích bất cập trong kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số và đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả quản lý và bảo đảm chính xác của thông tin pháp luật trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật.
Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 7/2026

Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 7/2026

(Cập nhật bởi LuatVietnam.vn)
Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam[1]

Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam[1]

Tóm tắt: Mô hình chính quyền địa phương hai cấp được triển khai ở Việt Nam từ ngày 01/7/2025 đánh dấu bước chuyển quan trọng trong quá trình đổi mới tổ chức bộ máy nhà nước theo hướng tinh, gọn, tăng cường phân quyền, phân cấp và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị địa phương. Nghiên cứu phân tích các cơ hội và thách thức trong quá trình triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam, làm rõ những vấn đề đặt ra trong hoàn thiện thể chế, bảo đảm nguồn lực và nâng cao năng lực quản trị địa phương, từ đó, đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam thời gian tới.
Một số bất cập của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 và kiến nghị hoàn thiện

Một số bất cập của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Sau hơn 13 năm thi hành, Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng trong triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, góp phần nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ và Nhân dân. Tuy nhiên, trước yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, chuyển đổi số và hoàn thiện thể chế theo chủ trương, định hướng của Đảng, nhiều quy định của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 bộc lộ những hạn chế, bất cập. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, tổng kết thực tiễn thi hành và bối cảnh phát triển đất nước giai đoạn mới, nghiên cứu làm rõ những bất cập về tổ chức thực hiện công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên pháp luật, đối tượng đặc thù, nội dung, hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật và sự không thống nhất của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 với một số luật liên quan. Từ đó, kiến nghị sửa đổi, bổ sung nhằm hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật và nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong bối cảnh hiện nay.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật - Yêu cầu chuyển từ phổ biến, giáo dục pháp luật hình thức sang tiếp cận dựa trên nhu cầu của người dân

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật - Yêu cầu chuyển từ phổ biến, giáo dục pháp luật hình thức sang tiếp cận dựa trên nhu cầu của người dân

Tóm tắt: Việc sửa đổi Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 là cấp thiết trước yêu cầu khắc phục tình trạng tuyên truyền thiên về hình thức, chưa gắn chặt với những vấn đề pháp lý mà người dân thực sự cần được hỗ trợ. Nghiên cứu phân tích khoảng cách giữa nguyên tắc phù hợp với nhu cầu và cơ chế nhận diện, phản ánh, đáp ứng, đo lường nhu cầu pháp lý trong dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật[1] (dự thảo Luật). Trên cơ sở phân tích quy phạm, bình luận chính sách và tiếp cận liên ngành về nhu cầu pháp lý, năng lực pháp lý, tiếp cận công lý, nghiên cứu tập trung vào các quy định về nguyên tắc, nội dung, hình thức, hướng dẫn và giải đáp pháp luật, đối tượng đặc thù, giáo dục pháp luật trong cơ sở giáo dục, trách nhiệm tổ chức thực hiện, cơ chế cấp xã, chuyển đổi số và đánh giá hiệu quả. Kết quả nghiên cứu cho thấy, dự thảo Luật đã có nhiều định hướng tích cực nhưng thiếu cơ chế khảo sát nhu cầu, thiết kế nội dung theo tình huống, chuyển tuyến hỗ trợ pháp lý và đánh giá khả năng hiểu, vận dụng pháp luật. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện các cơ chế bảo đảm cách tiếp cận lấy nhu cầu pháp lý của người dân làm trung tâm.
Chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên ở Việt Nam

Chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên ở Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển nhanh, mạnh mẽ của không gian mạng đang tác động sâu sắc đến đời sống xã hội, đồng thời, đặt ra nhiều rủi ro đối với người chưa thành niên. Trong bối cảnh đó, chuyển đổi số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật trở thành yêu cầu cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả tiếp cận pháp luật cho nhóm đối tượng này. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết của chuyển đổi số trong phổ biến, giáo dục pháp luật đối với người chưa thành niên; đánh giá thực trạng triển khai tại Việt Nam, chỉ ra những hạn chế, bất cập, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên.

Theo dõi chúng tôi trên: