Thứ bảy 14/03/2026 03:38
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Bàn về hình thức góp vốn vào công ty hợp danh

Tóm tắt: Bài viết này bàn về các hình thức vốn góp của công ty hợp danh, nghĩa là nói đến những nguồn tài sản khác nhau được góp vào để hình thành nên vốn của công ty hợp danh


Abstract: This article discusses forms of capital contribution to partnerships, namely, different assets sources are contributed to form capital of partnerships.

1. Quan niệm về vốn góp của công ty hợp danh

Theo khoản 21 Điều 4 Luật Doanh nghiệp năm 2014, phần vốn góp là tổng giá trị tài sản của một thành viên đã góp hoặc cam kết góp vào công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc công ty hợp danh. Theo đó, cũng có thể hiểu rằng vốn góp của công ty chính là tổng giá trị tài sản mà tất cả các thành viên công ty đã góp hoặc cam kết góp vào công ty. Vốn góp cũng chính là phần vốn tạo nên vốn điều lệ của công ty. Tuy nhiên, vốn trong công ty không chỉ dừng lại ở những tài sản là vốn góp, đấy chỉ là những tài sản ban đầu để thực hiện nhiệm vụ tạo lập doanh nghiệp và thực hiện các hoạt động kinh doanh đầu tiên mà thôi. Trong quá trình hoạt động kinh doanh, vốn của công ty hợp danh (CTHD) còn có những biến động, nó có thể tăng, giảm bởi nhiều lý do khác nhau (tài sản gia tăng từ nguồn vốn của doanh nghiệp, tài sản được tặng cho, thừa kế…). Như vậy, vốn hay sản nghiệp thương mại của bất kỳ chủ thể kinh doanh nào cũng tồn tại dưới hình thái vật chất cụ thể mà ta thường gọi đó là tài sản của doanh nghiệp. Còn vốn góp, dưới góc độ kinh tế, tạo thành sản nghiệp của công ty, là công cụ, phương tiện để công ty thực hiện các mục đích của mình. Dưới góc độ pháp lý, vốn góp là cơ sở để xác định địa vị pháp lý của thành viên trong công ty, quyền lợi, nghĩa vụ của họ đối với công ty. Các hình thức góp vốn chủ yếu vào CTHD bao gồm: (i) Góp vốn bằng tài sản bao gồm tiền (có thể là nội tệ hoặc ngoại tệ); vật (có thể là động sản hay bất động sản...). Với hình thức góp vốn này, thành viên không nhất thiết phải chuyển giao quyền sở hữu tài sản mà có thể chỉ góp bằng quyền hưởng dụng; (ii) Góp vốn bằng các quyền tài sản, ví dụ, quyền đòi nợ, quyền sở hữu trí tuệ...; (iii) Góp vốn bằng kiến thức (tri thức); (iv) Góp vốn bằng công sức lao động.

2. Bàn về các hình thức góp vốn vào công ty hợp danh

CTHD là một loại hình doanh nghiệp, vì vậy, vấn đề vốn luôn được đặt ra, song do là công ty đối nhân nên yếu tố nhân thân của các thành viên đóng vai trò chủ đạo, vốn chỉ là yếu tố thứ yếu. CTHD được thành lập do nhu cầu hợp tác kinh doanh và sự tin tưởng lẫn nhau của các nhà đầu tư, vì vậy, vốn do các thành viên hợp danh góp vào công ty không chỉ là những tài sản trị giá được thành tiền mà còn có thể là những tài sản khác như kỹ năng, kinh nghiệm… So với vốn góp trong công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty cổ phần thì nội hàm của khái niệm “vốn góp” trong CTHD rộng hơn, nó không nhất thiết phải là các tài sản vật chất hoặc được quy ra vật chất mà nó còn có thể là “chất xám”. Trên thế giới, pháp luật của hầu hết các quốc gia đều thừa nhận vốn góp vào CTHD có thể là những yếu tố vô hình khó xác định giá trị bằng phương pháp định lượng. Điều 2186 Bộ luật Dân sự Québec năm 1991 (Canada) quy định: “Hợp đồng hợp danh là một hợp đồng mà theo đó, các bên trên tinh thần hợp tác, thỏa thuận tiến hành một hoặt động bao gồm sự vận hành một doanh nghiệp, góp vốn bằng sự kết hợp tài sản (property), kiến thức (knowledge), hoặc các hoạt động (activities) và cùng nhau chia sẻ các khoản lợi nhuận về tiền bạc phát sinh từ đó”[1]. Từ đây cho thấy, vốn góp vào CTHD có thể là tài sản hoặc kiến thức hay các hoạt động, trong đó, có thể khẳng định vốn góp bằng tài sản là quan trọng nhất bởi không có tài sản thì công ty không thể hoạt động được. Về nguyên tắc, mọi loại tài sản đều có thể đem góp vào công ty. Tài sản góp vốn có thể thuộc bất kể dạng nào như vật, tiền hay các quyền tài sản, với điều kiện là các tài sản này phải có thể chuyển giao được trong giao lưu dân sự.

Đối với việc góp vốn bằng kiến thức, người góp vốn phải bảo đảm mang kiến thức của mình ra phục vụ một cách trung thực và mẫn cán vì lợi ích của công ty. Song việc góp vốn bằng kiến thức, một khả năng trừu tượng, sẽ gặp khó khăn ở nhiều phương diện như tính giá trị phần vốn góp để phân chia quyền lợi trong công ty, chứng minh sự vi phạm nghĩa vụ của người góp vốn. Những khó khăn này hoàn toàn phụ thuộc vào sự đánh giá và thỏa thuận giữa các thành viên công ty. Cũng cần phải hiểu rõ rằng, kiến thức được dùng làm vốn góp hoàn toàn không rời khỏi các thành viên góp nó, có nghĩa là nó luôn tồn tại bên trong thành viên và càng sử dụng nhiều thì công ty càng có lợi. Do đó, để đảm bảo sự độc quyền cho việc sử dụng các kiến thức đó của công ty là một vấn đề lớn cần tới tự trung thực của người góp vốn. Sự tin tưởng, hợp tác lẫn nhau là điều thiết yếu để mối quan hệ hợp danh ngày càng phát triển.

Trường hợp góp vốn bằng các hoạt động, hay theo cách gọi của một số tác giả trước đây ở Việt Nam là góp vốn bằng công lao hay việc làm, đó phải là góp vốn bằng một công việc điều khiển, chỉ huy mà không phải là công việc của người thừa hành[2]. Song có thể nhận thấy, nếu công sức lao động không có gì đặc biệt thì khó có thể được coi là vốn góp vào công ty để trở thành một trong những ông chủ của nó, vì công ty có thể dễ dàng mua được công sức lao động như vậy với giá cả hợp lý mà không phải trả thêm tiền lãi và các thành viên khác cũng không phải chia sẻ quyền quản lý, điều hành công ty cho người đó. Cho nên, công sức lao động được bỏ ra phải có yếu tố kiến thức hoặc kinh nghiệm hoặc người góp vốn bằng công sức hay các hoạt động phải là người được tin tưởng hơn những người khác. Nhưng cũng phải hiểu rằng, yếu tố kiến thức nằm trong vốn góp được biểu hiện thông qua các hoạt động phải nhỏ hơn so với sức lao động bỏ ra thì mới được coi là góp vốn bằng công việc (hoạt động hay công sức), nếu không, sẽ thuộc trường hợp góp vốn bằng kiến thức. Đối với những người góp vốn bằng công sức do được tin tưởng hơn thì sự tin tưởng đó hoàn toàn phụ thuộc vào các thành viên. Cũng giống với việc góp vốn bằng kiến thức, việc góp vốn bằng công việc (lao công, công sức hay hoạt động) cũng khiến cho người góp vốn bị ràng buộc bởi nghĩa vụ trung thực và mẫn cán.

Pháp luật Việt Nam cũng như pháp luật của hầu hết các nước đều không yêu cầu công ty phải có một lượng vốn tối thiểu khi bắt đầu hoạt động kinh doanh. Điều 4 khoản 21 Luật Doanh nghiệp năm 2014 quy định phần vốn góp là tổng giá trị tài sản của một thành viên đã góp hoặc cam kết góp vào công ty, do đó, vốn của công ty chính là tổng giá trị tài sản mà tất cả các thành viên công ty đã góp hoặc cam kết góp vào. Theo Điều 35 Luật Doanh nghiệp năm 2014, tài sản góp vốn có thể là Đồng Việt Nam, ngoại tệ tự do chuyển đổi, vàng, giá trị quyền sử dụng đất, giá trị quyền sở hữu trí tuệ, công nghệ, bí quyết kỹ thuật, các tài sản khác có thể định giá được bằng Đồng Việt Nam. Những “tài sản khác” này có thể là vật, giấy tờ có giá và các quyền tài sản theo quy định tại Điều 105 Bộ luật Dân sự năm 2015. Như vậy, về nguyên tắc, giống với pháp luật của các nước, mọi loại tài sản đều có thể trở thành tài sản góp vốn vào CTHD, nhưng một công ty có chấp nhận một loại tài sản cụ thể nào đó không phải là tiền hay không lại phụ thuộc vào nhu cầu về vốn và sử dụng vốn của công ty đó. Nhưng khác với pháp luật của nhiều quốc gia, khi góp vốn, thành viên phải làm thủ tục chuyển quyền sở hữu tài sản cho công ty, vì vậy, có thể hiểu rằng, chỉ những tài sản nào chuyển giao được quyền sở hữu thì mới được dùng làm tài sản góp vốn, còn những tài sản vô hình như kinh nghiệm, danh tiếng, kỹ năng, công sức lao động, kiến thức... khó có thể trở thành tài sản góp vốn vào công ty. Như đã phân tích ở trên, những loại tài sản này khi được dùng làm vốn góp sẽ không thể dịch chuyển quyền sở hữu từ người góp vốn sang cho công ty. Luật Doanh nghiệp năm 2014 đã rất tiến bộ khi cho phép góp vốn bằng những loại tài sản khác ngoài những loại tài sản thông thường đã được pháp luật liệt kê khi nó hữu ích đối với hoạt động của công ty. Nhưng thực tế thi hành Luật Doanh nghiệp cho thấy, để trở thành thành viên công ty thì tổ chức, cá nhân sử dụng khá nhiều loại tài sản đặc biệt để góp vốn như giấy nhận nợ, giấy chứng nhận cổ phần[3]. Giống công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty cổ phần, CTHD chấp nhận phần vốn góp của các thành viên bằng các loại tài sản luật định. Tuy nhiên, là dạng công ty đối nhân điển hình, có những điểm khác biệt với các hình thức kinh doanh khác, nên trên thực tế có những hình thức góp vốn hết sức phổ biến trong CTHD, đó là góp vốn bằng tri thức, uy tín, kỹ năng hay công sức lao động... Thế nhưng, pháp luật Việt Nam lại chưa thể hiện việc thừa nhận các hình thức góp vốn này, bởi đây là những tài sản vô hình, nó không tồn tại dưới một hình thái vật chất cụ thể và chúng không thể trị giá được thành tiền, vì những giá trị nhân thân này và tiền tệ không phải là những đại lượng tương đương. Trong khi đó, Luật Doanh nghiệp lại chỉ quy định những tài sản vô hình mà giá trị của chúng có thể xác định được thông qua những nguyên tắc của kế toán mới là tài sản góp vốn. Điều này theo tác giả là chưa thỏa đáng. Bên cạnh đó, mối quan hệ của những chủ thể như là mối bạn hàng quen, mối quan hệ với quyền lực công cũng có thể trở thành tài sản góp vốn vào công ty. Mối quan hệ tạo ra những liên minh mà dân gian quen gọi là những “dây làm ăn”, những liên minh này bảo vệ các thành viên của nó. Sự quen biết trong các mối làm ăn tạo ra độ an toàn cho một công ty. Các mối quan hệ đó tăng thêm nguồn thông tin và sự tin cậy vào bạn hàng, giảm thiểu những rủi ro xảy ra từ hoạt động kinh doanh[4]. Với các quy định của pháp luật hiện hành về hình thức góp vốn trong CTHD, thì các loại tài sản trên được sử dụng làm tài sản góp vốn sẽ bị coi là trái pháp luật. Ngược lại, pháp luật của nhiều quốc gia trên thế giới đã ghi nhận các hình thức góp vốn bằng những loại tài sản này. Chẳng hạn, theo pháp luật Hoa Kỳ: “Tất cả các thành viên chưa góp vốn (capital) vào một doanh nghiệp thì cũng không thể giải thích rằng doanh nghiệp đó không phải là một hợp danh. Thế nhưng, thậm chí chỉ cần một số thành viên cung cấp kỹ năng (skill) hay sức lao động (labor) thì hợp danh đó coi như đã được thành lập”[5]. Theo pháp luật Cộng hòa Pháp: “Các thành viên có thể góp vốn bằng tiền mặt (cash), bằng hiện vật (kind) hoặc bằng các dịch vụ (services). Nếu góp vốn bằng dịch vụ, thành viên góp vốn phải giải thích về tất cả các khoản thu nhập (gains) mà người này có được từ việc thực hiện dịch vụ đó”[6]. Còn theo các học giả Nhật Bản, “sự đóng góp của các thành viên hợp danh có thể bằng tiền hoặc hiện vật, bao gồm cả sức lao động và uy tín”[7].

Đối với các công ty CTHD, vốn khi đầu tư vào công ty không phải là yếu tố quan trọng dùng làm căn cứ để bảo đảm quyền lợi cho chủ nợ, bởi các thành viên phải chịu trách nhiệm liên đới, vô hạn đối với mọi nghĩa vụ tài sản của công ty. Ý nghĩa lớn nhất của vốn điều lệ trong công ty là xác định tỷ lệ vốn góp của các thành viên vào công ty, thông qua đó làm cơ sở cho việc phân chia quyền, lợi ích và xác định trách nhiệm, nghĩa vụ giữa các nhà đầu tư trong công ty mà không có ý nghĩa nhiều trong việc bảo đảm tài chính đối với các chủ nợ. Từ những phân tích ở trên cho thấy, pháp luật doanh nghiệp quy định về hình thức vốn góp chưa thực sự phù hợp với nhu cầu thực tế của hoạt động đầu tư, điều đó làm ảnh hưởng tới những lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư, đồng thời cũng ảnh hưởng tới quyền lợi của Nhà nước. Do vậy, yêu cầu tất yếu được đặt ra đối với pháp luật về CTHD là phải hoàn thiện các quy định pháp luật liên quan đến vốn góp. Mục đích của việc hoàn thiện là làm cho chế định pháp luật này phù hợp với nhu cầu đầu tư của thị trường, hài hòa lợi ích của Nhà nước và người đầu tư để thúc đẩy sự phát triển của kinh tế - xã hội. Theo đó, xác định mọi loại tài sản kể cả các tài sản không thể chuyển giao được quyền sở hữu như uy tín, kiến thức, công sức lao động... vẫn có thể trở thành vốn góp nếu được các thành viên hợp danh chấp thuận. Điều đó, vừa đảm bảo được nguyên tắc thống nhất ý chí, vừa phù hợp với nhu cầu của nhà đầu tư

ĐỒNG THÁI QUANG

Học viện Hậu cần

Tài liệu tham khảo:

[1]. Article 2186, c. 64, Civil code of Québec (1991), http://legisquebec.gouv.qc.ca/en/showdoc/cs/CCQ-1991.

[2]. Lê Tài Triển, Nguyễn Vạng Thọ, Nguyễn Tân (1973), Luật Thương mại Việt Nam dẫn giải, Nxb. Kim lai Ấn quán, Sài Gòn, tr. 722.

[3]. Nguyễn Thị Dung (2010), Hoàn thiện quy định về vốn góp và xác định tư cách thành viên công ty theo Luật Doanh nghiệp năm 2005, Tạp chí Luật học, số 09, tr. 29.

[4]. Phạm Duy Nghĩa (2004), Chuyên khảo luật kinh tế, Nxb. Đại học Quốc gia Hà nội, tr. 61.

[5]. Marianne Moody, David P. Twomey, Stephannie M. Greene, Business law: Principles for today’s commercial environment, 5th Edition, p. 829.

[6]. Frank Wooldridge (2009), The general partnership under French law, Amicus Curiae, Issue 77 Spring, p.30.

[7]. Lục Việt Dũng (2015), So sánh pháp luật Việt Nam và pháp luật Nhật Bản về công ty hợp danh, Luận văn Thạc sỹ Luật học, Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội, tr. 63.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Để bảo đảm cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân được tiến hành dân chủ, đúng pháp luật, các quy định về phiếu bầu cử cũng như nguyên tắc, trình tự bỏ phiếu đã được quy định chặt chẽ[1]. Việc nắm rõ các quy định này giúp cử tri thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ trong ngày bầu cử.
[1] Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 và Nghị quyết số 40/NQ-HĐBCQG ngày 29/9/2025 của Hội đồng bầu cử quốc gia quy định mẫu văn bản hồ sơ ứng cử và việc hồ sơ ứng cử; nội quy phòng bỏ phiếu trong công tác bầu cử ĐBQH khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031
Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Trong quá trình tổ chức bầu cử, có thể phát sinh một số tình huống đặc biệt như dịch bệnh, thiên tai, hỏa hoạn hoặc vấn đề về an ninh, trật tự. Pháp luật về bầu cử đã quy định rõ thẩm quyền và phương án xử lý nhằm bảo đảm cuộc bầu cử được tổ chức an toàn, đúng quy định và bảo đảm quyền bầu cử của cử tri.
Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Để chuẩn bị cho “Ngày hội non sông” - Ngày bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031, công tác phân chia đơn vị bầu cử cần phải được triển khai với những yêu cầu khắt khe hơn bao giờ hết với mục tiêu trọng tâm là bảo đảm cân đối, tránh chênh lệch lớn, thuận tiện cho cử tri thực hiện quyền bầu cử như: Các khu vực đô thị, khu công nghiệp có đông cử tri; các khu vực miền núi, hải đảo có ít cử tri.
Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Pháp luật quy định cụ thể về nguyên tắc bỏ phiếu, cách ghi phiếu bầu, việc viết hộ, bỏ hộ phiếu và xử lý Thẻ cử tri nhằm bảo đảm việc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân diễn ra đúng quy định.
Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Cơ chế giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân giữ vai trò quan trọng trong việc bảo đảm tính dân chủ, minh bạch và hợp pháp của quá trình bầu cử. Pháp luật Việt Nam thiết lập cơ chế này trên cơ sở kết hợp giữa các quy định đặc thù của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân với các quy định chung của pháp luật về khiếu nại, tố cáo, qua đó hình thành khung pháp lý cho việc tiếp nhận, xem xét và xử lý các khiếu nại, tố cáo phát sinh trong quá trình bầu cử.
Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Một vụ án in và phát hành sách giáo khoa giả vừa được đưa ra xét xử đã tiếp tục gióng lên hồi chuông cảnh báo về tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực xuất bản, đặc biệt là đối với sách giáo dục - mặt hàng có nhu cầu cao và ảnh hưởng trực tiếp đến hàng triệu học sinh.
Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức thống nhất vào ngày 15/3/2026 theo Nghị quyết của Quốc hội. Tuy nhiên, pháp luật cho phép tổ chức bỏ phiếu sớm trong những trường hợp đặc biệt nhằm bảo đảm quyền bầu cử của công dân không thể tham gia bỏ phiếu vào ngày chính thức. Việc tổ chức bầu cử sớm phải tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc về thẩm quyền quyết định, trình tự thủ tục, kiểm phiếu, niêm phong, bảo mật kết quả và kỷ luật thời gian bỏ phiếu theo đúng quy định của Luật Bầu cử và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Vận động bầu cử của người ứng cử là hoạt động gặp gỡ, tiếp xúc cử tri hoặc thông qua phương tiện thông tin đại chúng để người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân báo cáo với cử tri về dự kiến chương trình hành động của mình nhằm thực hiện trách nhiệm đại biểu nếu được bầu làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân và trao đổi những vấn đề mà cử tri quan tâm; tạo điều kiện để cử tri tiếp xúc với người ứng cử, hiểu rõ hơn người ứng cử; trên cơ sở đó cân nhắc, lựa chọn, bầu những người đủ tiêu chuẩn làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.
Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, yêu cầu thượng tôn Hiến pháp và pháp luật không chỉ đặt ra đối với hoạt động của bộ máy nhà nước mà trở thành chuẩn mực ứng xử phổ biến trong xã hội. Pháp luật chỉ thực sự phát huy vai trò điều chỉnh các quan hệ xã hội khi được các chủ thể tiếp nhận, tôn trọng, tuân thủ thực hiện trên tinh thần chủ động, tự giác, gắn với niềm tin vào công bằng và trật tự xã hội. Thực tiễn cho thấy, hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, nhưng tình trạng vi phạm pháp luật trong một số lĩnh vực vẫn diễn biến phức tạp; còn tồn tại khoảng trống giữa nhận thức pháp luật và hành vi tuân thủ; tâm lý tuân thủ thụ động, mang tính tình thế, phụ thuộc vào sự kiểm tra, giám sát và xử lý của cơ quan có thẩm quyền. Những biểu hiện này phản ánh việc tuân thủ pháp luật chưa thực sự trở thành chuẩn mực văn hóa trong xã hội. Vì vậy, việc nghiên cứu, nhận diện các yếu tố tác động, đánh giá đúng thực trạng, đề xuất nhiệm vụ, giải pháp xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn, góp phần thể chế hóa chủ trương của Đảng, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, mạnh, bền vững trong bối cảnh mới.
Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Tết Nguyên đán là dịp đoàn viên, nghỉ ngơi và tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí đầu năm, góp phần làm phong phú đời sống văn hóa, tinh thần của mỗi gia đình và cộng đồng. Tuy nhiên, một số hình thức vui chơi có thưởng có thể vượt ngoài khuôn khổ pháp luật nếu không được nhận diện đúng. Từ yêu cầu bảo đảm kỷ cương, pháp luật trong dịp Tết, việc làm rõ ranh giới pháp lý giữa vui xuân có thưởng và hành vi vi phạm pháp luật có ý nghĩa quan trọng.
Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết 71-NQ/TW) đặt ra những yêu cầu mang tính chiến lược đối với xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, giáo dục đại học giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành lớp trí thức mới - vừa có năng lực chuyên môn, vừa có bản lĩnh, nhân cách và tinh thần phụng sự xã hội. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật phỏng vấn Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đào Thanh Trường - Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội, xung quanh quan điểm xây dựng con người toàn diện, các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp, cũng như những định hướng tích hợp giáo dục nhân văn với khoa học, công nghệ trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Mùa xuân về không chỉ mang theo nhựa sống của thiên nhiên mà còn là thời điểm để nhìn lại những thành quả của năm qua. Xuân Bính Ngọ 2026, với Trường Cao đẳng Cơ điện Hà Nội (HCEM), là một mùa xuân đặc biệt - mùa xuân của sự cộng hưởng giữa niềm tự hào về hành trình 80 năm đất nước độc lập và quyết tâm chính trị cao để hiện thực hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị. Đây chính là “chìa khóa” để HCEM bứt phá, vươn tầm quốc tế, trở thành biểu tượng của nền giáo dục nghề nghiệp (GDNN) hiện đại trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Năm 2025 được xem là cột mốc bản lề trên hành trình đưa Việt Nam bước vào kỷ nguyên số toàn diện. Trong không khí Xuân Bính Ngọ 2026, Cục trưởng Cục Chuyển đổi số quốc gia (Bộ KH&CN) Trần Duy Ninh chia sẻ với Tạp chí Dân chủ và Pháp luật về những thành quả nổi bật, tầm nhìn, cơ hội và kỳ vọng đặt vào đội ngũ trí thức công nghệ, với khát vọng xây dựng đất nước Việt Nam hùng cường, tự chủ và thịnh vượng trên nền tảng số.
Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Nhìn lại hành trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đội ngũ doanh nhân Việt Nam tiếp tục là lực lượng năng động, sáng tạo và đóng góp quan trọng vào tăng trưởng. Tuy nhiên, bối cảnh hội nhập sâu, rộng đặt ra yêu cầu cao hơn đối với việc hoàn thiện pháp luật về kinh doanh. Nhân dịp xuân mới, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Quang Vinh - Phó Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) về kỳ vọng đổi mới và yêu cầu xây dựng hành lang pháp lý ổn định để doanh nghiệp Việt Nam tự tin phát triển trong giai đoạn mới.
Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với mục tiêu đến năm 2045 trở thành nước phát triển có thu nhập cao, đội ngũ doanh nhân Việt Nam được kỳ vọng trở thành lực lượng kiến tạo thịnh vượng quốc gia. Khát vọng ấy chỉ có thể nảy nở và lớn lên trong hệ sinh thái pháp lý minh bạch, an toàn và tạo động lực.

Theo dõi chúng tôi trên: