Thứ năm 19/03/2026 02:52
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Bàn về hình thức kỷ luật cán bộ, công chức, viên chức theo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Cán bộ, công chức và Luật Viên chức năm 2019

Trong bài viết này, tác giả phân tích, đánh giá ưu điểm và nhược điểm của những điểm mới về hình thức kỷ luật cán bộ, công chức, viên chức theo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Cán bộ, công chức và Luật Viên chức năm 2019.


1. Về hình thức kỷ luật cán bộ

Luật Cán bộ, công chức năm 2008 quy định cán bộ có 04 hình thức kỷ luật: Khiển trách, cảnh cáo, cách chức và bãi nhiệm[1]. Trong đó, khiển trách là hình thức kỷ luật nhẹ nhất; cách chức và bãi nhiệm là hình thức kỷ luật nặng nhất được áp dụng cho các đối tượng cán bộ khác nhau. Đối với cán bộ được phê chuẩn, bổ nhiệm thì áp dụng hình thức kỷ luật nặng nhất là cách chức, đối với đối tượng cán bộ được bầu thì áp dụng hình thức kỷ luật nặng nhất là bãi nhiệm.

Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Cán bộ, công chức và Luật Viên chức năm 2019 (Luật sửa đổi, bổ sung năm 2019) không thay đổi về số lượng, tên gọi các hình thức kỷ luật cán bộ mà thay đổi về nội dung của việc áp dụng hình thức kỷ luật, hậu quả kéo theo của hành vi vi phạm pháp luật và thời điểm áp dụng hậu quả. Cụ thể, Luật sửa đổi, bổ sung năm 2019 thay đổi nội dung ở khoản 3 Điều 78 Luật Cán bộ, công chức năm 2008: “Cán bộ phạm tội bị Tòa án kết án và bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật thì đương nhiên thôi giữ chức vụ do bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm; trường hợp bị Tòa án kết án phạt tù mà không được hưởng án treo hoặc bị kết án về tội phạm tham nhũng thì đương nhiên bị buộc thôi việc kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật”[2]. So với Luật Cán bộ, công chức năm 2008, Luật sửa đổi, bổ sung năm 2019 có 02 điểm thay đổi: (i) Thay cụm từ “bị thôi việc” thành “bị buộc thôi việc” và (ii) Bổ sung thêm cụm từ “kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật”.

Việc bổ sung thêm thời điểm xác định hậu quả pháp lý bị buộc thôi việc được áp dụng kể từ ngày bản án, quyết định của Tòa án có hiệu pháp luật là hoàn toàn phù hợp vì trước thời điểm bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật thì không ai bị cho là có tội[3]. Quy định rõ ràng, chính xác thời điểm cán bộ phạm tội bị áp dụng hậu quả pháp lý bị buộc thôi việc tạo điều kiện cho cơ quan, người có thẩm quyền xử lý kỷ luật hiểu đúng và áp dụng thống nhất trong phạm vi toàn quốc. Tuy nhiên, việc sửa đổi hậu quả “bị thôi việc” thành “bị buộc thôi việc” vẫn chưa phải là sửa đổi phù hợp. Mặc dù, có thể trong ý tưởng của nhà làm luật cho rằng “bị thôi việc” không mang tính chất là hình thức kỷ luật, dễ nhầm lẫn với các trường hợp thôi việc khác không vì lý do vi phạm kỷ luật của cán bộ nên thay bằng “bị buộc thôi việc” sẽ hàm ý được hậu quả pháp lý nặng hơn là bị xử lý kỷ luật. Nhưng nếu thay thế bằng cụm từ “bị buộc thôi việc” thì lại dẫn đến bất cập: Pháp luật không quy định hình thức kỷ luật buộc thôi việc đối với cán bộ (chỉ có đối tượng công chức, viên chức mới áp dụng hình thức kỷ luật buộc thôi việc). Trường hợp này có thể hiểu rằng, khi cán bộ phạm tội bị Tòa án phạt tù không được hưởng án treo hoặc bị kết án về hành vi tham nhũng thì hậu quả đương nhiên sẽ phải gánh chịu hình thức kỷ luật nặng nhất là cách chức hoặc bãi nhiệm (tùy từng đối tượng cán bộ được bầu hay phê chuẩn, bổ nhiệm). Dù áp dụng “bị thôi việc” hay “buộc thôi việc” thì cách thức tiến hành cũng phải thông qua việc ban hành quyết định kỷ luật áp dụng hình thức hoặc là cách chức hoặc là bãi nhiệm.

Ngoài ra, pháp luật cũng nên bổ sung thêm hình phạt “tử hình” bên cạnh “hình phạt tù mà không được hưởng án treo” vào trong điều kiện áp dụng. Mặc dù, việc bị Tòa án áp dụng hình phạt tử hình đương nhiên cán bộ không còn sống để có thể thực hiện nhiệm vụ, công vụ. Tuy nhiên, về mặt thủ tục, quy trình thì cơ quan, người có thẩm quyền quản lý đối tượng cán bộ vẫn phải ban hành quyết định kỷ luật đối với đối tượng này do họ đã có vi phạm pháp luật đặc biệt nghiêm trọng. Vì vậy, nhằm tránh nhầm lẫn, tăng tính chính xác của quy phạm pháp luật, thiết nghĩ nhà làm luật nên quy định “trường hợp bị Tòa án kết án phạt tù mà không được hưởng án treo, tử hình hoặc bị kết án về tội phạm tham nhũng thì đương nhiên bị cách chức hoặc bãi nhiệm kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật”.

2. Về hình thức kỷ luật công chức

Luật Cán bộ, công chức năm 2008 quy định 06 hình thức kỷ luật công chức: Khiển trách, cảnh cáo, hạ bậc lương, giáng chức, cách chức, buộc thôi việc[4]. Trong đó, hình thức kỷ luật nhẹ nhất là khiển trách và nặng nhất là buộc thôi việc. Đối với hình thức kỷ luật giáng chức, cách chức thì chỉ áp dụng cho đối tượng công chức lãnh đạo, quản lý, các hình thức kỷ luật còn lại có thể áp dụng cho mọi đối tượng công chức, riêng đối với hình thức hạ bậc lương không áp dụng đối với công chức đang hưởng lương bậc 1 (tức áp dụng đối với công chức hưởng lương từ bậc 2 trở lên). Ngoài ra, Luật Cán bộ, công chức năm 2008 còn quy định hậu quả đương nhiên đối với trường hợp công chức bị Tòa án kết án phạt tù mà không được hưởng án treo thì đương nhiên bị buộc thôi việc kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật; công chức lãnh đạo, quản lý phạm tội bị Tòa án kết án và bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật thì đương nhiên thôi giữ chức vụ do bổ nhiệm.

Luật sửa đổi, bổ sung năm 2019 giữ nguyên các hình thức kỷ luật công chức nhưng có sửa đổi, bổ sung hai nội dung liên quan đến áp dụng hình thức kỷ luật. Cụ thể như sau:

Thứ nhất, Luật sửa đổi, bổ sung năm 2019 sửa đổi nội dung từ việc quy định hình thức kỷ luật hạ bậc lương có thể áp dụng cho mọi đối tượng công chức giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý hoặc không giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý (Luật Cán bộ, công chức năm 2008) thành “hình thức hạ bậc lương chỉ áp dụng đối với công chức không giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý”[5]. Theo đó, công chức giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý sẽ phải gánh chịu trách nhiệm pháp lý nặng hơn so với công chức không giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý. Việc quy định các hành vi bị áp dụng hình thức kỷ luật hạ bậc lương nếu áp dụng chung cho cả công chức lãnh đạo, quản lý và công chức không giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý sẽ không tương xứng với vị trí việc làm, không đủ tính răn đe. Về nguyên tắc, công chức lãnh đạo, quản lý có nhiều quyền hạn hơn thì trách nhiệm cũng phải cao hơn. Hơn nữa, việc trả lương hiện nay được tính toán theo vị trí việc làm và cả theo chức vụ lãnh đạo, quản lý nên nếu áp dụng hình thức hạ bậc lương cho đối tượng lãnh đạo, quản lý sẽ không phù hợp với nguyên tắc trả lương, ảnh hưởng đến tiêu chuẩn của vị trí chức vụ công tác. Do đó, công chức không giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý sẽ bị áp dụng các hình thức: Khiển trách, cảnh cáo, hạ bậc lương và buộc thôi việc còn công chức có chức vụ lãnh đạo, quản lý sẽ bị áp dụng các hình thức: Khiển trách, cảnh cáo, giáng chức, cách chức, buộc thôi việc. Như vậy, Luật sửa đổi, bổ sung năm 2019 sửa đổi nội dung theo hướng phân hóa trách nhiệm đối với từng đối tượng công chức là hoàn toàn phù hợp.

Tuy nhiên, với sửa đổi mới này Luật sửa đổi, bổ sung năm 2019 sẽ dẫn tới một vướng mắc khác xảy ra trong quá trình áp dụng xử lý kỷ luật công chức như: Khó áp dụng hình thức kỷ luật giáng chức khi cơ quan, đơn vị đã đủ chỉ tiêu biên chế cho các vị trí chức vụ. Trường hợp này, nếu vì không còn chỉ tiêu biên chế mà người có thẩm quyền áp dụng giáng nhiều cấp xuống thành không còn chức vụ thì mức độ sẽ tương đương cách chức. Việc áp dụng kỷ luật giáng chức trong trường hợp này không tương xứng với hành vi vi phạm (nặng hơn), ảnh hưởng đến quyền lợi của công chức vi phạm kỷ luật. Như vậy, việc không quy định, giải thích cụ thể hơn nội dung của việc áp dụng hình thức kỷ luật giáng chức sẽ dẫn đến khả năng các cơ quan, đơn vị cấp dưới có thể hiểu theo những cách khác nhau hoặc vẫn còn băn khoăn, thắc mắc dễ dẫn đến áp dụng không thống nhất, không phù hợp với ý tưởng của nhà làm luật, cần có hướng dẫn cụ thể áp dụng hình thức kỷ luật giáng chức này.

Thứ hai, Luật sửa đổi, bổ sung năm 2019 bổ sung thêm trường hợp, công chức bị Tòa án kết án về tội phạm tham nhũng thì đương nhiên bị buộc thôi việc kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật. Việc bổ sung này là hợp lý trong bối cảnh áp dụng chủ trương phòng, chống tham nhũng ở các cấp, các ngành, xử lý nghiêm minh đối với tất cả các trường hợp tham nhũng xảy ra, tăng cường răn đe chủ thể thực hiện hành vi tham nhũng. Đồng thời, việc quy định xử lý kỷ luật buộc thôi việc đối với công chức phạm tội tham nhũng còn là cách xử lý công bằng với đối tượng viên chức và cán bộ. Trong một thời gian dài áp dụng theo Luật Cán bộ, công chức năm 2008, Luật Viên chức năm 2010, Nghị định số 34/2011/NĐ-CP ngày 17/5/2011 của Chính phủ quy định về xử lý kỷ luật đối với công chức, Nghị định số 27/2012/NĐ-CP ngày 06/4/2012 của Chính phủ quy định về xử lý kỷ luật viên chức và trách nhiệm bồi thường, hoàn trả của viên chức, cách thức xử lý công chức và viên chức khi thực hiện hành vi tham nhũng có khác biệt (viên chức phạm tội tham nhũng thì đương nhiên bị buộc thôi việc, trong khi đó công chức phạm tội tham nhũng thì lại có thể bị áp dụng các hình thức kỷ luật nhẹ hơn mà không đương nhiên bị buộc thôi việc mặc dù xét về khả năng thực hiện hành vi tham nhũng thì công chức có điều kiện thực hiện nhiều hơn do họ thực hiện công vụ quản lý nhà nước ở nhiều cơ quan, đơn vị khác nhau). Chính vì vậy, Luật sửa đổi, bổ sung năm 2019 bổ sung cách thức xử lý tội phạm tham nhũng đối với cán bộ và công chức đều dẫn đến hậu quả đương nhiên bị buộc thôi việc giống như đối tượng viên chức tạo sự công bằng, nghiêm minh, phù hợp với tính chất, mức độ của hành vi vi phạm kỷ luật.

3. Về hình thức kỷ luật viên chức

Luật Viên chức năm 2010 quy định 04 hình thức kỷ luật viên chức: Khiển trách, cảnh cáo, cách chức, buộc thôi việc[6]. Trong đó, hình thức cách chức chỉ áp dụng cho viên chức quản lý.

Luật sửa đổi, bổ sung năm 2019 không có sửa đổi, bổ sung nào về hình thức kỷ luật viên chức mà chỉ sửa đổi nội dung về hệ quả pháp lý của việc áp dụng hình thức kỷ luật đối với viên chức. Theo quy định của Luật Viên chức năm 2010 thì viên chức bị kỷ luật từ khiển trách đến cách chức thì không thực hiện việc quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, bổ nhiệm trong thời hạn 12 tháng, kể từ ngày quyết định kỷ luật có hiệu lực[7]. Còn theo quy định của Luật sửa đổi, bổ sung năm 2019 thì: (i) Trường hợp bị kỷ luật bằng hình thức khiển trách hoặc cảnh cáo thì không thực hiện việc quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, bổ nhiệm vào chức vụ cao hơn trong thời hạn 12 tháng, kể từ ngày quyết định kỷ luật có hiệu lực; (ii) Trường hợp bị kỷ luật bằng hình thức cách chức thì không thực hiện việc quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, bổ nhiệm trong thời hạn 24 tháng, kể từ ngày quyết định kỷ luật có hiệu lực[8].

Việc sửa đổi, bổ sung hệ quả pháp lý của xử lý kỷ luật viên chức theo hướng tăng thời hạn tiến hành quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, bổ nhiệm nhằm phù hợp, đồng bộ với quy định về hệ quả pháp lý của việc xử lý kỷ luật công chức.

4. Về hình thức kỷ luật cán bộ, công chức, viên chức đã nghỉ việc, nghỉ hưu

Luật sửa đổi, bổ sung năm 2019 lần đầu tiên quy định cụ thể về hình thức xử lý kỷ luật đối với cán bộ, công chức, viên chức đã nghỉ việc, nghỉ hưu mà sau đó, cơ quan, đơn vị mới phát hiện hành vi vi phạm trong thời gian công tác là một bước tiến quan trọng trong hoạt động truy cứu trách nhiệm kỷ luật, khẳng định nguyên tắc “mọi vi phạm đều phải bị xử lý kỷ luật”. Việc quy định hình thức kỷ luật đối với đối tượng đã nghỉ việc, nghỉ hưu này phải xây dựng trên cơ sở vừa bảo đảm tính công bằng, nghiêm minh của pháp luật, vừa bảo đảm tính nhân đạo, nhân văn của Nhà nước. Theo đó, các hình thức này được quy định cụ thể như sau: (i) Đối với cán bộ, công chức sau khi nghỉ việc hoặc nghỉ hưu mới phát hiện có hành vi vi phạm trong thời gian công tác thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm phải chịu một trong những hình thức kỷ luật: Khiển trách, cảnh cáo, xóa tư cách chức vụ đã đảm nhiệm gắn với hệ quả pháp lý tương ứng với hình thức xử lý kỷ luật[9]; (ii) Đối với viên chức, Luật không quy định cụ thể các hình thức kỷ luật mà giao cho Chính phủ quy định chi tiết trong nghị định. Trường hợp viên chức đã nghỉ việc, nghỉ hưu có hành vi vi phạm trong thời gian công tác trước ngày 01/7/2020 được thực hiện theo quy định của Luật này.

Từ quy định trên của Luật, có thể thấy, hình thức khiển trách, cảnh cáo được áp dụng với tất cả đối tượng cán bộ, công chức, viên chức đã nghỉ việc, nghỉ hưu, riêng hình thức xóa tư cách chức vụ đã đảm nhiệm chỉ áp dụng đối với đối tượng cán bộ, công chức, viên chức lãnh đạo, quản lý. Việc quy định thêm hình thức đặc thù “xóa tư cách chức vụ đã đảm nhiệm” được giải thích là để bảo đảm thống nhất với hình thức kỷ luật theo quy định của Đảng, đồng thời thực tiễn áp dụng trong thời gian qua cho thấy đã có hiệu quả nhất định, đáp ứng được nguyện vọng của đông đảo nhân dân[10]. Việc chỉ quy định 03 hình thức kỷ luật đối với cán bộ, công chức, viên chức đã thôi việc, nghỉ hưu chưa thực sự phù hợp, chưa tương xứng với hành vi vi phạm kỷ luật đã thực hiện trong thời gian công tác, dễ dẫn đến trường hợp gây lúng túng, khó khăn trong thực tế triển khai thi hành. Có thể thấy, hình thức khiển trách, cảnh cáo được áp dụng tương ứng với hành vi vi phạm bị khiển trách, cảnh cáo (trong thời gian còn công tác), hình thức xóa tư cách chức vụ đã đảm nhiệm tương ứng với hình thức giáng chức, cách chức (trong thời gian còn công tác), không áp dụng bãi nhiệm hay buộc thôi việc (vì đã nghỉ hưu, nghỉ việc). Vậy các hành vi tương ứng với hình thức hạ bậc lương được quy định cho đối tượng công chức sẽ giải quyết như thế nào nếu công chức đã nghỉ việc, nghỉ hưu. Nghị định số 112/2020/NĐ-CP ngày 18/9/2020 của Chính phủ về xử lý kỷ luật cán bộ, công chức, viên chức cũng chưa có điều khoản nào hướng dẫn thi hành việc áp dụng hình thức kỷ luật đối với đối tượng này mà chỉ quy định chung chung về các vấn đề như quy trình, thủ tục áp dụng, thẩm quyền xử lý kỷ luật khi cán bộ, công chức, viên chức đã nghỉ hưu, thôi việc. Luật sửa đổi, bổ sung năm 2019 đã có hiệu lực áp dụng (từ ngày 01/7/2020) nhưng với quy định như hiện nay có thể sẽ gây khó khăn, bất cập khi các cơ quan, đơn vị triển khai áp dụng quy định về hình thức xử lý kỷ luật đối tượng cán bộ, công chức, viên chức đã nghỉ hưu, nghỉ việc.

ThS. Mai Thị Lâm
Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh


[1] Điều 78 Luật Cán bộ, công chức năm 2008.

[2] Khoản 14 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật cán bộ, công chức và Luật Viên chức năm 2019.

[3] Khoản 1 Điều 31 Hiến pháp năm 2013: Người bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khi được chứng minh theo trình tự luật định và có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật.

[4] Điều 79 Luật Cán bộ, công chức năm 2008.

[5] Khoản 15 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Cán bộ, công chức và Luật Viên chức năm 2019.

[6] Điều 52 Luật Viên chức năm 2010.

[7] Khoản 2 Điều 56 Luật Viên chức năm 2010.

[8] Khoản 8 Điều 2 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Cán bộ, công chức và Luật Viên chức năm 2019.

[9] Khoản 18 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Cán bộ, công chức và Luật Viên chức năm 2019.

[10] Mục 11 Báo cáo số 486/BC-UBTVQH14 ngày 21/11/2019 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về giải trình, tiếp thu, chỉnh lý dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Cán bộ, công chức và Luật Viên chức.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là một trong những loại tội phạm có diễn biến ngày càng phức tạp, đa dạng và tinh vi. Phương thức thực hiện tội phạm không ngừng biến đổi, đặc biệt là việc sử dụng công nghệ cao để phạm tội, gây thiệt hại lớn đối với tài sản và tâm lý hoang mang cho người dân, ảnh hưởng đến trật tự, an toàn xã hội. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng các quy định của Bộ luật Hình sự về tội này vẫn còn tồn tại một số vướng mắc, bất cập từ chính quy định của pháp luật.
Xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Bài viết làm rõ sự cần thiết của việc xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên bứt phá, phát triển mới của dân tộc, theo tinh thần Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Đại hội XIV).
Những quy định cần biết khi xác định kết quả bầu cử

Những quy định cần biết khi xác định kết quả bầu cử

Sau ngày 15/3/2026 - khi cử tri cả nước đã hoàn thành việc bỏ phiếu bầu đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031. Các tổ chức phụ trách bầu cử bắt đầu thực hiện những công việc tiếp theo để xác định kết quả bầu cử. Trong đó, việc tính tỷ lệ phiếu bầu, xác định người trúng cử và xử lý các vấn đề phát sinh trong quá trình kiểm phiếu được thực hiện theo những nguyên tắc chặt chẽ do pháp luật quy định.
Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Để bảo đảm cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân được tiến hành dân chủ, đúng pháp luật, các quy định về phiếu bầu cử cũng như nguyên tắc, trình tự bỏ phiếu đã được quy định chặt chẽ tại Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 và Nghị quyết số 40/NQ-HĐBCQG ngày 29/9/2025 của Hội đồng bầu cử quốc gia quy định mẫu văn bản hồ sơ ứng cử và việc hồ sơ ứng cử; nội quy phòng bỏ phiếu trong công tác bầu cử ĐBQH khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031. Việc nắm rõ các quy định này giúp cử tri thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ trong ngày bầu cử.
Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Trong quá trình tổ chức bầu cử, có thể phát sinh một số tình huống đặc biệt như dịch bệnh, thiên tai, hỏa hoạn hoặc vấn đề về an ninh, trật tự. Pháp luật về bầu cử đã quy định rõ thẩm quyền và phương án xử lý nhằm bảo đảm cuộc bầu cử được tổ chức an toàn, đúng quy định và bảo đảm quyền bầu cử của cử tri.
Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Để chuẩn bị cho “Ngày hội non sông” - Ngày bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031, công tác phân chia đơn vị bầu cử cần phải được triển khai với những yêu cầu khắt khe hơn bao giờ hết với mục tiêu trọng tâm là bảo đảm cân đối, tránh chênh lệch lớn, thuận tiện cho cử tri thực hiện quyền bầu cử như: Các khu vực đô thị, khu công nghiệp có đông cử tri; các khu vực miền núi, hải đảo có ít cử tri.
Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Pháp luật quy định cụ thể về nguyên tắc bỏ phiếu, cách ghi phiếu bầu, việc viết hộ, bỏ hộ phiếu và xử lý Thẻ cử tri nhằm bảo đảm việc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân diễn ra đúng quy định.
Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Cơ chế giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân giữ vai trò quan trọng trong việc bảo đảm tính dân chủ, minh bạch và hợp pháp của quá trình bầu cử. Pháp luật Việt Nam thiết lập cơ chế này trên cơ sở kết hợp giữa các quy định đặc thù của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân với các quy định chung của pháp luật về khiếu nại, tố cáo, qua đó hình thành khung pháp lý cho việc tiếp nhận, xem xét và xử lý các khiếu nại, tố cáo phát sinh trong quá trình bầu cử.
Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Một vụ án in và phát hành sách giáo khoa giả vừa được đưa ra xét xử đã tiếp tục gióng lên hồi chuông cảnh báo về tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực xuất bản, đặc biệt là đối với sách giáo dục - mặt hàng có nhu cầu cao và ảnh hưởng trực tiếp đến hàng triệu học sinh.
Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức thống nhất vào ngày 15/3/2026 theo Nghị quyết của Quốc hội. Tuy nhiên, pháp luật cho phép tổ chức bỏ phiếu sớm trong những trường hợp đặc biệt nhằm bảo đảm quyền bầu cử của công dân không thể tham gia bỏ phiếu vào ngày chính thức. Việc tổ chức bầu cử sớm phải tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc về thẩm quyền quyết định, trình tự thủ tục, kiểm phiếu, niêm phong, bảo mật kết quả và kỷ luật thời gian bỏ phiếu theo đúng quy định của Luật Bầu cử và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Vận động bầu cử của người ứng cử là hoạt động gặp gỡ, tiếp xúc cử tri hoặc thông qua phương tiện thông tin đại chúng để người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân báo cáo với cử tri về dự kiến chương trình hành động của mình nhằm thực hiện trách nhiệm đại biểu nếu được bầu làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân và trao đổi những vấn đề mà cử tri quan tâm; tạo điều kiện để cử tri tiếp xúc với người ứng cử, hiểu rõ hơn người ứng cử; trên cơ sở đó cân nhắc, lựa chọn, bầu những người đủ tiêu chuẩn làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.
Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, yêu cầu thượng tôn Hiến pháp và pháp luật không chỉ đặt ra đối với hoạt động của bộ máy nhà nước mà trở thành chuẩn mực ứng xử phổ biến trong xã hội. Pháp luật chỉ thực sự phát huy vai trò điều chỉnh các quan hệ xã hội khi được các chủ thể tiếp nhận, tôn trọng, tuân thủ thực hiện trên tinh thần chủ động, tự giác, gắn với niềm tin vào công bằng và trật tự xã hội. Thực tiễn cho thấy, hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, nhưng tình trạng vi phạm pháp luật trong một số lĩnh vực vẫn diễn biến phức tạp; còn tồn tại khoảng trống giữa nhận thức pháp luật và hành vi tuân thủ; tâm lý tuân thủ thụ động, mang tính tình thế, phụ thuộc vào sự kiểm tra, giám sát và xử lý của cơ quan có thẩm quyền. Những biểu hiện này phản ánh việc tuân thủ pháp luật chưa thực sự trở thành chuẩn mực văn hóa trong xã hội. Vì vậy, việc nghiên cứu, nhận diện các yếu tố tác động, đánh giá đúng thực trạng, đề xuất nhiệm vụ, giải pháp xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn, góp phần thể chế hóa chủ trương của Đảng, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, mạnh, bền vững trong bối cảnh mới.
Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Tết Nguyên đán là dịp đoàn viên, nghỉ ngơi và tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí đầu năm, góp phần làm phong phú đời sống văn hóa, tinh thần của mỗi gia đình và cộng đồng. Tuy nhiên, một số hình thức vui chơi có thưởng có thể vượt ngoài khuôn khổ pháp luật nếu không được nhận diện đúng. Từ yêu cầu bảo đảm kỷ cương, pháp luật trong dịp Tết, việc làm rõ ranh giới pháp lý giữa vui xuân có thưởng và hành vi vi phạm pháp luật có ý nghĩa quan trọng.
Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết 71-NQ/TW) đặt ra những yêu cầu mang tính chiến lược đối với xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, giáo dục đại học giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành lớp trí thức mới - vừa có năng lực chuyên môn, vừa có bản lĩnh, nhân cách và tinh thần phụng sự xã hội. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật phỏng vấn Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đào Thanh Trường - Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội, xung quanh quan điểm xây dựng con người toàn diện, các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp, cũng như những định hướng tích hợp giáo dục nhân văn với khoa học, công nghệ trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Mùa xuân về không chỉ mang theo nhựa sống của thiên nhiên mà còn là thời điểm để nhìn lại những thành quả của năm qua. Xuân Bính Ngọ 2026, với Trường Cao đẳng Cơ điện Hà Nội (HCEM), là một mùa xuân đặc biệt - mùa xuân của sự cộng hưởng giữa niềm tự hào về hành trình 80 năm đất nước độc lập và quyết tâm chính trị cao để hiện thực hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị. Đây chính là “chìa khóa” để HCEM bứt phá, vươn tầm quốc tế, trở thành biểu tượng của nền giáo dục nghề nghiệp (GDNN) hiện đại trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.

Theo dõi chúng tôi trên: