Chủ nhật 08/02/2026 05:10
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Bàn về hình thức kỷ luật cán bộ, công chức, viên chức theo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Cán bộ, công chức và Luật Viên chức năm 2019

Trong bài viết này, tác giả phân tích, đánh giá ưu điểm và nhược điểm của những điểm mới về hình thức kỷ luật cán bộ, công chức, viên chức theo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Cán bộ, công chức và Luật Viên chức năm 2019.


1. Về hình thức kỷ luật cán bộ

Luật Cán bộ, công chức năm 2008 quy định cán bộ có 04 hình thức kỷ luật: Khiển trách, cảnh cáo, cách chức và bãi nhiệm[1]. Trong đó, khiển trách là hình thức kỷ luật nhẹ nhất; cách chức và bãi nhiệm là hình thức kỷ luật nặng nhất được áp dụng cho các đối tượng cán bộ khác nhau. Đối với cán bộ được phê chuẩn, bổ nhiệm thì áp dụng hình thức kỷ luật nặng nhất là cách chức, đối với đối tượng cán bộ được bầu thì áp dụng hình thức kỷ luật nặng nhất là bãi nhiệm.

Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Cán bộ, công chức và Luật Viên chức năm 2019 (Luật sửa đổi, bổ sung năm 2019) không thay đổi về số lượng, tên gọi các hình thức kỷ luật cán bộ mà thay đổi về nội dung của việc áp dụng hình thức kỷ luật, hậu quả kéo theo của hành vi vi phạm pháp luật và thời điểm áp dụng hậu quả. Cụ thể, Luật sửa đổi, bổ sung năm 2019 thay đổi nội dung ở khoản 3 Điều 78 Luật Cán bộ, công chức năm 2008: “Cán bộ phạm tội bị Tòa án kết án và bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật thì đương nhiên thôi giữ chức vụ do bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm; trường hợp bị Tòa án kết án phạt tù mà không được hưởng án treo hoặc bị kết án về tội phạm tham nhũng thì đương nhiên bị buộc thôi việc kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật”[2]. So với Luật Cán bộ, công chức năm 2008, Luật sửa đổi, bổ sung năm 2019 có 02 điểm thay đổi: (i) Thay cụm từ “bị thôi việc” thành “bị buộc thôi việc” và (ii) Bổ sung thêm cụm từ “kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật”.

Việc bổ sung thêm thời điểm xác định hậu quả pháp lý bị buộc thôi việc được áp dụng kể từ ngày bản án, quyết định của Tòa án có hiệu pháp luật là hoàn toàn phù hợp vì trước thời điểm bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật thì không ai bị cho là có tội[3]. Quy định rõ ràng, chính xác thời điểm cán bộ phạm tội bị áp dụng hậu quả pháp lý bị buộc thôi việc tạo điều kiện cho cơ quan, người có thẩm quyền xử lý kỷ luật hiểu đúng và áp dụng thống nhất trong phạm vi toàn quốc. Tuy nhiên, việc sửa đổi hậu quả “bị thôi việc” thành “bị buộc thôi việc” vẫn chưa phải là sửa đổi phù hợp. Mặc dù, có thể trong ý tưởng của nhà làm luật cho rằng “bị thôi việc” không mang tính chất là hình thức kỷ luật, dễ nhầm lẫn với các trường hợp thôi việc khác không vì lý do vi phạm kỷ luật của cán bộ nên thay bằng “bị buộc thôi việc” sẽ hàm ý được hậu quả pháp lý nặng hơn là bị xử lý kỷ luật. Nhưng nếu thay thế bằng cụm từ “bị buộc thôi việc” thì lại dẫn đến bất cập: Pháp luật không quy định hình thức kỷ luật buộc thôi việc đối với cán bộ (chỉ có đối tượng công chức, viên chức mới áp dụng hình thức kỷ luật buộc thôi việc). Trường hợp này có thể hiểu rằng, khi cán bộ phạm tội bị Tòa án phạt tù không được hưởng án treo hoặc bị kết án về hành vi tham nhũng thì hậu quả đương nhiên sẽ phải gánh chịu hình thức kỷ luật nặng nhất là cách chức hoặc bãi nhiệm (tùy từng đối tượng cán bộ được bầu hay phê chuẩn, bổ nhiệm). Dù áp dụng “bị thôi việc” hay “buộc thôi việc” thì cách thức tiến hành cũng phải thông qua việc ban hành quyết định kỷ luật áp dụng hình thức hoặc là cách chức hoặc là bãi nhiệm.

Ngoài ra, pháp luật cũng nên bổ sung thêm hình phạt “tử hình” bên cạnh “hình phạt tù mà không được hưởng án treo” vào trong điều kiện áp dụng. Mặc dù, việc bị Tòa án áp dụng hình phạt tử hình đương nhiên cán bộ không còn sống để có thể thực hiện nhiệm vụ, công vụ. Tuy nhiên, về mặt thủ tục, quy trình thì cơ quan, người có thẩm quyền quản lý đối tượng cán bộ vẫn phải ban hành quyết định kỷ luật đối với đối tượng này do họ đã có vi phạm pháp luật đặc biệt nghiêm trọng. Vì vậy, nhằm tránh nhầm lẫn, tăng tính chính xác của quy phạm pháp luật, thiết nghĩ nhà làm luật nên quy định “trường hợp bị Tòa án kết án phạt tù mà không được hưởng án treo, tử hình hoặc bị kết án về tội phạm tham nhũng thì đương nhiên bị cách chức hoặc bãi nhiệm kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật”.

2. Về hình thức kỷ luật công chức

Luật Cán bộ, công chức năm 2008 quy định 06 hình thức kỷ luật công chức: Khiển trách, cảnh cáo, hạ bậc lương, giáng chức, cách chức, buộc thôi việc[4]. Trong đó, hình thức kỷ luật nhẹ nhất là khiển trách và nặng nhất là buộc thôi việc. Đối với hình thức kỷ luật giáng chức, cách chức thì chỉ áp dụng cho đối tượng công chức lãnh đạo, quản lý, các hình thức kỷ luật còn lại có thể áp dụng cho mọi đối tượng công chức, riêng đối với hình thức hạ bậc lương không áp dụng đối với công chức đang hưởng lương bậc 1 (tức áp dụng đối với công chức hưởng lương từ bậc 2 trở lên). Ngoài ra, Luật Cán bộ, công chức năm 2008 còn quy định hậu quả đương nhiên đối với trường hợp công chức bị Tòa án kết án phạt tù mà không được hưởng án treo thì đương nhiên bị buộc thôi việc kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật; công chức lãnh đạo, quản lý phạm tội bị Tòa án kết án và bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật thì đương nhiên thôi giữ chức vụ do bổ nhiệm.

Luật sửa đổi, bổ sung năm 2019 giữ nguyên các hình thức kỷ luật công chức nhưng có sửa đổi, bổ sung hai nội dung liên quan đến áp dụng hình thức kỷ luật. Cụ thể như sau:

Thứ nhất, Luật sửa đổi, bổ sung năm 2019 sửa đổi nội dung từ việc quy định hình thức kỷ luật hạ bậc lương có thể áp dụng cho mọi đối tượng công chức giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý hoặc không giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý (Luật Cán bộ, công chức năm 2008) thành “hình thức hạ bậc lương chỉ áp dụng đối với công chức không giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý”[5]. Theo đó, công chức giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý sẽ phải gánh chịu trách nhiệm pháp lý nặng hơn so với công chức không giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý. Việc quy định các hành vi bị áp dụng hình thức kỷ luật hạ bậc lương nếu áp dụng chung cho cả công chức lãnh đạo, quản lý và công chức không giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý sẽ không tương xứng với vị trí việc làm, không đủ tính răn đe. Về nguyên tắc, công chức lãnh đạo, quản lý có nhiều quyền hạn hơn thì trách nhiệm cũng phải cao hơn. Hơn nữa, việc trả lương hiện nay được tính toán theo vị trí việc làm và cả theo chức vụ lãnh đạo, quản lý nên nếu áp dụng hình thức hạ bậc lương cho đối tượng lãnh đạo, quản lý sẽ không phù hợp với nguyên tắc trả lương, ảnh hưởng đến tiêu chuẩn của vị trí chức vụ công tác. Do đó, công chức không giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý sẽ bị áp dụng các hình thức: Khiển trách, cảnh cáo, hạ bậc lương và buộc thôi việc còn công chức có chức vụ lãnh đạo, quản lý sẽ bị áp dụng các hình thức: Khiển trách, cảnh cáo, giáng chức, cách chức, buộc thôi việc. Như vậy, Luật sửa đổi, bổ sung năm 2019 sửa đổi nội dung theo hướng phân hóa trách nhiệm đối với từng đối tượng công chức là hoàn toàn phù hợp.

Tuy nhiên, với sửa đổi mới này Luật sửa đổi, bổ sung năm 2019 sẽ dẫn tới một vướng mắc khác xảy ra trong quá trình áp dụng xử lý kỷ luật công chức như: Khó áp dụng hình thức kỷ luật giáng chức khi cơ quan, đơn vị đã đủ chỉ tiêu biên chế cho các vị trí chức vụ. Trường hợp này, nếu vì không còn chỉ tiêu biên chế mà người có thẩm quyền áp dụng giáng nhiều cấp xuống thành không còn chức vụ thì mức độ sẽ tương đương cách chức. Việc áp dụng kỷ luật giáng chức trong trường hợp này không tương xứng với hành vi vi phạm (nặng hơn), ảnh hưởng đến quyền lợi của công chức vi phạm kỷ luật. Như vậy, việc không quy định, giải thích cụ thể hơn nội dung của việc áp dụng hình thức kỷ luật giáng chức sẽ dẫn đến khả năng các cơ quan, đơn vị cấp dưới có thể hiểu theo những cách khác nhau hoặc vẫn còn băn khoăn, thắc mắc dễ dẫn đến áp dụng không thống nhất, không phù hợp với ý tưởng của nhà làm luật, cần có hướng dẫn cụ thể áp dụng hình thức kỷ luật giáng chức này.

Thứ hai, Luật sửa đổi, bổ sung năm 2019 bổ sung thêm trường hợp, công chức bị Tòa án kết án về tội phạm tham nhũng thì đương nhiên bị buộc thôi việc kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật. Việc bổ sung này là hợp lý trong bối cảnh áp dụng chủ trương phòng, chống tham nhũng ở các cấp, các ngành, xử lý nghiêm minh đối với tất cả các trường hợp tham nhũng xảy ra, tăng cường răn đe chủ thể thực hiện hành vi tham nhũng. Đồng thời, việc quy định xử lý kỷ luật buộc thôi việc đối với công chức phạm tội tham nhũng còn là cách xử lý công bằng với đối tượng viên chức và cán bộ. Trong một thời gian dài áp dụng theo Luật Cán bộ, công chức năm 2008, Luật Viên chức năm 2010, Nghị định số 34/2011/NĐ-CP ngày 17/5/2011 của Chính phủ quy định về xử lý kỷ luật đối với công chức, Nghị định số 27/2012/NĐ-CP ngày 06/4/2012 của Chính phủ quy định về xử lý kỷ luật viên chức và trách nhiệm bồi thường, hoàn trả của viên chức, cách thức xử lý công chức và viên chức khi thực hiện hành vi tham nhũng có khác biệt (viên chức phạm tội tham nhũng thì đương nhiên bị buộc thôi việc, trong khi đó công chức phạm tội tham nhũng thì lại có thể bị áp dụng các hình thức kỷ luật nhẹ hơn mà không đương nhiên bị buộc thôi việc mặc dù xét về khả năng thực hiện hành vi tham nhũng thì công chức có điều kiện thực hiện nhiều hơn do họ thực hiện công vụ quản lý nhà nước ở nhiều cơ quan, đơn vị khác nhau). Chính vì vậy, Luật sửa đổi, bổ sung năm 2019 bổ sung cách thức xử lý tội phạm tham nhũng đối với cán bộ và công chức đều dẫn đến hậu quả đương nhiên bị buộc thôi việc giống như đối tượng viên chức tạo sự công bằng, nghiêm minh, phù hợp với tính chất, mức độ của hành vi vi phạm kỷ luật.

3. Về hình thức kỷ luật viên chức

Luật Viên chức năm 2010 quy định 04 hình thức kỷ luật viên chức: Khiển trách, cảnh cáo, cách chức, buộc thôi việc[6]. Trong đó, hình thức cách chức chỉ áp dụng cho viên chức quản lý.

Luật sửa đổi, bổ sung năm 2019 không có sửa đổi, bổ sung nào về hình thức kỷ luật viên chức mà chỉ sửa đổi nội dung về hệ quả pháp lý của việc áp dụng hình thức kỷ luật đối với viên chức. Theo quy định của Luật Viên chức năm 2010 thì viên chức bị kỷ luật từ khiển trách đến cách chức thì không thực hiện việc quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, bổ nhiệm trong thời hạn 12 tháng, kể từ ngày quyết định kỷ luật có hiệu lực[7]. Còn theo quy định của Luật sửa đổi, bổ sung năm 2019 thì: (i) Trường hợp bị kỷ luật bằng hình thức khiển trách hoặc cảnh cáo thì không thực hiện việc quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, bổ nhiệm vào chức vụ cao hơn trong thời hạn 12 tháng, kể từ ngày quyết định kỷ luật có hiệu lực; (ii) Trường hợp bị kỷ luật bằng hình thức cách chức thì không thực hiện việc quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, bổ nhiệm trong thời hạn 24 tháng, kể từ ngày quyết định kỷ luật có hiệu lực[8].

Việc sửa đổi, bổ sung hệ quả pháp lý của xử lý kỷ luật viên chức theo hướng tăng thời hạn tiến hành quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, bổ nhiệm nhằm phù hợp, đồng bộ với quy định về hệ quả pháp lý của việc xử lý kỷ luật công chức.

4. Về hình thức kỷ luật cán bộ, công chức, viên chức đã nghỉ việc, nghỉ hưu

Luật sửa đổi, bổ sung năm 2019 lần đầu tiên quy định cụ thể về hình thức xử lý kỷ luật đối với cán bộ, công chức, viên chức đã nghỉ việc, nghỉ hưu mà sau đó, cơ quan, đơn vị mới phát hiện hành vi vi phạm trong thời gian công tác là một bước tiến quan trọng trong hoạt động truy cứu trách nhiệm kỷ luật, khẳng định nguyên tắc “mọi vi phạm đều phải bị xử lý kỷ luật”. Việc quy định hình thức kỷ luật đối với đối tượng đã nghỉ việc, nghỉ hưu này phải xây dựng trên cơ sở vừa bảo đảm tính công bằng, nghiêm minh của pháp luật, vừa bảo đảm tính nhân đạo, nhân văn của Nhà nước. Theo đó, các hình thức này được quy định cụ thể như sau: (i) Đối với cán bộ, công chức sau khi nghỉ việc hoặc nghỉ hưu mới phát hiện có hành vi vi phạm trong thời gian công tác thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm phải chịu một trong những hình thức kỷ luật: Khiển trách, cảnh cáo, xóa tư cách chức vụ đã đảm nhiệm gắn với hệ quả pháp lý tương ứng với hình thức xử lý kỷ luật[9]; (ii) Đối với viên chức, Luật không quy định cụ thể các hình thức kỷ luật mà giao cho Chính phủ quy định chi tiết trong nghị định. Trường hợp viên chức đã nghỉ việc, nghỉ hưu có hành vi vi phạm trong thời gian công tác trước ngày 01/7/2020 được thực hiện theo quy định của Luật này.

Từ quy định trên của Luật, có thể thấy, hình thức khiển trách, cảnh cáo được áp dụng với tất cả đối tượng cán bộ, công chức, viên chức đã nghỉ việc, nghỉ hưu, riêng hình thức xóa tư cách chức vụ đã đảm nhiệm chỉ áp dụng đối với đối tượng cán bộ, công chức, viên chức lãnh đạo, quản lý. Việc quy định thêm hình thức đặc thù “xóa tư cách chức vụ đã đảm nhiệm” được giải thích là để bảo đảm thống nhất với hình thức kỷ luật theo quy định của Đảng, đồng thời thực tiễn áp dụng trong thời gian qua cho thấy đã có hiệu quả nhất định, đáp ứng được nguyện vọng của đông đảo nhân dân[10]. Việc chỉ quy định 03 hình thức kỷ luật đối với cán bộ, công chức, viên chức đã thôi việc, nghỉ hưu chưa thực sự phù hợp, chưa tương xứng với hành vi vi phạm kỷ luật đã thực hiện trong thời gian công tác, dễ dẫn đến trường hợp gây lúng túng, khó khăn trong thực tế triển khai thi hành. Có thể thấy, hình thức khiển trách, cảnh cáo được áp dụng tương ứng với hành vi vi phạm bị khiển trách, cảnh cáo (trong thời gian còn công tác), hình thức xóa tư cách chức vụ đã đảm nhiệm tương ứng với hình thức giáng chức, cách chức (trong thời gian còn công tác), không áp dụng bãi nhiệm hay buộc thôi việc (vì đã nghỉ hưu, nghỉ việc). Vậy các hành vi tương ứng với hình thức hạ bậc lương được quy định cho đối tượng công chức sẽ giải quyết như thế nào nếu công chức đã nghỉ việc, nghỉ hưu. Nghị định số 112/2020/NĐ-CP ngày 18/9/2020 của Chính phủ về xử lý kỷ luật cán bộ, công chức, viên chức cũng chưa có điều khoản nào hướng dẫn thi hành việc áp dụng hình thức kỷ luật đối với đối tượng này mà chỉ quy định chung chung về các vấn đề như quy trình, thủ tục áp dụng, thẩm quyền xử lý kỷ luật khi cán bộ, công chức, viên chức đã nghỉ hưu, thôi việc. Luật sửa đổi, bổ sung năm 2019 đã có hiệu lực áp dụng (từ ngày 01/7/2020) nhưng với quy định như hiện nay có thể sẽ gây khó khăn, bất cập khi các cơ quan, đơn vị triển khai áp dụng quy định về hình thức xử lý kỷ luật đối tượng cán bộ, công chức, viên chức đã nghỉ hưu, nghỉ việc.

ThS. Mai Thị Lâm
Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh


[1] Điều 78 Luật Cán bộ, công chức năm 2008.

[2] Khoản 14 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật cán bộ, công chức và Luật Viên chức năm 2019.

[3] Khoản 1 Điều 31 Hiến pháp năm 2013: Người bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khi được chứng minh theo trình tự luật định và có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật.

[4] Điều 79 Luật Cán bộ, công chức năm 2008.

[5] Khoản 15 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Cán bộ, công chức và Luật Viên chức năm 2019.

[6] Điều 52 Luật Viên chức năm 2010.

[7] Khoản 2 Điều 56 Luật Viên chức năm 2010.

[8] Khoản 8 Điều 2 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Cán bộ, công chức và Luật Viên chức năm 2019.

[9] Khoản 18 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Cán bộ, công chức và Luật Viên chức năm 2019.

[10] Mục 11 Báo cáo số 486/BC-UBTVQH14 ngày 21/11/2019 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về giải trình, tiếp thu, chỉnh lý dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Cán bộ, công chức và Luật Viên chức.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Xây dựng hành lang pháp lý để bảo vệ tốt hơn quyền lợi người gửi tiền

Xây dựng hành lang pháp lý để bảo vệ tốt hơn quyền lợi người gửi tiền

Ngày 10/12/2025, tại Kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XV thông qua Luật Bảo hiểm tiền gửi số 111/2025/QH15, thay thế Luật Bảo hiểm tiền gửi số 06/2012/QH13 với các quy định nhằm tạo hành lang pháp lý đầy đủ, rõ ràng để tổ chức bảo hiểm tiền gửi nâng cao năng lực tài chính và tham gia hiệu quả vào quá trình cơ cấu lại tổ chức tín dụng, qua đó bảo vệ tốt hơn quyền lợi người gửi tiền, bảo đảm duy trì sự ổn định của hệ thống tổ chức tín dụng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội theo định hướng tại Chiến lược phát triển bảo hiểm tiền gửi và Chiến lược ngành ngân hàng. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/5/2026.
Hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Việc lập và nộp hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH), đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là thủ tục bắt buộc, bảo đảm tính chặt chẽ, minh bạch và khách quan trong quá trình lựa chọn những người tiêu biểu tham gia cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Căn cứ Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND, Hội đồng bầu cử quốc gia đã ban hành mẫu biểu, hướng dẫn và quy trình tiếp nhận hồ sơ, tạo điều kiện để người được giới thiệu ứng cử và người tự ứng cử thực hiện quyền chính trị - pháp lý đúng quy định.
Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Việc điều chỉnh cơ cấu và phân bổ giới thiệu người ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) được thực hiện trên cơ sở điều chỉnh lần thứ nhất của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về cơ cấu, thành phần và số lượng được phân bổ cho từng cơ quan, tổ chức, đơn vị. Trên cơ sở đó, Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tổ chức hội nghị hiệp thương có trách nhiệm thông báo phân bổ và hướng dẫn nội dung, trình tự, thủ tục giới thiệu người ứng cử, bảo đảm việc lập hồ sơ ứng cử được thực hiện theo quy định pháp luật.
Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Từ năm 2026, các quy định liên quan đến thu nhập từ kinh doanh, từ tiền lương, tiền công của cá nhân cư trú tại Luật Thuế thu nhập cá nhân số 109/2025/QH15 có hiệu lực, với nhiều chính sách mới như tăng mức giảm trừ gia cảnh lên 15,5 triệu đồng, nâng ngưỡng doanh thu chịu thuế của hộ, cá nhân kinh doanh lên 500 triệu đồng/năm giúp giảm gánh nặng đối với người nộp thuế.
Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Luật Thương mại điện tử số 122/2025/QH15 được Quốc hội thông qua ngày 10/12/2025, gồm 07 chương, 41 điều, được xây dựng theo định hướng kiến tạo phát triển, tăng cường hiệu quả quản lý và bảo vệ lợi ích chính đáng của doanh nghiệp, người tiêu dùng với nhiều nội dung mới, nổi bật. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2026.
Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Hội đồng nhân dân (HĐND) cấp tỉnh, cấp xã và bố trí đại biểu HĐND hoạt động chuyên trách nhiệm kỳ 2026 - 2031 là nội dung quan trọng nhằm bảo đảm tổ chức bộ máy HĐND các cấp tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu sắp xếp đơn vị hành chính và định hướng cải cách của Đảng và Nhà nước. Những quy định này được thực hiện thống nhất theo Nghị quyết số 106/2025/UBTVQH15 ngày 16/10/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) và các văn bản có liên quan.
Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là một trong những quyền chính trị cơ bản của công dân, đồng thời là khâu có ý nghĩa quyết định đối với chất lượng hoạt động của cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Pháp luật về bầu cử không chỉ bảo đảm quyền ứng cử của công dân mà còn đặt ra những tiêu chuẩn, điều kiện, giới hạn và cơ chế sàng lọc chặt chẽ nhằm lựa chọn được những người đủ đức, đủ tài, xứng đáng đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân.
Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức theo các quy định chặt chẽ của Hiến pháp và pháp luật về bầu cử, trong đó xác định rõ tổng số đại biểu được bầu, cơ cấu, thành phần người ứng cử cũng như nguyên tắc phân bổ đại biểu ở từng địa phương. Bài viết làm rõ số lượng ĐBQH khóa XVI dự kiến được bầu, các yêu cầu về tỷ lệ đại diện của phụ nữ, người dân tộc thiểu số và những nguyên tắc cụ thể để xác định số lượng đại biểu HĐND các cấp, qua đó giúp cử tri hiểu rõ hơn cơ sở pháp lý và ý nghĩa của việc bảo đảm tính đại diện, dân chủ trong bầu cử.
Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Theo quy định tại Điều 7 Hiến pháp năm 2013 và Điều 1 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015, việc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tiến hành theo các nguyên tắc bầu cử phổ thông; nguyên tắc bình đẳng trong bầu cử; nguyên tắc bầu cử trực tiếp; nguyên tắc bỏ phiếu kín. Việc quán triệt và thực hiện nghiêm các nguyên tắc này không chỉ bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân, mà còn là thước đo quan trọng để đánh giá một cuộc bầu cử dân chủ, đúng pháp luật.
Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là những người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân trong bộ máy quyền lực nhà nước. Trên cơ sở Hiến pháp năm 2013, được sửa đổi, bổ sung năm 2025, Luật Tổ chức Quốc hội và Luật Tổ chức chính quyền địa phương quy định rõ hệ thống quyền hạn, trách nhiệm cũng như cơ chế miễn trừ đối với đại biểu nhằm bảo đảm thực hiện đầy đủ chức năng lập pháp, giám sát, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và địa phương, đồng thời tăng cường trách nhiệm của đại biểu dân cử trước cử tri và xã hội.
Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số là yêu cầu cấp thiết trong tiến trình xây dựng xã hội phát triển toàn diện và bền vững ở Việt Nam hiện nay. Trên cơ sở phân tích lý luận và khảo sát thực tiễn tại tỉnh Gia Lai, nơi có 24,76% dân số là người dân tộc thiểu số thuộc 44 thành phần, bài viết đánh giá việc thực hiện quyền này theo khung phân tích của Bình luận chung số 21 của Liên hợp quốc, gồm ba tiêu chí: tính sẵn có, khả năng tiếp cận và tính chấp nhận được. Kết quả cho thấy, còn tồn tại hạn chế về thiết chế văn hóa cơ sở, chênh lệch vùng miền và mức độ tham gia còn hình thức. Từ đó, bài viết đề xuất giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả, bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số tại tỉnh Gia Lai.
Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu cải cách toàn diện, đẩy mạnh hội nhập quốc tế và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, việc nâng cao vai trò lãnh đạo toàn diện, trực tiếp của Đảng đối với hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp có ý nghĩa chiến lược và cấp thiết.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bài viết nêu lên vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước và đề xuất một số giải pháp nâng cao vai trò của Bộ Tư pháp trong giai đoạn mới.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Trong quá trình phát triển của đất nước, đặc biệt, trong 10 năm gần đây, với sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế - xã hội Việt Nam, việc xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật là công tác đặc biệt quan trọng. Với sự nỗ lực không ngừng, Bộ Tư pháp đã cùng các bộ, ngành làm tốt công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và đưa pháp luật vào cuộc sống, góp phần quan trọng trong thực hiện thành công công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế, giữ vững chủ quyền quốc gia, an ninh, trật tự xã hội, nâng cao đời sống vật chất và văn hóa, tinh thần của Nhân dân, bảo đảm công bằng xã hội, xây dựng xã hội dân chủ, văn minh theo đường lối của Đảng và Nhà nước. Để đạt được những thành tựu đó, nhiều hoạt động đã được triển khai đồng bộ, từ công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL); đặc biệt, đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực làm công tác xây dựng, thi hành pháp luật. Bộ Tư pháp đã chủ động, tích cực phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, trong đó có Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trong công tác xây dựng thể chế, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác pháp chế.
Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Với chức năng là cơ quan của Chính phủ, thực hiện quản lý nhà nước về xây dựng và thi hành pháp luật, Bộ Tư pháp đã và đang đóng góp, góp phần quan trọng trong kiến tạo nền tảng pháp lý vững chắc, phục vụ mục tiêu phát triển đất nước; đồng thời, đóng vai trò chủ đạo trong xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ pháp luật, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và thúc đẩy tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Những kết quả đạt được thể hiện qua các nội dung chính sau:

Theo dõi chúng tôi trên: