Thứ tư 23/09/2026 09:16
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Bàn về hình thức và nội dung của hợp đồng mua bán căn hộ chung cư

Hợp đồng mua bán (HĐMB) căn hộ chung cư vừa là hợp đồng bán sản phẩm bất động sản, vừa là hợp đồng huy động vốn của chủ đầu tư. Trong thời gian vừa qua, quy định của pháp luật về tính chính xác của tài sản, điều kiện xác lập giao dịch có đối tượng là căn hộ chung cư cũng như quy định về hình thức, nội dung HĐMB căn hộ chung cư, quản lý nhà nước đối với dự án nhà ở thương mại còn nhiều hạn chế, dẫn đến một số bất ổn trong thị trường bất động sản. Hiện nay, nhà chung cư được xem là loại bất động sản phù hợp với cuộc sống ở các đô thị, vừa tiết kiệm quỹ đất, vừa cung cấp nhiều tiện ích cho cư dân nên đang trở thành loại nhà ở được nhiều người tìm mua.

HĐMB căn hộ chung cư được xem là cơ sở quan trọng điều chỉnh hành vi của các bên trong giao dịch mua bán. Tuy nhiên, do vị thế bất cân xứng giữa chủ đầu tư dự án chung cư và người mua nhà là bên yếu thế, nên người mua thường là bên gánh chịu nhiều rủi ro. Bên cạnh việc người dân còn thiếu ý thức, chưa chú ý đúng mức đến các điều khoản của hợp đồng thì các quy định của pháp luật chưa rõ ràng cũng là nguyên nhân dẫn đến rất nhiều tranh chấp liên quan đến nhà chung cư trong thời gian qua, không chỉ trong giai đoạn thực hiện hợp đồng mà cả sau khi người mua nhận bàn giao nhà. Vì vậy, hoàn thiện pháp luật về hợp đồng trong mua bán căn hộ chung cư là điều cần thiết.

1. Chung cư và hợp đồng mua bán căn hộ chung cư

Nhà chung cư là nhà có từ 02 tầng trở lên, có nhiều căn hộ, có lối đi, cầu thang chung, có phần sở hữu riêng, phần sở hữu chung và hệ thống công trình hạ tầng sử dụng chung cho các hộ gia đình, cá nhân, tổ chức, bao gồm nhà chung cư được xây dựng với mục đích để ở và nhà chung cư được xây dựng có mục đích sử dụng hỗn hợp để ở và kinh doanh. Đặc điểm của nhà chung cư là loại nhà cao tầng và thường có nhiều chủ sở hữu, người sử dụng, có sự phân chia các phần diện tích sử dụng chung và sử dụng riêng. Căn hộ chung cư là tài sản có giá trị lớn nhưng chủ sở hữu có những giới hạn nhất định khi thực hiện quyền của chủ sở hữu.

Nhà chung cư được xây dựng theo dự án. Căn cứ vào tình trạng xây dựng, căn hộ chung cư được đưa vào kinh doanh có thể là nhà ở có sẵn hoặc là nhà ở hình thành trong tương lai. Tuy nhiên, cũng giống như các dự án bất động sản khác, dự án nhà chung cư đòi hỏi phải có một nguồn vốn lớn để đầu tư xây dựng, vì vậy, trên thực tế, các căn hộ chung cư thường được đưa vào kinh doanh trong giai đoạn đầu tư xây dựng, dưới hình thức nhà ở hình thành trong tương lai. Về bản chất, ký HĐMB nhà ở hình thành trong tương lai thu tiền trả trước của người mua là một trong những hình thức huy động vốn để phát triển nhà ở thương mại (khoản 3 Điều 69 Luật Nhà ở năm 2014).

HĐMB căn hộ chung cư là hợp đồng được ký kết giữa một bên là doanh nghiệp kinh doanh bất động sản, đáp ứng các điều kiện đối với chủ đầu tư dự án nhà ở thương mại và các cá nhân, tổ chức có nhu cầu về nhà ở, thường dưới hình thức HĐMB nhà ở hình thành trong tương lai. Bên cạnh đó, pháp luật cho phép người mua căn hộ chung cư được quyền chuyển nhượng lại HĐMB căn hộ chung cư khi đáp ứng một số điều kiện nhất định thông qua văn bản chuyển nhượng HĐMB nhà ở hình thành trong tương lai (Điều 59 Luật Kinh doanh bất động sản năm 2014; Điều 119, Điều 123 Luật Nhà ở năm 2014). Sau khi được cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu, các cá nhân, tổ chức là chủ sở hữu căn hộ có quyền bán căn hộ cho các tổ chức, cá nhân khác dưới dạng nhà ở có sẵn. Như vậy, HĐMB căn hộ chung cư trên thực tế có thể được ký kết ở nhiều giai đoạn khác nhau (trong quá trình xây dựng, đã hoàn thành việc xây dựng nhưng chưa được cấp giấy chứng nhận và sau khi được cấp giấy chứng nhận) và giữa các chủ thể khác nhau (giữa chủ đầu tư và người mua nhà, giữa người mua nhà và các tổ chức, cá nhân khác). Bài viết này chỉ tập trung phân tích về các quy định pháp luật điều chỉnh việc giao kết HĐMB căn hộ chung cư hình thành trong tương lai trong dự án nhà ở thương mại, bao gồm: (i) HĐMB căn hộ giữa chủ đầu tư và khách hàng; (ii) Văn bản chuyển nhượng HĐMB nhà ở giữa người mua với các chủ thể khác.

Dưới góc độ đó, HĐMB căn hộ chung cư có bản chất là hợp đồng bán hàng hóa bất động sản, đồng thời là hợp đồng huy động vốn của chủ đầu tư hoặc là hợp đồng chuyển nhượng quyền và nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng giữa bên mua nhà ở chung cư với bên thứ ba.

2. Tính chính xác của đối tượng giao dịch trong hợp đồng mua bán căn hộ chung cư

Tính chính xác của đối tượng giao dịch là căn hộ chung cư là việc căn hộ phải bảo đảm đủ điều kiện tham gia giao dịch theo quy định của pháp luật, đồng thời, căn hộ đó phải được xây dựng đúng theo hồ sơ thiết kế đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt và đúng với những gì chủ đầu tư đã cam kết với khách hàng khi ký HĐMB. Tính chính xác của đối tượng giao dịch trong HĐMB có thể ảnh hưởng đến hiệu lực của hợp đồng, bởi lẽ, nếu căn hộ chung cư chưa đủ điều kiện nhưng lại được đưa vào giao dịch là vi phạm điều cấm của pháp luật[1]. Hiện nay, có nhiều tranh chấp liên quan đến HĐMB căn hộ chung cư, phần lớn phát sinh từ việc nhà ở chưa đủ điều kiện tham gia giao dịch, chủ đầu tư không thực hiện đúng cam kết với khách hàng, việc chủ đầu tư bán một căn hộ, nhà đất dự án cho nhiều người[2], hoặc chủ đầu tư đã thế chấp toàn bộ dự án nhưng vẫn đem bán căn hộ cho khách hàng khi chưa có công văn đồng ý của Sở Xây dựng. Vậy, vấn đề được đặt ra là, tại sao một tài sản được bán cho nhiều người, tại sao tài sản chưa đủ điều kiện vẫn được thực hiện giao dịch và để hạn chế tình trạng này thì cần có giải pháp gì?

Theo quy định tại Điều 55 Luật Kinh doanh bất động sản năm 2014, điều kiện để chủ đầu tư được bán căn hộ chung cư hình thành trong tương lai gồm: Thứ nhất, về mặt vật lý, căn hộ chung cư đã hoặc sẽ được xây dựng đúng với giấy phép xây dựng hoặc đúng với nội dung dự án đã được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt. Thứ hai, về mặt pháp lý, chủ đầu tư có tránh nhiệm chứng minh có quyền thực hiện dự án một cách hợp pháp thông qua các loại giấy tờ pháp lý như giấy tờ về quyền sử dụng đất, hồ sơ dự án, thiết kế bản vẽ thi công đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt, giấy phép xây dựng, giấy tờ về nghiệm thu việc hoàn thành xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật tương ứng theo tiến độ dự án… Đặc biệt, đối với nhà chung cư, tòa nhà hỗn hợp có mục đích để ở hình thành trong tương lai thì phải có biên bản nghiệm thu đã hoàn thành xong phần móng của tòa nhà đó. Mặt khác, chủ đầu tư cũng không được quyền tự ý quyết định việc bán, cho thuê mua nhà ở hình thành trong tương lai mà phải có văn bản trả lời của cơ quan quản lý nhà ở cấp tỉnh là Sở Xây dựng về việc nhà ở đủ điều kiện được bán. Như vậy, pháp luật quy định về nhà ở chung cư đủ điều kiện chuyển nhượng phần lớn phụ thuộc vào sự chấp hành pháp luật của chủ đầu tư.

Thứ nhất, mô tả tài sản khi chủ đầu tư được phép thực hiện giao dịch đầu tiên

Về phía chủ đầu tư, Nhà nước trao quyền cho chủ đầu tư thực hiện dự án nhà ở thương mại rất linh hoạt và rất sớm để chủ đầu tư dễ dàng thực hiện các giao dịch liên quan sao cho hoạt động kinh doanh bất động sản đạt hiệu quả nhất. Theo đó, chủ đầu tư có thể được thế chấp dự án hoặc nhà ở xây dựng trong dự án tại tổ chức tín dụng đang hoạt động tại Việt Nam để vay vốn cho việc đầu tư dự án hoặc xây dựng nhà ở đó (Điều 147 Luật Nhà ở năm 2014). Lúc này quyền sử dụng đất của dự án được xác định bằng số thửa, số lô và tờ bản đồ tại xã, phường… Để bảo vệ quyền lợi của người nhận thế chấp và bên mua nhà, pháp luật quy định chủ đầu tư đã thế chấp nhà ở mà có nhu cầu bán nhà ở đó thì phải giải chấp nhà ở này trước khi ký HĐMB nhà ở với khách hàng, trừ trường hợp được bên mua nhà ở và bên nhận thế chấp đồng ý. Biên bản đồng ý cho bán nhà của bên nhận thế chấp sẽ thể hiện trong nội dung công văn đồng ý của Sở Xây dựng.

Trường hợp không có thế chấp dự án hoặc thế chấp nhà ở sẽ bán thì chủ đầu tư phải ghi rõ cam kết chịu trách nhiệm trong văn bản gửi Sở Xây dựng. Bên cạnh đó, sau khi Sở Xây dựng có văn bản thông báo nhà ở đủ điều kiện được bán, nhưng chủ đầu tư không bán mà thực hiện thế chấp nhà ở này thì việc bán nhà ở này cũng chỉ được thực hiện sau khi có đủ điều kiện và có văn bản thông báo của Sở Xây dựng (Điều 19 Nghị định số 99/2015/NĐ-CP ngày 20/10/2015 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Nhà ở). Lúc này, tài sản là căn hộ chung cư sẽ được gọi tên riêng, tên tài sản này khác với tên tài sản trên hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất hoặc tên dự án ban đầu, thông thường bằng số căn hộ, số tầng.

Có một số trường hợp, căn hộ hoặc nhà ở sẽ được mô tả gắn liền với số thửa, số tờ bản đồ tại địa chỉ xã, phường… để cơ quan có thẩm quyền có thể tìm hiểu về lịch sử giao dịch của tài sản. Có một số trường hợp khác, căn hộ hoặc nhà ở không được mô tả gắn liền với thửa đất hoặc tờ bản đồ dẫn đến khó xác định lịch sử giao dịch của tài sản, nhằm phát hiện ra những quyền bị hạn chế đối với tài sản giao dịch.

Thứ hai, mô tả đặc điểm căn hộ khi mua bán, chuyển nhượng

Khi mô tả căn hộ - đối tượng của hợp đồng, HĐMB căn hộ chung cư thường ghi rõ mã căn hộ, số tầng. Thông thường số tầng căn hộ cũng như mã số căn hộ do chủ đầu tư xác định, thậm chí trong hợp đồng mua bán ít khi thể hiện số tờ bản đồ, số thửa địa chỉ trùng khớp với hồ sơ mà chủ đầu tư giao dịch ban đầu. Tuy vậy, nhiều dự án sau khi có quyết định cấp số nhà của cơ quan nhà nước thì số tầng, mã số căn bị thay đổi, điều này dẫn đến khả năng tài sản giao dịch sau không kết nối được với những giao dịch trước.

Về nguyên tắc đánh số tầng trong nhà chung cư, Bộ Xây dựng có hướng dẫn tại khoản 1 Điều 8 Quyết định số 05/2006/QĐ-BXD ngày 08/3/2006 của Bộ Xây dựng về việc ban hành quy chế đánh số và gắn biển số nhà: “Đánh số tầng nhà theo nguyên tắc lấy chiều từ tầng dưới lên tầng trên, bắt đầu từ tầng 1 của ngôi nhà (không tính tầng hầm). Dùng các số tự nhiên (1, 2, 3,..., n, với n là tổng số tầng của ngôi nhà) để đánh số tầng và được lấy từ số nhỏ đến số lớn. Có thể đặt tên tầng trệt thay cho tầng 1, khi đó các tầng tiếp theo từ dưới lên được đánh số là tầng 1, tầng 2,... tầng n-1”. Tuy nhiên, Ủy ban nhân dân TP. Hồ Chí Minh lại có hướng dẫn khác, theo khoản 1 Điều 9 Quy chế đánh số và gắn biển số nhà trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh ban hành kèm theo Quyết định số 22/2012/QĐ-UBND ngày 31/5/2012 thì “Số tầng được đánh theo chiều từ dưới lên trên theo dãy số tự nhiên, bắt đầu từ số 0 đối với tầng trệt, số 1 đối với lầu 1 (không tính tầng hầm)”. Khi thực hiện dự án xây dựng chung cư, chủ đầu tư phải tuân theo tiêu chuẩn, quy chuẩn xây dựng và hiện nay, Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về nhà chung cư (QCVN 04:2019/BXD) ban hành kèm theo Thông tư số 21/2019/TT-BXD ngày 31/12/2019 của Bộ Xây dựng chỉ đưa ra định nghĩa: “Số tầng của tòa nhà bao gồm toàn bộ các tầng trên mặt đất (kể cả tầng kỹ thuật, tầng tum) và tầng bán/nửa hầm, không bao gồm tầng áp mái”, mà không nêu rõ cách đánh số nhà ngay từ khi xây dựng dự án và bán ra thị trường như thế nào.

Chính sự không rõ ràng và thiếu thống nhất trong văn bản của các cơ quan quản lý đã gây ra nhiều phiền hà, tranh chấp liên quan đến đối tượng của HĐMB căn hộ chung cư. Ví dụ, tại một chung cư, số căn hộ ghi trong HĐMB và ghi trên các tầng, trên cửa các căn hộ được đánh số từ tầng 1 trở lên, không có tầng trệt (tầng G) và tầng 12A, 12B thay cho tầng 13, tuy nhiên, khi có quyết định cấp số nhà của cơ quan nhà nước thì tất cả các căn hộ đều bị thay đổi số tầng, số căn theo hướng bị thụt xuống 01 tầng, khiến cư dân vô cùng bức xúc, gây khó khăn cho các cơ quan có chức năng công chứng, chứng thực hợp đồng giao dịch khi tra cứu kiểm tra lịch sử giao dịch của tài sản cũng như việc quản lý thị trường bất động sản của cơ quan nhà nước khi không xác định được tính chính xác của tài sản. Từ việc không xác định tính chính xác của tài sản thêm quy định việc chủ đầu tư được phép tự do bán căn hộ nên dẫn đến một số chủ đầu tư bán một căn hộ cho nhiều người[3].

Thứ ba, quy định về điều kiện dự án đủ điều kiện chuyển nhượng

Khi Sở Xây dựng đã có văn bản thông báo nhà ở đủ điều kiện được bán, cho thuê mua trong trường hợp dự án chưa thế chấp, nhưng sau đó chủ đầu tư không bán, không cho thuê mua mà lại thế chấp dự án, không thực hiện thủ tục thông báo để xin lại văn bản thông báo nhà ở đủ điều kiện được bán của Sở Xây dựng theo quy định và sau đó tiếp tục bán nhà ở chung cư này khi đang thế chấp thì cơ quan quản lý nhà nước không kiểm soát được. Đồng thời, theo điểm b khoản 2 Điều 19 Nghị định số 99/2015/NĐ-CP thì trường hợp chủ đầu tư đã gửi hồ sơ nhưng quá thời hạn 15 ngày mà Sở Xây dựng không có văn bản thông báo và nhà ở đó đã đủ điều kiện được bán thì chủ đầu tư được quyền ký HĐMB nhà ở hình thành trong tương lai nhưng phải chịu trách nhiệm về việc bán, cho thuê mua nhà ở này; Sở Xây dựng phải chịu trách nhiệm về việc thông báo hoặc không có văn bản thông báo nhà ở đủ điều kiện được bán, cho thuê mua sau khi nhận được hồ sơ đề nghị của chủ đầu tư. Quy định này không rõ ràng, do đó, có nhiều trường hợp, chủ đầu tư gây cho người mua nhà hiểu nhầm rằng, căn hộ chung cư mà họ mua đã đủ điều kiện chuyển nhượng, nhưng có thể do quá 15 ngày chủ đầu tư vẫn chưa được Sở Xây dựng phát hành thông báo dự án đủ điều kiện chuyển nhượng nên chủ đầu tư vẫn được phép chuyển nhượng. Điều này dẫn đến, khách hàng sẽ khó có cơ sở biết được dự án chung cư hình thành trong tương lai mà mình đang mua thật sự đã đáp ứng đủ điều kiện để giao dịch theo quy định hay chưa. Cách quy định này tuy tạo thuận lợi cho doanh nghiệp nhưng có thể dẫn đến sự tùy tiện trong áp dụng pháp luật, làm mất đi vai trò kiểm soát của cơ quan quản lý, tạo ra không thống nhất trong hệ thống pháp luật, gây rủi ro cho khách hàng khi giao kết hợp đồng nếu như dự án nhà ở thương mại không đủ điều kiện chuyển nhượng.

Thứ tư, đảm bảo của của cơ quan nhà nước về tính chính xác của tài sản

Về phía cơ quan quản lý nhà nước, theo phân cấp quản lý thì cấp tỉnh về quản lý đất đai được trao cho Sở Tài Nguyên và Môi trường, còn quản lý về nhà và công trình xây dựng được trao cho Sở Xây dựng. Do vậy, một tài sản do hai cơ quan quản lý mà chưa có sự liên thông, chia sẻ thông tin dẫn đến một số sai sót trong quản lý tài sản là căn hộ chung cư như sau: Thứ nhất, tài sản có thế chấp hay không thì Sở Xây dựng không quản lý được, chỉ dựa vào thông báo của Sở Tài nguyên và Môi trường hoặc cam kết của chủ đầu tư hoặc dựa vào thỏa thuận giữa chủ đầu tư và các tổ chức tín dụng, dẫn đến việc chủ đầu tư dễ dàng vi phạm về quy định tài sản đang thế chấp chưa được giải chấp vẫn được chuyển nhượng. Thứ hai, tài sản hình thành trong tương lai không được Sở Tài nguyên và Môi trường nhận đăng ký thế chấp vì Sở Tài nguyên và Môi trường không quản lý nhà khi chưa được cấp giấy chứng nhận mà do Sở Xây dựng quản lý dẫn đến khó khăn cho người mua nhà khi không được Nhà nước bảo vệ quyền sở hữu của tài sản hình thành trong tương lai. Thứ ba, tài sản khó khăn khi truy suất nguồn gốc vì đất đai và nhà ở được quản lý bởi hai cơ quan khác nhau. Bốn, văn bản dự án đủ điều kiện chuyển nhượng không được công khai đầy đủ nên người tiêu dùng cũng như cơ quan có liên quan khác không thể kiểm tra được tính chính xác của tài sản. Năm là, hiện nay, chúng ta có hai hệ thống đăng ký biện pháp giao dịch bảo đảm. Đăng ký “thế chấp tài sản gắn liền với đất hình thành trong tương lai” được đăng ký khi có yêu cầu và thuộc thẩm quyền của Trung tâm Đăng ký giao dịch, tài sản của Cục Đăng ký quốc gia giao dịch bảo đảm thuộc Bộ Tư pháp; còn Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai và Văn phòng đăng ký đất đai trực thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường thực hiện đăng ký về biện pháp bảo đảm bằng quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất[4]. Một tài sản không được tích hợp các quyền chung một hệ thống đăng ký cũng là khó khăn cho việc quản lý nhà nước cũng như theo dõi các giao dịch của cơ quan có thẩm quyền, người mua tài sản cũng như những tổ chức, cá nhân có liên khác.

Với những phân tích trên, giải pháp tối ưu nhất hiện nay gồm:

- Bộ Tài Nguyên và Môi trường, Bộ Xây dựng và Bộ Tư pháp cần phải hoàn chỉnh hệ thống cơ sở dữ liệu thông tin về đất đai và tài sản, nhằm hỗ trợ, chia sẻ thông tin trong lĩnh vực quản lý nhà nước. Cần thực hiện thống nhất một tên gọi của bất động sản từ lúc phê duyệt dự án đến khi bất động sản được lưu thông trên thị trường. Thống nhất từ khâu quản lý của Nhà nước. Nhà nước phải là người bảo đảm và cung cấp tính chính xác về bất động sản giao dịch cho thị trường.

- Cần quy định rõ trách nhiệm của Sở Xây dựng trong việc kiểm tra điều kiện của tài sản hình thành trong tương lai được phép đưa vào giao dịch và trong mọi trường hợp phải đảm bảo có văn bản thông báo nhà ở hình thành trong tương lai đủ điều kiện giao dịch từ Sở Xây dựng thì chủ đầu tư mới được ký HĐMB căn hộ chung cư.

- Văn bản thông báo nhà ở đủ điều kiện tham gia giao dịch của Sở Xây dựng nên được công khai toàn bộ để người tiêu dùng bảo vệ tốt nhất quyền sở hữu tài sản của mình khi tham gia giao dịch liên quan đến HĐMB căn hộ chung cư, đồng thời, các cơ quan có thẩm quyền liên quan cũng như các tổ chức hành nghề công chứng dễ dàng thực hiện các giao dịch liên quan đến HĐMB nhà ở chung cư.

- Cùng với thông báo của Sở Xây dựng thì chủ đầu tư phải có trách nhiệm cung cấp kèm theo cam kết nhà ở đưa vào giao dịch chưa được thế chấp, hoặc hồ sơ đang thế chấp tại tổ chức tín dụng nào để bên mua nhà chủ động về vấn đề giải chấp và nộp hồ sơ xin cấp giấy chứng nhận.

Việc bảo đảm tính chính xác của đối tượng giao dịch, bảo đảm đối tượng là có thực, đủ điều kiện chuyển nhượng theo quy định của pháp luật bảo đảm tính có hiệu lực của hợp đồng; đồng thời cũng tăng cường trách nhiệm quản lý của Nhà nước trong việc bảo đảm an toàn và phát triển ổn định của thị trường mua bán căn hộ chung cư.

3. Nội dung và hình thức hợp đồng mua bán nhà ở chung cư

Pháp luật quy định hợp đồng trong kinh doanh bất động sản do các bên thỏa thuận nhưng phải đảm bảo các nội dung chủ yếu theo quy định pháp luật. Các bên có thể tham khảo các mẫu hợp đồng số 76/2015/NĐ-CP ngày 10/9/2015 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Kinh doanh bất động sản và việc công chứng, chứng thực hợp đồng được thực hiện theo yêu cầu của các bên[5]. Đối với HĐMB căn hộ chung cư, Luật Bảo vệ người tiêu dùng còn yêu cầu chủ đầu tư phải đăng ký hợp đồng theo mẫu[6]. Tùy theo phạm vi áp dụng của hợp đồng theo mẫu, điều kiện giao dịch chung mà cơ quan chịu trách nhiệm đăng ký hợp đồng mẫu có thể là Bộ Công thương hoặc Sở Công thương[7]. Liên quan đến quy định trên có một số vấn đề cần xem xét:

3.1. Về nội dung của hợp đồng mua bán căn hộ chung cư

Pháp luật hiện hành quy định nội dung HĐMB nhà ở nói chung và HĐMB căn hộ chung cư nói riêng do các bên thỏa thuận và phải đảm bảo các nội dung chính theo quy định[8]. Nhìn chung, pháp luật vẫn dựa trên nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự về tự do, tự nguyện cam kết thỏa thuận khi xác lập, chấm dứt quyền và nghĩa vụ dân sự của các bên. Tuy nhiên, như đã đề cập, HĐMB căn hộ chung cư hiện nay được lập theo mẫu, do chủ đầu tư soạn ra và được đăng ký tại cơ quan có thẩm quyền. Nói cách khác, các nội dung thể hiện trong hợp đồng không hoàn toàn được xây dựng dựa trên sự thỏa thuận về ý chí của các bên. Nhiều nội dung của HĐMB căn hộ chung cư có thể ảnh hưởng trực tiếp đến người mua nhà trước và sau khi họ nhận bàn giao căn hộ nhưng vẫn chưa được pháp luật quy định rõ ràng, có thể dẫn đến tranh chấp. Có thể kể đến một số điều khoản như:

Thứ nhất, về cách tính thời điểm bàn giao căn hộ hình thành trong tương lai trong HĐMB

Thực tế có nhiều cách xác định thời hạn bàn giao căn hộ khác nhau. Bên cạnh các HĐMB ghi thời hạn bàn giao theo ngày, tháng, năm, thì một số HĐMB lại ghi nhận thời hạn bàn giao theo “quý”, dẫn đến tranh chấp. Ví dụ về trường hợp phạt chậm bàn giao nhà: “Theo HĐMB căn hộ chung cư thì Công ty thỏa thuận với bên mua nhà là năm hoàn thành công trình là năm 2016 và sẽ bàn giao nhà vào quý I/2016. Bên mua nhà cho rằng, đến tháng 10/2017 mà vẫn chưa nhận bàn giao nhà nên Công ty đã vi phạm hợp đồng và thanh toán tiền phạt do chậm bàn giao căn hộ. Tòa án cho rằng, Bộ luật Dân sự không có khái niệm về quý và cách tính thời hạn quý, do đó, được hiểu, các bên thỏa thuận năm là thời hạn hoàn thành công trình là vào ngày 31/12/2016 là hoàn toàn có cơ sở”. Một số HĐMB lại ghi nhận thời điểm bàn giao căn cứ theo thời điểm ký kết HĐMB, ví dụ có HĐMB ghi nhận “bên bán bàn giao căn hộ cho bên mua dự kiến 24 tháng kể từ ngày ký hợp đồng này”, dẫn đến thời hạn bàn giao không căn cứ vào tiến độ xây dựng thực tế và có thể khác nhau giữa các căn hộ trong cùng một tầng, một block nếu thời điểm giao kết hợp đồng khác nhau. Trường hợp khác, chủ đầu tư quy định về vấn đề bàn giao nằm ở nhiều điều khoản khác nhau trong hợp đồng mà không chỉ riêng điều khoản có tên gọi là “thời hạn bàn giao nhà ở”, khiến khách hàng nếu không đọc kỹ toàn bộ nội dung hợp đồng thì có thể hiểu sai. Chưa kể thực tế, thời điểm bàn giao trên HĐMB thường kèm theo một “độ trễ” do chủ đầu tư đưa ra, ví dụ “thời gian bàn giao căn hộ có thể muộn hơn thời hạn bàn giao dự kiến, nhưng không được muộn hơn 90 ngày kể từ ngày cuối của thời hạn bàn giao dự kiến”. Những quy định nói trên về lý thuyết là do các bên thỏa thuận, nhưng thực tế là do phía chủ đầu tư đưa ra để tối đa hóa lợi ích của mình.

Thứ hai, điều khoản về phần diện tích thuộc sở hữu chung và sở hữu riêng

Việc xác định rõ phần diện tích chung - riêng trong HĐMB căn hộ chung cư có ý nghĩa rất quan trọng vì liên quan đến vấn đề xác định chi phí quản lý vận hành và vấn đề bảo trì sau khi căn hộ được bàn giao đưa vào sử dụng. Luật Kinh doanh bất động sản và Luật Nhà ở đã quy định rõ về các phần diện tích chung - riêng trong nhà chung cư và buộc các bên phải phân định rõ diện tích, trang thiết bị sử dụng chung và diện tích, trang thiết bị sử dụng riêng của các chủ sở hữu[9]. Thực tế là tại thời điểm ký kết HĐMB, rất ít người mua quan tâm đến các nội dung liên quan đến phần sở hữu chung - riêng, đến khi đưa căn hộ vào sử dụng mới bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Mặt khác, pháp luật hiện hành cũng chỉ xác định phần nào thuộc sở chung, phần nào thuộc sở hữu riêng, còn việc xác định vị trí cụ thể các phần diện tích này phải xem xét, đối chiếu trong các quyết định, giấy phép, hồ sơ thiết kế công năng sử dụng của chung cư đã được các cơ quan có thẩm quyền phê duyệt. Những hồ sơ này người mua thường ít được tiếp cận khi ký HĐMB hoặc nếu được tiếp cận thì cũng đòi hỏi phải có kiến thức chuyên môn về xây dựng mới có thể hiểu được. Đơn cử như phần diện tích chỗ để xe, Luật Nhà ở chỉ xác định quyền sở hữu, quyền sử dụng đối với chỗ để xe[10], còn việc bố trí cụ thể chỗ để xe như thế nào phải theo tiêu chuẩn, quy chuẩn xây dựng, thiết kế được phê duyệt. Tuy nhiên, hồ sơ thiết kế được phê duyệt của nhiều dự án cũng chỉ quy định về diện tích dành cho chỗ để xe trong dự án, mà không ghi nhận rõ cách bố trí cụ thể như thế nào, ví dụ khu vực nào là chỗ để xe của cư dân, khu vực nào dành cho khách vãng lai, khách của các khu thương mại, dịch vụ trong tòa nhà. Gần đây, Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về nhà chung cư mới được ban hành cũng chỉ quy định về diện tích tối thiểu dành cho chỗ để xe[11], chưa giải quyết triệt để việc chủ đầu tư tự phân chia khu vực để xe của cư dân và chưa công bằng phần dành cho khách của khu vực thương mại, tận dụng tối đa diện tích hầm để xe với những vị trí thuận lợi hơn cho chủ đầu tư, đẩy các phần diện tích đường nội bộ về cho cư dân để đảm bảo diện tích luật định.

Từ những nội dung chưa rõ ràng nêu trên cho thấy, việc HĐMB căn hộ chung cư do một phía chủ đầu tư soạn thảo mà không được đăng ký tiềm ẩn rất nhiều nguy cơ cho người tiêu dùng, vốn là bên yếu thế trong quan hệ mua bán. Khoản 1 Điều 405 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định “nếu bên được đề nghị trả lời chấp nhận thì coi như chấp nhận toàn bộ nội dung hợp đồng theo mẫu mà bên đề nghị đã đưa ra”. Có quan điểm cho rằng, trong HĐMB căn hộ chung cư, người mua chỉ có thể chấp nhận hoặc không chấp nhận toàn bộ nội dung hợp đồng[12]. Câu hỏi đặt ra là, trong quá trình nghiên cứu hợp đồng mà người mua phát hiện ra các điều khoản bất lợi thì có quyền yêu cầu bên bán điều chỉnh nội dung hợp đồng hay không? Bởi lẽ, theo khoản 2 Điều 19 Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng cũng quy định, theo đề nghị của người tiêu dùng, cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng sẽ hủy bỏ hoặc sửa đổi hợp đồng theo mẫu, điều kiện giao dịch chung trong trường hợp phát hiện hợp đồng theo mẫu, điều kiện giao dịch chung vi phạm quyền lợi của người tiêu dùng. Tuy nhiên, trong số các trường hợp đăng ký lại hợp đồng theo mẫu tại Điều 15 Nghị định số 99/2015/NĐ-CP thì chỉ có trường hợp “tổ chức, cá nhân kinh doanh thay đổi nội dung hợp đồng theo mẫu, điều kiện giao dịch chung” mà không có trường hợp người tiêu dùng đề nghị cơ quan có thẩm quyền thay đổi nội dung hợp đồng theo mẫu. Thực tế cho thấy, chủ đầu tư thường dựa vào lý do HĐMB đã được đăng ký để từ chối yêu cầu sửa đổi, bổ sung nội dung HĐMB theo nguyện vọng của người mua, hiếm có khi nào chủ đầu tư thực hiện việc đăng ký lại nội dung thay đổi hợp đồng.

3.2. Về áp dụng hợp đồng theo mẫu đối với hợp đồng mua bán căn hộ chung cư

Hợp đồng theo mẫu trong mua bán căn hộ chung cư là hợp đồng do tổ chức kinh doanh bất động sản soạn thảo để giao dịch với người tiêu dùng, góp phần giảm thời gian, chi phí giao dịch cho các bên. Tuy nhiên, vì hợp đồng do phía chủ đầu tư soạn thảo ra nên thường có sự bất cân xứng về quyền lợi giữa chủ đầu tư với khách hàng, vì vậy, pháp luật hiện hành đã có nhiều quy định liên quan đến hợp đồng theo mẫu để bảo vệ quyền lợi cho người tiêu dùng. Theo đó, các quy định điều chỉnh việc giao kết, thực hiện hợp đồng theo mẫu trong mua bán căn hộ chung cư nằm rải rác ở nhiều văn bản như Bộ luật Dân sự, Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, Luật Nhà ở,… Tuy nhiên, nhiều quy định liên quan đến loại hợp đồng này chưa rõ ràng[13], cụ thể:

Thứ nhất, hợp đồng theo mẫu không được đăng ký thì có hiệu lực không? Theo quy định của pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng thì việc đăng ký hợp đồng theo mẫu với cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền nhằm mục đích kiểm soát hợp đồng này[14]. Việc chủ đầu tư không đăng ký hoặc không đăng ký lại hợp đồng theo mẫu, điều kiện giao dịch chung với cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng có thể bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng (khoản 27 Điều 1 Nghị định số 124/2015/NĐ-CP ngày 19/11/2015 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 185/2013/NĐ-CP ngày 15/11/2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động thương mại, sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng cấm và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng). Mức phạt này còn khá nhẹ so với tiềm lực tài chính của các doanh nghiệp bất động sản. Mặt khác, pháp luật không quy định về việc xử lý hậu quả trong trường hợp HĐMB căn hộ chung cư không được đăng ký. Bộ luật Dân sự năm 2015 thì chỉ quy định về các điều khoản bị coi là vô hiệu nếu đưa vào hợp đồng mẫu[15] và trường hợp hợp đồng mẫu không được đăng ký cũng không thuộc trường hợp giao dịch dân sự vô hiệu từ Điều 123 đến Điều 133 của Bộ luật Dân sự năm 2015. Chính sự bất cập này đã khiến cho việc kiểm soát hợp đồng mẫu trở nên kém hiệu quả. Do đó, tác giả cho rằng, cần tăng mức phạt đối với hành vi không đăng ký hợp đồng theo mẫu hoặc không áp dụng đúng hợp đồng theo mẫu đã đăng ký, đồng thời, quy định về hình thức xử phạt bổ sung buộc chủ đầu tư phải thực hiện đúng quy định về đăng ký hợp đồng theo mẫu, phải bồi thường thiệt hại nếu HĐMB căn hộ chung cư chưa đăng ký mà gây thiệt hại cho khách hàng; bổ sung quy định về xử lý hợp đồng theo mẫu không được đăng ký vào điều khoản về giao dịch dân sự vô hiệu do không tuân thủ quy định về hình thức (Điều 129 Bộ luật Dân sự năm 2015).

Thứ hai việc kiểm soát HĐMB căn hộ chung cư theo mẫu không có các điều khoản gây bất lợi cho người tiêu dùng chưa chặt chẽ. Khoản 3 Điều 405 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: “Trường hợp hợp đồng theo mẫu có điều khoản miễn trách nhiệm của bên đưa ra hợp đồng theo mẫu, tăng trách nhiệm hoặc loại bỏ quyền lợi chính đáng của bên kia thì điều khoản này không có hiệu lực, trừ trường hợp có thỏa thuận khác”. Với quy định này thì nếu các bên có thỏa thuận khác thì các điều khoản này vẫn có hiệu lực? Hay nói cách khác, việc ghi nhận “trừ trường hợp có thỏa thuận khác” đã tự vô hiệu hóa chính công cụ mà pháp luật đặt ra để bảo vệ bên không được soạn thảo hợp đồng[16]. Mặt khác, Điều 16 Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng cũng quy định theo hướng liệt kê 09 điều khoản bị coi là không có hiệu lực khi ký hợp đồng theo mẫu với người tiêu dùng. Cách quy định theo hướng liệt kê “đóng” tuy tạo được sự rõ ràng, dễ đối chiếu cho cơ quan có thẩm quyền khi xem xét nội dung hợp đồng mẫu, tuy nhiên, có thể dẫn đến việc không bao quát các tình huống, đặc biệt là khi chủ đầu tư có thể đưa vào các quy định dù không thuộc 09 điều khoản nêu trên nhưng có thể gây bất lợi cho người mua nhà. Do đó, thiết nghĩ, ngoài các quy định “cứng” nêu trên thì cần bổ sung điều khoản quy định về các tiêu chí để đánh giá những điều khoản nào là bất lợi cho người tiêu dùng. Trên cơ sở các tiêu chí này, cơ quan có thẩm quyền xem xét nội dung hợp đồng theo mẫu có thể linh hoạt không đồng ý với những điều khoản do chủ đầu tư đăng ký, hoặc trao cho cơ quan tài phán quyền quyết định tính có hiệu lực của những điều khoản này khi xét xử. Mặt khác, cần thiết phải quy định rõ trách nhiệm, hình thức xử lý đối với người có thẩm quyền tiếp nhận đăng ký hợp đồng theo mẫu nếu những mẫu hợp đồng mà họ thông qua có chứa điều khoản bất lợi, không bảo vệ quyền lợi chính đáng cho người tiêu dùng.

Thứ ba chưa có quy định cụ thể ràng buộc trách nhiệm của chủ đầu tư trong việc tạo điều kiện cho người mua nhà nghiên cứu nội dung hợp đồng trước khi ký. Đối với HĐMB căn hộ chung cư thì do thiếu vắng quá trình đàm phán, soạn thảo hợp đồng (do sử dụng hợp đồng theo mẫu) cũng như vị thế hơn hẳn của bên bán, vốn là các doanh nghiệp có tiềm lực tài chính, có đội ngũ tư vấn chuyên nghiệp, thì người mua sẽ luôn là người bị thiếu thông tin so với nhà kinh doanh, trong khi “thông tin là sức mạnh, vì thông tin định hướng hành vi con người”[17]. Vì vậy, người mua nhà cần thời gian để đọc, nghiên cứu và tìm hiểu kỹ các thông tin trước khi đặt bút ký hợp đồng. Theo khoản 1 Điều 17 Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, khi giao kết hợp đồng theo mẫu, tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ phải dành thời gian hợp lý để người tiêu dùng nghiên cứu hợp đồng. Vấn đề đặt ra là, thời gian nghiên cứu trước nội dung hợp đồng như thế nào là “hợp lý”? Pháp luật cũng không quy định rõ về cách thức chủ đầu tư phải cung cấp mẫu HĐMB cho người mua xem trước là như thế nào (bằng bản giấy, file word…). Thông thường, nếu có nhu cầu xem trước hợp đồng, bên mua chỉ nhận được mẫu HĐMB bằng file word/PDF thông qua thư điện tử, gửi bởi nhân viên kinh doanh hoặc người môi giới và những người này cũng không đủ kiến thức để giải thích rõ, chính xác nội dung hợp đồng cho người mua. Chưa kể việc bên bán có nhiều “chiêu trò” để khiến bên mua nhanh chóng ký hợp đồng mà không đọc kỹ nội dung như quy định về việc khuyến mãi, tặng quà, hưởng chiết khấu khi ký hợp đồng trước một mốc thời gian cụ thể,… Mặt khác, Điều 7 Nghị định số 99/2011/NĐ-CP ngày 27/10/2011 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng còn quy định: “Ngôn ngữ sử dụng bằng tiếng Việt, nội dung phải rõ ràng, dễ hiểu; cỡ chữ ít nhất là 12”. Vậy, với trường hợp người mua nhà là người nước ngoài đủ điều kiện sở hữu nhà ở tại Việt Nam theo Luật Nhà ở thì chủ đầu tư có phải cung cấp bản dịch bằng ngoại ngữ hay không? Bản dịch này có phải đăng ký? Và nếu giữa bản dịch và bản tiếng Việt không tương thích thì áp dụng theo bản nào? Những câu hỏi trên chưa được pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng làm rõ. Do đó, cần bổ sung các quy định làm rõ thời gian tối thiểu chủ đầu tư phải dành cho người mua nhà nghiên cứu nội dung hợp đồng mẫu trước khi ký. Đồng thời, bên cạnh ngôn ngữ bằng tiếng Việt, hợp đồng theo mẫu có thể kèm theo ngôn ngữ khác trong trường hợp người mua nhà là người nước ngoài và không bắt buộc phải đăng ký với cơ quan có thẩm quyền liên quan đến nội dung bằng tiếng nước ngoài, tuy nhiên, chủ đầu tư có trách nhiệm đảm bảo bản dịch sát với bản tiếng Việt, trường hợp có sự khác biệt thì phải giải thích theo bản tiếng Việt đã được đăng ký.

3.3. Về việc công chứng, chứng thực hợp đồng mua bán căn hộ chung cư

Về vấn đề công chứng, chứng thực, pháp luật có xu hướng giảm các thủ tục hành chính, nên việc công chứng, chứng thực hợp đồng trong kinh doanh bất động sản nói chung và HĐMB căn hộ chung cư nói riêng sẽ do các bên thỏa thuận, trừ trường hợp HĐMB căn hộ chung cư có sẵn giữa các hộ gia đình, cá nhân với nhau và văn bản chuyển nhượng HĐMB căn hộ chung cư hình thành trong tương lai là phải công chứng hoặc chứng thực[18]. Thiết nghĩ, việc công chứng, chứng thực đối với hợp đồng giao dịch bất động sản có ý nghĩa rất lớn nhằm đảm bảo tính hợp pháp của nội dung giao dịch, hạn chế giao dịch vô hiệu.

Mặc dù HĐMB căn hộ chung cư thường là hợp đồng theo mẫu với nội dung cố định, đã được cơ quan có thẩm quyền kiểm soát nên hầu như công chứng viên không can thiệp nhiều vào nội dung hợp đồng, tuy nhiên, việc công chứng, chứng thực có thể góp phần kiểm soát tình trạng giao dịch của nhà ở cũng như kiểm soát việc chủ đầu tư có áp dụng đúng mẫu hợp đồng đã đăng ký với cơ quan có thẩm quyền hay không, tài sản đã đủ điều kiện chuyển nhượng, mua bán hay không. Nếu không có sự giám sát của bên thứ ba như các tổ chức hành nghề công chứng hoặc các cơ quan có thẩm quyền chứng thực thì người mua khó có thể biết được trình trạng giao dịch của căn hộ và có thể xảy ra tình trạng một căn hộ được bán cho nhiều người mà người mua nhà không biết, hoặc một tài sản đang thế chấp vẫn được bán mặc dù chưa có công văn đồng ý hay công văn giải chấp của các tổ chức tín dụng. Thiết nghĩ, cần thiết giao quyền giám sát giao dịch mua bán căn hộ chung cư hình thành trong tương lai về lại cho các tổ chức hành nghề công chứng, hoặc các cơ quan có thẩm quyền chứng thực hoặc quy định về vấn đề đăng ký HĐMB nhà ở hình thành trong tương lai tương tự như nhà ở có sẵn để có thể quản lý tốt hơn tình trạng giao dịch đối với bất động sản này.

Tóm lại, hợp đồng đóng một vai trò vô cùng quan trọng trong quan hệ mua bán căn hộ chung cư khi mà pháp luật vẫn dành cho các bên sự thỏa thuận tự do nhiều vấn đề. Tuy nhiên, với các đặc thù của hợp đồng theo mẫu mà HĐMB căn hộ chung cư do chủ đầu tư soạn ra luôn tiềm ẩn nhiều rủi ro cho khách hàng. Trong mối quan hệ này, khách hàng thường là bên nắm “đằng chuôi”, họ cần được bảo vệ nhiều hơn bởi các quy định của pháp luật, của các cơ quan có thẩm quyền. Tuy nhiên, quy định pháp luật hiện hành điều chỉnh về việc giao kết, thực hiện HĐMB căn hộ chung cư lại nằm rải rác ở nhiều văn bản khác nhau, thiếu sự tập trung, thống nhất. Do đó, để đảm bảo tốt nhất quyền lợi cho người mua nhà thì cần có sự điều chỉnh, hoàn thiện quy định pháp luật mang tính hệ thống, toàn diện. Trong đó, cần thiết phải tăng cường cơ chế kiểm soát HĐMB căn hộ chung cư theo mẫu sau khi hợp đồng này được đăng ký tại cơ quan có thẩm quyền. Các bên cũng cần phải hiểu biết và tôn trọng pháp luật nhằm hạn chế những tranh chấp khi tham gia giao dịch này.

TS. Ninh Thị Hiền
Trưởng Văn phòng Công chứng Ninh Thị Hiền TP. Hồ Chí Minh
ThS. Ngô Gia Hoàng
Khoa Luật Thương mại, Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh


[1] Cụ thể, nếu chủ đầu tư bán căn hộ chung cư hình thành trong tương lai khi chưa đủ điều kiện có thể vi phạm các điều cấm như “kinh doanh bất động sản không đủ điều kiện”, “huy động vốn trái phép” (khoản 1, khoản 5 Điều 8 Luật Kinh doanh bất động sản năm 2014), hoặc vi phạm các điều cấm đối với khách hàng nếu tài sản giao dịch không chính xác như “không công khai hoặc công khai không đầy đủ, trung thực thông tin về bất động sản”, hoặc “gian lận, lừa dối trong kinh doanh bất động sản” (khoản 3, khoản 4 Điều 8 Luật Kinh doanh bất động sản năm 2014).

[2] Chế Hân, TPHCM quyết tâm xóa dự án “ảo”

[3] Phạm Minh, Bán một căn nhà cho nhiều người, cần cẩn trọng!

[4] Nghị định số 102/2017/NĐ-CP ngày 01/9/2017 của Chính phủ về đăng ký biện pháp bảo đảm.

[5] Điều 121 Luật Nhà ở năm 2014; Điều 17 Luật Kinh doanh bất động sản năm 2014; Điều 167 Luật Đất đai năm 2013.

[6] Khoản 1 Điều 19 Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, Quyết định số 02/2012/QĐ-TTg ngày 13/01/2012 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành Danh mục hàng hóa, dịch vụ thiết yếu phải đăng ký hợp đồng theo mẫu, điều kiện giao dịch chung.

[7] Điều 9 Nghị định số 99/2011/NĐ-CP ngày 27/10/2011 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.

[8] Nội dung của HĐMB nhà ở có nội hàm tương tự như nhau được thể hiện tại Điều 121 Luật Nhà ở năm 2014 và Điều 18 Luật Kinh doanh bất động sản năm 2014.

[9] Điểm a khoản 2 Điều 19 Luật Kinh doanh bất động sản năm 2014, Điều 100 Luật Nhà ở năm 2014.

[10] Theo khoản 1 Điều 101 Luật Nhà ở năm 2014, đối với chỗ để xe đạp, xe dùng cho người khuyết tật, xe động cơ hai bánh, xe động cơ ba bánh cho các chủ sở hữu, người sử dụng nhà chung cư thì thuộc quyền sở hữu chung, sử dụng chung của các chủ sở hữu nhà chung cư; đối với chỗ để xe ô tô dành cho các chủ sở hữu nhà chung cư thì người mua, thuê mua căn hộ hoặc diện tích khác trong nhà chung cư quyết định mua hoặc thuê; trường hợp không mua hoặc không thuê thì chỗ để xe ô tô này thuộc quyền quản lý của chủ đầu tư và chủ đầu tư không được tính vào giá bán, giá thuê mua chi phí đầu tư xây dựng chỗ để xe này.

[11] Chỗ để xe (bao gồm đường nội bộ trong gara/bãi để xe) tối thiểu là 25 m2 cho 04 căn hộ chung cư, nhưng không nhỏ hơn 20 m2 cho 100 m2 diện tích sử dụng căn hộ chung cư, trong đó đảm bảo tối thiểu 6 m2 chỗ để xe máy, xe đạp cho mỗi căn hộ chung cư.

[12] Doãn Hồng Nhung, Hoàng Anh Dũng (2017), Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong giao kết và thực hiện hợp đồng theo mẫu khi mua bán căn hộ chung cư tại Việt Nam’, Tạp chí Luật học, Số 9/2017, tr. 83.

[13] Ninh Thị Hiền, Pháp luật về hợp đồng mua bán căn hộ chung cư, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, ấn phẩm đặc biệt dành cho Hiệp hội Công chứng viên Việt Nam, Hà Nội - 2020.

[14] Theo đó, cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng tự mình hoặc theo đề nghị của người tiêu dùng, yêu cầu tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ hủy bỏ hoặc sửa đổi hợp đồng theo mẫu trong trường hợp phát hiện hợp đồng theo mẫu, điều kiện giao dịch chung vi phạm quyền lợi của người tiêu dùng (khoản 2 Điều 19 Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng).

[15] Đây là những điều khoản miễn trách nhiệm của bên đưa ra hợp đồng theo mẫu, tăng trách nhiệm hoặc loại bỏ quyền lợi chính đáng của bên kia (khoản 3 Điều 405 Bộ luật Dân sự năm 2015).

[16] Nguyễn Thị Dung (2020), Kiểm soát tính công bằng của điều khoản mẫu, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 4(384)/2020, tr. 47.

[17] Phạm Duy Nghĩa (2003), Điều chỉnh thông tin bất cân xứng và quản lý rủi ro trong pháp luật hợp đồng Việt Nam, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 5/2003, tr. 40 .

[18] Khoản 2 Điều 17 Luật Kinh doanh bất động sản năm 2014; điểm a khoản 2 Điều 33 Thông tư số 19/2016/TT-BXD ngày 30/6/2016 của Bộ Xây dựng hướng dẫn thực hiện một số nội dung của Nghị định số 99/2015/NĐ-CP.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2026 được ban hành với nhiều điểm mới nhằm khắc phục những khó khăn, vướng mắc của Luật hiện hành; đổi mới hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật theo hướng lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm; bảo đảm quyền tiếp cận pháp luật, quyền tham gia góp ý, phản ánh, kiến nghị về chính sách, pháp luật; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo; đồng thời góp phần xây dựng văn hóa thượng tôn pháp luật và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chủ trương khởi nghiệp sáng tạo tại Việt Nam được Đảng và Nhà nước nhận thức, định hướng trong sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư khi nền sản xuất toàn cầu có sự kết hợp của các công nghệ hiện đại như trí tuệ nhân tạo, Internet of Things (IoT), robot tự động, dữ liệu lớn và nhiều công nghệ tiên tiến khác. Để thúc đẩy, tạo động lực cho cá nhân, tổ chức phát huy đam mê khởi nghiệp sáng tạo, tối đa hóa năng lực, nguồn lực, cống hiến trí tuệ cho sự phát triển chung của đất nước, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế- xã hội, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã từng bước đề ra chủ trương, chính sách pháp luật, chiến lược lâu dài nhằm kiến tạo hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo. Từ định hướng chiến lược tại Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân, đến việc thể chế hóa chủ trương của Đảng trong Luật Khoa học, Công nghệ và đổi mới sáng tạo năm 2025 và Chính phủ cụ thể hóa thông qua Nghị quyết số 86/NQ-CP ban hành Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo. Những chủ trương, chính sách đã góp phần thúc đẩy khởi nghiệp sáng tạo trong hệ thống kinh tế tư nhân trở thành một động lực phát triển quan trọng của đất nước trong kỷ nguyên số.
Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô số 02/2026/QH16 được Quốc hội khóa XVI thông qua ngày 23/4/2026, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026, thay thế Luật Thủ đô số 39/2024/QH15. Với 09 chương, 36 điều, Luật Thủ đô năm 2026 tiếp tục thể chế hóa chủ trương xây dựng Thủ đô Hà Nội trở thành trung tâm chính trị, hành chính quốc gia, trung tâm lớn về kinh tế, văn hóa, khoa học, giáo dục, đào tạo và đổi mới sáng tạo; đồng thời tạo dựng một không gian pháp lý mới với mức độ phân quyền, phân cấp và trao quyền mạnh mẽ hơn cho Thành phố.
Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Tại Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI đã thông qua Luật Phát triển đô thị số 18/2026/QH16, Luật có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/10/2026. Luật được kết cấu gồm 05 chương, 66 điều quy định các cơ chế, chính sách nhằm tạo lập hành lang pháp lý ổn định, đồng bộ, đột phá và khả thi để thúc đẩy phát triển Thành phố Hồ Chí Minh, phát triển đô thị đặc biệt khác, thành phố khác và khu kinh tế đặc biệt; bảo đảm cơ sở pháp lý cho việc áp dụng các cơ chế, chính sách đặc thù, vượt trội phù hợp với điều kiện, yêu cầu phát triển và năng lực thực thi của từng địa phương; qua đó khai thác hiệu quả tiềm năng, lợi thế, tạo không gian phát triển mới, thu hút nguồn lực đầu tư chất lượng cao và hình thành các động lực tăng trưởng mới.
Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Trên cơ sở kế thừa những quy định của Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013 đã được thực tiễn chứng minh là phù hợp, Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026 đồng thời bổ sung nhiều quy định để tháo gỡ những vướng mắc, bất cập, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, tạo cơ sở pháp lý đầy đủ, đồng bộ cho công tác hòa giải ở cơ sở.
Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chuyển đổi số trong hoạt động ngân hàng đã làm thay đổi căn bản phương thức xác lập và thực hiện các hợp đồng, giao dịch. Nhiều giao dịch được thực hiện hoàn toàn trên môi trường điện tử thông qua Internet Banking, Mobile Banking, eKYC, chữ ký điện tử, xác thực OTP và các hệ thống ngân hàng lõi (Core Banking). Khi phát sinh tranh chấp, chứng cứ không chỉ là hồ sơ giấy mà còn là dữ liệu điện tử được lưu giữ trên các hệ thống thông tin của ngân hàng và của khách hàng. Mặc dù Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015) và Luật Giao dịch điện tử năm 2023 đã thiết lập cơ sở pháp lý quan trọng cho việc thừa nhận dữ liệu điện tử là nguồn chứng cứ. Tuy nhiên, việc xác định giá trị chứng minh của loại chứng cứ này vẫn còn nhiều khoảng trống cần tiếp tục hoàn thiện.
Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Ngày 25/6/2025, Quốc hội khóa XV đã thông qua Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 (Luật số 89/2025/QH15) đánh dấu bước quan trọng trong tư duy lập pháp, quản lý của Nhà nước đối với hệ thống ngân sách nhà nước, đáp ứng yêu cầu tổ chức mô hình chính quyền địa phương hai cấp trên phạm vi toàn quốc. Bài viết đề cập nội dung của Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 gắn với việc tổ chức mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, làm rõ những kết quả từ việc sửa đổi Luật phù hợp với thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội, tổ chức bộ máy hành chính hiện nay.
THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

Trong cấu trúc an ninh phi truyền thống hiện đại, an ninh năng lượng đóng vai trò là “mạch máu” sống còn, quyết định sức bền kinh tế và vị thế quốc gia. Bước vào giai đoạn 2026 - 2030, trước yêu cầu bứt phá tăng trưởng GDP ở mức hai con số gắn liền với cam kết lịch sử phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050, Việt Nam đứng trước bài toán vừa bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng trước biến động địa chính trị toàn cầu, vừa chủ động chuyển dịch năng lượng xanh theo chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước.
Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp, cải cách thủ tục hành chính tiếp tục được đẩy mạnh gắn với chuyển đổi số, phân cấp, phân quyền và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Kết quả thực hiện trong tháng 8/2026 cho thấy nhiều chuyển biến tích cực, đồng thời đặt ra yêu cầu tiếp tục đồng bộ dữ liệu, hoàn thiện quy trình và nâng cao hiệu quả phối hợp trong cải cách thủ tục hành chính.
Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp về tình hình, kết quả cải cách thủ tục hành chính (TTHC) tháng 8 và nhiệm vụ trọng tâm tháng 9/2026, cải cách TTHC đang chuyển sang một giai đoạn mới, trong đó dữ liệu và công nghệ số ngày càng giữ vai trò quan trọng trong quản trị và tổ chức thực hiện. Việc khai thác, kết nối, chia sẻ dữ liệu để tái cấu trúc quy trình, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục đang từng bước làm thay đổi phương thức quản lý, hướng tới nền hành chính hiện đại, hiệu quả, phục vụ tốt hơn người dân và doanh nghiệp.
Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bài viết phân tích yêu cầu tái cấu trúc phương thức bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong điều kiện tiếp tục tinh gọn tổ chức bộ máy và đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia. Từ cách tiếp cận hệ thống, bài viết làm rõ sự dịch chuyển từ bảo vệ bằng tuyên truyền tuyến tính sang bảo vệ bằng năng lực thể chế hóa, năng lực quản trị và hiệu quả tổ chức thực hiện; đồng thời phân tích vai trò của Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 66-NQ/TW) và Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 57-NQ/TW) như hai trục lớn của quá trình tái cấu trúc này. Trên cơ sở đó, bài viết khảo sát thực tiễn thi hành án dân sự, qua đó cho thấy “gọn hơn về tổ chức, mạnh hơn về quản trị” không chỉ là yêu cầu cải cách hành chính, mà còn là một phương thức củng cố niềm tin của Nhân dân vào hệ thống chính trị.
THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả không chỉ là giảm bớt hóa đơn tiền điện, mà còn trở thành “chìa khóa” bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, bảo vệ môi trường và hướng tới tăng trưởng xanh. Đứng trước những biến động phức tạp của chuỗi cung ứng toàn cầu, sự ra đời của các văn bản chỉ đạo chiến lược như Chỉ thị số 09/CT-TTg, Chỉ thị số 10/CT-TTg và Công điện số 27/CĐ-TTg từ Chính phủ đang tạo ra những bước ngoặt lớn. Cuộc cách mạng này đòi hỏi sự đồng bộ từ hoàn thiện hành lang pháp lý, đổi mới công nghệ, đến sự thay đổi tư duy và hành động của mỗi người dân, doanh nghiệp.
“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 2)

“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 2)

Du lịch xanh, du lịch bền vững đã trở thành xu hướng phổ biến tại Việt Nam, nhưng để tiến tới mục tiêu "du lịch Net Zero", ngành Du lịch cần có nhiều thay đổi theo chiều sâu: từ việc xây dựng những sản phẩm xanh sang xây dựng những doanh nghiệp lữ hành thực sự bền vững. Đây là cả một quá trình bởi phát triển "du lịch Net Zero" không chỉ liên quan đến môi trường mà còn đòi hỏi sự thay đổi đồng bộ về mô hình kinh doanh, sản phẩm, công nghệ, nhân lực, quan hệ với cộng đồng và cách thức ứng xử với các giá trị văn hóa.
“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 1)

“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 1)

Du lịch Việt Nam đang đứng trước một giai đoạn phát triển mới, trong đó yêu cầu tăng trưởng không thể tách rời nhiệm vụ bảo tồn và phát huy những giá trị làm nên bản sắc dân tộc. Nếu thiên nhiên tạo nên diện mạo của đất nước thì văn hóa chính là chiều sâu, là ký ức, là “hồn cốt” để Việt Nam trở thành một điểm đến khác biệt trong mắt du khách trong nước và quốc tế. Bởi vậy, phát triển du lịch hôm nay không chỉ là câu chuyện về lượng khách, doanh thu hay số lượng cơ sở lưu trú, mà còn là câu chuyện về cách gìn giữ di sản, bảo vệ cảnh quan, duy trì lối sống cộng đồng và trao truyền những giá trị văn hóa Việt Nam cho các thế hệ mai sau. Trong câu chuyện đó, doanh nghiệp lữ hành đóng vai trò trung tâm, là “cầu nối” đưa văn hoá Việt Nam đến với du khách.
Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Trong bối cảnh tai nạn lao động vẫn diễn biến phức tạp, chuyển đổi số đang mở ra khả năng thay đổi căn bản phương thức quản trị an toàn, vệ sinh lao động (ATVSLĐ) tại doanh nghiệp. Từ số hóa hoạt động huấn luyện, cấp chứng nhận điện tử đến ứng dụng trí tuệ nhân tạo, cảm biến và robot để nhận diện, cảnh báo sớm nguy cơ, vấn đề đặt ra hiện nay là cần tiếp tục hoàn thiện hành lang pháp lý để chuyển từ quản lý mang tính thủ tục, hậu kiểm sang quản trị chủ động, lấy phòng ngừa rủi ro làm trọng tâm.

Theo dõi chúng tôi trên: