Thứ tư 26/08/2026 02:51
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Bàn về hướng giải quyết của Hội đồng xét xử phúc thẩm đối với bản án sơ thẩm giải quyết vượt quá yêu cầu của đương sự

Bài viết tập trung làm rõ nguyên tắc bảo đảm quyền quyết định và tự định đoạt của đương sự, phân tích một số quy định của pháp luật về việc giải quyết của Hội đồng xét xử phúc thẩm đối với bản án sơ thẩm giải quyết vượt quá yêu cầu của đương sự, từ đó, đưa ra một số bình luận, kiến nghị liên quan đến vấn đề này.

1. Nguyên tắc bảo đảm quyền quyết định và tự định đoạt của đương sự

Một trong những nguyên tắc cơ bản của pháp luật tố tụng dân sự được quy định tại Chương II Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 chính là nguyên tắc bảo đảm quyền quyết định và tự định đoạt của đương sự. Theo đó, “đương sự có quyền quyết định việc khởi kiện, yêu cầu Tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ việc dân sự. Tòa án chỉ thụ lý giải quyết vụ việc dân sự khi có đơn khởi kiện, đơn yêu cầu của đương sự và chỉ giải quyết trong phạm vi đơn khởi kiện, đơn yêu cầu đó”[1].

Quyền quyết định và tự định đoạt trong tố tụng dân sự được xác định là quyền vô cùng quan trọng, được bảo đảm trong toàn bộ quá trình giải quyết tranh chấp kể từ khi đương sự khởi kiện vụ án, Tòa án tiến hành thụ lý, chuẩn bị xét xử và cuối cùng là xét xử vụ án. Chẳng hạn, khi cơ quan, tổ chức, cá nhân cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm, cơ quan, tổ chức, cá nhân đó “có quyền” khởi kiện vụ án[2]. Khi Tòa án thụ lý vụ án, Tòa án cũng xác định quan hệ tranh chấp cần giải quyết trong phạm vi yêu cầu của đương sự[3]. Tương tự, trong quá trình chuẩn bị xét xử vụ án, bị đơn có quyền việc đưa ra yêu cầu phản tố, yêu cầu độc lập[4], người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền đưa ra yêu cầu độc lập[5]. Nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan sau khi đã đưa ra yêu cầu vẫn hoàn toàn có quyền quyết định các hành vi tố tụng tiếp theo của mình như có quyền thay đổi, bổ sung hoặc rút yêu cầu của mình[6]. Các đương sự vẫn có quyền thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ việc dân sự một cách tự nguyện[7]. Thậm chí, tại phiên tòa, các đương sự vẫn có thể hòa giải với nhau, hay thay đổi, bổ sung hoặc rút một phần hay toàn bộ yêu cầu của mình. Như vậy, quyền quyết định, tự định đoạt có thể hiểu là quyền được thể hiện sự tự do ý chí bằng việc lựa chọn quyết định các hành vi tố tụng để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình trong quá trình tố tụng.

Trên cơ sở bảo đảm nguyên tắc đương sự có quyền quyết định, tự định đoạt, Tòa án chỉ thụ lý giải quyết một yêu cầu nếu đương sự đưa ra yêu cầu và chỉ giải quyết trong phạm vi yêu cầu của đương sự đó.

Tuy nhiên, trên thực tế, có không ít trường hợp trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án không bảo đảm quyền tự định đoạt của đương sự như không xem xét đầy đủ yêu cầu của đương sự; cưỡng ép đương sự thỏa thuận khi hòa giải… hay giải quyết vượt quá yêu cầu của đương sự[8]. Trong phạm vi bài viết, tác giả tập trung phân tích trường hợp Tòa án xét xử vượt quá yêu cầu của đương sự và hướng giải quyết của Tòa án cấp trên đối với các phán quyết đó.

2. Một số vụ án cụ thể liên quan đến việc Tòa án cấp sơ thẩm xét xử vượt quá phạm vi yêu cầu của đương sự và hướng giải quyết của Hội đồng xét xử phúc thẩm

Như đã phân tích, về mặt nguyên tắc, Tòa án chỉ được giải quyết vụ án đúng phạm vi yêu cầu của các đương sự. Tuy nhiên, trên thực tế, không ít Tòa án đã giải quyết vượt quá phạm vi yêu cầu. Các phán quyết vi phạm đã bị Tòa án cấp trên hủy/sửa. Sau đây là một số vụ án bị Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết vượt quá phạm vi yêu cầu của đương sự và hướng giải quyết của Hội đồng xét xử phúc thẩm với các phán quyết sơ thẩm có vi phạm.

Vụ án thứ nhất: Tuyên bố hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất và nhà ở vô hiệu. Hội đồng xét xử phúc thẩm hủy một phần quyết định trong bản án sơ thẩm.

Ông L là con của ông Th (đã chết) và bà Đ. Ông L có 02 đời vợ (trong đó có chị Q) và 07 người con (trong đó có anh A). Vào khoảng năm 1985, ông L có mua một lô đất và xây dựng một căn nhà ở, sử dụng ổn định liên tục nhưng ông chưa làm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với mảnh đất này. Năm 1987, ông đưa mẹ là bà Đ lên thành phố Kon Tum để chăm sóc. Vì muốn dùng căn nhà làm từ đường, không muốn các con tranh giành nên vào năm 1999, ông đã để mẹ là bà Đ đứng tên thay ông trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Đến năm 2010, bà Đ phát bệnh nặng, không kiểm soát được hành vi của mình. Đến năm 2020, ông L phát hiện, vào năm 2018, bà Đ đã tặng cho quyền sử dụng đất và căn nhà nêu trên cho anh A theo dạng hợp đồng tặng cho. Về hiện trạng tài sản, vào năm 2014, bà Đ có cho anh A, chị Q xây dựng căn nhà khoảng 70m2. Toàn bộ tài sản là nhà và đất này đang được thế chấp tại Ngân hàng Agribank để vay số tiền 200.000.000 đồng. Ông L khởi kiện yêu cầu Tòa án hủy hợp đồng tặng cho cho anh A nhưng không yêu cầu Tòa án giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu. Anh A đồng ý với toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Tại bản án sơ thẩm, Tòa án nhân dân thành phố Kon Tum tuyên hủy hợp đồng tặng cho năm 2018; ông L được cấn trừ giá trị căn nhà số 02 mà anh A và chị Q đã xây dựng trên đất của bà Đ, trị giá căn nhà là 148.628.000 đồng. Ông L đã trả thay cho anh A, chị Q 120.207.123 đồng nợ Ngân hàng Agribank để lấy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và nhà ở mà anh A, chị Q đã thế chấp ra, nay, ông L phải trả lại cho anh A, chị Q là 28.420.877 đồng[9]. Sau khi xét xử sơ thẩm, chị Q đã kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm để xét xử lại theo thủ tục chung.

Tại bản án phúc thẩm, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định, việc Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông L là có căn cứ. Tuy nhiên, trong phán quyết, Tòa án cấp sơ thẩm đã giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu, tức là giải quyết vượt quá phạm vi khởi kiện của đương sự, vi phạm khoản 1 Điều 5 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, do đó, Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận một phần kháng cáo của chị Q, hủy một phần bản án dân sự sơ thẩm[10].

Cần lưu ý, trong vụ án này, Hội đồng xét xử phúc thẩm hủy một phần bản án dân sự sơ thẩm nhưng không chuyển hồ sơ về Tòa án cấp sơ thẩm để giải quyết lại theo trình tự sơ thẩm.

Vụ án thứ hai: Tranh chấp quyền sử dụng đất. Hội đồng xét xử phúc thẩm tuyên hủy đình chỉ phần quyết định của bản án sơ thẩm.

Năm 1996, ông Trịnh Văn N nhận chuyển nhượng của ông Ngô Văn T phần đất tọa lạc tại ấp 4, xã KB, huyện TVT, tỉnh Cà Mau. Ngày 25/3/1997, ông N được Ủy ban nhân dân huyện TVT cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất với diện tích là 14.250m2 gồm: Thửa 0499 diện tích 3.888m2 đất vườn và thửa 0450 diện tích 10.368m2 đất lúa. Năm 1998, ông N cho vợ chồng ông Trịnh Văn D (anh cùng cha, khác mẹ) mượn phần đất thửa số 0499 diện tích 3.888m2 để ở. Đến năm 2019, ông N đòi lại đất nhưng vợ, chồng ông D không đồng ý trả. Ông N khởi kiện yêu cầu vợ chồng ông D tháo dỡ di dời nhà và vật kiến trúc có trên đất trả lại phần đất đã mượn nêu trên. Theo bị đơn (ông D) trình bày, phần đất tranh chấp có diện tích 3.888m2, tọa lạc tại ấp 4, xã KB, huyện TVT, tỉnh Cà Mau hiện do ông N đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Nguồn gốc đất là của cha của bị đơn nhận chuyển nhượng của ông T, bà Đ, để ông N đứng tên quyền sử dụng. Năm 1998, cha, mẹ kêu ông về cất nhà ở trên phần đất vườn. Năm 1999, gia đình có họp và cha, mẹ tuyên bố cho ông D phần đất mặt tiền. Năm 2000, cha ông có lập di chúc cho ông 4.500m2 đất vườn, 5.100m2 đất lúa. Năm 2004, cha mẹ chuyển nhượng cho ông khoảng 1,5 công (tầm 3m) đất ruộng với giá 10 chỉ vàng 24k, do bà Phan Thị L là em dâu sống chung với cha mẹ nhận vàng. Hiện tại, đất lúa đã cố cho bà Phan Cẩm H2 02 công đất ruộng với giá 10 chỉ vàng 24k. Ông D xác định đất tranh chấp có một phần cha mẹ cho và một phần nhận chuyển nhượng từ cha mẹ, không phải mượn của ông N nên không đồng ý di dời nhà, trả đất như yêu cầu khởi kiện của ông N.

Tại bản án sơ thẩm, Tòa án không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông N; tuyên bố hợp đồng cầm cố đất ngày 14/3/2021 giữa vợ chồng ông Trịnh Văn D với bà Phan Cẩm H2 vô hiệu và giải quyết hậu quả hợp đồng vô hiệu[11].

Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định, giao dịch cố đất các bên là có thực tế, được các bên thừa nhận, không yêu cầu tranh chấp. Bản án sơ thẩm tuyên hợp đồng cố đất vô hiệu là không đúng quy định pháp luật, vượt phạm vi yêu cầu khởi kiện nên hủy đình chỉ phần quyết định của Bản án sơ thẩm về nội dung tuyên hợp đồng vô hiệu này[12].

Vụ án thứ ba: Tranh chấp về việc yêu cầu bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng. Hội đồng xét xử phúc thẩm tuyên sửa bản án sơ thẩm.

Vào khoảng 16 giờ 30 phút ngày 11/5/2019, anh Nguyễn Quốc T điều khiển xe ô tô biển số 43C-142.XX (của doanh nghiệp tư nhân V) va chạm xe ô tô đầu kéo 92C-117.YY kéo theo Sơ mi Rơ mooc tải biển số 92R-000.ZZ (của Công ty TNHH MTV Thương Mại và Dịch vụ T) do anh Hồ Tấn P điều khiển, gây tai nạn. Theo kết quả giải quyết nguồn tin về tội phạm số 1265/TB-CQCSĐT kết luận: Xe ô tô đầu kéo biển số 92C-117.YY và Sơ mi Rơ mooc tải biển số 92R-000.ZZ của Công ty TNHH MTV Thương Mại và Dịch vụ T bị hư hỏng nặng. Do đó, Công ty T đề nghị Tòa án giải quyết, buộc ông Huỳnh L - chủ doanh nghiệp tư nhân V phải bồi thường cho Công ty TNHH MTV Thương Mại và Dịch vụ T số tiền thiệt hại là 431.000.000 đồng và tiền lãi tạm tính từ ngày 03/9/2019 đến ngày 21/9/2022 với lãi suất 10%/năm (1.113 ngày hoặc 03 năm 19 ngày) là 131.499.614 đồng; tổng số tiền bồi thường là 562.699.614 đồng.

Tại Bản án sơ thẩm, Tòa án chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc ông Huỳnh L - chủ doanh nghiệp tư nhân V phải bồi thường cho Công ty TNHH MTV Thương Mại và Dịch vụ T số tiền 258.720.000 đồng và tuyên Công ty TNHH MTV Thương Mại và Dịch vụ T có quyền liên hệ với Công ty B Quảng Nam - Tổng công ty Bảo hiểm B để làm thủ tục bảo hiểm đối xe ô tô biển số 92C-117.YY theo quy định của pháp luật[13]. Sau khi xét xử sơ thẩm, Bản án sơ thẩm bị kháng nghị với nội dung “…Cấp sơ thẩm giải quyết vượt quá phạm vi khởi kiện của nguyên đơn”[14].

Khi xét xử phúc thẩm, Tòa án nhận định về nội dung liên hệ với phía Công ty Bảo hiểm để làm thủ tục bảo hiểm như sau: “Nguyên đơn Công ty T không có yêu cầu khởi kiện nhưng bản án sơ thẩm nhận định và quyết định Công ty T có quyền liên hệ với Công ty Bảo hiểm B Quảng Nam - Tổng Công ty Bảo hiểm B để làm thủ tục bảo hiểm đối với xe ô tô đầu kéo 92C-117.YY là giải quyết vượt quá yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn vi phạm quy định tại khoản 1 Điều 5 Bộ luật Tố tụng dân sự”. Tại phần quyết định, Hội đồng xét xử phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm và loại bỏ phần phán quyết về nội dung liên hệ với phía Công ty Bảo hiểm để làm thủ tục bảo hiểm như trên[15].

3. Một số bình luận, kiến nghị

Về mặt nguyên tắc, thẩm quyền của Hội đồng xét xử phúc thẩm trong tố tụng dân sự được quy định tại Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 như sau: “Hội đồng xét xử phúc thẩm có quyền sau đây: 1. Giữ nguyên bản án sơ thẩm; 2. Sửa bản án sơ thẩm; 3. Hủy bản án sơ thẩm, hủy một phần bản án sơ thẩm và chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm; 4. Hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ giải quyết vụ án; 5. Đình chỉ xét xử phúc thẩm; 6. Tạm đình chỉ việc giải quyết vụ án khi có văn bản của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao kiến nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền xem xét sửa đổi, bổ sung hoặc bãi bỏ văn bản quy phạm pháp luật có dấu hiệu trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên cho đến khi cơ quan nhà nước có thẩm quyền có văn bản trả lời Tòa án kết quả xử lý”[16].

Theo đó, trong bất kỳ trường hợp nào, thẩm quyền của Hội đồng xét xử phúc thẩm không thể vượt ngoài phạm vi các thẩm quyền kể trên: Giữ nguyên bản án sơ thẩm; sửa bản án sơ thẩm; hủy toàn bộ hoặc một phần bản án sơ thẩm và chuyển hồ sơ cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại; hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ giải quyết vụ án (trong trường hợp đương sự rút đơn khởi kiện…); đình chỉ xét xử phúc thẩm (khi đương sự rút đơn kháng cáo, Viện kiểm sát rút kháng nghị…) và tạm đình chỉ việc giải quyết vụ án.

Qua một số vụ án nêu trên, có thể thấy, đối với các phán quyết sơ thẩm vượt quá phạm vi yêu cầu của đương sự, các Hội đồng xét xử phúc thẩm vẫn chưa có hướng xét xử thống nhất. Có thể phân chia cách thức giải quyết của các Tòa án như sau: (i) Một số Tòa án hủy một phần bản án sơ thẩm và đình chỉ giải quyết vụ án đối với phần nội dung đó (tức “hủy một phần bản án” hoặc “hủy đình chỉ một phần quyết định trong bản án sơ thẩm”); (ii) Một số Tòa án lại áp dụng thẩm quyền “sửa bản án sơ thẩm” theo hướng loại bỏ nội dung giải quyết vượt quá yêu cầu của đương sự.

Theo quan điểm của tác giả, căn cứ vào quy định của pháp luật tố tụng dân sự hiện hành, Hội đồng xét xử phúc thẩm cần thực hiện thẩm quyền sửa bản án sơ thẩm (tức theo hướng tiếp cận (ii)) vì lý do như sau: Căn cứ theo quy định tại Điều 310 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, “Hội đồng xét xử phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm, hủy một phần bản án sơ thẩm và chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm khi thuộc một trong các trường hợp sau đây: 1. Việc thu thập chứng cứ và chứng minh không theo đúng quy định tại Chương VII của Bộ luật này hoặc chưa được thực hiện đầy đủ mà tại phiên tòa phúc thẩm không thể thực hiện bổ sung được; 2. Thành phần của Hội đồng xét xử sơ thẩm không đúng quy định của Bộ luật này hoặc có vi phạm nghiêm trọng khác về thủ tục tố tụng ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự”. Theo đó, pháp luật quy định, trường hợp Hội đồng xét xử phúc thẩm hủy một phần bản án sơ thẩm thì đồng thời chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại theo thủ tục sơ thẩm. Tức là, nếu một vấn đề đã được Tòa án thụ lý theo đúng quy định (trên cơ sở yêu cầu của đương sự) nhưng quá trình giải quyết có vi phạm không thể khắc phục ngay ở cấp phúc thẩm thì phải hủy phần phán quyết đó và chuyển hồ sơ để giải quyết lại theo thủ tục sơ thẩm. Tuy nhiên, trường hợp Tòa án lại tuyên một nội dung các đương sự không có yêu cầu, Tòa án cũng chưa thụ lý giải quyết theo đúng trình tự, thủ tục thì Hội đồng xét xử phúc thẩm không thể chuyển hồ sơ về để giải quyết lại nội dung đó theo thủ tục sơ thẩm. Do đó, Tòa án không thể thực hiện thẩm quyền hủy bản án theo quy định tại khoản 3 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Mặt khác, ngay cả khi các Tòa án “lách” quy định tại nêu trên bằng việc tuyên “hủy và đình chỉ giải quyết các nội dung vượt quá phạm vi khởi kiện” để không chuyển hồ sơ về cấp sơ thẩm thì phán quyết như trên vẫn không bảo đảm đúng pháp luật bởi: (i) Bộ luật Tố tụng dân sự không quy định cho Hội đồng xét xử phúc thẩm có quyền hủy một phần bản án và đình chỉ giải quyết một vấn đề nào đó mà chỉ quy định thẩm quyền hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ giải quyết vụ án nếu trong quá trình giải quyết vụ án tại Tòa án cấp sơ thẩm, vụ án thuộc một trong các trường hợp quy định tại Điều 217, điểm b khoản 1 Điều 299 Bộ luật Tố tụng dân sự[17]. (ii) Về bản chất, nếu Tòa án chưa “thụ lý” giải quyết một nội dung thì cũng không thể “đình chỉ giải quyết” phần nội dung đó.

Trái lại, việc “sửa một phần bản án sơ thẩm” trong trường hợp này sẽ có căn cứ về cả mặt lý luận và pháp luật vững chắc hơn. Cụ thể, căn cứ theo Điều 309 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, “Hội đồng xét xử phúc thẩm sửa một phần hoặc toàn bộ bản án sơ thẩm nếu Tòa án cấp sơ thẩm quyết định không đúng pháp luật trong các trường hợp sau đây: 1. Việc thu thập chứng cứ và chứng minh đã được thực hiện đầy đủ và theo đúng quy định tại Chương VII của Bộ luật này; 2. Việc thu thập chứng cứ và chứng minh chưa được thực hiện đầy đủ ở cấp sơ thẩm nhưng tại phiên tòa phúc thẩm đã được bổ sung đầy đủ”. Trong trường hợp này, Tòa án chỉ có sai sót trong việc đưa ra phán quyết vì tuyên xử một nội dung không được các đương sự yêu cầu, chưa được thụ lý theo đúng trình tự, thủ tục chung. Do đó, nếu các nội dung khác đã được Tòa án cấp sơ thẩm thực hiện đúng quy định, Hội đồng xét xử phúc thẩm chỉ cần sửa bản án sơ thẩm, loại bỏ nội dung tuyên xử vượt quá phạm vi yêu cầu của đương sự thì đã bảo đảm đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự./.

Nguyễn Hoàng Nam

Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh

[1]. Điều 5 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[2]. Điều 4, khoản 2 Điều 68 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[3]. Lê Thị Thìn (2017), Quyền quyết định và tự định đoạt của đương sự trong Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tạp chí Pháp luật và Thực tiễn.

[4]. Điều 200 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[5]. Điều 202 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[6]. Bùi Mạnh Cường (2018), Quyền tự định đoạt của các đương sự và thực tiễn áp dụng tại các Tòa án nhân dân ở tỉnh Lạng Sơn, Đại học Luật Hà Nội, tr. 26, 27.

[7]. Khoản 2 Điều 5 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[8]. Bùi Mạnh Cường (2018), tlđd, tr. 40.

[9]. Bản án số 61/2021/DS-ST ngày 31/8/2021 của Tòa án nhân dân thành phố Kon Tum, tỉnh Kon Tum.

[10]. Bản án số 08/2022/DS-PT ngày 24/01/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Kon Tom.

[11]. Bản án số 128/2023/DS-ST ngày 26/4/2023 của Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau.

[12]. Bản án số 345/2023/DS-PT ngày 20/9/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau.

[13]. Bản án số 40/2022/DS-ST ngày 21/9/2022 của Tòa án nhân dân huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng.

[14]. Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 853/QĐ-VKS-DS ngày 21/10/2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng.

[15]. Bản án số 31/2023/DS-PT ngày 20/3/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng.

[16]. Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[17]. Điều 311 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 1 (Số 402), tháng 4/2024)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Trong bối cảnh tai nạn lao động vẫn diễn biến phức tạp, chuyển đổi số đang mở ra khả năng thay đổi căn bản phương thức quản trị an toàn, vệ sinh lao động (ATVSLĐ) tại doanh nghiệp. Từ số hóa hoạt động huấn luyện, cấp chứng nhận điện tử đến ứng dụng trí tuệ nhân tạo, cảm biến và robot để nhận diện, cảnh báo sớm nguy cơ, vấn đề đặt ra hiện nay là cần tiếp tục hoàn thiện hành lang pháp lý để chuyển từ quản lý mang tính thủ tục, hậu kiểm sang quản trị chủ động, lấy phòng ngừa rủi ro làm trọng tâm.
Đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

Đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

Với mục tiêu đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, thành phố Hà Nội đặt trọng tâm vào đổi mới nội dung, hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật, tăng cường ứng dụng công nghệ số và xây dựng đội ngũ làm công tác phổ biến, giáo dục pháp luật am hiểu địa bàn, phong tục, tập quán và văn hóa của người dân nơi đây.
Quan điểm, định hướng mới của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai

Quan điểm, định hướng mới của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai

Ngày 16/6/2022, Ban chấp hành trung ương Đảng khóa XIII ban hành Nghị quyết số 18-NQ/TW về "Tiếp tục đổi mới, hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý và sử dụng đất, tạo động lực đưa nước ta trở thành nước phát triển có thu nhập cao" (Nghị quyết số 18-NQ/TW). Để hiện thực hóa mục tiêu đưa đất nước trở thành nước phát triển có thu nhập cao, trong thời điểm hiện tại, nhằm phù hợp với sự phát triển chung của đất nước, Hội nghị lần thứ ba, Ban chấp hành trung ương Đảng khóa XIV đã đưa ra những quan điểm, định hướng sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan tại Nghị quyết số 21-NQ/TW ngày 28/7/2026 (Nghị quyết số 21-NQ/TW) làm kim chỉ nam cho mọi hoạt động sửa đổi chính sách pháp luật sau này. Nghị quyết số 21-NQ/TW đã thể hiện những điểm mới trong chủ trương của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan.
Luật Thủ đô năm 2026: Mở rộng cơ hội đầu tư cho nhiều dự án

Luật Thủ đô năm 2026: Mở rộng cơ hội đầu tư cho nhiều dự án

Luật Thủ đô năm 2026 được Quốc hội thông qua ngày 23/4/2026 và có hiệu lực từ ngày 01/7/2026, tiếp tục hoàn thiện các cơ chế, chính sách đặc thù nhằm xây dựng và phát triển Thủ đô. Đáng chú ý, tại Điều 26 của Luật đã thiết lập khung chính sách tương đối toàn diện về thu hút đầu tư, ưu đãi, hỗ trợ đầu tư và phát triển doanh nghiệp, mở rộng cơ hội cho nhiều dự án trên địa bàn Thành phố được tiếp cận các chính sách ưu đãi về đất đai, thuế, tín dụng, hạ tầng, phát triển nhân lực và đổi mới sáng tạo.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Tóm tắt: Trong bối cảnh hệ thống pháp luật ngày càng phức tạp và thường xuyên thay đổi, việc tiếp cận, hiểu và sử dụng pháp luật trở thành thách thức đối với người dân. Mô hình phổ biến, giáo dục pháp luật hiện nay chủ yếu tập trung vào truyền đạt văn bản, chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu hỗ trợ người dân sử dụng pháp luật trong thực tiễn. Trên cơ sở phân tích xu hướng quốc tế về tiếp cận công lý lấy người dân làm trung tâm và ứng dụng công nghệ số, nghiên cứu đề xuất chuyển từ mô hình “phổ biến pháp luật” sang “hạ tầng tuân thủ phòng ngừa”, gắn phổ biến pháp luật với nhu cầu thực tiễn, cảnh báo sớm rủi ro pháp lý và hỗ trợ tra cứu, sử dụng pháp luật hiệu quả trong môi trường số.
Nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng cho người gửi tiền ở Việt Nam

Nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng cho người gửi tiền ở Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh ngân hàng số phát triển, thông tin chưa được kiểm chứng có thể tác động nhanh đến tâm lý và hành vi của người gửi tiền. Nghiên cứu phân tích quy định pháp luật và thực tiễn phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cho thấy, hoạt động này chưa chú trọng đầy đủ đến mức độ hiểu và khả năng vận dụng pháp luật của người gửi tiền; nội dung còn thiên về tính chuyên môn; phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật và cơ chế cung cấp thông tin kịp thời còn hạn chế. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá, tích hợp thông tin pháp luật ngắn gọn vào dịch vụ ngân hàng số và tăng cường cung cấp thông tin chính thức, kịp thời nhằm bảo vệ người gửi tiền và củng cố niềm tin vào hệ thống ngân hàng.
Phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Tóm tắt: Quyền con người phản ánh sự kết tinh những giá trị nhân phẩm cao quý của nhân loại. Nghiên cứu công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người là phân tích, đánh giá phương thức thể chế hóa các chủ trương của Đảng về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đồng thời, đề xuất giải pháp khắc phục những hạn chế của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 trước thách thức mới từ công nghệ số. Trên cơ sở tổng hợp và so sánh luật học, nghiên cứu phân tích, đánh giá vai trò của công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người và thực trạng thi hành Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012. Đồng thời, nghiên cứu đánh giá tính phù hợp, khả thi của dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)* (dự thảo Luật). Từ đó, kiến nghị và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Luật Phòng, chống ma túy năm 2021 quy định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi nghiện ma túy mà không tự nguyện cai nghiện. Mặc dù không được xem là biện pháp xử lý hành chính nhưng biện pháp này mang tính cách ly người bị áp dụng khỏi cộng đồng. Để bảo vệ quyền của người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi, pháp luật cho phép các chủ thể liên quan khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành chưa quy định quyền khởi kiện hay kháng cáo đối với quyết định này. Nghiên cứu phân tích bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi, đồng thời, đề xuất giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật nhằm bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người bị áp dụng biện pháp này.
Nâng cao trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Nâng cao trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã xác định rõ trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật. Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, cải cách tư pháp và chuyển đổi số quốc gia, vai trò này ngày càng trở nên quan trọng. Nghiên cứu phân tích cơ sở chính trị, pháp lý, thực trạng quy định pháp luật và thực tiễn triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật của Tòa án nhân dân; trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện hoạt động này trong hệ thống Tòa án nhân dân.
Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Sự phát triển của nền tảng số, mạng xã hội và trí tuệ nhân tạo tạo sinh đang làm thay đổi phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật, đồng thời, đặt ra nhiều thách thức trong kiểm soát thông tin pháp luật trên môi trường số. Bên cạnh việc mở rộng khả năng tiếp cận pháp luật của người dân, tình trạng lan truyền thông tin pháp luật sai lệch, thiếu kiểm chứng hoặc được tạo sinh bởi hệ thống trí tuệ nhân tạo đang ảnh hưởng đến hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật và quyền tiếp cận thông tin pháp luật chính xác. Trên cơ sở phân tích các vấn đề lý luận, đánh giá thực trạng quy định và thực tiễn áp dụng pháp luật tại Việt Nam, nghiên cứu phân tích bất cập trong kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số và đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả quản lý và bảo đảm chính xác của thông tin pháp luật trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật.
Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 7/2026

Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 7/2026

(Cập nhật bởi LuatVietnam.vn)
Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam[1]

Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam[1]

Tóm tắt: Mô hình chính quyền địa phương hai cấp được triển khai ở Việt Nam từ ngày 01/7/2025 đánh dấu bước chuyển quan trọng trong quá trình đổi mới tổ chức bộ máy nhà nước theo hướng tinh, gọn, tăng cường phân quyền, phân cấp và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị địa phương. Nghiên cứu phân tích các cơ hội và thách thức trong quá trình triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam, làm rõ những vấn đề đặt ra trong hoàn thiện thể chế, bảo đảm nguồn lực và nâng cao năng lực quản trị địa phương, từ đó, đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam thời gian tới.
Một số bất cập của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 và kiến nghị hoàn thiện

Một số bất cập của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Sau hơn 13 năm thi hành, Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng trong triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, góp phần nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ và Nhân dân. Tuy nhiên, trước yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, chuyển đổi số và hoàn thiện thể chế theo chủ trương, định hướng của Đảng, nhiều quy định của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 bộc lộ những hạn chế, bất cập. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, tổng kết thực tiễn thi hành và bối cảnh phát triển đất nước giai đoạn mới, nghiên cứu làm rõ những bất cập về tổ chức thực hiện công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên pháp luật, đối tượng đặc thù, nội dung, hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật và sự không thống nhất của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 với một số luật liên quan. Từ đó, kiến nghị sửa đổi, bổ sung nhằm hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật và nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong bối cảnh hiện nay.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật - Yêu cầu chuyển từ phổ biến, giáo dục pháp luật hình thức sang tiếp cận dựa trên nhu cầu của người dân

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật - Yêu cầu chuyển từ phổ biến, giáo dục pháp luật hình thức sang tiếp cận dựa trên nhu cầu của người dân

Tóm tắt: Việc sửa đổi Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 là cấp thiết trước yêu cầu khắc phục tình trạng tuyên truyền thiên về hình thức, chưa gắn chặt với những vấn đề pháp lý mà người dân thực sự cần được hỗ trợ. Nghiên cứu phân tích khoảng cách giữa nguyên tắc phù hợp với nhu cầu và cơ chế nhận diện, phản ánh, đáp ứng, đo lường nhu cầu pháp lý trong dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật[1] (dự thảo Luật). Trên cơ sở phân tích quy phạm, bình luận chính sách và tiếp cận liên ngành về nhu cầu pháp lý, năng lực pháp lý, tiếp cận công lý, nghiên cứu tập trung vào các quy định về nguyên tắc, nội dung, hình thức, hướng dẫn và giải đáp pháp luật, đối tượng đặc thù, giáo dục pháp luật trong cơ sở giáo dục, trách nhiệm tổ chức thực hiện, cơ chế cấp xã, chuyển đổi số và đánh giá hiệu quả. Kết quả nghiên cứu cho thấy, dự thảo Luật đã có nhiều định hướng tích cực nhưng thiếu cơ chế khảo sát nhu cầu, thiết kế nội dung theo tình huống, chuyển tuyến hỗ trợ pháp lý và đánh giá khả năng hiểu, vận dụng pháp luật. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện các cơ chế bảo đảm cách tiếp cận lấy nhu cầu pháp lý của người dân làm trung tâm.
Chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên ở Việt Nam

Chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên ở Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển nhanh, mạnh mẽ của không gian mạng đang tác động sâu sắc đến đời sống xã hội, đồng thời, đặt ra nhiều rủi ro đối với người chưa thành niên. Trong bối cảnh đó, chuyển đổi số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật trở thành yêu cầu cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả tiếp cận pháp luật cho nhóm đối tượng này. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết của chuyển đổi số trong phổ biến, giáo dục pháp luật đối với người chưa thành niên; đánh giá thực trạng triển khai tại Việt Nam, chỉ ra những hạn chế, bất cập, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên.

Theo dõi chúng tôi trên: