Chủ nhật 15/03/2026 08:24
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Bàn về hướng giải quyết của Hội đồng xét xử phúc thẩm đối với bản án sơ thẩm giải quyết vượt quá yêu cầu của đương sự

Bài viết tập trung làm rõ nguyên tắc bảo đảm quyền quyết định và tự định đoạt của đương sự, phân tích một số quy định của pháp luật về việc giải quyết của Hội đồng xét xử phúc thẩm đối với bản án sơ thẩm giải quyết vượt quá yêu cầu của đương sự, từ đó, đưa ra một số bình luận, kiến nghị liên quan đến vấn đề này.

1. Nguyên tắc bảo đảm quyền quyết định và tự định đoạt của đương sự

Một trong những nguyên tắc cơ bản của pháp luật tố tụng dân sự được quy định tại Chương II Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 chính là nguyên tắc bảo đảm quyền quyết định và tự định đoạt của đương sự. Theo đó, “đương sự có quyền quyết định việc khởi kiện, yêu cầu Tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ việc dân sự. Tòa án chỉ thụ lý giải quyết vụ việc dân sự khi có đơn khởi kiện, đơn yêu cầu của đương sự và chỉ giải quyết trong phạm vi đơn khởi kiện, đơn yêu cầu đó”[1].

Quyền quyết định và tự định đoạt trong tố tụng dân sự được xác định là quyền vô cùng quan trọng, được bảo đảm trong toàn bộ quá trình giải quyết tranh chấp kể từ khi đương sự khởi kiện vụ án, Tòa án tiến hành thụ lý, chuẩn bị xét xử và cuối cùng là xét xử vụ án. Chẳng hạn, khi cơ quan, tổ chức, cá nhân cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm, cơ quan, tổ chức, cá nhân đó “có quyền” khởi kiện vụ án[2]. Khi Tòa án thụ lý vụ án, Tòa án cũng xác định quan hệ tranh chấp cần giải quyết trong phạm vi yêu cầu của đương sự[3]. Tương tự, trong quá trình chuẩn bị xét xử vụ án, bị đơn có quyền việc đưa ra yêu cầu phản tố, yêu cầu độc lập[4], người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền đưa ra yêu cầu độc lập[5]. Nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan sau khi đã đưa ra yêu cầu vẫn hoàn toàn có quyền quyết định các hành vi tố tụng tiếp theo của mình như có quyền thay đổi, bổ sung hoặc rút yêu cầu của mình[6]. Các đương sự vẫn có quyền thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ việc dân sự một cách tự nguyện[7]. Thậm chí, tại phiên tòa, các đương sự vẫn có thể hòa giải với nhau, hay thay đổi, bổ sung hoặc rút một phần hay toàn bộ yêu cầu của mình. Như vậy, quyền quyết định, tự định đoạt có thể hiểu là quyền được thể hiện sự tự do ý chí bằng việc lựa chọn quyết định các hành vi tố tụng để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình trong quá trình tố tụng.

Trên cơ sở bảo đảm nguyên tắc đương sự có quyền quyết định, tự định đoạt, Tòa án chỉ thụ lý giải quyết một yêu cầu nếu đương sự đưa ra yêu cầu và chỉ giải quyết trong phạm vi yêu cầu của đương sự đó.

Tuy nhiên, trên thực tế, có không ít trường hợp trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án không bảo đảm quyền tự định đoạt của đương sự như không xem xét đầy đủ yêu cầu của đương sự; cưỡng ép đương sự thỏa thuận khi hòa giải… hay giải quyết vượt quá yêu cầu của đương sự[8]. Trong phạm vi bài viết, tác giả tập trung phân tích trường hợp Tòa án xét xử vượt quá yêu cầu của đương sự và hướng giải quyết của Tòa án cấp trên đối với các phán quyết đó.

2. Một số vụ án cụ thể liên quan đến việc Tòa án cấp sơ thẩm xét xử vượt quá phạm vi yêu cầu của đương sự và hướng giải quyết của Hội đồng xét xử phúc thẩm

Như đã phân tích, về mặt nguyên tắc, Tòa án chỉ được giải quyết vụ án đúng phạm vi yêu cầu của các đương sự. Tuy nhiên, trên thực tế, không ít Tòa án đã giải quyết vượt quá phạm vi yêu cầu. Các phán quyết vi phạm đã bị Tòa án cấp trên hủy/sửa. Sau đây là một số vụ án bị Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết vượt quá phạm vi yêu cầu của đương sự và hướng giải quyết của Hội đồng xét xử phúc thẩm với các phán quyết sơ thẩm có vi phạm.

Vụ án thứ nhất: Tuyên bố hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất và nhà ở vô hiệu. Hội đồng xét xử phúc thẩm hủy một phần quyết định trong bản án sơ thẩm.

Ông L là con của ông Th (đã chết) và bà Đ. Ông L có 02 đời vợ (trong đó có chị Q) và 07 người con (trong đó có anh A). Vào khoảng năm 1985, ông L có mua một lô đất và xây dựng một căn nhà ở, sử dụng ổn định liên tục nhưng ông chưa làm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với mảnh đất này. Năm 1987, ông đưa mẹ là bà Đ lên thành phố Kon Tum để chăm sóc. Vì muốn dùng căn nhà làm từ đường, không muốn các con tranh giành nên vào năm 1999, ông đã để mẹ là bà Đ đứng tên thay ông trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Đến năm 2010, bà Đ phát bệnh nặng, không kiểm soát được hành vi của mình. Đến năm 2020, ông L phát hiện, vào năm 2018, bà Đ đã tặng cho quyền sử dụng đất và căn nhà nêu trên cho anh A theo dạng hợp đồng tặng cho. Về hiện trạng tài sản, vào năm 2014, bà Đ có cho anh A, chị Q xây dựng căn nhà khoảng 70m2. Toàn bộ tài sản là nhà và đất này đang được thế chấp tại Ngân hàng Agribank để vay số tiền 200.000.000 đồng. Ông L khởi kiện yêu cầu Tòa án hủy hợp đồng tặng cho cho anh A nhưng không yêu cầu Tòa án giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu. Anh A đồng ý với toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Tại bản án sơ thẩm, Tòa án nhân dân thành phố Kon Tum tuyên hủy hợp đồng tặng cho năm 2018; ông L được cấn trừ giá trị căn nhà số 02 mà anh A và chị Q đã xây dựng trên đất của bà Đ, trị giá căn nhà là 148.628.000 đồng. Ông L đã trả thay cho anh A, chị Q 120.207.123 đồng nợ Ngân hàng Agribank để lấy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và nhà ở mà anh A, chị Q đã thế chấp ra, nay, ông L phải trả lại cho anh A, chị Q là 28.420.877 đồng[9]. Sau khi xét xử sơ thẩm, chị Q đã kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm để xét xử lại theo thủ tục chung.

Tại bản án phúc thẩm, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định, việc Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông L là có căn cứ. Tuy nhiên, trong phán quyết, Tòa án cấp sơ thẩm đã giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu, tức là giải quyết vượt quá phạm vi khởi kiện của đương sự, vi phạm khoản 1 Điều 5 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, do đó, Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận một phần kháng cáo của chị Q, hủy một phần bản án dân sự sơ thẩm[10].

Cần lưu ý, trong vụ án này, Hội đồng xét xử phúc thẩm hủy một phần bản án dân sự sơ thẩm nhưng không chuyển hồ sơ về Tòa án cấp sơ thẩm để giải quyết lại theo trình tự sơ thẩm.

Vụ án thứ hai: Tranh chấp quyền sử dụng đất. Hội đồng xét xử phúc thẩm tuyên hủy đình chỉ phần quyết định của bản án sơ thẩm.

Năm 1996, ông Trịnh Văn N nhận chuyển nhượng của ông Ngô Văn T phần đất tọa lạc tại ấp 4, xã KB, huyện TVT, tỉnh Cà Mau. Ngày 25/3/1997, ông N được Ủy ban nhân dân huyện TVT cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất với diện tích là 14.250m2 gồm: Thửa 0499 diện tích 3.888m2 đất vườn và thửa 0450 diện tích 10.368m2 đất lúa. Năm 1998, ông N cho vợ chồng ông Trịnh Văn D (anh cùng cha, khác mẹ) mượn phần đất thửa số 0499 diện tích 3.888m2 để ở. Đến năm 2019, ông N đòi lại đất nhưng vợ, chồng ông D không đồng ý trả. Ông N khởi kiện yêu cầu vợ chồng ông D tháo dỡ di dời nhà và vật kiến trúc có trên đất trả lại phần đất đã mượn nêu trên. Theo bị đơn (ông D) trình bày, phần đất tranh chấp có diện tích 3.888m2, tọa lạc tại ấp 4, xã KB, huyện TVT, tỉnh Cà Mau hiện do ông N đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Nguồn gốc đất là của cha của bị đơn nhận chuyển nhượng của ông T, bà Đ, để ông N đứng tên quyền sử dụng. Năm 1998, cha, mẹ kêu ông về cất nhà ở trên phần đất vườn. Năm 1999, gia đình có họp và cha, mẹ tuyên bố cho ông D phần đất mặt tiền. Năm 2000, cha ông có lập di chúc cho ông 4.500m2 đất vườn, 5.100m2 đất lúa. Năm 2004, cha mẹ chuyển nhượng cho ông khoảng 1,5 công (tầm 3m) đất ruộng với giá 10 chỉ vàng 24k, do bà Phan Thị L là em dâu sống chung với cha mẹ nhận vàng. Hiện tại, đất lúa đã cố cho bà Phan Cẩm H2 02 công đất ruộng với giá 10 chỉ vàng 24k. Ông D xác định đất tranh chấp có một phần cha mẹ cho và một phần nhận chuyển nhượng từ cha mẹ, không phải mượn của ông N nên không đồng ý di dời nhà, trả đất như yêu cầu khởi kiện của ông N.

Tại bản án sơ thẩm, Tòa án không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông N; tuyên bố hợp đồng cầm cố đất ngày 14/3/2021 giữa vợ chồng ông Trịnh Văn D với bà Phan Cẩm H2 vô hiệu và giải quyết hậu quả hợp đồng vô hiệu[11].

Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định, giao dịch cố đất các bên là có thực tế, được các bên thừa nhận, không yêu cầu tranh chấp. Bản án sơ thẩm tuyên hợp đồng cố đất vô hiệu là không đúng quy định pháp luật, vượt phạm vi yêu cầu khởi kiện nên hủy đình chỉ phần quyết định của Bản án sơ thẩm về nội dung tuyên hợp đồng vô hiệu này[12].

Vụ án thứ ba: Tranh chấp về việc yêu cầu bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng. Hội đồng xét xử phúc thẩm tuyên sửa bản án sơ thẩm.

Vào khoảng 16 giờ 30 phút ngày 11/5/2019, anh Nguyễn Quốc T điều khiển xe ô tô biển số 43C-142.XX (của doanh nghiệp tư nhân V) va chạm xe ô tô đầu kéo 92C-117.YY kéo theo Sơ mi Rơ mooc tải biển số 92R-000.ZZ (của Công ty TNHH MTV Thương Mại và Dịch vụ T) do anh Hồ Tấn P điều khiển, gây tai nạn. Theo kết quả giải quyết nguồn tin về tội phạm số 1265/TB-CQCSĐT kết luận: Xe ô tô đầu kéo biển số 92C-117.YY và Sơ mi Rơ mooc tải biển số 92R-000.ZZ của Công ty TNHH MTV Thương Mại và Dịch vụ T bị hư hỏng nặng. Do đó, Công ty T đề nghị Tòa án giải quyết, buộc ông Huỳnh L - chủ doanh nghiệp tư nhân V phải bồi thường cho Công ty TNHH MTV Thương Mại và Dịch vụ T số tiền thiệt hại là 431.000.000 đồng và tiền lãi tạm tính từ ngày 03/9/2019 đến ngày 21/9/2022 với lãi suất 10%/năm (1.113 ngày hoặc 03 năm 19 ngày) là 131.499.614 đồng; tổng số tiền bồi thường là 562.699.614 đồng.

Tại Bản án sơ thẩm, Tòa án chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc ông Huỳnh L - chủ doanh nghiệp tư nhân V phải bồi thường cho Công ty TNHH MTV Thương Mại và Dịch vụ T số tiền 258.720.000 đồng và tuyên Công ty TNHH MTV Thương Mại và Dịch vụ T có quyền liên hệ với Công ty B Quảng Nam - Tổng công ty Bảo hiểm B để làm thủ tục bảo hiểm đối xe ô tô biển số 92C-117.YY theo quy định của pháp luật[13]. Sau khi xét xử sơ thẩm, Bản án sơ thẩm bị kháng nghị với nội dung “…Cấp sơ thẩm giải quyết vượt quá phạm vi khởi kiện của nguyên đơn”[14].

Khi xét xử phúc thẩm, Tòa án nhận định về nội dung liên hệ với phía Công ty Bảo hiểm để làm thủ tục bảo hiểm như sau: “Nguyên đơn Công ty T không có yêu cầu khởi kiện nhưng bản án sơ thẩm nhận định và quyết định Công ty T có quyền liên hệ với Công ty Bảo hiểm B Quảng Nam - Tổng Công ty Bảo hiểm B để làm thủ tục bảo hiểm đối với xe ô tô đầu kéo 92C-117.YY là giải quyết vượt quá yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn vi phạm quy định tại khoản 1 Điều 5 Bộ luật Tố tụng dân sự”. Tại phần quyết định, Hội đồng xét xử phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm và loại bỏ phần phán quyết về nội dung liên hệ với phía Công ty Bảo hiểm để làm thủ tục bảo hiểm như trên[15].

3. Một số bình luận, kiến nghị

Về mặt nguyên tắc, thẩm quyền của Hội đồng xét xử phúc thẩm trong tố tụng dân sự được quy định tại Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 như sau: “Hội đồng xét xử phúc thẩm có quyền sau đây: 1. Giữ nguyên bản án sơ thẩm; 2. Sửa bản án sơ thẩm; 3. Hủy bản án sơ thẩm, hủy một phần bản án sơ thẩm và chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm; 4. Hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ giải quyết vụ án; 5. Đình chỉ xét xử phúc thẩm; 6. Tạm đình chỉ việc giải quyết vụ án khi có văn bản của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao kiến nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền xem xét sửa đổi, bổ sung hoặc bãi bỏ văn bản quy phạm pháp luật có dấu hiệu trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên cho đến khi cơ quan nhà nước có thẩm quyền có văn bản trả lời Tòa án kết quả xử lý”[16].

Theo đó, trong bất kỳ trường hợp nào, thẩm quyền của Hội đồng xét xử phúc thẩm không thể vượt ngoài phạm vi các thẩm quyền kể trên: Giữ nguyên bản án sơ thẩm; sửa bản án sơ thẩm; hủy toàn bộ hoặc một phần bản án sơ thẩm và chuyển hồ sơ cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại; hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ giải quyết vụ án (trong trường hợp đương sự rút đơn khởi kiện…); đình chỉ xét xử phúc thẩm (khi đương sự rút đơn kháng cáo, Viện kiểm sát rút kháng nghị…) và tạm đình chỉ việc giải quyết vụ án.

Qua một số vụ án nêu trên, có thể thấy, đối với các phán quyết sơ thẩm vượt quá phạm vi yêu cầu của đương sự, các Hội đồng xét xử phúc thẩm vẫn chưa có hướng xét xử thống nhất. Có thể phân chia cách thức giải quyết của các Tòa án như sau: (i) Một số Tòa án hủy một phần bản án sơ thẩm và đình chỉ giải quyết vụ án đối với phần nội dung đó (tức “hủy một phần bản án” hoặc “hủy đình chỉ một phần quyết định trong bản án sơ thẩm”); (ii) Một số Tòa án lại áp dụng thẩm quyền “sửa bản án sơ thẩm” theo hướng loại bỏ nội dung giải quyết vượt quá yêu cầu của đương sự.

Theo quan điểm của tác giả, căn cứ vào quy định của pháp luật tố tụng dân sự hiện hành, Hội đồng xét xử phúc thẩm cần thực hiện thẩm quyền sửa bản án sơ thẩm (tức theo hướng tiếp cận (ii)) vì lý do như sau: Căn cứ theo quy định tại Điều 310 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, “Hội đồng xét xử phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm, hủy một phần bản án sơ thẩm và chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm khi thuộc một trong các trường hợp sau đây: 1. Việc thu thập chứng cứ và chứng minh không theo đúng quy định tại Chương VII của Bộ luật này hoặc chưa được thực hiện đầy đủ mà tại phiên tòa phúc thẩm không thể thực hiện bổ sung được; 2. Thành phần của Hội đồng xét xử sơ thẩm không đúng quy định của Bộ luật này hoặc có vi phạm nghiêm trọng khác về thủ tục tố tụng ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự”. Theo đó, pháp luật quy định, trường hợp Hội đồng xét xử phúc thẩm hủy một phần bản án sơ thẩm thì đồng thời chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại theo thủ tục sơ thẩm. Tức là, nếu một vấn đề đã được Tòa án thụ lý theo đúng quy định (trên cơ sở yêu cầu của đương sự) nhưng quá trình giải quyết có vi phạm không thể khắc phục ngay ở cấp phúc thẩm thì phải hủy phần phán quyết đó và chuyển hồ sơ để giải quyết lại theo thủ tục sơ thẩm. Tuy nhiên, trường hợp Tòa án lại tuyên một nội dung các đương sự không có yêu cầu, Tòa án cũng chưa thụ lý giải quyết theo đúng trình tự, thủ tục thì Hội đồng xét xử phúc thẩm không thể chuyển hồ sơ về để giải quyết lại nội dung đó theo thủ tục sơ thẩm. Do đó, Tòa án không thể thực hiện thẩm quyền hủy bản án theo quy định tại khoản 3 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Mặt khác, ngay cả khi các Tòa án “lách” quy định tại nêu trên bằng việc tuyên “hủy và đình chỉ giải quyết các nội dung vượt quá phạm vi khởi kiện” để không chuyển hồ sơ về cấp sơ thẩm thì phán quyết như trên vẫn không bảo đảm đúng pháp luật bởi: (i) Bộ luật Tố tụng dân sự không quy định cho Hội đồng xét xử phúc thẩm có quyền hủy một phần bản án và đình chỉ giải quyết một vấn đề nào đó mà chỉ quy định thẩm quyền hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ giải quyết vụ án nếu trong quá trình giải quyết vụ án tại Tòa án cấp sơ thẩm, vụ án thuộc một trong các trường hợp quy định tại Điều 217, điểm b khoản 1 Điều 299 Bộ luật Tố tụng dân sự[17]. (ii) Về bản chất, nếu Tòa án chưa “thụ lý” giải quyết một nội dung thì cũng không thể “đình chỉ giải quyết” phần nội dung đó.

Trái lại, việc “sửa một phần bản án sơ thẩm” trong trường hợp này sẽ có căn cứ về cả mặt lý luận và pháp luật vững chắc hơn. Cụ thể, căn cứ theo Điều 309 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, “Hội đồng xét xử phúc thẩm sửa một phần hoặc toàn bộ bản án sơ thẩm nếu Tòa án cấp sơ thẩm quyết định không đúng pháp luật trong các trường hợp sau đây: 1. Việc thu thập chứng cứ và chứng minh đã được thực hiện đầy đủ và theo đúng quy định tại Chương VII của Bộ luật này; 2. Việc thu thập chứng cứ và chứng minh chưa được thực hiện đầy đủ ở cấp sơ thẩm nhưng tại phiên tòa phúc thẩm đã được bổ sung đầy đủ”. Trong trường hợp này, Tòa án chỉ có sai sót trong việc đưa ra phán quyết vì tuyên xử một nội dung không được các đương sự yêu cầu, chưa được thụ lý theo đúng trình tự, thủ tục chung. Do đó, nếu các nội dung khác đã được Tòa án cấp sơ thẩm thực hiện đúng quy định, Hội đồng xét xử phúc thẩm chỉ cần sửa bản án sơ thẩm, loại bỏ nội dung tuyên xử vượt quá phạm vi yêu cầu của đương sự thì đã bảo đảm đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự./.

Nguyễn Hoàng Nam

Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh

[1]. Điều 5 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[2]. Điều 4, khoản 2 Điều 68 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[3]. Lê Thị Thìn (2017), Quyền quyết định và tự định đoạt của đương sự trong Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tạp chí Pháp luật và Thực tiễn.

[4]. Điều 200 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[5]. Điều 202 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[6]. Bùi Mạnh Cường (2018), Quyền tự định đoạt của các đương sự và thực tiễn áp dụng tại các Tòa án nhân dân ở tỉnh Lạng Sơn, Đại học Luật Hà Nội, tr. 26, 27.

[7]. Khoản 2 Điều 5 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[8]. Bùi Mạnh Cường (2018), tlđd, tr. 40.

[9]. Bản án số 61/2021/DS-ST ngày 31/8/2021 của Tòa án nhân dân thành phố Kon Tum, tỉnh Kon Tum.

[10]. Bản án số 08/2022/DS-PT ngày 24/01/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Kon Tom.

[11]. Bản án số 128/2023/DS-ST ngày 26/4/2023 của Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau.

[12]. Bản án số 345/2023/DS-PT ngày 20/9/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau.

[13]. Bản án số 40/2022/DS-ST ngày 21/9/2022 của Tòa án nhân dân huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng.

[14]. Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 853/QĐ-VKS-DS ngày 21/10/2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng.

[15]. Bản án số 31/2023/DS-PT ngày 20/3/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng.

[16]. Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[17]. Điều 311 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 1 (Số 402), tháng 4/2024)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Để bảo đảm cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân được tiến hành dân chủ, đúng pháp luật, các quy định về phiếu bầu cử cũng như nguyên tắc, trình tự bỏ phiếu đã được quy định chặt chẽ[1]. Việc nắm rõ các quy định này giúp cử tri thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ trong ngày bầu cử.
[1] Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 và Nghị quyết số 40/NQ-HĐBCQG ngày 29/9/2025 của Hội đồng bầu cử quốc gia quy định mẫu văn bản hồ sơ ứng cử và việc hồ sơ ứng cử; nội quy phòng bỏ phiếu trong công tác bầu cử ĐBQH khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031
Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Trong quá trình tổ chức bầu cử, có thể phát sinh một số tình huống đặc biệt như dịch bệnh, thiên tai, hỏa hoạn hoặc vấn đề về an ninh, trật tự. Pháp luật về bầu cử đã quy định rõ thẩm quyền và phương án xử lý nhằm bảo đảm cuộc bầu cử được tổ chức an toàn, đúng quy định và bảo đảm quyền bầu cử của cử tri.
Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Để chuẩn bị cho “Ngày hội non sông” - Ngày bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031, công tác phân chia đơn vị bầu cử cần phải được triển khai với những yêu cầu khắt khe hơn bao giờ hết với mục tiêu trọng tâm là bảo đảm cân đối, tránh chênh lệch lớn, thuận tiện cho cử tri thực hiện quyền bầu cử như: Các khu vực đô thị, khu công nghiệp có đông cử tri; các khu vực miền núi, hải đảo có ít cử tri.
Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Pháp luật quy định cụ thể về nguyên tắc bỏ phiếu, cách ghi phiếu bầu, việc viết hộ, bỏ hộ phiếu và xử lý Thẻ cử tri nhằm bảo đảm việc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân diễn ra đúng quy định.
Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Cơ chế giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân giữ vai trò quan trọng trong việc bảo đảm tính dân chủ, minh bạch và hợp pháp của quá trình bầu cử. Pháp luật Việt Nam thiết lập cơ chế này trên cơ sở kết hợp giữa các quy định đặc thù của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân với các quy định chung của pháp luật về khiếu nại, tố cáo, qua đó hình thành khung pháp lý cho việc tiếp nhận, xem xét và xử lý các khiếu nại, tố cáo phát sinh trong quá trình bầu cử.
Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Một vụ án in và phát hành sách giáo khoa giả vừa được đưa ra xét xử đã tiếp tục gióng lên hồi chuông cảnh báo về tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực xuất bản, đặc biệt là đối với sách giáo dục - mặt hàng có nhu cầu cao và ảnh hưởng trực tiếp đến hàng triệu học sinh.
Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức thống nhất vào ngày 15/3/2026 theo Nghị quyết của Quốc hội. Tuy nhiên, pháp luật cho phép tổ chức bỏ phiếu sớm trong những trường hợp đặc biệt nhằm bảo đảm quyền bầu cử của công dân không thể tham gia bỏ phiếu vào ngày chính thức. Việc tổ chức bầu cử sớm phải tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc về thẩm quyền quyết định, trình tự thủ tục, kiểm phiếu, niêm phong, bảo mật kết quả và kỷ luật thời gian bỏ phiếu theo đúng quy định của Luật Bầu cử và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Vận động bầu cử của người ứng cử là hoạt động gặp gỡ, tiếp xúc cử tri hoặc thông qua phương tiện thông tin đại chúng để người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân báo cáo với cử tri về dự kiến chương trình hành động của mình nhằm thực hiện trách nhiệm đại biểu nếu được bầu làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân và trao đổi những vấn đề mà cử tri quan tâm; tạo điều kiện để cử tri tiếp xúc với người ứng cử, hiểu rõ hơn người ứng cử; trên cơ sở đó cân nhắc, lựa chọn, bầu những người đủ tiêu chuẩn làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.
Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, yêu cầu thượng tôn Hiến pháp và pháp luật không chỉ đặt ra đối với hoạt động của bộ máy nhà nước mà trở thành chuẩn mực ứng xử phổ biến trong xã hội. Pháp luật chỉ thực sự phát huy vai trò điều chỉnh các quan hệ xã hội khi được các chủ thể tiếp nhận, tôn trọng, tuân thủ thực hiện trên tinh thần chủ động, tự giác, gắn với niềm tin vào công bằng và trật tự xã hội. Thực tiễn cho thấy, hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, nhưng tình trạng vi phạm pháp luật trong một số lĩnh vực vẫn diễn biến phức tạp; còn tồn tại khoảng trống giữa nhận thức pháp luật và hành vi tuân thủ; tâm lý tuân thủ thụ động, mang tính tình thế, phụ thuộc vào sự kiểm tra, giám sát và xử lý của cơ quan có thẩm quyền. Những biểu hiện này phản ánh việc tuân thủ pháp luật chưa thực sự trở thành chuẩn mực văn hóa trong xã hội. Vì vậy, việc nghiên cứu, nhận diện các yếu tố tác động, đánh giá đúng thực trạng, đề xuất nhiệm vụ, giải pháp xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn, góp phần thể chế hóa chủ trương của Đảng, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, mạnh, bền vững trong bối cảnh mới.
Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Tết Nguyên đán là dịp đoàn viên, nghỉ ngơi và tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí đầu năm, góp phần làm phong phú đời sống văn hóa, tinh thần của mỗi gia đình và cộng đồng. Tuy nhiên, một số hình thức vui chơi có thưởng có thể vượt ngoài khuôn khổ pháp luật nếu không được nhận diện đúng. Từ yêu cầu bảo đảm kỷ cương, pháp luật trong dịp Tết, việc làm rõ ranh giới pháp lý giữa vui xuân có thưởng và hành vi vi phạm pháp luật có ý nghĩa quan trọng.
Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết 71-NQ/TW) đặt ra những yêu cầu mang tính chiến lược đối với xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, giáo dục đại học giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành lớp trí thức mới - vừa có năng lực chuyên môn, vừa có bản lĩnh, nhân cách và tinh thần phụng sự xã hội. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật phỏng vấn Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đào Thanh Trường - Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội, xung quanh quan điểm xây dựng con người toàn diện, các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp, cũng như những định hướng tích hợp giáo dục nhân văn với khoa học, công nghệ trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Mùa xuân về không chỉ mang theo nhựa sống của thiên nhiên mà còn là thời điểm để nhìn lại những thành quả của năm qua. Xuân Bính Ngọ 2026, với Trường Cao đẳng Cơ điện Hà Nội (HCEM), là một mùa xuân đặc biệt - mùa xuân của sự cộng hưởng giữa niềm tự hào về hành trình 80 năm đất nước độc lập và quyết tâm chính trị cao để hiện thực hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị. Đây chính là “chìa khóa” để HCEM bứt phá, vươn tầm quốc tế, trở thành biểu tượng của nền giáo dục nghề nghiệp (GDNN) hiện đại trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Năm 2025 được xem là cột mốc bản lề trên hành trình đưa Việt Nam bước vào kỷ nguyên số toàn diện. Trong không khí Xuân Bính Ngọ 2026, Cục trưởng Cục Chuyển đổi số quốc gia (Bộ KH&CN) Trần Duy Ninh chia sẻ với Tạp chí Dân chủ và Pháp luật về những thành quả nổi bật, tầm nhìn, cơ hội và kỳ vọng đặt vào đội ngũ trí thức công nghệ, với khát vọng xây dựng đất nước Việt Nam hùng cường, tự chủ và thịnh vượng trên nền tảng số.
Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Nhìn lại hành trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đội ngũ doanh nhân Việt Nam tiếp tục là lực lượng năng động, sáng tạo và đóng góp quan trọng vào tăng trưởng. Tuy nhiên, bối cảnh hội nhập sâu, rộng đặt ra yêu cầu cao hơn đối với việc hoàn thiện pháp luật về kinh doanh. Nhân dịp xuân mới, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Quang Vinh - Phó Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) về kỳ vọng đổi mới và yêu cầu xây dựng hành lang pháp lý ổn định để doanh nghiệp Việt Nam tự tin phát triển trong giai đoạn mới.
Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với mục tiêu đến năm 2045 trở thành nước phát triển có thu nhập cao, đội ngũ doanh nhân Việt Nam được kỳ vọng trở thành lực lượng kiến tạo thịnh vượng quốc gia. Khát vọng ấy chỉ có thể nảy nở và lớn lên trong hệ sinh thái pháp lý minh bạch, an toàn và tạo động lực.

Theo dõi chúng tôi trên: