Thứ năm 28/05/2026 23:52
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Bàn về khái niệm, đặc điểm pháp lý của tố giác, tin báo về tội phạm

Công tác tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm; là căn cứ để kịp thời phát hiện hành vi phạm tội xảy ra, xác định có hay không có dấu hiệu tội phạm để xem xét, quyết định việc khởi tố hay không khởi tố vụ án hình sự. Trong bài viết này, các tác giả trao đổi các quan điểm về tố giác, tin báo về tội phạm, những đặc điểm pháp lý của nó, cũng như đưa ra một số kiến nghị.

Công tác tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm; là căn cứ để kịp thời phát hiện hành vi phạm tội xảy ra, xác định có hay không có dấu hiệu tội phạm để xem xét, quyết định việc khởi tố hay không khởi tố vụ án hình sự. Trong bài viết này, các tác giả trao đổi các quan điểm về tố giác, tin báo về tội phạm, những đặc điểm pháp lý của nó, cũng như đưa ra một số kiến nghị.

Công tác tiếp nhận và giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm là một trong những hoạt động quan trọng trong việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của cơ quan chức năng nói chung và Cơ quan điều tra (CQĐT) trong lực lượng Công an nhân dân (CAND) nói riêng. Thực hiện tốt công tác này, CQĐT góp phần xây dựng nền pháp chế xã hội chủ nghĩa, mọi hành vi phạm tội đều bị khởi tố, điều tra và xử lý kịp thời, không để lọt tội phạm và người phạm tội, không làm oan người vô tội. Tuy nhiên, trong thời gian qua, hiệu quả công tác này chưa cao. Tình trạng vi phạm pháp luật về tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm của CQĐT vẫn còn xảy ra nhưng chưa có biện pháp khắc phục một cách hiệu quả. Một trong những nguyên nhân của tình trạng trên là về mặt nhận thức của một số lãnh đạo và cán bộ chiến sĩ các cấp vẫn còn chưa đầy đủ, toàn diện và chưa thống nhất về khái niệm và đặc điểm pháp lý của tố giác, tin báo về tội phạm, dẫn đến việc vận dụng vào thực tiễn còn khác nhau. Với mong muốn thống nhất nhận thức, nâng cao chất lượng công tác tiếp nhận và giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm.

1. Khái niệm tố giác, tin báo về tội phạm

Hiện nay, trong khoa học pháp lý và khoa học điều tra hình sự có nhiều cách hiểu khác nhau về khái niệm tố giác, tin báo về tội phạm.

Quan điểm thứ nhất, xác định chỉ có tin báo do quần chúng nhân dân, phương tiện truyền thông, cơ quan, tổ chức cung cấp, kiến nghị về/hoặc liên quan đến tội phạm mới là tố giác, tin báo về tội phạm.

Quan điểm thứ hai cho rằng, mọi thông tin liên quan đến tội phạm đều là tin báo, tố giác về tội phạm.

Quan điểm thứ ba nêu, “tố giác về tội phạm là việc công dân tố giác về hành vi tội phạm được quy định trong Bộ luật Hình sự, còn tin báo về tội phạm là những thông tin về tội phạm được quy định trong Bộ luật Hình sự do cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội cung cấp cho cơ quan có trách nhiệm tiếp nhận và giải quyết; do các phương tiện thông tin đại chúng nêu lên hoặc do người phạm tội tự thú”[1].

Quan điểm thứ tư cho rằng, “tố giác về tội phạm là việc cá nhân phát hiện, tố cáo người phạm tội hoặc hành vi có dấu hiệu tội phạm với cơ quan có thẩm quyền giải quyết theo quy định tại khoản 1 Điều 100, Điều 101 và Điều 103 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003[2]. Tin báo về tội phạm là việc các cơ quan, tổ chức báo tin hoặc đăng tin có nội dung phản ánh về tội phạm xảy ra cho cơ quan có thẩm quyền giải quyết theo quy định tại khoản 2, 5 Điều 100, Điều 101 và Điều 103 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003”[3].

Trái lại, có quan điểm xác định rằng, không thể phân biệt giữa tin báo và tố giác về tội phạm. Hoặc, có quan điểm đưa ra khái niệm tố giác, tin báo về tội phạm không rõ đối tượng thực hiện hành vi. Theo quan điểm này, người báo tin, tố giác và kể cả CQĐT tiến hành xác minh nhưng cũng không xác định rõ ai là đối tượng gây ra. Ví dụ, một người đến CQĐT trong Công an nhân dân trình báo bị kẻ trộm đột nhập vào nhà lấy trộm 20.000 USD nhưng không xác định được ai là người đã trộm số tiền ấy. Sau đó, tiến hành một số hoạt động điều tra ban đầu CQĐT cũng không xác định được đối tượng nghi vấn. Cách hiểu này không đúng với bản chất của tố giác, tin báo về tội phạm. Bởi lẽ, dù rõ hay không rõ đối tượng, đó vẫn là tố giác, tin báo về tội phạm. Với cách hiểu trên, dễ dẫn đến tình trạng các CQĐT không tiếp nhận, giải quyết đối với tố giác, tin báo về tội phạm loại này và hệ quả của nó là việc đánh giá tình hình tội phạm chưa chính xác, bỏ sót tội phạm.

Một quan điểm nữa cũng không phân biệt rõ tố giác về tội phạm với tin báo về tội phạm. Đó là, tại Thông tư liên ngành số 03/TT-LN ngày 15/5/1992 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Nội vụ (nay là Bộ Công an), Bộ Quốc phòng, Bộ Lâm nghiệp, Tổng cục Hải quan (Thông tư liên ngành số 03/TT-LN) về hướng dẫn thi hành các quy định của Luật Tố tụng hình sự về tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm đã nêu: “Tin báo và tố giác về tội phạm là những thông tin về tội phạm được quy định trong Bộ luật Hình sự do công dân, cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội (gọi tắt là người, cơ quan, tổ chức) cung cấp cho cơ quan có trách nhiệm tiếp nhận và giải quyết; do các phương tiện thông tin đại chúng nêu lên hoặc do người phạm tội tự thú”. Khái niệm này có nhiều điểm chưa phù hợp với Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 và Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Theo quy định tại Điều 101 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 và Điều 144 Bộ luật Tố tụng hình sự hiện hành thì chủ thể của tố giác về tội phạm chỉ có thể là cá nhân; chủ thể của tin báo về tội phạm chỉ có thể là cơ quan, tổ chức. Cơ quan, tổ chức ở đây được hiểu là bất cứ cơ quan, tổ chức nào. Tuy nhiên, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 lại không quy định cụ thể thế nào là tố giác, tin báo về tội phạm.

Nhìn chung, các quan điểm trên chưa nêu rõ, đầy đủ về khái niệm tin báo và tố giác về tội phạm, chưa phân biệt rõ tố giác và tin báo, hoặc là nhấn mạnh tiêu chí không thuộc nội hàm của khái niệm tố giác, tin báo về tội phạm. Chính vì vậy, ngày 02/8/2013 liên Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Bộ Tài chính, Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, Viện kiểm sát nhân dân tối cao đã ban hành Thông tư liên tịch số 06/2013/TTLT-BCA-BQP-BTC-BNN&PTNT-VKSNDTC hướng dẫn thi hành quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự về tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố (Thông tư liên tịch 06/2013/TTLT). Tại khoản 1, 2 Điều 3 Thông tư liên tịch 06/2013/TTLT về giải thích từ ngữ đã xác định: “Tố giác về tội phạm là những thông tin về hành vi có dấu hiệu tội phạm do cá nhân có danh tính, địa chỉ rõ ràng cung cấp cho cơ quan, cá nhân có trách nhiệm tiếp nhận, giải quyết. Tin báo về tội phạm là những thông tin về hành vi có dấu hiệu tội phạm trên các phương tiện thông tin đại chúng hoặc do cơ quan, tổ chức cung cấp cho cơ quan, cá nhân có trách nhiệm tiếp nhận, giải quyết”.

Tuy nhiên, đến Thông tư liên tịch số 01/2017/TTLT-BCA-BQP-BTC-BNN&PTNT-VKSNDTC của Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Bộ Tài chính, Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, ngày 29/12/2017 quy định việc phối hợp giữa cơ quan có thẩm quyền trong việc thực hiện quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 về tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố trong phần giải thích thuật ngữ không nêu thế nào là tố giác, tin báo về tội phạm, vì các khái niệm này đã được quy định tại Điều 144 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015. Cụ thể, khoản 1 và khoản 2 Điều 144 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 quy định: “Tố giác về tội phạm là việc cá nhân phát hiện và tố cáo hành vi có dấu hiệu tội phạm với cơ quan có thẩm quyền. Tin báo về tội phạm là thông tin về vụ việc có dấu hiệu tội phạm do cơ quan, tổ chức, cá nhân thông báo với cơ quan có thẩm quyền hoặc thông tin về tội phạm trên phương tiện thông tin đại chúng”.

Theo quy định tại Điều 100 và Điều 101 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2003, chủ thể của tố giác về tội phạm phải là công dân, nhưng trên thực tế, tố giác về tội phạm không chỉ do công dân Việt Nam, mà còn do người nước ngoài cung cấp. Do đó, nếu chỉ quy định công dân Việt Nam mới có quyền tố giác tội phạm là chưa đầy đủ. Khắc phục được thiếu sót này, Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 đã thay thế “tố giác của công dân” thành “tố giác của cá nhân” để mở rộng diện người tố giác về tội phạm. Cá nhân ở đây bao gồm cả công dân Việt Nam và người nước ngoài. Đối với tin báo về tội phạm, Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2003 quy định gồm có tin báo của cơ quan, tổ chức và tin báo trên các phương tiện thông tin đại chúng. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng cho thấy, tin báo là thông tin về vụ việc phạm tội, ngoài cơ quan, tổ chức báo tin, thì cá nhân cũng báo rất nhiều tin về vụ việc mà mình biết cho cơ quan có thẩm quyền giải quyết. Do đó, Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 đã bổ sung cả tin báo về tội phạm của cá nhân[4].

2. Đặc điểm pháp lý của tố giác, tin báo về tội phạm

Tố giác, tin báo về tội phạm là những thông tin đầu tiên về tội phạm được phản ánh qua những nguồn tin khác nhau (như: (i) Tổ chức công tác trực ban hình sự để tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm; (ii) Theo dõi, thu thập tin báo về tội phạm trên các phương tiện thông tin đại chúng; (iii) Phối hợp với các cơ quan, tổ chức, cá nhân để thu thập, tiếp nhận nguồn tin về tội phạm; (iv) Thực hiện các biện pháp nghiệp vụ của các cơ quan chức năng theo quy định của pháp luật để thu thập, tiếp nhận nguồn tin về tội phạm; (v) Lập “Hòm thư tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm”; (vi) Lập “Hộp thư điện tử tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm thuộc thẩm quyền của Cơ quan chức năng” trên trang thông tin điện tử; (vii) Lập, công bố số điện thoại đường dây nóng, địa chỉ hộp thư điện tử phổ thông trên các phương tiện thông tin đại chúng để tiếp nhận các tố giác, tin báo về tội phạm). Tố giác, tin báo về tội phạm có ý nghĩa rất quan trọng đối với các cơ quan điều tra, truy tố, xét xử. Về cả phương diện lý luận và thực tiễn, chúng ta có thể khẳng định tố giác, tin báo về tội phạm mang đặc điểm pháp lý. Bởi lẽ:

Thứ nhất, tố giác, tin báo tội phạm phải được tiếp nhận, giải quyết theo đúng quy định của pháp luật và phải được cung cấp đến đúng các cơ quan chức năng có thẩm quyền tiếp nhận[5].

Thứ hai, tố giác, tin báo về tội phạm là cơ sở không thể thiếu được để các cơ quan chức năng tiến hành trực tiếp đấu tranh phòng chống tội phạm, nhất là các cơ quan tiến hành tố tụng, trong đó có cơ quan điều tra. Trong khi đó, hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng phải được tiến hành trong khuôn khổ pháp luật, tuân theo trình tự, thủ tục do pháp luật tố tụng hình sự quy định. Điều này cũng là một trong những cơ sở để khẳng định tố giác, tin báo về tội phạm mang đặc điểm pháp lý.

Như đã phân tích, tố giác, tin báo về tội phạm là những nguồn thông tin phản ánh về tội phạm được cung cấp cho các cơ quan chức năng, trong đó có CQĐT. Trong quá trình tiến hành tố tụng hình sự, thông tin về tội phạm được các cơ quan tiến hành tố tụng thu thập ở tất cả các giai đoạn, bằng những nguồn và biện pháp hợp pháp. Trong số những thông tin này có tố giác, tin báo về tội phạm mà pháp luật tố tụng hình sự quy định là cơ sở và căn cứ để khởi tố các vụ án hình sự.

Tại Điều 143 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 quy định: “Chỉ được khởi tố vụ án khi đã xác định có dấu hiệu tội phạm. Việc xác định dấu hiệu tội phạm dựa trên những căn cứ: (i) Tố giác của cá nhân; (ii) Tin báo của cơ quan, tổ chức, cá nhân; (iii) Tin báo trên phương tiện thông tin đại chúng; (iv) Kiến nghị khởi tố của cơ quan nhà nước; (v) Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng trực tiếp phát hiện dấu hiệu tội phạm; (vi) Người phạm tội tự thú”.

Ngoài ra, pháp luật tố tụng hình sự còn quy định rõ các hình thức của tố giác, tin báo về tội phạm một cách cụ thể. Tố giác về tội phạm của công dân đến Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án, Bộ đội biên phòng, Hải quan, Kiểm lâm, lực lượng Cảnh sát biển và các cơ quan khác của Công an nhân dân, Quân đội nhân dân được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra phải được thể hiện và ghi nhận bằng những hình thức nhất định: bằng miệng, bằng văn bản, qua điện thoại. Nếu tố giác bằng miệng thì cơ quan, tổ chức tiếp nhận phải lập biên bản và có chữ ký của người tố giác. Tố giác bằng văn bản thì cũng phải có chữ ký của người tố giác. Trường hợp tố giác qua điện thoại phải xác định được họ tên, địa chỉ, số điện thoại liên lạc của người tố giác và nội dung tố giác. Chú ý, tố giác nặc danh về tội phạm, không phải là cơ sở để khởi tố vụ án hình sự mà chỉ là cơ sở để kiểm tra những thông tin có trong đơn thư nặc danh bằng cách tiến hành những biện pháp trinh sát và công khai. Kết quả kiểm tra xác minh tố giác nặc danh là cơ sở và căn cứ để quyết định khởi tố hay không khởi tố vụ án hình sự.

Tin báo về tội phạm của các cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội, do những cơ quan, tổ chức này phát hiện trong phạm vi hoạt động của mình hoặc nhận được tố giác của công dân phải báo tin ngay về tội phạm cho CQĐT bằng văn bản. Như vậy, tố giác, tin báo về tội phạm mang đặc điểm pháp lý. Đặc điểm pháp lý của tố giác, tin báo về tội phạm thể hiện:

Một là, tố giác, tin báo về tội phạm rất đa dạng về nguồn và nội dung

Như đã phân tích ở trên, tố giác, tin báo về tội phạm rất đa dạng về nguồn, có thể là tố giác của công dân, tin báo của cơ quan Nhà nước hoặc tổ chức xã hội, tin báo trên các phương tiện thông tin đại chúng. Đối với từng tội phạm cụ thể thì tin báo, tố giác về tội phạm cũng có những đặc điểm riêng.

Ví dụ, tố giác, tin báo về các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm con người chủ yếu từ phía người bị hại hoặc gia đình của họ. Tố giác, tin báo về các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế, chức vụ chủ yếu từ kết quả thanh tra, kiểm tra chuyên ngành, phương tiện thông tin đại chúng.

Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội, nó xâm phạm đến các khách thể được pháp luật hình sự bảo vệ trong nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội, như kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, y tế, giáo dục... Do vậy, tố giác, tin báo về tội phạm có nội dung rất đa dạng, có tố giác, tin báo phản ánh về tội phạm xâm phạm trật tự quản lý kinh tế của nhà nước, có tố giác, tin báo phản ánh về tội phạm xâm phạm an ninh quốc gia, nhưng cũng có tố giác, tin báo vừa phản ánh về tội phạm xâm phạm trật tự quản lý kinh tế của nhà nước, vừa phản ánh về tội phạm xâm phạm an ninh quốc gia...

Hai là, tố giác, tin báo về tội phạm mang tính cấp bách

Tố giác, tin báo về tội phạm thuộc nguồn tin ban đầu về tội phạm, do vậy nó mang tính cấp bách đối với các cơ quan chức năng khi tiếp nhận tin. Tính cấp bách cao hay thấp của tố giác, tin báo về tội phạm, trong các trường hợp khác nhau là khác nhau. Tính cấp bách ấy phụ thuộc vào khoảng thời gian dài hay ngắn từ thời điểm xảy ra vụ việc đến thời điểm chủ thể phát hiện và cung cấp tin cho các cơ quan chức năng; nội dung phản ánh của tố giác, tin báo về tội phạm. Thực tiễn, công tác tiếp nhận và giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm của cơ quan chức năng cho thấy, hiệu quả của công tác này cao hay thấp phụ thuộc vào giải quyết yêu cầu về tính cấp bách của tố giác, tin báo về tội phạm, tiến hành khẩn trương các hoạt động điều tra, xác minh, kiến thức, trình độ năng lực của đội ngũ cán bộ cơ quan chức năng, mà nhất là lực lượng điều tra và một số yếu tố khác, như phương thức, thủ đoạn hoạt động phạm tội, khả năng che giấu tội phạm của đối tượng...

Ba là, tố giác, tin báo về tội phạm thường thiếu chính xác và không đầy đủ

Tố giác, tin báo về tội phạm do công dân, cơ quan và tổ chức cung cấp cho các cơ quan chức năng. Một đặc điểm cần chú ý, những thông tin này thường mang những nhận định chủ quan của chủ thể tố giác, báo tin và xuất phát từ những động cơ, mục đích khác nhau. Có người tố giác, báo tin về tội phạm xuất phát từ ý thức đấu tranh phòng chống tội phạm, có người vì động cơ mục đích khác. Sự hiểu biết, khả năng lưu giữ tin, trình bày của họ về vụ việc liên quan đến tội phạm cũng khác nhau. Chính vì vậy, những tố giác, tin báo ban đầu về tội phạm có nội dung, mức độ phản ánh khác nhau, nhưng thường thiếu chính xác và không đầy đủ. Trong nhiều trường hợp công dân, cơ quan và tổ chức phát hiện tội phạm một cách tình cờ, ngẫu nhiên, không có chủ định từ trước. Mặt khác, khi gây án, bọn tội phạm thường thực hiện với những phương thức, thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt, có những hành vi che giấu, đánh lạc hướng cơ quan điều tra, hoặc do bị xúc động mạnh, hoảng loạn mà chủ thể tố giác, báo tin cho các cơ quan chức năng tri giác không đầy đủ, thậm chí sai lệch về vụ việc đã xảy ra. Chính vì vậy, dẫn đến trường hợp nhận thức và cung cấp tin về tội phạm của họ cho các cơ quan chức năng thiếu chính xác, không đầy đủ.

3. Một số kiến nghị

Một là, cần thống nhất nhận thức về khái niệm tố giác, tin báo về tội phạm. Theo chúng tôi, trong số các quan điểm về tố giác, tin báo về tội phạm nêu trên thì quan điểm về tố giác, tin báo về tội phạm theo qui định của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 là phù hợp nhất, đã khắc phục được những hạn chế, bất cập của các quan điểm khác, sửa chữa những thiếu sót trong Thông tư liên ngành số 03/TT-LN, Thông tư liên tịch số 06/2013/TTLT về khái niệm tố giác, tin báo về tội phạm. Chính vì vậy, hơn ai hết lực lượng điều tra trong CAND - một trong những lực lượng chủ yếu được giao nhiệm vụ tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm cần phải thống nhất nhận thức khái niệm này, nhằm đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm, đảm bảo không bỏ sót, bỏ lọt tội phạm, không làm oan người vô tội, bảo vệ cuộc sống bình yên và hạnh phúc của nhân dân.

Hai là, cần thống nhất nhận thức tố giác, tin báo về tội phạm mang đặc điểm pháp lý và xác định rõ nội hàm những đặc điểm này. Vì vậy, xác định chính xác đặc điểm pháp lý của tố giác, tin báo về tội phạm có ý nghĩa lý luận và thực tiễn rất quan trọng, là cơ sở để xác định phạm vi, nội dung xác thực của tố giác, tin báo về tội phạm, chủ thể của các tố giác, tin báo về tội phạm[6], chủ thể và hệ thống các biện pháp, nguyên tắc để tiếp nhận, giải quyết các tố giác, tin báo về tội phạm đó./.

Khai Trí
Công an TP. Cần Thơ
TS. Phan Thị Nhật Tài
Trường Đại học Duy Tân, TP. Đà Nẵng


[1] Quy chế số 169 về Phối hợp giữa Viện kiểm sát nhân dân quận Long Biên và Công an quận Long Biên, thành phố Hà Nội trong việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố, ngày ngày 13/7/2011.

[2] Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quy định từ Điều 143 - Điều 150.

[3] Quy chế về công tác tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo và kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo thuộc thẩm quyền của Viện kiểm sát. (Ban hành kèm theo Quyết định số 59/2006/QĐ-VKSNDTC-V7 ngày 06/02/2006 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao); Quy chế số 24/QC-VKS-CSĐT về phối hợp giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra và Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ, ngày 26/07/2011.

[4] Xem thêm truy cập ngày 18/11/2020.

[5] Quy định tại Điều 145 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

[6] Tố giác, tin báo về tội phạm do ai cung cấp.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Công tác kiểm tra, giám sát Đảng ủy cấp xã tại Hà Nội hiện nay

Công tác kiểm tra, giám sát Đảng ủy cấp xã tại Hà Nội hiện nay

Đổi mới công tác kiểm tra, giám sát không chỉ dừng lại ở việc xử lý vi phạm mà cốt lõi là để cảnh báo, phòng ngừa và kiến tạo sự phát triển. Trước thực trạng 70% cán bộ kiểm tra cấp xã còn lúng túng về nghiệp vụ và áp lực từ việc thiếu vắng sự giám sát của Hội đồng nhân dân tại các xã, phường, Hà Nội đang nỗ lực tìm kiếm những mô hình mới như "giám sát dữ liệu số" hay cơ chế bảo vệ cán bộ "dám nói, dám làm". Đây chính là chìa khóa để bảo đảm bộ máy chính quyền Thủ đô vận hành liêm chính và hiệu quả sau khi tinh gọn.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định và tổ chức thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Kiến nghị hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định và tổ chức thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 là đạo luật quan trọng nhằm cụ thể hóa quyền tiếp cận thông tin của công dân theo Hiến pháp năm 2013[*], góp phần nâng cao tính công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Sau 08 năm thi hành, bên cạnh những kết quả đạt được, thực tiễn cho thấy còn bộc lộ một số hạn chế, bất cập trong quy định pháp luật và tổ chức thi hành, đặc biệt, liên quan đến phạm vi thông tin, trách nhiệm cung cấp thông tin, trình tự, thủ tục và điều kiện bảo đảm thực hiện quyền. Trên cơ sở nhận diện các vướng mắc, bất cập, nghiên cứu đề xuất định hướng sửa đổi, bổ sung Luật theo hướng bảo đảm tính đồng bộ với hệ thống pháp luật hiện hành, phù hợp với yêu cầu chuyển đổi số và tổ chức bộ máy nhà nước, đồng thời kiến nghị các giải pháp nâng cao hiệu quả tổ chức thi hành, qua đó góp phần bảo đảm tốt hơn quyền tiếp cận thông tin của công dân và xây dựng nền hành chính công khai, minh bạch.
Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018) sau hơn 08 năm thi hành đã bộc lộ nhiều bất cập trước sự vận động nhanh chóng của thực tiễn, đặc biệt là sự xuất hiện của các hình thức hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng và các quan hệ tôn giáo có yếu tố nước ngoài ngày càng phức tạp. Vì vậy, việc tăng cường quản lý nhà nước đối với các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng là yêu cầu cấp thiết không chỉ bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân mà còn nhằm giữ vững an ninh, trật tự xã hội và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới.
Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Thẩm quyền ban hành VBQPPL là nội dung trọng tâm nhằm bảo đảm mỗi loại VBQPPL được ban hành bởi đúng cơ quan, đúng cấp, vừa phù hợp với phạm vi pháp lý, vừa hạn chế rủi ro và xung đột giữa các văn bản.
Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Việc ban hành Luật Ban hành VBQPPL số 64/2025/QH15 được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 87/2025/QH15 và các nghị định hướng dẫn thi hành có ý nghĩa đặc biệt trong bối cảnh đổi mới tư duy xây dựng pháp luật, gắn kết chặt chẽ giữa xây dựng và thi hành pháp luật.
Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Bài viết phân tích quy trình xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ của Quốc hội và quy trình xây dựng chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội, từ đó, đưa ra một số lưu ý nhằm nâng cao hiệu quả việc thực hiện hai quy trình này.
Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Tóm tắt: Bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra góp phần bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp cần miễm trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra để bảo vệ lợi ích hợp pháp của các nhà sản xuất kinh doanh. Bài viết nghiên cứu những trường hợp miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023, đồng thời chỉ ra ưu, nhược điểm và hạn chế của Luật, từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Trong bối cảnh nhiều thách thức, đội ngũ luật sư với kiến thức chuyên môn và kỹ năng nghề nghiệp của mình, đóng vai trò then chốt trong việc nâng cao chất lượng, hiệu quả trợ giúp pháp lý.
Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Những năm qua, công tác trợ giúp pháp lý trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận. Nhiều vụ việc được trợ giúp pháp lý kịp thời, góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người nghèo, người có công với cách mạng và các nhóm yếu thế khác.
Ứng dụng công nghệ số, nền tảng trực tuyến, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động trợ giúp pháp lý

Ứng dụng công nghệ số, nền tảng trực tuyến, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động trợ giúp pháp lý

Những nỗ lực số hóa hồ sơ, vận hành Hệ thống quản lý trợ giúp pháp lý, kết nối dữ liệu dân cư, phát triển tư vấn trực tuyến… đã mở ra hướng tiếp cận mới, góp phần nâng cao chất lượng và tính minh bạch của dịch vụ trợ giúp pháp lý.
Tăng cường hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế trong tố tụng hình sự

Tăng cường hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế trong tố tụng hình sự

Trong tiến trình cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, việc bảo đảm quyền con người luôn là sợi chỉ đỏ xuyên suốt, đặc biệt, với đối tượng yếu thế, yêu cầu này càng trở nên cấp thiết và nhân văn. Trong tố tụng hình sự (TTHS), đối tượng yếu thế với tư cách bị hại, người làm chứng hay bị can, bị cáo, đã và đang phải đối mặt với hệ thống tư pháp hình sự. Đối tượng yếu thế có được tiếp cận công lý bình đẳng hay không phụ thuộc vào sự công tâm, chuyên nghiệp và nhạy cảm của các cơ quan trong hoạt động tố tụng, trong đó có vai trò của hoạt động trợ giúp pháp lý.
Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo trong bối cảnh mới

Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo trong bối cảnh mới

Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và thúc đẩy phát triển bền vững, hoạt động trợ giúp pháp lý đóng vai trò quan trọng trong việc bảo đảm công bằng xã hội và tiếp cận công lý cho người dân, đặc biệt là người nghèo thuộc nhóm đối tượng yếu thế.
Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Đây là giải pháp quan trọng nhằm khắc phục khó khăn, vướng mắc, nâng cao chất lượng tổ chức thi hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo.
Ưu điểm, hạn chế và một số vấn đề chính cần rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Ưu điểm, hạn chế và một số vấn đề chính cần rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 đã góp phần quan trọng trong việc bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của cá nhân, tổ chức, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đối với lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo. Tuy nhiên, thực tiễn triển khai Luật cũng bộc lộ những bất cập, hạn chế cần sửa đổi, hoàn thiện nhằm đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới.
Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là một trong những loại tội phạm có diễn biến ngày càng phức tạp, đa dạng và tinh vi. Phương thức thực hiện tội phạm không ngừng biến đổi, đặc biệt là việc sử dụng công nghệ cao để phạm tội, gây thiệt hại lớn đối với tài sản và tâm lý hoang mang cho người dân, ảnh hưởng đến trật tự, an toàn xã hội. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng các quy định của Bộ luật Hình sự về tội này vẫn còn tồn tại một số vướng mắc, bất cập từ chính quy định của pháp luật.

Theo dõi chúng tôi trên: