Thứ bảy 12/09/2026 23:22
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Bàn về quy định thời hạn sử dụng nhà chung cư

Thời hạn sử dụng nhà chung cư là một vấn đề rất được quan tâm hiện nay, đặc biệt là những chủ thể đang có nhu cầu sở hữu nhà ở. Đa phần người dân khi mua nhà chung cư

Thời hạn sử dụng nhà chung cư là một vấn đề rất được quan tâm hiện nay, đặc biệt là những chủ thể đang có nhu cầu sở hữu nhà ở. Đa phần người dân khi mua nhà chung cư đều mong muốn được sở hữu, sử dụng vĩnh viễn chứ không muốn bị giới hạn về mặt thời hạn sử dụng. Tuy nhiên, nhìn ở một góc độ khác, có thể thấy rằng, nếu không giới hạn về thời hạn sử dụng nhà chung cư hoặc để thời hạn sử dụng quá dài sẽ dẫn đến phát sinh những hệ quả tiêu cực trong vấn đề cải tạo, phá dỡ, xây dựng mới lại nhà chung cư khi hết hạn sử dụng. Vì vậy, việc tiếp tục nghiên cứu, phân tích, đánh giá vấn đề xác định thời hạn sử dụng nhà chung cư là rất quan trọng và cấp thiết.

1. Tổng quan về thời hạn sử dụng nhà chung cư

Thời hạn sử dụng nhà chung cư hiện nay được quy định rõ trong Luật Nhà ở năm 2014. Theo quy định tại khoản 1 Điều 99 Luật Nhà ở năm 2014 thì “Thời hạn sử dụng nhà chung cư được xác định căn cứ vào cấp công trình xây dựng và kết luận kiểm định chất lượng của cơ quan quản lý nhà ở cấp tỉnh nơi có nhà chung cư”. Cụ thể, dựa trên phụ lục phân cấp các loại công trình xây dựng phục vụ công tác quản lý chất lượng công trình xây dựng được ban hành kèm theo Thông tư số 10/2013/TT-BXD ngày 25/7/2013 của Bộ Xây dựng, thời hạn sử dụng chung cư được xác định như sau: (i) Công trình cấp 4 có niên hạn sử dụng dưới 20 năm; (ii) Công trình cấp 3 có niên hạn sử dụng từ 20 năm đến dưới 50 năm; (iii) Công trình cấp 2 có niên hạn sử dụng từ 50 năm đến 100 năm; (iv) Công trình cấp 1 và công trình đặc biệt có niên hạn sử dụng trên 100 năm. Khi nhà chung cư hết thời hạn sử dụng theo quy định của pháp luật về xây dựng thì cơ quan quản lý nhà ở cấp tỉnh phải tổ chức kiểm định chất lượng công trình nhà chung cư này để xử lý. Trong trường hợp nhà chung cư còn bảo đảm chất lượng và an toàn cho người sử dụng thì chủ sử dụng được tiếp tục sử dụng theo thời hạn ghi trong kết luận kiểm định, trừ trường hợp nhà chung cư bị hư hỏng mà chưa thuộc diện bị phá dỡ nhưng nằm trong khu vực phải thực hiện cải tạo, xây dựng đồng bộ với khu nhà ở thuộc diện bị phá dỡ theo quy hoạch xây dựng được phê duyệt. Việc tổ chức kiểm định cũng được thực hiện trong trường hợp nhà bị hư hỏng nặng, có nguy cơ sập đổ, không bảo đảm an toàn cho người sử dụng. Đối với trường hợp nhà chung cư bị hư hỏng nặng, có nguy cơ sập đổ, không còn bảo đảm an toàn cho người sử dụng thì cơ quan quản lý nhà ở cấp tỉnh phải ban hành kết luận kiểm định chất lượng và báo cáo Ủy ban nhân dân cấp tỉnh để thông báo bằng văn bản cho chủ sử dụng nhà chung cư biết. Nội dung văn bản thông báo phải được công bố công khai trên cổng thông tin điện tử của Ủy ban nhân dân và cơ quan quản lý nhà ở cấp tỉnh, trên phương tiện thông tin đại chúng của địa phương. Khi hết thời hạn sử dụng nhà chung cư thì chủ sử dụng nhà chung cư có trách nhiệm phá dỡ để cải tạo, xây dựng lại nhà chung cư mới hoặc bàn giao cho cơ quan có thẩm quyền để phá dỡ và xây dựng công trình khác theo quy định tại khoản 3 Điều 99 Luật Nhà ở năm 2014. Trong trường hợp nếu khu đất có nhà chung cư vẫn phù hợp với quy hoạch xây dựng nhà ở thì chủ sở hữu được cải tạo, xây dựng lại nhà chung cư mới. Nếu khu đất có nhà chung cư không còn phù hợp với quy hoạch xây dựng nhà ở thì chủ sở hữu nhà chung cư phải bàn giao lại nhà chung cư này cho cơ quan có thẩm quyền để phá dỡ và xây dựng công trình khác theo quy hoạch được duyệt.

Như vậy, với việc quy định về thời hạn sử dụng chung cư phụ thuộc vào cấp công trình như trên đã tạo cơ sở pháp lý rõ ràng để giúp nhà đầu tư và người dân xác định chính xác được thời hạn sử dụng nhà chung cư, từ đó có thể đưa được các quyết định đầu tư chính xác và lựa chọn nơi ở cho phù hợp với nhu cầu. Mặt khác, việc xác định thời hạn sử dụng nhà chung cư còn phần nào tạo thêm cơ hội cho chính sách đầu tư vào thị trường bất động sản của các nhà đầu tư, từ đó khuyến khích họ mạnh dạn bỏ vốn đầu tư xây dựng các công trình có chất lượng, phù hợp quy chuẩn, qua đó đem lại cuộc sống an toàn, bền vững cho các hộ dân.

2. Một số quan điểm về thời hạn sử dụng nhà chung cư

Sử dụng có thời hạn đối với nhà chung cư theo quy định của pháp luật về nhà ở hiện hành là một trong những giải pháp được Bộ Xây dựng đề xuất trong khuôn khổ cải cách hệ thống luật pháp về nhà ở. Tuy nhiên, việc phân loại về thời hạn sử dụng nhà chung cư đã tạo ra hai luồng ý kiến ủng hộ và phản đối khác nhau. Những người ủng hộ giải pháp này dựa vào hai lập luận chủ yếu:

Một là, ở các nước tiên tiến, luật pháp giới hạn quyền sử dụng đối với nhà chung cư trong phạm vi tuổi thọ của toàn bộ tòa nhà. Theo đó, các nước tiên tiến cho rằng, sử dụng căn hộ chung cư được xác định một cách bắt buộc là sử dụng có thời hạn; là do chính bản thân tài sản, nghĩa là một phần của tòa nhà, có tuổi thọ được giới hạn theo giới hạn về tuổi thọ của tòa nhà được xác định theo pháp luật xây dựng. Đối tượng sử dụng là một vật chỉ tồn tại trong một khoảng thời gian nhất định thì quyền sử dụng tất nhiên cũng chỉ có thể được duy trì đến hết khoảng thời gian đó.

Hai là, việc giới hạn thời gian quyền sử dụng sẽ có tác dụng tích cực trong việc hạn chế đầu cơ, tích trữ bất động sản. Các doanh nghiệp kinh doanh bất động sản là những người ủng hộ giải pháp này rất tích cực. Các doanh nghiệp này cho rằng, nếu phương án sử dụng nhà chung cư có thời hạn được áp dụng sẽ tác động đến giá của những căn hộ sử dụng có thời hạn, giá các căn hộ này sẽ thấp đi nhiều do thời hạn sử dụng không bị phân bổ nhiều vào giá thành sản phẩm. Như vậy, thị trường sẽ có thêm một phân khúc mới hấp dẫn để người dân xem xét lựa chọn. Mặt khác, việc quy định sử dụng căn hộ có thời hạn sẽ đáp ứng được yêu cầu chỉnh trang bộ mặt đô thị khi chung cư hết tuổi thọ, cần phải tháo dỡ, đồng thời cũng sẽ giúp việc sửa chữa, xây mới các tòa chung cư thuận lợi hơn khi hết thời hạn. Ngoài ra, giải pháp này còn góp phần nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước, Nhà nước sẽ dễ dàng giải tỏa nhà chung cư mà không quá nặng nề khâu đền bù, giải phóng mặt bằng như hiện nay.

3. Định hướng hoàn thiện về xác định thời hạn sử dụng nhà chung cư

Có thể nói, hiện nay, vấn đề thời hạn sử dụng nhà chung cư đang chi phối lớn đến việc phá dỡ, cải tạo, xây dựng lại nhà chung cư. Hiện nay, trên cả nước có hơn 1.500 chung cư cũ xuống cấp cần cải tạo, sửa chữa hoặc xây mới đang gặp phải bế tắc do không đạt được sự đồng thuận giữa người dân với chủ đầu tư, chính quyền địa phương và một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên là do quy định thời hạn sử dụng nhà chung cư hiện nay còn dài. Chính điều này đã gây ảnh hưởng không nhỏ đến một số bộ phận cư dân đang sinh sống tại các khu chung cư xuống cấp bởi lúc nào họ cũng trong tình trạng lo âu vì không biết căn hộ của mình có thể bị sập bất cứ lúc nào. Thực tế, có những căn hộ được xây dựng từ thời điểm sau năm 2000 nhưng khi trải qua quá trình sử dụng đến nay đã ít nhiều xuống cấp nghiêm trọng, nhiều cư dân mong muốn được cải tạo, xây dựng mới, tuy nhiên vì vướng quy định về thời hạn sử dụng quá dài nên dẫn đến tình trạng không biết đến khi nào các tòa nhà chung cư mới hết hạn sử dụng để có thể được cải tạo hoặc xây dựng lại mới.

Trên thực tế, tâm lý người mua bất động sản luôn thích và chú trọng đến những sản phẩm sở hữu lâu dài nên những căn hộ được sử dụng lâu dài sẽ đắt hàng hơn so với những căn hộ có thời hạn sử dụng ngắn. Đơn cử như một số dự án có thời hạn 50 năm trên đường Phạm Hùng, chất lượng tốt, thiết kế đẹp chỉ có giá 25 triệu đồng/m2, nhưng bán hàng rất chậm, trong khi đó, cùng một vị trí nhưng dự án bên cạnh sở hữu lâu dài có giá lên tới 35-40 triệu đồng/m2[1]. Cách đây vài năm, Bộ Xây dựng từng đề xuất thời hạn sở hữu, sử dụng nhà chung cư chỉ nên là 50 - 70 năm, nhưng không nhận được sự ủng hộ của người dân. Nguyên nhân là người mua khi mua chung cư luôn muốn sở hữu, sử dụng vĩnh viễn như nhà đất chứ không muốn bị giới hạn về thời hạn sử dụng do lo sợ sẽ bị trắng tay sau khi hết thời gian sử dụng vì số tiền bỏ ra để mua có giá trị rất lớn.

Tuy nhiên, theo quan điểm của tác giả, nên xem xét lại quy định về thời hạn sử dụng nhà chung cư theo hướng giới hạn thời gian sử dụng tối đa trong vòng 50 năm đến 70 năm thay vì quy định mức thời hạn sử dụng như hiện nay. Điều này có vẻ đi ngược lại với lợi ích của đa số người dân, tuy nhiên cần phải nhìn nhận một thực tế rằng, nếu quy định thời hạn sử dụng nhà chung cư quá lâu như hiện nay sẽ dẫn đến tình trạng khó khăn trong vấn đề cải tạo, phá dỡ hoặc xây dựng mới nhà chung cư. Hơn nữa, trên thực tế hiện nay, đa phần các tòa chung cư sau khi đưa vào sử dụng một khoảng thời gian đã bắt đầu có dấu hiệu xuống cấp nghiêm trọng, đe dọa đến sự an toàn của các cư dân chứ không cần phải đợi đến hết thời hạn sử dụng. Vì vậy, để kịp thời phục vụ cho việc cải tạo, tháo dỡ, xây dựng mới lại các khu chung cư xuống cấp không còn đảm bảo an toàn thì nên quy định giới hạn lại thời hạn sử dụng nhà chung cư theo hướng tối đa là 50 năm đến 70 năm. Mức thời gian sử dụng từ 50 năm đến 70 năm là khoảng thời gian phù hợp để chấm dứt quyền sử dụng các căn hộ chung cư bởi lúc này chất lượng các căn hộ này đã xuống cấp. Hơn nữa, khi giới hạn lại thời hạn sử dụng nhà chung cư sẽ góp phần làm giảm mức giá bán ra thị trường của các căn hộ chung cư so với hiện nay bởi thời hạn sử dụng đã giảm xuống, điều này sẽ tạo điều kiện cho những người có thu nhập trung bình và thấp có thể tiếp cận được nhà ở. Như vậy, có thể thấy rằng, việc quy định thời hạn sử dụng nhà chung cư được giới hạn trong khoảng thời gian từ 50 năm đến 70 năm vừa giúp giá cả chung cư trở nên rẻ hơn vừa giúp cho hoạt động sửa chữa, xây dựng mới lại các tòa nhà chung cư khi hết thời hạn sử dụng được thuận lợi, nhanh chóng, đơn giản và hiệu quả. Như GS. Đặng Hùng Võ từng phân tích, chung cư cần thiết phải sở hữu, sử dụng có thời hạn, bởi việc xử lý các chung cư khi hết niên hạn sử dụng là vấn đề cực kỳ khó, do đó, khi sở hữu chung cư có thời hạn, lợi ích đầu tiên là việc cải tạo chung cư sẽ được giải quyết rất đơn giản bởi hết hạn người dân sẽ chuyển đi nơi khác[2]. Bên cạnh đó, việc quy định giới hạn thời hạn sử dụng nhà chung cư trong khoảng thời gian tối đa từ 50 năm đến 70 năm là hoàn toàn phù hợp với xu thế chung của các quốc gia trên thế giới. Hiện nay, có tới hơn 70 quốc gia trong 220 quốc gia trên thế giới quy định căn hộ để bán đều có thời hạn, không có loại hình nào sở hữu vĩnh viễn, đơn cử như ở Philippines, tất cả các dự án chỉ được sở hữu 50 năm hoặc ở Trung Quốc đối với căn hộ bán để ở chỉ được sở hữu tối đa 70 năm[3].

Xuất phát từ những phân tích trên, theo quan điểm của tác giả, việc giới hạn lại thời hạn sử dụng nhà chung cư theo hướng từ 50 năm đến 70 năm là phù hợp và cần thiết, bởi điều này suy cho cùng cũng chỉ để phục vụ và đảm bảo lợi ích về mức độ an toàn cho người dân. Theo đó, cần quy định thời hạn sử dụng đất chung cư và thời hạn sử dụng nhà chung cư là bằng nhau theo mức từ 50 năm đến 70 năm và khi chủ đầu tư bán nhà cho người mua cũng bán theo thời hạn đó, hết hạn người dân phải chuyển đi nơi khác ở. Thực hiện điều này không chỉ giúp giảm giá mua bán, tạo điều kiện thuận lợi cho việc cải tạo, phá dỡ, xây dựng lại nhà chung cư mà còn góp phần đưa nhà chung cư về đúng với bản chất của nhà chung cư. Ở nước ngoài, đa số nhà chung cư được xây chỉ là để cho thuê, nếu ai muốn sở hữu vĩnh viễn thì mua nhà đất. Tuy nhiên, hiện nay, nhu cầu nhà ở tại các đô thị lớn là rất cao, đặc biệt là tại Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh, vì vậy, Nhà nước cần phải xây dựng được các chính sách cụ thể và có cơ chế phù hợp để kiểm soát mức giá bán nhà chung cư trên thị trường sao cho phù hợp với chất lượng và thời hạn sử dụng thực tế để tránh tình trạng vì nhu cầu sở hữu nhà ở lớn nên các chủ đầu tư vẫn bán chung cư với giá rất cao nhưng chất lượng và thời gian sử dụng lại không tương xứng.

Hiện nay, vấn đề thời hạn sử dụng nhà chung cư là một vấn đề nhạy cảm và còn tồn tại nhiều quan điểm và cách nhìn khác nhau về vấn đề này. Tuy nhiên, dù ở khía cạnh nào thì Nhà nước cũng cần phải tiếp tục nghiên cứu, tính toán kỹ để xác định lại vấn đề thời hạn sử dụng nhà chung cư trên cơ sở đảm bảo hài hòa lợi ích của các chủ thể cũng như đáp ứng được các yêu cầu xã hội và quản lý, để từ đó góp phần vào việc hạn chế, khắc phục được các vấn đề bất cập như đã đánh giá.

ThS. Trần Linh Huân

Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh


[1] VTC News, “Sở hữu nhà chung cư có thời hạn nên hay không”, https://thongtinduan.vn/thi-truong-24h/3901-so-huu-nha-chung-cu-co-thoi-han-nen-hay-khong.html, truy cập ngày 01/11/2019.

[2] Thời báo kinh doanh, “Người dân vẫn ưu chuộng sở hữu bất động sản lâu dài”, http://danhkhoiinvest.com.vn/nguoi-dan-van-ua-chuong-bds-so-huu-lau-dai/.

[3] Tiền Phong, “Chung cư có thời hạn vắng bóng vì sao”, https://vietnamnet.vn/vn/kinh-doanh/dau-tu/chung-cu-co-thoi-han-vang-bong-vi-sao-565656.html.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chuyển đổi số trong hoạt động ngân hàng đã làm thay đổi căn bản phương thức xác lập và thực hiện các hợp đồng, giao dịch. Nhiều giao dịch được thực hiện hoàn toàn trên môi trường điện tử thông qua Internet Banking, Mobile Banking, eKYC, chữ ký điện tử, xác thực OTP và các hệ thống ngân hàng lõi (Core Banking). Khi phát sinh tranh chấp, chứng cứ không chỉ là hồ sơ giấy mà còn là dữ liệu điện tử được lưu giữ trên các hệ thống thông tin của ngân hàng và của khách hàng. Mặc dù Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015) và Luật Giao dịch điện tử năm 2023 đã thiết lập cơ sở pháp lý quan trọng cho việc thừa nhận dữ liệu điện tử là nguồn chứng cứ. Tuy nhiên, việc xác định giá trị chứng minh của loại chứng cứ này vẫn còn nhiều khoảng trống cần tiếp tục hoàn thiện.
Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Ngày 25/6/2025, Quốc hội khóa XV đã thông qua Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 (Luật số 89/2025/QH15) đánh dấu bước quan trọng trong tư duy lập pháp, quản lý của Nhà nước đối với hệ thống ngân sách nhà nước, đáp ứng yêu cầu tổ chức mô hình chính quyền địa phương hai cấp trên phạm vi toàn quốc. Bài viết đề cập nội dung của Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 gắn với việc tổ chức mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, làm rõ những kết quả từ việc sửa đổi Luật phù hợp với thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội, tổ chức bộ máy hành chính hiện nay.
THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

Trong cấu trúc an ninh phi truyền thống hiện đại, an ninh năng lượng đóng vai trò là “mạch máu” sống còn, quyết định sức bền kinh tế và vị thế quốc gia. Bước vào giai đoạn 2026 - 2030, trước yêu cầu bứt phá tăng trưởng GDP ở mức hai con số gắn liền với cam kết lịch sử phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050, Việt Nam đứng trước bài toán vừa bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng trước biến động địa chính trị toàn cầu, vừa chủ động chuyển dịch năng lượng xanh theo chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước.
Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp, cải cách thủ tục hành chính tiếp tục được đẩy mạnh gắn với chuyển đổi số, phân cấp, phân quyền và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Kết quả thực hiện trong tháng 8/2026 cho thấy nhiều chuyển biến tích cực, đồng thời đặt ra yêu cầu tiếp tục đồng bộ dữ liệu, hoàn thiện quy trình và nâng cao hiệu quả phối hợp trong cải cách thủ tục hành chính.
Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp về tình hình, kết quả cải cách thủ tục hành chính (TTHC) tháng 8 và nhiệm vụ trọng tâm tháng 9/2026, cải cách TTHC đang chuyển sang một giai đoạn mới, trong đó dữ liệu và công nghệ số ngày càng giữ vai trò quan trọng trong quản trị và tổ chức thực hiện. Việc khai thác, kết nối, chia sẻ dữ liệu để tái cấu trúc quy trình, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục đang từng bước làm thay đổi phương thức quản lý, hướng tới nền hành chính hiện đại, hiệu quả, phục vụ tốt hơn người dân và doanh nghiệp.
Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bài viết phân tích yêu cầu tái cấu trúc phương thức bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong điều kiện tiếp tục tinh gọn tổ chức bộ máy và đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia. Từ cách tiếp cận hệ thống, bài viết làm rõ sự dịch chuyển từ bảo vệ bằng tuyên truyền tuyến tính sang bảo vệ bằng năng lực thể chế hóa, năng lực quản trị và hiệu quả tổ chức thực hiện; đồng thời phân tích vai trò của Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 66-NQ/TW) và Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 57-NQ/TW) như hai trục lớn của quá trình tái cấu trúc này. Trên cơ sở đó, bài viết khảo sát thực tiễn thi hành án dân sự, qua đó cho thấy “gọn hơn về tổ chức, mạnh hơn về quản trị” không chỉ là yêu cầu cải cách hành chính, mà còn là một phương thức củng cố niềm tin của Nhân dân vào hệ thống chính trị.
THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả không chỉ là giảm bớt hóa đơn tiền điện, mà còn trở thành “chìa khóa” bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, bảo vệ môi trường và hướng tới tăng trưởng xanh. Đứng trước những biến động phức tạp của chuỗi cung ứng toàn cầu, sự ra đời của các văn bản chỉ đạo chiến lược như Chỉ thị số 09/CT-TTg, Chỉ thị số 10/CT-TTg và Công điện số 27/CĐ-TTg từ Chính phủ đang tạo ra những bước ngoặt lớn. Cuộc cách mạng này đòi hỏi sự đồng bộ từ hoàn thiện hành lang pháp lý, đổi mới công nghệ, đến sự thay đổi tư duy và hành động của mỗi người dân, doanh nghiệp.
“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 2)

“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 2)

Du lịch xanh, du lịch bền vững đã trở thành xu hướng phổ biến tại Việt Nam, nhưng để tiến tới mục tiêu "du lịch Net Zero", ngành Du lịch cần có nhiều thay đổi theo chiều sâu: từ việc xây dựng những sản phẩm xanh sang xây dựng những doanh nghiệp lữ hành thực sự bền vững. Đây là cả một quá trình bởi phát triển "du lịch Net Zero" không chỉ liên quan đến môi trường mà còn đòi hỏi sự thay đổi đồng bộ về mô hình kinh doanh, sản phẩm, công nghệ, nhân lực, quan hệ với cộng đồng và cách thức ứng xử với các giá trị văn hóa.
“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 1)

“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 1)

Du lịch Việt Nam đang đứng trước một giai đoạn phát triển mới, trong đó yêu cầu tăng trưởng không thể tách rời nhiệm vụ bảo tồn và phát huy những giá trị làm nên bản sắc dân tộc. Nếu thiên nhiên tạo nên diện mạo của đất nước thì văn hóa chính là chiều sâu, là ký ức, là “hồn cốt” để Việt Nam trở thành một điểm đến khác biệt trong mắt du khách trong nước và quốc tế. Bởi vậy, phát triển du lịch hôm nay không chỉ là câu chuyện về lượng khách, doanh thu hay số lượng cơ sở lưu trú, mà còn là câu chuyện về cách gìn giữ di sản, bảo vệ cảnh quan, duy trì lối sống cộng đồng và trao truyền những giá trị văn hóa Việt Nam cho các thế hệ mai sau. Trong câu chuyện đó, doanh nghiệp lữ hành đóng vai trò trung tâm, là “cầu nối” đưa văn hoá Việt Nam đến với du khách.
Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Trong bối cảnh tai nạn lao động vẫn diễn biến phức tạp, chuyển đổi số đang mở ra khả năng thay đổi căn bản phương thức quản trị an toàn, vệ sinh lao động (ATVSLĐ) tại doanh nghiệp. Từ số hóa hoạt động huấn luyện, cấp chứng nhận điện tử đến ứng dụng trí tuệ nhân tạo, cảm biến và robot để nhận diện, cảnh báo sớm nguy cơ, vấn đề đặt ra hiện nay là cần tiếp tục hoàn thiện hành lang pháp lý để chuyển từ quản lý mang tính thủ tục, hậu kiểm sang quản trị chủ động, lấy phòng ngừa rủi ro làm trọng tâm.
Đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

Đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

Với mục tiêu đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, thành phố Hà Nội đặt trọng tâm vào đổi mới nội dung, hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật, tăng cường ứng dụng công nghệ số và xây dựng đội ngũ làm công tác phổ biến, giáo dục pháp luật am hiểu địa bàn, phong tục, tập quán và văn hóa của người dân nơi đây.
Con người – “Chìa khóa” đánh thức nguồn lực phát triển văn hóa trong kỷ nguyên vươn mình

Con người – “Chìa khóa” đánh thức nguồn lực phát triển văn hóa trong kỷ nguyên vươn mình

Trong bước chuyển mình của đất nước bước vào kỷ nguyên mới, văn hóa đang được đặt ở vị trí ngày càng quan trọng trong chiến lược phát triển quốc gia. Cùng với đó, con người được xác định là trung tâm của sự nghiệp phát triển văn hóa khi vừa là chủ thể sáng tạo, gìn giữ, vừa là lực lượng trực tiếp biến những giá trị ấy thành nguồn lực phát triển cho đất nước.
Quan điểm, định hướng mới của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai

Quan điểm, định hướng mới của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai

Ngày 16/6/2022, Ban chấp hành trung ương Đảng khóa XIII ban hành Nghị quyết số 18-NQ/TW về "Tiếp tục đổi mới, hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý và sử dụng đất, tạo động lực đưa nước ta trở thành nước phát triển có thu nhập cao" (Nghị quyết số 18-NQ/TW). Để hiện thực hóa mục tiêu đưa đất nước trở thành nước phát triển có thu nhập cao, trong thời điểm hiện tại, nhằm phù hợp với sự phát triển chung của đất nước, Hội nghị lần thứ ba, Ban chấp hành trung ương Đảng khóa XIV đã đưa ra những quan điểm, định hướng sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan tại Nghị quyết số 21-NQ/TW ngày 28/7/2026 (Nghị quyết số 21-NQ/TW) làm kim chỉ nam cho mọi hoạt động sửa đổi chính sách pháp luật sau này. Nghị quyết số 21-NQ/TW đã thể hiện những điểm mới trong chủ trương của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan.
Luật Thủ đô năm 2026: Mở rộng cơ hội đầu tư cho nhiều dự án

Luật Thủ đô năm 2026: Mở rộng cơ hội đầu tư cho nhiều dự án

Luật Thủ đô năm 2026 được Quốc hội thông qua ngày 23/4/2026 và có hiệu lực từ ngày 01/7/2026, tiếp tục hoàn thiện các cơ chế, chính sách đặc thù nhằm xây dựng và phát triển Thủ đô. Đáng chú ý, tại Điều 26 của Luật đã thiết lập khung chính sách tương đối toàn diện về thu hút đầu tư, ưu đãi, hỗ trợ đầu tư và phát triển doanh nghiệp, mở rộng cơ hội cho nhiều dự án trên địa bàn Thành phố được tiếp cận các chính sách ưu đãi về đất đai, thuế, tín dụng, hạ tầng, phát triển nhân lực và đổi mới sáng tạo.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Tóm tắt: Trong bối cảnh hệ thống pháp luật ngày càng phức tạp và thường xuyên thay đổi, việc tiếp cận, hiểu và sử dụng pháp luật trở thành thách thức đối với người dân. Mô hình phổ biến, giáo dục pháp luật hiện nay chủ yếu tập trung vào truyền đạt văn bản, chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu hỗ trợ người dân sử dụng pháp luật trong thực tiễn. Trên cơ sở phân tích xu hướng quốc tế về tiếp cận công lý lấy người dân làm trung tâm và ứng dụng công nghệ số, nghiên cứu đề xuất chuyển từ mô hình “phổ biến pháp luật” sang “hạ tầng tuân thủ phòng ngừa”, gắn phổ biến pháp luật với nhu cầu thực tiễn, cảnh báo sớm rủi ro pháp lý và hỗ trợ tra cứu, sử dụng pháp luật hiệu quả trong môi trường số.

Theo dõi chúng tôi trên: