Thứ ba 26/05/2026 11:50
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Bàn về quyền thay đổi tên theo điểm a, g khoản 1 Điều 28 Bộ luật Dân sự năm 2015

Ngay từ khi sinh ra, con người đã được pháp luật công nhận những quyền cơ bản, trong đó có quyền có họ, tên. Một cá nhân sinh ra, muốn tồn tại và phát triển thì phải có những dấu hiệu cơ bản nhất để cá biệt hóa cá nhân

Ngay từ khi sinh ra, con người đã được pháp luật công nhận những quyền cơ bản, trong đó có quyền có họ, tên. Một cá nhân sinh ra, muốn tồn tại và phát triển thì phải có những dấu hiệu cơ bản nhất để cá biệt hóa cá nhân. Cá nhân phải tồn tại dưới một tên gọi nhất định và pháp luật phải công nhận cho họ có quyền có họ, tên. Một người có thể có nhiều tên gọi khác nhau như tên gọi ở nhà, tên gọi khi còn nhỏ, tên gọi ở chùa, nhà thờ... Tuy nhiên, chỉ có tên ghi nhận trong giấy khai sinh xác định là họ, tên mới có giá trị về mặt pháp lý.

Trên thực tế, vẫn còn những trường hợp một người tồn tại nhiều tên khác nhau trên các giấy tờ tùy thân. Ví dụ, khi làm giấy khai sinh, một người mang tên Nguyễn A, nhưng khi đi học, người này thấy tên của mình không đẹp so với những người khác nên tự ghi vào bản sao khai sinh thành Nguyễn Văn A. Từ đó, Nguyễn A đi học với cái tên Nguyễn Văn A. Hàng loạt bằng cấp đều mang tên Nguyễn Văn A nhưng trong bản gốc khai sinh và sổ hộ khẩu thì vẫn mang tên Nguyễn A. Nay, người đó muốn thay đổi thành Nguyễn Văn A cho phù hợp với bằng cấp. Hoặc có trường hợp khác, đó là trùng tên khai sinh với người trong họ hàng nhưng lúc đặt tên cha mẹ không để ý. Đến khi nhận ra đó là hai anh em có quan hệ họ hàng có tên trùng nhau nên một trong hai người họ muốn thay đổi thành tên khác để khi gọi tên không ảnh hưởng đến tình cảm gia đình theo phong tục. Trong phạm vi bài viết này, tác giả tập trung phân tích giới hạn của quyền thay đổi tên theo điểm a, g khoản 1 Điều 28 Bộ luật Dân sự năm 2015.

Theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 28 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì “1. Cá nhân có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhận việc thay đổi tên trong trường hợp sau đây: a. Theo yêu cầu của người có tên mà việc sử dụng tên đó gây nhầm lẫn, ảnh hưởng đến tình cảm gia đình, đến danh dự, quyền, lợi ích hợp pháp của người đó”.

Trước hết, theo điểm a khoản 1 Điều 28 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì giới hạn của việc thay đổi tên phải theo yêu cầu của người có tên mà việc sử dụng tên đó gây nhầm lẫn. Vậy, như thế nào được cho là gây nhầm lẫn, trong thực tế, việc đặt tên là do ý chí chủ quan của cha mẹ, ông bà, người thân thích nhưng khi lớn lên, có những trường hợp cá nhân đó cảm thấy không tự tin với tên của mình trong giao tiếp, muốn thay đổi tên của mình, chẳng hạn tên con trai nhưng tên giống với con gái, tên đệm không được “đẹp” cho lắm... Điều này đã làm cho họ cảm thấy mặc cảm với bản thân và xã hội, khiến họ luôn có cảm giác bị kỳ thị, xa lánh… gây ảnh hưởng xấu đến danh dự, tình cảm của họ. Tuy nhiên, khi làm thủ tục thay đổi đối với những trường hợp này, cơ quan có thẩm quyền ở mỗi địa phương có cách hiểu khác nhau, có nơi chấp nhận yêu cầu cho thay đổi tên, có nơi lại không chấp nhận.

Một vấn đề nữa, về tên “ảnh hưởng đến tình cảm gia đình” thì các văn bản pháp luật hiện hành cũng không quy định cụ thể trường hợp nào là ảnh hưởng đến tình cảm gia đình. Thực tiễn cho thấy, có nhiều trường hợp, việc đặt tên cho con của cha mẹ đã gây ảnh hưởng đến tình cảm gia đình, như trường hợp đặt trùng tên với ông bà, người trong họ, hay người yêu cũ...

Hiện nay, cơ quan có thẩm quyền thực hiện việc thay đổi tên cũng có hai quan điểm khác nhau:

(i) Quan điểm thứ nhất, theo hướng không chấp nhận việc thay đổi, vì cải chính ở trường hợp thứ nhất, thay đổi tên bản chất là việc hợp thức hóa bằng cấp. Việc cá nhân đó tự sửa thì họ tự chịu. Ở trường hợp thứ hai, cơ quan nhà nước không đồng ý vì lý do đưa ra trùng tên nhưng không thể chứng minh được có ảnh hưởng đến tình cảm gia đình hay không. Mặt khác, có họ hàng nhưng ở đời thứ 4, thứ 5 thì không ảnh hưởng đến tình cảm gia đình.

(ii) Quan điểm thứ hai, theo hướng có xem xét đến từng trường hợp cụ thể nhưng thiên về việc chấp nhận những lý do như vậy. Họ nhìn nhận việc áp dụng pháp luật theo hướng “mềm dẻo”, “linh hoạt” hơn. Ở trường hợp cá nhân đó tự sửa vào bản sao khai sinh để đi học, đúng là do lỗi của họ, nhưng do sự nhận thức pháp luật của họ hạn chế, chứ không phải vì mục đích nào khác. Mặt khác, giải quyết được tận gốc vấn đề, không để công dân phải mất thời gian, mất các cơ hội (việc làm, đi xuất cảnh...). Và xem xét đây là quyền của công dân trên cơ sở họ tự chứng minh lý do phải thay đổi và những lý do như trên cũng có thể chấp nhận được nhưng cũng không làm mất đi các nghĩa vụ của họ[1].

Về tên “ảnh hưởng đến danh dự, quyền, lợi ích hợp pháp của người đó” cần phải thay đổi. Thực tế, trong các trường hợp phân tích ở trên, người có tên đề nghị thay đổi, về mặt chủ quan họ đều cho rằng, tên gọi có ảnh hưởng đến danh dự, quyền, lợi ích hợp pháp của họ. Tuy nhiên, nghĩa vụ họ phải chứng minh ảnh hưởng như thế nào để cơ quan có thẩm quyền chấp nhận hay từ chối là việc rất quan trọng và mang tính chất cảm tính, không có quy chuẩn. Các văn bản dưới luật cũng không có quy định rõ ràng về vấn đề này nên cơ quan có thẩm quyền xem xét chấp nhận hay từ chối đều mang tính chủ quan.

Về thay đổi tên theo điểm g khoản 1 Điều 28 Bộ luật Dân sự năm 2015: “Trường hợp khác do pháp luật về hộ tịch quy định”. Hiện nay, Luật Hộ tịch năm 2014 và các nghị định, thông tư hướng dẫn chưa có quy định cụ thể trường hợp khác là trường hợp nào, do đó rất khó để áp dụng.

Từ thực trạng nêu trên, tác giả cho rằng, cần xây dựng một khái niệm hoàn chỉnh về quyền đối với họ tên, bởi vì từ khái niệm này sẽ giúp chúng ta biết được những đặc điểm pháp lý, bản chất của vấn đề. Việc đưa ra khái niệm quyền đối với họ tên là rất cần thiết để nắm bắt được những yếu tố pháp lý của quyền đối họ tên của cá nhân. Để từ đó, nâng cao hiệu quả trong việc áp dụng.

Việc thay đổi tên của cá nhân đã được Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định. Tuy nhiên, các văn bản hướng dẫn hầu như không có quy định nên thực tiễn áp dụng rất khó khăn, gây nhiều phiền hà cho người dân khi họ muốn thực hiện quyền thay đổi tên. Thiết nghĩ, khi một cá nhân muốn thay đổi tên khi họ tên đó gây ảnh hưởng, nhầm lẫn tới quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân mà đưa ra được lý do hợp lý thì cơ quan nhà nước có thẩm quyền cần tạo điều kiện hỗ trợ họ, tạo ra sự linh hoạt trong từng trường hợp cụ thể, không nhất thiết phải hiểu theo cách cứng nhắc, vì như vậy sẽ vô tình đẩy họ vào những tình thế khó khăn từ việc không được thay đổi tên mà pháp luật quy định là quyền của công dân chứ không phải nghĩa vụ của họ.

ThS. Nguyễn Quang Quý

Sở Tư pháp tỉnh Gia Lai


[1]Khoản 3 Điều 28 Bộ luật Dân sự năm 2015.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Công tác kiểm tra, giám sát Đảng ủy cấp xã tại Hà Nội hiện nay

Công tác kiểm tra, giám sát Đảng ủy cấp xã tại Hà Nội hiện nay

Đổi mới công tác kiểm tra, giám sát không chỉ dừng lại ở việc xử lý vi phạm mà cốt lõi là để cảnh báo, phòng ngừa và kiến tạo sự phát triển. Trước thực trạng 70% cán bộ kiểm tra cấp xã còn lúng túng về nghiệp vụ và áp lực từ việc thiếu vắng sự giám sát của Hội đồng nhân dân tại các xã, phường, Hà Nội đang nỗ lực tìm kiếm những mô hình mới như "giám sát dữ liệu số" hay cơ chế bảo vệ cán bộ "dám nói, dám làm". Đây chính là chìa khóa để bảo đảm bộ máy chính quyền Thủ đô vận hành liêm chính và hiệu quả sau khi tinh gọn.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định và tổ chức thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Kiến nghị hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định và tổ chức thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 là đạo luật quan trọng nhằm cụ thể hóa quyền tiếp cận thông tin của công dân theo Hiến pháp năm 2013[*], góp phần nâng cao tính công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Sau 08 năm thi hành, bên cạnh những kết quả đạt được, thực tiễn cho thấy còn bộc lộ một số hạn chế, bất cập trong quy định pháp luật và tổ chức thi hành, đặc biệt, liên quan đến phạm vi thông tin, trách nhiệm cung cấp thông tin, trình tự, thủ tục và điều kiện bảo đảm thực hiện quyền. Trên cơ sở nhận diện các vướng mắc, bất cập, nghiên cứu đề xuất định hướng sửa đổi, bổ sung Luật theo hướng bảo đảm tính đồng bộ với hệ thống pháp luật hiện hành, phù hợp với yêu cầu chuyển đổi số và tổ chức bộ máy nhà nước, đồng thời kiến nghị các giải pháp nâng cao hiệu quả tổ chức thi hành, qua đó góp phần bảo đảm tốt hơn quyền tiếp cận thông tin của công dân và xây dựng nền hành chính công khai, minh bạch.
Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018) sau hơn 08 năm thi hành đã bộc lộ nhiều bất cập trước sự vận động nhanh chóng của thực tiễn, đặc biệt là sự xuất hiện của các hình thức hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng và các quan hệ tôn giáo có yếu tố nước ngoài ngày càng phức tạp. Vì vậy, việc tăng cường quản lý nhà nước đối với các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng là yêu cầu cấp thiết không chỉ bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân mà còn nhằm giữ vững an ninh, trật tự xã hội và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới.
Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Thẩm quyền ban hành VBQPPL là nội dung trọng tâm nhằm bảo đảm mỗi loại VBQPPL được ban hành bởi đúng cơ quan, đúng cấp, vừa phù hợp với phạm vi pháp lý, vừa hạn chế rủi ro và xung đột giữa các văn bản.
Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Việc ban hành Luật Ban hành VBQPPL số 64/2025/QH15 được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 87/2025/QH15 và các nghị định hướng dẫn thi hành có ý nghĩa đặc biệt trong bối cảnh đổi mới tư duy xây dựng pháp luật, gắn kết chặt chẽ giữa xây dựng và thi hành pháp luật.
Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Bài viết phân tích quy trình xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ của Quốc hội và quy trình xây dựng chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội, từ đó, đưa ra một số lưu ý nhằm nâng cao hiệu quả việc thực hiện hai quy trình này.
Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Tóm tắt: Bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra góp phần bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp cần miễm trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra để bảo vệ lợi ích hợp pháp của các nhà sản xuất kinh doanh. Bài viết nghiên cứu những trường hợp miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023, đồng thời chỉ ra ưu, nhược điểm và hạn chế của Luật, từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Trong bối cảnh nhiều thách thức, đội ngũ luật sư với kiến thức chuyên môn và kỹ năng nghề nghiệp của mình, đóng vai trò then chốt trong việc nâng cao chất lượng, hiệu quả trợ giúp pháp lý.
Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Những năm qua, công tác trợ giúp pháp lý trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận. Nhiều vụ việc được trợ giúp pháp lý kịp thời, góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người nghèo, người có công với cách mạng và các nhóm yếu thế khác.
Ứng dụng công nghệ số, nền tảng trực tuyến, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động trợ giúp pháp lý

Ứng dụng công nghệ số, nền tảng trực tuyến, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động trợ giúp pháp lý

Những nỗ lực số hóa hồ sơ, vận hành Hệ thống quản lý trợ giúp pháp lý, kết nối dữ liệu dân cư, phát triển tư vấn trực tuyến… đã mở ra hướng tiếp cận mới, góp phần nâng cao chất lượng và tính minh bạch của dịch vụ trợ giúp pháp lý.
Tăng cường hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế trong tố tụng hình sự

Tăng cường hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế trong tố tụng hình sự

Trong tiến trình cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, việc bảo đảm quyền con người luôn là sợi chỉ đỏ xuyên suốt, đặc biệt, với đối tượng yếu thế, yêu cầu này càng trở nên cấp thiết và nhân văn. Trong tố tụng hình sự (TTHS), đối tượng yếu thế với tư cách bị hại, người làm chứng hay bị can, bị cáo, đã và đang phải đối mặt với hệ thống tư pháp hình sự. Đối tượng yếu thế có được tiếp cận công lý bình đẳng hay không phụ thuộc vào sự công tâm, chuyên nghiệp và nhạy cảm của các cơ quan trong hoạt động tố tụng, trong đó có vai trò của hoạt động trợ giúp pháp lý.
Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo trong bối cảnh mới

Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo trong bối cảnh mới

Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và thúc đẩy phát triển bền vững, hoạt động trợ giúp pháp lý đóng vai trò quan trọng trong việc bảo đảm công bằng xã hội và tiếp cận công lý cho người dân, đặc biệt là người nghèo thuộc nhóm đối tượng yếu thế.
Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Đây là giải pháp quan trọng nhằm khắc phục khó khăn, vướng mắc, nâng cao chất lượng tổ chức thi hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo.
Ưu điểm, hạn chế và một số vấn đề chính cần rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Ưu điểm, hạn chế và một số vấn đề chính cần rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 đã góp phần quan trọng trong việc bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của cá nhân, tổ chức, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đối với lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo. Tuy nhiên, thực tiễn triển khai Luật cũng bộc lộ những bất cập, hạn chế cần sửa đổi, hoàn thiện nhằm đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới.
Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là một trong những loại tội phạm có diễn biến ngày càng phức tạp, đa dạng và tinh vi. Phương thức thực hiện tội phạm không ngừng biến đổi, đặc biệt là việc sử dụng công nghệ cao để phạm tội, gây thiệt hại lớn đối với tài sản và tâm lý hoang mang cho người dân, ảnh hưởng đến trật tự, an toàn xã hội. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng các quy định của Bộ luật Hình sự về tội này vẫn còn tồn tại một số vướng mắc, bất cập từ chính quy định của pháp luật.

Theo dõi chúng tôi trên: