Thứ ba 25/08/2026 20:56
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Bàn về thẩm quyền xử lý vật chứng của các cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra trong vụ án hình sự

Bài viết này đề cập quy định pháp luật về thẩm quyền xử lý vật chứng của các cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra trong vụ án hình sự, trên cơ sở đó, phân tích những vướng mắc, bất cập và đưa ra một số kiến nghị liên quan.

1. Quy định pháp luật về thẩm quyền xử lý vật chứng của các cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra trong vụ án hình sự

Theo quy định tại khoản 1 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2021 (Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015) về việc xử lý vật chứng thì: “Việc xử lý vật chứng do Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra quyết định nếu vụ án được đình chỉ ở giai đoạn điều tra; do Viện kiểm sát quyết định nếu vụ án được đình chỉ ở giai đoạn truy tố; do Chánh án Tòa án quyết định nếu vụ án được đình chỉ ở giai đoạn chuẩn bị xét xử; do Hội đồng xét xử quyết định nếu vụ án đã đưa ra xét xử. Việc thi hành quyết định về xử lý vật chứng phải được ghi vào biên bản”. Như vậy, ngoài Cơ quan điều tra, các cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra cũng có thẩm quyền điều tra đối với vụ án hình sự, nội dung này được quy định tại Điều 10 Luật Tổ chức cơ quan điều tra hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2021: “Cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra khi thực hiện nhiệm vụ trong lĩnh vực quản lý của mình mà tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm hoặc phát hiện hành vi phạm tội đến mức phải truy cứu trách nhiệm hình sự thì tiến hành các hoạt động kiểm tra, xác minh và điều tra theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự và Luật này”. Phạm vi thẩm quyền điều tra vụ án hình sự của các cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra còn phụ thuộc vào tính chất, mức độ nghiêm trọng của vụ án theo quy định tại khoản 1 Điều 164 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015: “Đối với tội phạm ít nghiêm trọng trong trường hợp phạm tội quả tang, chứng cứ và lý lịch người phạm tội rõ ràng thì quyết định khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can, tiến hành điều tra và chuyển hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát có thẩm quyền trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày ra quyết định khởi tố vụ án hình sự. Đối với tội phạm nghiêm trọng, tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng hoặc tội phạm ít nghiêm trọng nhưng phức tạp thì quyết định khởi tố vụ án hình sự, tiến hành hoạt động điều tra ban đầu và chuyển hồ sơ vụ án cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày ra quyết định khởi tố vụ án hình sự”.

Như vậy, có thể thấy, các cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra có thẩm quyền điều tra vụ án hình sự và trong một số trường hợp luật định thì có thể kết luận điều tra. Trong các trường hợp này, để bảo đảm giải quyết đầy đủ, chính xác vụ án hình sự, các cơ quan này không chỉ phải thu giữ, tạm giữ và bảo quản vật chứng mà còn cần xem xét vấn đề xử lý vật chứng. Đây chính là cơ sở để quy định thẩm quyền xử lý vật chứng cho các cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 bổ sung thẩm quyền này tại khoản 1 Điều 106 là hoàn toàn hợp lý.

Theo đó, các cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra trong vụ án hình sự có thẩm quyền xử lý vật chứng trong hai trường hợp:

Trường hợp thứ nhất, khi vụ án được đình chỉ ở giai đoạn điều tra (khoản 1 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015).

Khi có các căn cứ theo Điều 230 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, các cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra có thể đình chỉ điều tra vụ án hình sự đã khởi tố. Khi đó, tất cả các hoạt động điều tra hay các hoạt động tố tụng khác sẽ được dừng lại. Các vật chứng theo đó cần phải được xử lý, bởi lẽ, việc tiếp tục thu giữ, bảo quản vật chứng là không còn cần thiết, ngoài ra, còn có thể gây ra các vấn đề như phát sinh chi phí thuê bến bãi, kho chứa hàng, kho lạnh bảo quản, vật chứng dễ hư hỏng, xuống cấp, hết thời hạn sử dụng, mất giá trị[1]... Trong trường hợp này, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra được quyền áp dụng tất cả các biện pháp xử lý vật chứng được quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, bao gồm: Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước; tịch thu, tiêu hủy; trả lại vật chứng cho chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp; bán; giao cho cơ quan quản lý chuyên ngành. Việc xử lý vật chứng phải được ghi rõ trong quyết định đình chỉ điều tra (khoản 2 Điều 230 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015) cũng như trong kết luận điều tra trong trường hợp đình chỉ điều tra vụ án hình sự (Điều 234 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015).

Trường hợp thứ hai, trong quá trình điều tra vụ án hình sự mà nhận thấy việc xử lý vật chứng là cần thiết và không gây ảnh hưởng đến quá trình giải quyết vụ án (khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015).

Trong trường hợp này, vụ án hình sự vẫn đang được tiếp tục điều tra, các hoạt động tố tụng vẫn được tiến hành các giai đoạn tiếp theo. Vì vậy, việc xử lý vật chứng là cần thiết, chủ yếu do tính chất đặc biệt của các loại vật chứng dẫn đến việc tiếp tục tạm giữ là không phù hợp, gây khó khăn cho công tác bảo quản cũng như ảnh hưởng đến quyền lợi hợp pháp của Nhà nước, tổ chức, cá nhân liên quan. Các cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra có thể ra quyết định xử lý vật chứng ngay khi đang điều tra với những loại vật sau: Tài sản đã thu giữ, tạm giữ nhưng không phải là vật chứng; vật chứng mà trả lại ngay cho chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp không ảnh hưởng đến việc xử lý vụ án và thi hành án; vật chứng thuộc loại mau hỏng, khó bảo quản; vật chứng là động vật hoang dã và thực vật ngoại lai. Việc tiến hành xử lý vật chứng này phải bảo đảm không gây ảnh hưởng đến quá trình giải quyết vụ án.

2. Một số vướng mắc, bất cập trong quy định pháp luật về thẩm quyền xử lý vật chứng của các cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra trong vụ án hình sự

Thứ nhất, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 đã quy định thẩm quyền xử lý vật chứng của các cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra tại Điều 106, tuy nhiên, lại không có quy định cụ thể về chủ thể có thẩm quyền ra quyết định xử lý vật chứng của các cơ quan này. Trong khi Điều 36 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quy định về thẩm quyền của Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra có đề cập đến thẩm quyền xử lý vật chứng, thì Điều 39 quy định về nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của cấp trưởng, cấp phó, cán bộ điều tra của các cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra lại không đề cập đến thẩm quyền này[2]. Đây chính là một thiếu sót dẫn đến thiếu căn cứ pháp lý cho các cơ quan này trong việc áp dụng trên thực tế.

Thứ hai, như đã trình bày ở trên, các cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra có thẩm quyền xử lý vật chứng khi đình chỉ điều tra vụ án hình sự. Tại điểm g khoản 2 Điều 39 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quy định nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của cấp trưởng, cấp phó, cán bộ điều tra của các cơ quan của Bộ đội biên phòng, Hải quan, Kiểm lâm, lực lượng Cảnh sát biển, Kiểm ngư được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra đã đề cập đến thẩm quyền ra quyết định đình chỉ điều tra. Tuy nhiên, Điều 230 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quy định về “đình chỉ điều tra” thì lại chỉ đưa ra một chủ thể là Cơ quan điều tra mà không đề cập đến các cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra. Đây cũng là một điểm chưa thống nhất ngay trong chính các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, gây vướng mắc trong việc áp dụng trên thực tiễn.

Thứ ba, theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, các cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra chỉ có thẩm quyền xử lý vật chứng khi đình chỉ điều tra hoặc đang trong giai đoạn điều tra mà xét thấy cần thiết và không ảnh hưởng đến các quá trình tố tụng tiếp theo. Theo đó, các cơ quan này chưa được giao thẩm quyền xử lý đồ vật, tài liệu trong giai đoạn đầu tiên của quá trình tố tụng - là giai đoạn giải quyết các nguồn tin về tội phạm. Trong giai đoạn này, các cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra cũng phải tiến hành các biện pháp theo quy định của pháp luật để thu thập các tài liệu, đồ vật, chứng cứ nhằm xác định có hay không có dấu hiệu của tội phạm. Tuy chưa có quyết định khởi tố vụ án nhưng trong nhiều trường hợp, do tính chất của vật chứng, chẳng hạn như, vật chứng là tài sản mau hỏng, khó bảo quản, đòi hỏi phải nhanh chóng xử lý những đồ vật, tài sản đã thu giữ ngay trong quá trình xác minh, giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm, kiến nghị khởi tố. Vì vậy, do chưa có quy định cụ thể nên việc xử lý vật chứng trong giai đoạn giải quyết các nguồn tin về tội phạm của các cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra còn lúng túng, thiếu thống nhất[3]. Nhiều cơ quan có quan điểm là chờ đến khi có quyết định khởi tố vụ án hình sự hoặc khi đưa vụ án ra xét xử thì các cơ quan tiến hành tố tụng ở các giai đoạn tiếp theo sẽ xử lý vật chứng nhưng điều này có thể dẫn đến tình trạng hư hỏng, hao hụt vật chứng hoặc quá tốn kém chi phí bảo quản và như vậy, đi ngược lại với yêu cầu bảo đảm đầy đủ quyền lợi hợp pháp của Nhà nước, tổ chức, cá nhân trong xử lý vật chứng.

Thứ tư, đối với vật chứng thuộc loại mau hỏng hoặc khó bảo quản thì Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 mới chỉ quy định xử lý bằng cách “bán theo quy định của pháp luật; trường hợp không bán được thì tiêu hủy”, quy định này chưa nhấn mạnh đến yếu tố cần phải xử lý “ngay” những loại vật chứng này vì tính chất đặc biệt của chúng. Ngoài ra, quy định này cũng không nhắc đến vấn đề giám định vật chứng mau hỏng, khó bảo quản, việc này có thể ảnh hưởng đến quá trình giải quyết, xét xử vụ án sau đó.

3. Một số kiến nghị

Thứ nhất, theo tác giả, cần nghiên cứu bổ sung nội dung quy định về việc xử lý vật chứng trong giai đoạn khởi tố vụ án hình sự và quy định tiến hành trưng cầu giám định, định giá tài sản như một phần của quá trình xử lý vật chứng. Có như vậy, các cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra mới bảo đảm thu thập được hết các thông tin có giá trị của vật chứng, tránh trường hợp trong các giai đoạn tố tụng tiếp theo các cơ quan tiến hành tố tụng khác yêu cầu thêm thông tin về các tài sản này.

Bên cạnh đó, bổ sung quy định về điều kiện và tính kịp thời trong việc áp dụng hình thức xử lý vật chứng mau hỏng, khó bảo quản bằng biện pháp bán tài sản; bổ sung cụm từ “ngay sau khi có kết luận giám định” vào quy định về vật chứng mau hỏng, khó bảo quản. Việc quy định việc xử lý vật chứng thuộc loại mau hỏng hoặc khó bảo quản có thể tham khảo quy định đối với vật chứng là động vật hoang dã và thực vật ngoại lai. Cụ thể, tác giả kiến nghị sửa đổi, bổ sung khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 như sau: “3. Trong quá trình giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm, kiến nghị khởi tố, quá trình điều tra, truy tố, xét xử, cơ quan, người có thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều này có quyền:... c) Vật chứng thuộc loại mau hỏng hoặc khó bảo quản thì ngay sau khi có kết luận giám định có thể được bán theo quy định của pháp luật; trường hợp không bán được thì tiêu hủy...”.

Ngoài ra, với đặc thù của các cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra là chỉ tham gia vào giai đoạn khởi tố, điều tra vụ án, nên để việc xử lý vật chứng không ảnh hưởng đến các giai đoạn tố tụng tiếp theo thì cần có sự thống nhất về quan điểm xử lý với các cơ quan tố tụng khác như Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án. Trước khi xử lý, các cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra cần tổ chức họp liên ngành với các cơ quan trên, thống nhất quan điểm xử lý vật chứng, lập biên bản cuộc họp đưa vào hồ sơ vụ án. Việc xử lý vật chứng trong trường hợp này phải được ghi nhận trong kết luận điều tra theo quy định tại Điều 233 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Thứ hai, để bảo đảm tính thống nhất giữa các quy định của pháp luật, tác giả kiến nghị sửa đổi Điều 39 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 theo hướng, bổ sung thẩm quyền xử lý vật chứng của cấp trưởng, cấp phó, cán bộ điều tra của các cơ quan của Bộ đội biên phòng, Hải quan, Kiểm lâm, Kiểm ngư được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra. Cụ thể, tác giả kiến nghị sửa đổi điểm d khoản 2 Điều 39 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 như sau: “d) Quyết định trưng cầu giám định, yêu cầu định giá tài sản; quyết định khám xét, thu giữ, tạm giữ và bảo quản vật chứng, tài liệu liên quan trực tiếp đến vụ án; xử lý vật chứng”.

Thứ ba, bổ sung chủ thể “cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra” vào các chủ thể có thẩm quyền đình chỉ điều tra quy định tại Điều 230 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 để tạo sự thống nhất, bảo đảm hiệu quả thực thi các quy định của pháp luật. Cụ thể, tác giả kiến nghị sửa đổi khoản 1 Điều 230 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 như sau: “1. Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra ra quyết định đình chỉ điều tra khi thuộc một trong các trường hợp:...”.

Thứ tư, một trong những nguyên nhân cơ bản dẫn đến những khó khăn, vướng mắc và sự thiếu thống nhất trong thực tế xử lý vật chứng của các cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra là do thiếu những hướng dẫn cụ thể từ các quy định của pháp luật. Do đó, tác giả kiến nghị, các cơ quan có liên quan như Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao sớm ban hành một thông tư liên tịch nhằm hướng dẫn chi tiết về một số trường hợp mang tính điển hình cũng như những trường hợp đặc biệt liên quan đến xử lý vật chứng và thủ tục cụ thể cho từng trường hợp (ví dụ như, quy định cụ thể người có thẩm quyền ra quyết định xử lý vật chứng tại các cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra…). Sau khi có thông tư liên tịch hướng dẫn, từng lực lượng Bộ đội biên phòng, lực lượng Cảnh sát biển, Hải quan, Kiểm lâm, Kiểm ngư sẽ căn cứ vào các nội dung có liên quan đến lực lượng mình để xây dựng, ban hành một quy chế, quy trình xử lý vật chứng để triển khai thực hiện thống nhất trong từng lực lượng./.

Trần Ngọc Hải

Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh

[1]. Phạm Minh Tuyên (2020), “Giám định, xử lý vật chứng, định giá động vật hoang dã, động vật nguy cấp quý hiếm trong tố tụng hình sự - Vướng mắc và kiến nghị hoàn thiện”, Tạp chí Tòa án nhân dân điện tử, https://tapchitoaan.vn/public/index.php/giam-dinh-xu-ly-vat-chung-dinh-gia-dong-vat-hoang-da-dong-vat-nguy-cap-quy-hiem-trong-to-tung-hinh-su-vuong-mac-va-kien-nghi-hoan-thien, truy cập ngày 07/6/2024.

[2]. Nguyễn Thanh Hằng (2022), Xử lý vật chứng theo Luật Tố tụng hình sự Việt Nam, Luận văn Thạc sỹ Luật học, Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh, tr. 60.

[3]. Vũ Thị Quyên (2023), Xử lý vật chứng theo Luật Tố tụng hình sự Việt Nam, Đề tài Khoa học và Công nghệ cấp trường, Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh, tr. 81.

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 1 (Số 408), tháng 7/2024)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Trong bối cảnh tai nạn lao động vẫn diễn biến phức tạp, chuyển đổi số đang mở ra khả năng thay đổi căn bản phương thức quản trị an toàn, vệ sinh lao động (ATVSLĐ) tại doanh nghiệp. Từ số hóa hoạt động huấn luyện, cấp chứng nhận điện tử đến ứng dụng trí tuệ nhân tạo, cảm biến và robot để nhận diện, cảnh báo sớm nguy cơ, vấn đề đặt ra hiện nay là cần tiếp tục hoàn thiện hành lang pháp lý để chuyển từ quản lý mang tính thủ tục, hậu kiểm sang quản trị chủ động, lấy phòng ngừa rủi ro làm trọng tâm.
Đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

Đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

Với mục tiêu đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, thành phố Hà Nội đặt trọng tâm vào đổi mới nội dung, hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật, tăng cường ứng dụng công nghệ số và xây dựng đội ngũ làm công tác phổ biến, giáo dục pháp luật am hiểu địa bàn, phong tục, tập quán và văn hóa của người dân nơi đây.
Quan điểm, định hướng mới của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai

Quan điểm, định hướng mới của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai

Ngày 16/6/2022, Ban chấp hành trung ương Đảng khóa XIII ban hành Nghị quyết số 18-NQ/TW về "Tiếp tục đổi mới, hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý và sử dụng đất, tạo động lực đưa nước ta trở thành nước phát triển có thu nhập cao" (Nghị quyết số 18-NQ/TW). Để hiện thực hóa mục tiêu đưa đất nước trở thành nước phát triển có thu nhập cao, trong thời điểm hiện tại, nhằm phù hợp với sự phát triển chung của đất nước, Hội nghị lần thứ ba, Ban chấp hành trung ương Đảng khóa XIV đã đưa ra những quan điểm, định hướng sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan tại Nghị quyết số 21-NQ/TW ngày 28/7/2026 (Nghị quyết số 21-NQ/TW) làm kim chỉ nam cho mọi hoạt động sửa đổi chính sách pháp luật sau này. Nghị quyết số 21-NQ/TW đã thể hiện những điểm mới trong chủ trương của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan.
Luật Thủ đô năm 2026: Mở rộng cơ hội đầu tư cho nhiều dự án

Luật Thủ đô năm 2026: Mở rộng cơ hội đầu tư cho nhiều dự án

Luật Thủ đô năm 2026 được Quốc hội thông qua ngày 23/4/2026 và có hiệu lực từ ngày 01/7/2026, tiếp tục hoàn thiện các cơ chế, chính sách đặc thù nhằm xây dựng và phát triển Thủ đô. Đáng chú ý, tại Điều 26 của Luật đã thiết lập khung chính sách tương đối toàn diện về thu hút đầu tư, ưu đãi, hỗ trợ đầu tư và phát triển doanh nghiệp, mở rộng cơ hội cho nhiều dự án trên địa bàn Thành phố được tiếp cận các chính sách ưu đãi về đất đai, thuế, tín dụng, hạ tầng, phát triển nhân lực và đổi mới sáng tạo.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Tóm tắt: Trong bối cảnh hệ thống pháp luật ngày càng phức tạp và thường xuyên thay đổi, việc tiếp cận, hiểu và sử dụng pháp luật trở thành thách thức đối với người dân. Mô hình phổ biến, giáo dục pháp luật hiện nay chủ yếu tập trung vào truyền đạt văn bản, chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu hỗ trợ người dân sử dụng pháp luật trong thực tiễn. Trên cơ sở phân tích xu hướng quốc tế về tiếp cận công lý lấy người dân làm trung tâm và ứng dụng công nghệ số, nghiên cứu đề xuất chuyển từ mô hình “phổ biến pháp luật” sang “hạ tầng tuân thủ phòng ngừa”, gắn phổ biến pháp luật với nhu cầu thực tiễn, cảnh báo sớm rủi ro pháp lý và hỗ trợ tra cứu, sử dụng pháp luật hiệu quả trong môi trường số.
Nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng cho người gửi tiền ở Việt Nam

Nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng cho người gửi tiền ở Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh ngân hàng số phát triển, thông tin chưa được kiểm chứng có thể tác động nhanh đến tâm lý và hành vi của người gửi tiền. Nghiên cứu phân tích quy định pháp luật và thực tiễn phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cho thấy, hoạt động này chưa chú trọng đầy đủ đến mức độ hiểu và khả năng vận dụng pháp luật của người gửi tiền; nội dung còn thiên về tính chuyên môn; phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật và cơ chế cung cấp thông tin kịp thời còn hạn chế. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá, tích hợp thông tin pháp luật ngắn gọn vào dịch vụ ngân hàng số và tăng cường cung cấp thông tin chính thức, kịp thời nhằm bảo vệ người gửi tiền và củng cố niềm tin vào hệ thống ngân hàng.
Phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Tóm tắt: Quyền con người phản ánh sự kết tinh những giá trị nhân phẩm cao quý của nhân loại. Nghiên cứu công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người là phân tích, đánh giá phương thức thể chế hóa các chủ trương của Đảng về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đồng thời, đề xuất giải pháp khắc phục những hạn chế của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 trước thách thức mới từ công nghệ số. Trên cơ sở tổng hợp và so sánh luật học, nghiên cứu phân tích, đánh giá vai trò của công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người và thực trạng thi hành Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012. Đồng thời, nghiên cứu đánh giá tính phù hợp, khả thi của dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)* (dự thảo Luật). Từ đó, kiến nghị và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Luật Phòng, chống ma túy năm 2021 quy định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi nghiện ma túy mà không tự nguyện cai nghiện. Mặc dù không được xem là biện pháp xử lý hành chính nhưng biện pháp này mang tính cách ly người bị áp dụng khỏi cộng đồng. Để bảo vệ quyền của người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi, pháp luật cho phép các chủ thể liên quan khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành chưa quy định quyền khởi kiện hay kháng cáo đối với quyết định này. Nghiên cứu phân tích bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi, đồng thời, đề xuất giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật nhằm bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người bị áp dụng biện pháp này.
Nâng cao trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Nâng cao trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã xác định rõ trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật. Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, cải cách tư pháp và chuyển đổi số quốc gia, vai trò này ngày càng trở nên quan trọng. Nghiên cứu phân tích cơ sở chính trị, pháp lý, thực trạng quy định pháp luật và thực tiễn triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật của Tòa án nhân dân; trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện hoạt động này trong hệ thống Tòa án nhân dân.
Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Sự phát triển của nền tảng số, mạng xã hội và trí tuệ nhân tạo tạo sinh đang làm thay đổi phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật, đồng thời, đặt ra nhiều thách thức trong kiểm soát thông tin pháp luật trên môi trường số. Bên cạnh việc mở rộng khả năng tiếp cận pháp luật của người dân, tình trạng lan truyền thông tin pháp luật sai lệch, thiếu kiểm chứng hoặc được tạo sinh bởi hệ thống trí tuệ nhân tạo đang ảnh hưởng đến hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật và quyền tiếp cận thông tin pháp luật chính xác. Trên cơ sở phân tích các vấn đề lý luận, đánh giá thực trạng quy định và thực tiễn áp dụng pháp luật tại Việt Nam, nghiên cứu phân tích bất cập trong kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số và đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả quản lý và bảo đảm chính xác của thông tin pháp luật trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật.
Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 7/2026

Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 7/2026

(Cập nhật bởi LuatVietnam.vn)
Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam[1]

Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam[1]

Tóm tắt: Mô hình chính quyền địa phương hai cấp được triển khai ở Việt Nam từ ngày 01/7/2025 đánh dấu bước chuyển quan trọng trong quá trình đổi mới tổ chức bộ máy nhà nước theo hướng tinh, gọn, tăng cường phân quyền, phân cấp và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị địa phương. Nghiên cứu phân tích các cơ hội và thách thức trong quá trình triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam, làm rõ những vấn đề đặt ra trong hoàn thiện thể chế, bảo đảm nguồn lực và nâng cao năng lực quản trị địa phương, từ đó, đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam thời gian tới.
Một số bất cập của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 và kiến nghị hoàn thiện

Một số bất cập của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Sau hơn 13 năm thi hành, Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng trong triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, góp phần nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ và Nhân dân. Tuy nhiên, trước yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, chuyển đổi số và hoàn thiện thể chế theo chủ trương, định hướng của Đảng, nhiều quy định của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 bộc lộ những hạn chế, bất cập. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, tổng kết thực tiễn thi hành và bối cảnh phát triển đất nước giai đoạn mới, nghiên cứu làm rõ những bất cập về tổ chức thực hiện công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên pháp luật, đối tượng đặc thù, nội dung, hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật và sự không thống nhất của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 với một số luật liên quan. Từ đó, kiến nghị sửa đổi, bổ sung nhằm hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật và nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong bối cảnh hiện nay.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật - Yêu cầu chuyển từ phổ biến, giáo dục pháp luật hình thức sang tiếp cận dựa trên nhu cầu của người dân

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật - Yêu cầu chuyển từ phổ biến, giáo dục pháp luật hình thức sang tiếp cận dựa trên nhu cầu của người dân

Tóm tắt: Việc sửa đổi Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 là cấp thiết trước yêu cầu khắc phục tình trạng tuyên truyền thiên về hình thức, chưa gắn chặt với những vấn đề pháp lý mà người dân thực sự cần được hỗ trợ. Nghiên cứu phân tích khoảng cách giữa nguyên tắc phù hợp với nhu cầu và cơ chế nhận diện, phản ánh, đáp ứng, đo lường nhu cầu pháp lý trong dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật[1] (dự thảo Luật). Trên cơ sở phân tích quy phạm, bình luận chính sách và tiếp cận liên ngành về nhu cầu pháp lý, năng lực pháp lý, tiếp cận công lý, nghiên cứu tập trung vào các quy định về nguyên tắc, nội dung, hình thức, hướng dẫn và giải đáp pháp luật, đối tượng đặc thù, giáo dục pháp luật trong cơ sở giáo dục, trách nhiệm tổ chức thực hiện, cơ chế cấp xã, chuyển đổi số và đánh giá hiệu quả. Kết quả nghiên cứu cho thấy, dự thảo Luật đã có nhiều định hướng tích cực nhưng thiếu cơ chế khảo sát nhu cầu, thiết kế nội dung theo tình huống, chuyển tuyến hỗ trợ pháp lý và đánh giá khả năng hiểu, vận dụng pháp luật. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện các cơ chế bảo đảm cách tiếp cận lấy nhu cầu pháp lý của người dân làm trung tâm.
Chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên ở Việt Nam

Chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên ở Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển nhanh, mạnh mẽ của không gian mạng đang tác động sâu sắc đến đời sống xã hội, đồng thời, đặt ra nhiều rủi ro đối với người chưa thành niên. Trong bối cảnh đó, chuyển đổi số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật trở thành yêu cầu cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả tiếp cận pháp luật cho nhóm đối tượng này. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết của chuyển đổi số trong phổ biến, giáo dục pháp luật đối với người chưa thành niên; đánh giá thực trạng triển khai tại Việt Nam, chỉ ra những hạn chế, bất cập, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên.

Theo dõi chúng tôi trên: