Thứ sáu 01/05/2026 21:28
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Bàn về thẩm quyền xử lý vật chứng của các cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra trong vụ án hình sự

Bài viết này đề cập quy định pháp luật về thẩm quyền xử lý vật chứng của các cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra trong vụ án hình sự, trên cơ sở đó, phân tích những vướng mắc, bất cập và đưa ra một số kiến nghị liên quan.

1. Quy định pháp luật về thẩm quyền xử lý vật chứng của các cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra trong vụ án hình sự

Theo quy định tại khoản 1 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2021 (Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015) về việc xử lý vật chứng thì: “Việc xử lý vật chứng do Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra quyết định nếu vụ án được đình chỉ ở giai đoạn điều tra; do Viện kiểm sát quyết định nếu vụ án được đình chỉ ở giai đoạn truy tố; do Chánh án Tòa án quyết định nếu vụ án được đình chỉ ở giai đoạn chuẩn bị xét xử; do Hội đồng xét xử quyết định nếu vụ án đã đưa ra xét xử. Việc thi hành quyết định về xử lý vật chứng phải được ghi vào biên bản”. Như vậy, ngoài Cơ quan điều tra, các cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra cũng có thẩm quyền điều tra đối với vụ án hình sự, nội dung này được quy định tại Điều 10 Luật Tổ chức cơ quan điều tra hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2021: “Cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra khi thực hiện nhiệm vụ trong lĩnh vực quản lý của mình mà tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm hoặc phát hiện hành vi phạm tội đến mức phải truy cứu trách nhiệm hình sự thì tiến hành các hoạt động kiểm tra, xác minh và điều tra theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự và Luật này”. Phạm vi thẩm quyền điều tra vụ án hình sự của các cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra còn phụ thuộc vào tính chất, mức độ nghiêm trọng của vụ án theo quy định tại khoản 1 Điều 164 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015: “Đối với tội phạm ít nghiêm trọng trong trường hợp phạm tội quả tang, chứng cứ và lý lịch người phạm tội rõ ràng thì quyết định khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can, tiến hành điều tra và chuyển hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát có thẩm quyền trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày ra quyết định khởi tố vụ án hình sự. Đối với tội phạm nghiêm trọng, tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng hoặc tội phạm ít nghiêm trọng nhưng phức tạp thì quyết định khởi tố vụ án hình sự, tiến hành hoạt động điều tra ban đầu và chuyển hồ sơ vụ án cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày ra quyết định khởi tố vụ án hình sự”.

Như vậy, có thể thấy, các cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra có thẩm quyền điều tra vụ án hình sự và trong một số trường hợp luật định thì có thể kết luận điều tra. Trong các trường hợp này, để bảo đảm giải quyết đầy đủ, chính xác vụ án hình sự, các cơ quan này không chỉ phải thu giữ, tạm giữ và bảo quản vật chứng mà còn cần xem xét vấn đề xử lý vật chứng. Đây chính là cơ sở để quy định thẩm quyền xử lý vật chứng cho các cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 bổ sung thẩm quyền này tại khoản 1 Điều 106 là hoàn toàn hợp lý.

Theo đó, các cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra trong vụ án hình sự có thẩm quyền xử lý vật chứng trong hai trường hợp:

Trường hợp thứ nhất, khi vụ án được đình chỉ ở giai đoạn điều tra (khoản 1 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015).

Khi có các căn cứ theo Điều 230 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, các cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra có thể đình chỉ điều tra vụ án hình sự đã khởi tố. Khi đó, tất cả các hoạt động điều tra hay các hoạt động tố tụng khác sẽ được dừng lại. Các vật chứng theo đó cần phải được xử lý, bởi lẽ, việc tiếp tục thu giữ, bảo quản vật chứng là không còn cần thiết, ngoài ra, còn có thể gây ra các vấn đề như phát sinh chi phí thuê bến bãi, kho chứa hàng, kho lạnh bảo quản, vật chứng dễ hư hỏng, xuống cấp, hết thời hạn sử dụng, mất giá trị[1]... Trong trường hợp này, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra được quyền áp dụng tất cả các biện pháp xử lý vật chứng được quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, bao gồm: Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước; tịch thu, tiêu hủy; trả lại vật chứng cho chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp; bán; giao cho cơ quan quản lý chuyên ngành. Việc xử lý vật chứng phải được ghi rõ trong quyết định đình chỉ điều tra (khoản 2 Điều 230 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015) cũng như trong kết luận điều tra trong trường hợp đình chỉ điều tra vụ án hình sự (Điều 234 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015).

Trường hợp thứ hai, trong quá trình điều tra vụ án hình sự mà nhận thấy việc xử lý vật chứng là cần thiết và không gây ảnh hưởng đến quá trình giải quyết vụ án (khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015).

Trong trường hợp này, vụ án hình sự vẫn đang được tiếp tục điều tra, các hoạt động tố tụng vẫn được tiến hành các giai đoạn tiếp theo. Vì vậy, việc xử lý vật chứng là cần thiết, chủ yếu do tính chất đặc biệt của các loại vật chứng dẫn đến việc tiếp tục tạm giữ là không phù hợp, gây khó khăn cho công tác bảo quản cũng như ảnh hưởng đến quyền lợi hợp pháp của Nhà nước, tổ chức, cá nhân liên quan. Các cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra có thể ra quyết định xử lý vật chứng ngay khi đang điều tra với những loại vật sau: Tài sản đã thu giữ, tạm giữ nhưng không phải là vật chứng; vật chứng mà trả lại ngay cho chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp không ảnh hưởng đến việc xử lý vụ án và thi hành án; vật chứng thuộc loại mau hỏng, khó bảo quản; vật chứng là động vật hoang dã và thực vật ngoại lai. Việc tiến hành xử lý vật chứng này phải bảo đảm không gây ảnh hưởng đến quá trình giải quyết vụ án.

2. Một số vướng mắc, bất cập trong quy định pháp luật về thẩm quyền xử lý vật chứng của các cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra trong vụ án hình sự

Thứ nhất, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 đã quy định thẩm quyền xử lý vật chứng của các cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra tại Điều 106, tuy nhiên, lại không có quy định cụ thể về chủ thể có thẩm quyền ra quyết định xử lý vật chứng của các cơ quan này. Trong khi Điều 36 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quy định về thẩm quyền của Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra có đề cập đến thẩm quyền xử lý vật chứng, thì Điều 39 quy định về nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của cấp trưởng, cấp phó, cán bộ điều tra của các cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra lại không đề cập đến thẩm quyền này[2]. Đây chính là một thiếu sót dẫn đến thiếu căn cứ pháp lý cho các cơ quan này trong việc áp dụng trên thực tế.

Thứ hai, như đã trình bày ở trên, các cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra có thẩm quyền xử lý vật chứng khi đình chỉ điều tra vụ án hình sự. Tại điểm g khoản 2 Điều 39 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quy định nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của cấp trưởng, cấp phó, cán bộ điều tra của các cơ quan của Bộ đội biên phòng, Hải quan, Kiểm lâm, lực lượng Cảnh sát biển, Kiểm ngư được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra đã đề cập đến thẩm quyền ra quyết định đình chỉ điều tra. Tuy nhiên, Điều 230 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quy định về “đình chỉ điều tra” thì lại chỉ đưa ra một chủ thể là Cơ quan điều tra mà không đề cập đến các cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra. Đây cũng là một điểm chưa thống nhất ngay trong chính các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, gây vướng mắc trong việc áp dụng trên thực tiễn.

Thứ ba, theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, các cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra chỉ có thẩm quyền xử lý vật chứng khi đình chỉ điều tra hoặc đang trong giai đoạn điều tra mà xét thấy cần thiết và không ảnh hưởng đến các quá trình tố tụng tiếp theo. Theo đó, các cơ quan này chưa được giao thẩm quyền xử lý đồ vật, tài liệu trong giai đoạn đầu tiên của quá trình tố tụng - là giai đoạn giải quyết các nguồn tin về tội phạm. Trong giai đoạn này, các cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra cũng phải tiến hành các biện pháp theo quy định của pháp luật để thu thập các tài liệu, đồ vật, chứng cứ nhằm xác định có hay không có dấu hiệu của tội phạm. Tuy chưa có quyết định khởi tố vụ án nhưng trong nhiều trường hợp, do tính chất của vật chứng, chẳng hạn như, vật chứng là tài sản mau hỏng, khó bảo quản, đòi hỏi phải nhanh chóng xử lý những đồ vật, tài sản đã thu giữ ngay trong quá trình xác minh, giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm, kiến nghị khởi tố. Vì vậy, do chưa có quy định cụ thể nên việc xử lý vật chứng trong giai đoạn giải quyết các nguồn tin về tội phạm của các cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra còn lúng túng, thiếu thống nhất[3]. Nhiều cơ quan có quan điểm là chờ đến khi có quyết định khởi tố vụ án hình sự hoặc khi đưa vụ án ra xét xử thì các cơ quan tiến hành tố tụng ở các giai đoạn tiếp theo sẽ xử lý vật chứng nhưng điều này có thể dẫn đến tình trạng hư hỏng, hao hụt vật chứng hoặc quá tốn kém chi phí bảo quản và như vậy, đi ngược lại với yêu cầu bảo đảm đầy đủ quyền lợi hợp pháp của Nhà nước, tổ chức, cá nhân trong xử lý vật chứng.

Thứ tư, đối với vật chứng thuộc loại mau hỏng hoặc khó bảo quản thì Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 mới chỉ quy định xử lý bằng cách “bán theo quy định của pháp luật; trường hợp không bán được thì tiêu hủy”, quy định này chưa nhấn mạnh đến yếu tố cần phải xử lý “ngay” những loại vật chứng này vì tính chất đặc biệt của chúng. Ngoài ra, quy định này cũng không nhắc đến vấn đề giám định vật chứng mau hỏng, khó bảo quản, việc này có thể ảnh hưởng đến quá trình giải quyết, xét xử vụ án sau đó.

3. Một số kiến nghị

Thứ nhất, theo tác giả, cần nghiên cứu bổ sung nội dung quy định về việc xử lý vật chứng trong giai đoạn khởi tố vụ án hình sự và quy định tiến hành trưng cầu giám định, định giá tài sản như một phần của quá trình xử lý vật chứng. Có như vậy, các cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra mới bảo đảm thu thập được hết các thông tin có giá trị của vật chứng, tránh trường hợp trong các giai đoạn tố tụng tiếp theo các cơ quan tiến hành tố tụng khác yêu cầu thêm thông tin về các tài sản này.

Bên cạnh đó, bổ sung quy định về điều kiện và tính kịp thời trong việc áp dụng hình thức xử lý vật chứng mau hỏng, khó bảo quản bằng biện pháp bán tài sản; bổ sung cụm từ “ngay sau khi có kết luận giám định” vào quy định về vật chứng mau hỏng, khó bảo quản. Việc quy định việc xử lý vật chứng thuộc loại mau hỏng hoặc khó bảo quản có thể tham khảo quy định đối với vật chứng là động vật hoang dã và thực vật ngoại lai. Cụ thể, tác giả kiến nghị sửa đổi, bổ sung khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 như sau: “3. Trong quá trình giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm, kiến nghị khởi tố, quá trình điều tra, truy tố, xét xử, cơ quan, người có thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều này có quyền:... c) Vật chứng thuộc loại mau hỏng hoặc khó bảo quản thì ngay sau khi có kết luận giám định có thể được bán theo quy định của pháp luật; trường hợp không bán được thì tiêu hủy...”.

Ngoài ra, với đặc thù của các cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra là chỉ tham gia vào giai đoạn khởi tố, điều tra vụ án, nên để việc xử lý vật chứng không ảnh hưởng đến các giai đoạn tố tụng tiếp theo thì cần có sự thống nhất về quan điểm xử lý với các cơ quan tố tụng khác như Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án. Trước khi xử lý, các cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra cần tổ chức họp liên ngành với các cơ quan trên, thống nhất quan điểm xử lý vật chứng, lập biên bản cuộc họp đưa vào hồ sơ vụ án. Việc xử lý vật chứng trong trường hợp này phải được ghi nhận trong kết luận điều tra theo quy định tại Điều 233 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Thứ hai, để bảo đảm tính thống nhất giữa các quy định của pháp luật, tác giả kiến nghị sửa đổi Điều 39 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 theo hướng, bổ sung thẩm quyền xử lý vật chứng của cấp trưởng, cấp phó, cán bộ điều tra của các cơ quan của Bộ đội biên phòng, Hải quan, Kiểm lâm, Kiểm ngư được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra. Cụ thể, tác giả kiến nghị sửa đổi điểm d khoản 2 Điều 39 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 như sau: “d) Quyết định trưng cầu giám định, yêu cầu định giá tài sản; quyết định khám xét, thu giữ, tạm giữ và bảo quản vật chứng, tài liệu liên quan trực tiếp đến vụ án; xử lý vật chứng”.

Thứ ba, bổ sung chủ thể “cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra” vào các chủ thể có thẩm quyền đình chỉ điều tra quy định tại Điều 230 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 để tạo sự thống nhất, bảo đảm hiệu quả thực thi các quy định của pháp luật. Cụ thể, tác giả kiến nghị sửa đổi khoản 1 Điều 230 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 như sau: “1. Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra ra quyết định đình chỉ điều tra khi thuộc một trong các trường hợp:...”.

Thứ tư, một trong những nguyên nhân cơ bản dẫn đến những khó khăn, vướng mắc và sự thiếu thống nhất trong thực tế xử lý vật chứng của các cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra là do thiếu những hướng dẫn cụ thể từ các quy định của pháp luật. Do đó, tác giả kiến nghị, các cơ quan có liên quan như Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao sớm ban hành một thông tư liên tịch nhằm hướng dẫn chi tiết về một số trường hợp mang tính điển hình cũng như những trường hợp đặc biệt liên quan đến xử lý vật chứng và thủ tục cụ thể cho từng trường hợp (ví dụ như, quy định cụ thể người có thẩm quyền ra quyết định xử lý vật chứng tại các cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra…). Sau khi có thông tư liên tịch hướng dẫn, từng lực lượng Bộ đội biên phòng, lực lượng Cảnh sát biển, Hải quan, Kiểm lâm, Kiểm ngư sẽ căn cứ vào các nội dung có liên quan đến lực lượng mình để xây dựng, ban hành một quy chế, quy trình xử lý vật chứng để triển khai thực hiện thống nhất trong từng lực lượng./.

Trần Ngọc Hải

Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh

[1]. Phạm Minh Tuyên (2020), “Giám định, xử lý vật chứng, định giá động vật hoang dã, động vật nguy cấp quý hiếm trong tố tụng hình sự - Vướng mắc và kiến nghị hoàn thiện”, Tạp chí Tòa án nhân dân điện tử, https://tapchitoaan.vn/public/index.php/giam-dinh-xu-ly-vat-chung-dinh-gia-dong-vat-hoang-da-dong-vat-nguy-cap-quy-hiem-trong-to-tung-hinh-su-vuong-mac-va-kien-nghi-hoan-thien, truy cập ngày 07/6/2024.

[2]. Nguyễn Thanh Hằng (2022), Xử lý vật chứng theo Luật Tố tụng hình sự Việt Nam, Luận văn Thạc sỹ Luật học, Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh, tr. 60.

[3]. Vũ Thị Quyên (2023), Xử lý vật chứng theo Luật Tố tụng hình sự Việt Nam, Đề tài Khoa học và Công nghệ cấp trường, Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh, tr. 81.

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 1 (Số 408), tháng 7/2024)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định và tổ chức thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Kiến nghị hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định và tổ chức thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 là đạo luật quan trọng nhằm cụ thể hóa quyền tiếp cận thông tin của công dân theo Hiến pháp năm 2013[*], góp phần nâng cao tính công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Sau 08 năm thi hành, bên cạnh những kết quả đạt được, thực tiễn cho thấy còn bộc lộ một số hạn chế, bất cập trong quy định pháp luật và tổ chức thi hành, đặc biệt, liên quan đến phạm vi thông tin, trách nhiệm cung cấp thông tin, trình tự, thủ tục và điều kiện bảo đảm thực hiện quyền. Trên cơ sở nhận diện các vướng mắc, bất cập, nghiên cứu đề xuất định hướng sửa đổi, bổ sung Luật theo hướng bảo đảm tính đồng bộ với hệ thống pháp luật hiện hành, phù hợp với yêu cầu chuyển đổi số và tổ chức bộ máy nhà nước, đồng thời kiến nghị các giải pháp nâng cao hiệu quả tổ chức thi hành, qua đó góp phần bảo đảm tốt hơn quyền tiếp cận thông tin của công dân và xây dựng nền hành chính công khai, minh bạch.
Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018) sau hơn 08 năm thi hành đã bộc lộ nhiều bất cập trước sự vận động nhanh chóng của thực tiễn, đặc biệt là sự xuất hiện của các hình thức hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng và các quan hệ tôn giáo có yếu tố nước ngoài ngày càng phức tạp. Vì vậy, việc tăng cường quản lý nhà nước đối với các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng là yêu cầu cấp thiết không chỉ bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân mà còn nhằm giữ vững an ninh, trật tự xã hội và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới.
Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Thẩm quyền ban hành VBQPPL là nội dung trọng tâm nhằm bảo đảm mỗi loại VBQPPL được ban hành bởi đúng cơ quan, đúng cấp, vừa phù hợp với phạm vi pháp lý, vừa hạn chế rủi ro và xung đột giữa các văn bản.
Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Việc ban hành Luật Ban hành VBQPPL số 64/2025/QH15 được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 87/2025/QH15 và các nghị định hướng dẫn thi hành có ý nghĩa đặc biệt trong bối cảnh đổi mới tư duy xây dựng pháp luật, gắn kết chặt chẽ giữa xây dựng và thi hành pháp luật.
Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Bài viết phân tích quy trình xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ của Quốc hội và quy trình xây dựng chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội, từ đó, đưa ra một số lưu ý nhằm nâng cao hiệu quả việc thực hiện hai quy trình này.
Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Tóm tắt: Bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra góp phần bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp cần miễm trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra để bảo vệ lợi ích hợp pháp của các nhà sản xuất kinh doanh. Bài viết nghiên cứu những trường hợp miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023, đồng thời chỉ ra ưu, nhược điểm và hạn chế của Luật, từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Trong bối cảnh nhiều thách thức, đội ngũ luật sư với kiến thức chuyên môn và kỹ năng nghề nghiệp của mình, đóng vai trò then chốt trong việc nâng cao chất lượng, hiệu quả trợ giúp pháp lý.
Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Những năm qua, công tác trợ giúp pháp lý trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận. Nhiều vụ việc được trợ giúp pháp lý kịp thời, góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người nghèo, người có công với cách mạng và các nhóm yếu thế khác.
Ứng dụng công nghệ số, nền tảng trực tuyến, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động trợ giúp pháp lý

Ứng dụng công nghệ số, nền tảng trực tuyến, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động trợ giúp pháp lý

Những nỗ lực số hóa hồ sơ, vận hành Hệ thống quản lý trợ giúp pháp lý, kết nối dữ liệu dân cư, phát triển tư vấn trực tuyến… đã mở ra hướng tiếp cận mới, góp phần nâng cao chất lượng và tính minh bạch của dịch vụ trợ giúp pháp lý.
Tăng cường hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế trong tố tụng hình sự

Tăng cường hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế trong tố tụng hình sự

Trong tiến trình cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, việc bảo đảm quyền con người luôn là sợi chỉ đỏ xuyên suốt, đặc biệt, với đối tượng yếu thế, yêu cầu này càng trở nên cấp thiết và nhân văn. Trong tố tụng hình sự (TTHS), đối tượng yếu thế với tư cách bị hại, người làm chứng hay bị can, bị cáo, đã và đang phải đối mặt với hệ thống tư pháp hình sự. Đối tượng yếu thế có được tiếp cận công lý bình đẳng hay không phụ thuộc vào sự công tâm, chuyên nghiệp và nhạy cảm của các cơ quan trong hoạt động tố tụng, trong đó có vai trò của hoạt động trợ giúp pháp lý.
Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo trong bối cảnh mới

Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo trong bối cảnh mới

Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và thúc đẩy phát triển bền vững, hoạt động trợ giúp pháp lý đóng vai trò quan trọng trong việc bảo đảm công bằng xã hội và tiếp cận công lý cho người dân, đặc biệt là người nghèo thuộc nhóm đối tượng yếu thế.
Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Đây là giải pháp quan trọng nhằm khắc phục khó khăn, vướng mắc, nâng cao chất lượng tổ chức thi hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo.
Ưu điểm, hạn chế và một số vấn đề chính cần rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Ưu điểm, hạn chế và một số vấn đề chính cần rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 đã góp phần quan trọng trong việc bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của cá nhân, tổ chức, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đối với lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo. Tuy nhiên, thực tiễn triển khai Luật cũng bộc lộ những bất cập, hạn chế cần sửa đổi, hoàn thiện nhằm đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới.
Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là một trong những loại tội phạm có diễn biến ngày càng phức tạp, đa dạng và tinh vi. Phương thức thực hiện tội phạm không ngừng biến đổi, đặc biệt là việc sử dụng công nghệ cao để phạm tội, gây thiệt hại lớn đối với tài sản và tâm lý hoang mang cho người dân, ảnh hưởng đến trật tự, an toàn xã hội. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng các quy định của Bộ luật Hình sự về tội này vẫn còn tồn tại một số vướng mắc, bất cập từ chính quy định của pháp luật.
Xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Bài viết làm rõ sự cần thiết của việc xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên bứt phá, phát triển mới của dân tộc, theo tinh thần Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Đại hội XIV).

Theo dõi chúng tôi trên: