Thứ năm 19/03/2026 15:58
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Bàn về thế chấp quyền sử dụng đất mà không thế chấp tài sản gắn liền với đất

Cơ chế cho phép xử lý đồng thời quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất khi chỉ thế chấp quyền sử dụng đất mà không thế chấp tài sản gắn liền với đất là một trong các điểm mới nổi bật của Bộ luật Dân sự năm 2015 về phần bảo đảm nghĩa vụ dân sự. Tuy nhiên, việc hiểu và vận dụng chuẩn xác quy định này còn khá nhiều quan điểm trái chiều. Bài viết tập trung phân tích và đưa ra luận giải cá nhân đối với quy định cụ thể này.


Quy định về xử lý tài sản gắn liền với đất trong trường hợp chỉ thế chấp quyền sử dụng đất được xem là một điểm đột phá trong quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 về đổi mới cơ chế xử lý đối với tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất. Trước đây, điểm nghẽn của Bộ luật Dân sự năm 2005 là không ghi nhận cơ chế xử lý đồng thời quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất nên trong nhiều trường hợp, việc xử lý tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất gặp khó khăn. Hiện nay, Điều 325 và Điều 326 của Bộ luật Dân sự năm 2015 đã tháo gỡ khó khăn khi xây dựng cơ chế xử lý đồng thời đối với quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất, cụ thể trong 02 trường hợp là: Thế chấp quyền sử dụng đất mà không thế chấp tài sản gắn liền với đất và thế chấp tài sản gắn liền với đất mà không thế chấp quyền sử dụng đất. Trong phạm vi bài viết này, tác giả chỉ đề cập đến trường hợp thế chấp quyền sử dụng đất mà không thế chấp tài sản gắn liền với đất và tài sản gắn liền với đất cũng đồng thời thuộc sở hữu của bên thế chấp.

1. Tài sản gắn liền với đất thuộc quyền sở hữu của bên thế chấp có thuộc tài sản thế chấp?

Khoản 2 Điều 716 Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định: “Trường hợp người sử dụng đất thế chấp quyền sử dụng đất thì nhà, công trình xây dựng khác, rừng trồng, vườn cây và các tài sản khác của người thế chấp gắn liền với đất chỉ thuộc tài sản thế chấp, nếu có thỏa thuận”. Như vậy, theo góc độ điều chỉnh này thì tài sản gắn liền với đất chỉ thuộc tài sản thế chấp nếu thỏa mãn 02 điều kiện: (i) Cùng thuộc sở hữu của người thế chấp, cũng đồng thời là người sử dụng đất; (ii) Các bên trong hợp đồng thế chấp có thỏa thuận ghi nhận đối tượng tài sản thế chấp là tài sản gắn liền với đất.

Bộ luật Dân sự năm 2015 có hướng tiếp cận khác so với quy định trước. Cụ thể, khoản 3 Điều 318 Bộ luật Dân sự năm 2015 ghi nhận: “Trường hợp thế chấp quyền sử dụng đất mà tài sản gắn liền với đất thuộc quyền sở hữu của bên thế chấp thì tài sản gắn liền với đất cũng thuộc tài sản thế chấp, trừ trường hợp có thỏa thuận khác”. Theo đó, tài sản gắn liền với đất thuộc tài sản thế chấp khi thỏa mãn 02 điều kiện: (i) Cùng thuộc sở hữu của người thế chấp; (ii) Nếu các bên không có thỏa thuận khác. Cách quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 về cơ bản được đánh giá cao vì nhằm bảo vệ tối đa quyền và lợi ích cho chủ nợ có bảo đảm (bên nhận thế chấp). Bởi lẽ, trong trường hợp bên thế chấp dùng quyền sử dụng đất để thế chấp nhưng không thỏa thuận đi kèm hoặc không đề cập gì đến tài sản gắn liền với đất thì pháp luật quy định tài sản gắn liền với đất, nếu thuộc sở hữu của bên thế chấp, cũng đương nhiên thuộc tài sản thế chấp. Hệ quả là cơ chế xử lý tài sản gắn liền với đất cũng sẽ tương tự như xử lý quyền sử dụng đất.

Tuy nhiên, một điểm vướng mắc mà tác giả băn khoăn là ở cách sử dụng câu chữ. Khoản 3 Điều 318 quy định “trừ trường hợp có thỏa thuận khác” thì tài sản gắn liền với đất mới không thuộc tài sản thế chấp. Giả sử tình huống, các bên tham gia hợp đồng thế chấp thỏa thuận thế chấp với đối tượng là quyền sử dụng đất; trên đất lại có nhà ở, tuy nhiên, nhà ở này lại chưa được cập nhật biến động trong giấy chứng nhận quyền sở hữu. Nếu tại thời điểm ký hợp đồng thế chấp, đối tượng tài sản thế chấp mà các bên ghi nhận là quyền sử dụng đất dựa theo giấy chứng nhận mà không đề cập đến đối tượng là nhà ở thì nhà ở này có đương nhiên thuộc tài sản thế chấp hay không? Câu trả lời nếu chiếu theo khoản 3 Điều 318 Bộ luật Dân sự năm 2015 sẽ là có. Vì điều khoản này quy định chỉ trừ trường hợp có thỏa thuận khác thì nhà ở mới không thuộc tài sản thế chấp. Thỏa thuận khác của các bên được hiểu là thỏa thuận chỉ ghi nhận đối tượng tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất và loại trừ đối tượng tài sản thế chấp là nhà ở. Tuy nhiên, bởi cách sử dụng câu chữ lại khiến chúng ta băn khoăn rằng: Nếu các bên biết đến sự tồn tại của nhà ở trên đất nhưng lại không đề cập đến nhà ở này vào hợp đồng thế chấp thì sự không đề cập này của các bên có được coi là đã có “thỏa thuận khác” hay chưa? Hoặc giả sử “nếu dùng quyền sử dụng đất của bên thứ ba để thế chấp, một thời gian sau khi xác lập hợp đồng thế chấp thì bên thế chấp xây dựng nhà cửa, biệt thự trên đó và khi phải xử lý thì bên thế chấp phản đối bởi họ chỉ thế chấp quyền sử dụng đất chứ không thế chấp nhà cửa, biệt thự trên đất”[1].

Hiển nhiên, dưới góc độ của nội dung hợp đồng thế chấp, điều khoản về đối tượng tài sản thế chấp phải được liệt kê rõ. Tuy nhiên, theo tác giả, để tránh nhầm lẫn, gây tranh cãi không cần thiết thì điều luật nên theo hướng đòi hỏi sự ghi nhận một cách rõ ràng, chi tiết đối với đối tượng tài sản thế chấp. Theo đó, tác giả kiến nghị nên sửa đổi khoản 3 Điều 318 Bộ luật Dân sự năm 2015 theo hướng: “… trừ trường hợp các bên trong hợp đồng thế chấp ghi nhận đối tượng thế chấp chỉ là quyền sử dụng đất”. Việc ghi nhận minh thị đối tượng tài sản thế chấp sẽ là cơ sở để giải quyết tranh chấp giữa đôi bên trong quan hệ thế chấp.

2. Xử lý tài sản gắn liền với đất thuộc quyền sở hữu của bên thế chấp trong trường hợp chỉ thế chấp quyền sử dụng đất

Bàn về vấn đề xử lý đồng thời quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất khi cùng thuộc sở hữu của bên thế chấp, có quan điểm cho rằng: Chúng ta thấy, khoản 3 Điều 318 Bộ luật Dân sự năm 2015 đã khẳng định “tài sản gắn liền với đất cũng là tài sản thế chấp” nhưng tại sao khoản 1 Điều 325 Bộ luật này vẫn khẳng định “trường hợp thế chấp quyền sử dụng đất mà không thế chấp tài sản gắn liền với đất”, tức là, điều khoản thứ nhất đã “nhập” tài sản trên đất thành “tài sản thế chấp” rồi nhưng tại sao điều khoản sau lại “tách” tài sản trên đất ra khỏi “quyền sử dụng đất”, đối tượng của hợp đồng thế chấp?[2]. Từ đó, tác giả băn khoăn về quy định giữa khoản 3 Điều 318 và khoản 1 Điều 325 nêu trên là không có sự nhất quán?

Theo quan điểm của tác giả, phạm vi điều chỉnh của khoản 3 Điều 318 và khoản 1 Điều 325 Bộ luật Dân sự năm 2015 là không giống nhau. Vì vậy, không có cơ sở để khẳng định rằng, 02 điều luật này không có sự nhất quán với nhau. Điều 318 có tên gọi là “Tài sản thế chấp”, theo đó, nhà làm luật đang mô tả về tài sản thế chấp. Khoản 3 Điều 318 quy định theo hướng áp dụng nguyên tắc mặc định đối với tài sản thế chấp: “Trường hợp thế chấp quyền sử dụng đất mà tài sản gắn liền với đất thuộc sở hữu của bên thế chấp thì tài sản gắn liền với đất cũng thuộc tài sản thế chấp, trừ trường hợp có thỏa thuận khác”. Nghĩa là, nếu các bên không thỏa thuận một cách rõ ràng, chi tiết, minh thị về đối tượng tài sản thế chấp khi thế chấp quyền sử dụng đất thì mặc nhiên, trong trường hợp thế chấp quyền sử dụng đất mà trên đất có tài sản và tài sản này cũng thuộc sở hữu của bên thế chấp thì tài sản này cũng thuộc tài sản thế chấp. Còn hướng dẫn tại Điều 325 là về cơ chế xử lý đồng thời đối với quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất khi chỉ thế chấp quyền sử dụng đất mà không thế chấp kèm theo tài sản gắn liền với đất. Điều 325 chỉ đưa ra cơ chế xử lý đồng thời quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất, chứ không đề cập đến tài sản thế chấp cụ thể là tài sản nào và xử lý số tiền thu được từ tài sản thế chấp này như thế nào.

Ví dụ:

Tình huống 1: A (bên thế chấp) được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và thế chấp quyền sử dụng đất cho B (bên nhận thế chấp). Trên đất còn có nhà ở (có thể có hoặc không có giấy chứng nhận) nhưng các bên chỉ thỏa thuận thế chấp đối với quyền sử dụng đất, không thế chấp nhà ở và ghi nhận rõ nội dung này vào hợp đồng thế chấp. Như vậy, đối tượng tài sản thế chấp trong trường hợp này chỉ là quyền sử dụng đất. Giả sử, trong trường hợp cần phải xử lý tài sản thế chấp thì trong trường hợp này, bởi vì quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất nếu tách riêng rất khó xử lý nên cho phép xử lý đồng thời đối với cả 02 loại tài sản. Tuy nhiên, việc xử lý số tiền thu được là hoàn toàn khác nhau. Bởi lẽ, trường hợp nếu cùng là tài sản thế chấp thì số tiền thu được sau khi xử lý quyền sử dụng đất và nhà ở, đương nhiên được ưu tiên thanh toán cho B, nhưng trong tình huống này, vì nhà ở không phải là tài sản thế chấp nên số tiền thu được sau khi xử lý nhà ở phải trả về cho chủ sở hữu (A).

Tình huống 2: Giả sử A (bên thế chấp) thế chấp quyền sử dụng đất mà trên đất có nhà ở (có hoặc không có giấy chứng nhận) nhưng các bên không đề cập đến đối tượng tài sản này một cách rõ ràng, ghi nhận chung là thế chấp quyền sử dụng đất. Giả sử, trong trường hợp cần phải xử lý tài sản thế chấp, thì trong tình huống này, cả quyền sử dụng đất và cả tài sản gắn liền với đất đều đã mặc nhiên là tài sản thế chấp. Do đó, khi xử lý tài sản thế chấp, hiển nhiên không áp dụng Điều 325 Bộ luật Dân sự năm 2015. Cụm từ “mà không thế chấp” đã tương thích với trường hợp các bên có thỏa thuận khác theo hướng dẫn tại khoản 3 Điều 318 Bộ luật Dân sự năm 2015. Như vậy, số tiền thu được từ việc xử lý quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất (với tư cách cùng là tài sản thế chấp) được ưu tiên thanh toán cho B (bên nhận thế chấp).

Như vậy, nội dung của khoản 1 Điều 325 Bộ luật Dân sự năm 2015 đã nêu ra cơ chế xử lý đồng thời đối với quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất khi chỉ thế chấp quyền sử dụng đất mà không thế chấp tài sản gắn liền với đất. Tức là khoản 1 Điều 325 đã loại trừ trường hợp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất cùng thuộc tài sản thế chấp (phù hợp với cách quy định của khoản 1 Điều 318). Tuy nhiên, khoản 1 Điều 325 lại chưa đề cập đến việc xử lý số tiền thu được từ việc xử lý đồng thời 02 loại tài sản này (vừa có tài sản thế chấp, vừa có tài sản không phải tài sản thế chấp). Về vấn đề này, trước đây, Nghị định số 11/2012/NĐ-CP ngày 22/02/2012 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 của Chính phủ về giao dịch bảo đảm đã có đề cập đến việc xử lý đồng thời quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất. Cụ thể, khoản 19 Điều 1 Nghị định này nêu rõ: Trong trường hợp chỉ thế chấp quyền sử dụng đất mà không thế chấp tài sản gắn liền với đất và người sử dụng đất đồng thời là chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất thì tài sản gắn liền với đất được xử lý đồng thời với quyền sử dụng đất, trừ trường hợp có thỏa thuận khác. Số tiền thu được từ việc xử lý “tài sản bảo đảm” được thanh toán trước cho chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất, trừ trường hợp có thỏa thuận khác. Quy định này đã có đề cập đến xử lý số tiền thu được từ tài sản bảo đảm, tuy nhiên, Nghị định lại chưa cho biết tài sản bảo đảm trong trường hợp này có đồng thời là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất hay không? Mặt khác, quy định này làm chúng ta cảm thấy hoang mang vì theo đó thì số tiền thu được từ tài sản bảo đảm được dùng để thanh toán cho chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất, chứ không phải ưu tiên thanh toán cho bên nhận bảo đảm.

Bàn về cách diễn đạt của khoản 3 Điều 318 và khoản 1 Điều 325 của Bộ luật Dân sự năm 2015, có quan đểm cho rằng sẽ dẫn đến nguy cơ “người nhận thế chấp sẽ khai thác khoản 3 Điều 318 để đòi hỏi được ưu tiên cả đối với khoản tiền thu được từ xử lý tài sản trên đất và như vậy là trái với nguyên tắc bình đẳng được ghi nhận trong Hiến pháp và Bộ luật dân sự”[3], theo tác giả, quan điểm này là chưa phù hợp và đi ngược lại với tinh thần đổi mới của Bộ luật Dân sự năm 2015 về bảo vệ quyền lợi cho bên nhận thế chấp quyền sử dụng đất. Bởi lẽ, nếu khai thác khoản 3 Điều 318 thì cả quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất đều là tài sản thế chấp. Cho nên bên nhận thế chấp đòi hỏi được ưu tiên thanh toán đối với số tiền thu được từ cả 02 loại tài sản này là điều hoàn toàn hợp lý. Hiển nhiên, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác (như đã phân tích ở trên).

Mặt khác, cách quy định xử lý đồng thời của khoản 1 Điều 325 Bộ luật Dân sự năm 2015 cũng chỉ trong trường hợp 02 đối tượng tài sản này không cùng là tài sản thế chấp. Theo đó, quyền sử dụng đất là tài sản thế chấp, còn tài sản gắn liền với đất không phải là tài sản thế chấp. Có ý kiến cho rằng, cần thống nhất về mặt nhận thức, việc xử lý đồng thời tài sản gắn liền với đất (trong trường hợp chỉ thế chấp quyền sử dụng đất) hoặc quyền sử dụng đất (trong trường hợp chỉ thế chấp tài sản gắn liền với đất) nhằm tạo thuận lợi cho việc xử lý tài sản bảo đảm chứ không đồng nghĩa với việc nó là căn cứ để xác định tài sản được xử lý đồng thời với tài sản thế chấp cũng trở thành tài sản thế chấp; theo đó, trên nguyên tắc, tài sản được xử lý đồng thời không phải là tài sản thế chấp, nên khoản tiền thu được từ việc bán tài sản này sẽ chỉ được thanh toán cho bên nhận thế chấp trong trường hợp các bên có thỏa thuận và việc thanh toán sẽ phải được thực hiện theo quy định của pháp luật. Theo quan điểm của tác giả, để tránh cách nhìn khác nhau liên quan đến khoản 1 Điều 325 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì cần có văn bản giải thích rõ nội hàm của điều khoản này. Tác giả đề xuất giải thích khoản 1 Điều 325 Bộ luật Dân sự năm 2015 theo hướng: “Trường hợp thế chấp quyền sử dụng đất mà không thế chấp tài sản gắn liền với đất và người sử dụng đất đồng thời là chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất thì tài sản được xử lý bao gồm cả tài sản gắn liền với đất, trừ trường hợp có thỏa thuận khác. Số tiền thu được từ việc xử lý quyền sử dụng đất được ưu tiên thanh toán cho chủ nợ có bảo đảm (bên nhận thế chấp). Số tiền thu được từ việc xử lý tài sản gắn liền với đất được trả lại cho chủ sở hữu tài sản (bên thế chấp)”.

ThS. Nguyễn Thị Hoàng Yến
Trường Đại học Thủ Dầu Một


[1] Trần Minh Hải, Hiểu nghề giữ nghiệp - 26 bài học pháp lý nghiệp vụ dành cho nghề tín dụng ngân hàng, Nxb. Lao động, 2015, Hồ Chí Minh, tr. 217.

[2] Đỗ Văn Đại (2017), Luật nghĩa vụ và bảo đảm thực hiện nghĩa vụ - Bản án và bình luận bản án, tập 2 (sách chuyên khảo, xuất bản lần thứ ba), Nxb. Hồng Đức - Hội Luật gia Việt Nam, tr. 121.

[3] Đỗ Văn Đại (2017), Luật nghĩa vụ và bảo đảm thực hiện nghĩa vụ - Bản án và bình luận bản án, tập 2 (sách chuyên khảo, xuất bản lần thứ ba), Nxb. Hồng Đức - Hội Luật gia Việt Nam, tr. 122.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là một trong những loại tội phạm có diễn biến ngày càng phức tạp, đa dạng và tinh vi. Phương thức thực hiện tội phạm không ngừng biến đổi, đặc biệt là việc sử dụng công nghệ cao để phạm tội, gây thiệt hại lớn đối với tài sản và tâm lý hoang mang cho người dân, ảnh hưởng đến trật tự, an toàn xã hội. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng các quy định của Bộ luật Hình sự về tội này vẫn còn tồn tại một số vướng mắc, bất cập từ chính quy định của pháp luật.
Xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Bài viết làm rõ sự cần thiết của việc xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên bứt phá, phát triển mới của dân tộc, theo tinh thần Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Đại hội XIV).
Những quy định cần biết khi xác định kết quả bầu cử

Những quy định cần biết khi xác định kết quả bầu cử

Sau ngày 15/3/2026 - khi cử tri cả nước đã hoàn thành việc bỏ phiếu bầu đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031. Các tổ chức phụ trách bầu cử bắt đầu thực hiện những công việc tiếp theo để xác định kết quả bầu cử. Trong đó, việc tính tỷ lệ phiếu bầu, xác định người trúng cử và xử lý các vấn đề phát sinh trong quá trình kiểm phiếu được thực hiện theo những nguyên tắc chặt chẽ do pháp luật quy định.
Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Để bảo đảm cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân được tiến hành dân chủ, đúng pháp luật, các quy định về phiếu bầu cử cũng như nguyên tắc, trình tự bỏ phiếu đã được quy định chặt chẽ tại Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 và Nghị quyết số 40/NQ-HĐBCQG ngày 29/9/2025 của Hội đồng bầu cử quốc gia quy định mẫu văn bản hồ sơ ứng cử và việc hồ sơ ứng cử; nội quy phòng bỏ phiếu trong công tác bầu cử ĐBQH khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031. Việc nắm rõ các quy định này giúp cử tri thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ trong ngày bầu cử.
Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Trong quá trình tổ chức bầu cử, có thể phát sinh một số tình huống đặc biệt như dịch bệnh, thiên tai, hỏa hoạn hoặc vấn đề về an ninh, trật tự. Pháp luật về bầu cử đã quy định rõ thẩm quyền và phương án xử lý nhằm bảo đảm cuộc bầu cử được tổ chức an toàn, đúng quy định và bảo đảm quyền bầu cử của cử tri.
Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Để chuẩn bị cho “Ngày hội non sông” - Ngày bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031, công tác phân chia đơn vị bầu cử cần phải được triển khai với những yêu cầu khắt khe hơn bao giờ hết với mục tiêu trọng tâm là bảo đảm cân đối, tránh chênh lệch lớn, thuận tiện cho cử tri thực hiện quyền bầu cử như: Các khu vực đô thị, khu công nghiệp có đông cử tri; các khu vực miền núi, hải đảo có ít cử tri.
Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Pháp luật quy định cụ thể về nguyên tắc bỏ phiếu, cách ghi phiếu bầu, việc viết hộ, bỏ hộ phiếu và xử lý Thẻ cử tri nhằm bảo đảm việc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân diễn ra đúng quy định.
Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Cơ chế giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân giữ vai trò quan trọng trong việc bảo đảm tính dân chủ, minh bạch và hợp pháp của quá trình bầu cử. Pháp luật Việt Nam thiết lập cơ chế này trên cơ sở kết hợp giữa các quy định đặc thù của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân với các quy định chung của pháp luật về khiếu nại, tố cáo, qua đó hình thành khung pháp lý cho việc tiếp nhận, xem xét và xử lý các khiếu nại, tố cáo phát sinh trong quá trình bầu cử.
Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Một vụ án in và phát hành sách giáo khoa giả vừa được đưa ra xét xử đã tiếp tục gióng lên hồi chuông cảnh báo về tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực xuất bản, đặc biệt là đối với sách giáo dục - mặt hàng có nhu cầu cao và ảnh hưởng trực tiếp đến hàng triệu học sinh.
Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức thống nhất vào ngày 15/3/2026 theo Nghị quyết của Quốc hội. Tuy nhiên, pháp luật cho phép tổ chức bỏ phiếu sớm trong những trường hợp đặc biệt nhằm bảo đảm quyền bầu cử của công dân không thể tham gia bỏ phiếu vào ngày chính thức. Việc tổ chức bầu cử sớm phải tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc về thẩm quyền quyết định, trình tự thủ tục, kiểm phiếu, niêm phong, bảo mật kết quả và kỷ luật thời gian bỏ phiếu theo đúng quy định của Luật Bầu cử và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Vận động bầu cử của người ứng cử là hoạt động gặp gỡ, tiếp xúc cử tri hoặc thông qua phương tiện thông tin đại chúng để người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân báo cáo với cử tri về dự kiến chương trình hành động của mình nhằm thực hiện trách nhiệm đại biểu nếu được bầu làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân và trao đổi những vấn đề mà cử tri quan tâm; tạo điều kiện để cử tri tiếp xúc với người ứng cử, hiểu rõ hơn người ứng cử; trên cơ sở đó cân nhắc, lựa chọn, bầu những người đủ tiêu chuẩn làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.
Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, yêu cầu thượng tôn Hiến pháp và pháp luật không chỉ đặt ra đối với hoạt động của bộ máy nhà nước mà trở thành chuẩn mực ứng xử phổ biến trong xã hội. Pháp luật chỉ thực sự phát huy vai trò điều chỉnh các quan hệ xã hội khi được các chủ thể tiếp nhận, tôn trọng, tuân thủ thực hiện trên tinh thần chủ động, tự giác, gắn với niềm tin vào công bằng và trật tự xã hội. Thực tiễn cho thấy, hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, nhưng tình trạng vi phạm pháp luật trong một số lĩnh vực vẫn diễn biến phức tạp; còn tồn tại khoảng trống giữa nhận thức pháp luật và hành vi tuân thủ; tâm lý tuân thủ thụ động, mang tính tình thế, phụ thuộc vào sự kiểm tra, giám sát và xử lý của cơ quan có thẩm quyền. Những biểu hiện này phản ánh việc tuân thủ pháp luật chưa thực sự trở thành chuẩn mực văn hóa trong xã hội. Vì vậy, việc nghiên cứu, nhận diện các yếu tố tác động, đánh giá đúng thực trạng, đề xuất nhiệm vụ, giải pháp xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn, góp phần thể chế hóa chủ trương của Đảng, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, mạnh, bền vững trong bối cảnh mới.
Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Tết Nguyên đán là dịp đoàn viên, nghỉ ngơi và tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí đầu năm, góp phần làm phong phú đời sống văn hóa, tinh thần của mỗi gia đình và cộng đồng. Tuy nhiên, một số hình thức vui chơi có thưởng có thể vượt ngoài khuôn khổ pháp luật nếu không được nhận diện đúng. Từ yêu cầu bảo đảm kỷ cương, pháp luật trong dịp Tết, việc làm rõ ranh giới pháp lý giữa vui xuân có thưởng và hành vi vi phạm pháp luật có ý nghĩa quan trọng.
Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết 71-NQ/TW) đặt ra những yêu cầu mang tính chiến lược đối với xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, giáo dục đại học giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành lớp trí thức mới - vừa có năng lực chuyên môn, vừa có bản lĩnh, nhân cách và tinh thần phụng sự xã hội. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật phỏng vấn Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đào Thanh Trường - Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội, xung quanh quan điểm xây dựng con người toàn diện, các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp, cũng như những định hướng tích hợp giáo dục nhân văn với khoa học, công nghệ trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Mùa xuân về không chỉ mang theo nhựa sống của thiên nhiên mà còn là thời điểm để nhìn lại những thành quả của năm qua. Xuân Bính Ngọ 2026, với Trường Cao đẳng Cơ điện Hà Nội (HCEM), là một mùa xuân đặc biệt - mùa xuân của sự cộng hưởng giữa niềm tự hào về hành trình 80 năm đất nước độc lập và quyết tâm chính trị cao để hiện thực hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị. Đây chính là “chìa khóa” để HCEM bứt phá, vươn tầm quốc tế, trở thành biểu tượng của nền giáo dục nghề nghiệp (GDNN) hiện đại trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.

Theo dõi chúng tôi trên: