Chủ nhật 31/05/2026 11:29
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Bàn về thế chấp quyền sử dụng đất mà không thế chấp tài sản gắn liền với đất

Cơ chế cho phép xử lý đồng thời quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất khi chỉ thế chấp quyền sử dụng đất mà không thế chấp tài sản gắn liền với đất là một trong các điểm mới nổi bật của Bộ luật Dân sự năm 2015 về phần bảo đảm nghĩa vụ dân sự. Tuy nhiên, việc hiểu và vận dụng chuẩn xác quy định này còn khá nhiều quan điểm trái chiều. Bài viết tập trung phân tích và đưa ra luận giải cá nhân đối với quy định cụ thể này.


Quy định về xử lý tài sản gắn liền với đất trong trường hợp chỉ thế chấp quyền sử dụng đất được xem là một điểm đột phá trong quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 về đổi mới cơ chế xử lý đối với tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất. Trước đây, điểm nghẽn của Bộ luật Dân sự năm 2005 là không ghi nhận cơ chế xử lý đồng thời quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất nên trong nhiều trường hợp, việc xử lý tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất gặp khó khăn. Hiện nay, Điều 325 và Điều 326 của Bộ luật Dân sự năm 2015 đã tháo gỡ khó khăn khi xây dựng cơ chế xử lý đồng thời đối với quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất, cụ thể trong 02 trường hợp là: Thế chấp quyền sử dụng đất mà không thế chấp tài sản gắn liền với đất và thế chấp tài sản gắn liền với đất mà không thế chấp quyền sử dụng đất. Trong phạm vi bài viết này, tác giả chỉ đề cập đến trường hợp thế chấp quyền sử dụng đất mà không thế chấp tài sản gắn liền với đất và tài sản gắn liền với đất cũng đồng thời thuộc sở hữu của bên thế chấp.

1. Tài sản gắn liền với đất thuộc quyền sở hữu của bên thế chấp có thuộc tài sản thế chấp?

Khoản 2 Điều 716 Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định: “Trường hợp người sử dụng đất thế chấp quyền sử dụng đất thì nhà, công trình xây dựng khác, rừng trồng, vườn cây và các tài sản khác của người thế chấp gắn liền với đất chỉ thuộc tài sản thế chấp, nếu có thỏa thuận”. Như vậy, theo góc độ điều chỉnh này thì tài sản gắn liền với đất chỉ thuộc tài sản thế chấp nếu thỏa mãn 02 điều kiện: (i) Cùng thuộc sở hữu của người thế chấp, cũng đồng thời là người sử dụng đất; (ii) Các bên trong hợp đồng thế chấp có thỏa thuận ghi nhận đối tượng tài sản thế chấp là tài sản gắn liền với đất.

Bộ luật Dân sự năm 2015 có hướng tiếp cận khác so với quy định trước. Cụ thể, khoản 3 Điều 318 Bộ luật Dân sự năm 2015 ghi nhận: “Trường hợp thế chấp quyền sử dụng đất mà tài sản gắn liền với đất thuộc quyền sở hữu của bên thế chấp thì tài sản gắn liền với đất cũng thuộc tài sản thế chấp, trừ trường hợp có thỏa thuận khác”. Theo đó, tài sản gắn liền với đất thuộc tài sản thế chấp khi thỏa mãn 02 điều kiện: (i) Cùng thuộc sở hữu của người thế chấp; (ii) Nếu các bên không có thỏa thuận khác. Cách quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 về cơ bản được đánh giá cao vì nhằm bảo vệ tối đa quyền và lợi ích cho chủ nợ có bảo đảm (bên nhận thế chấp). Bởi lẽ, trong trường hợp bên thế chấp dùng quyền sử dụng đất để thế chấp nhưng không thỏa thuận đi kèm hoặc không đề cập gì đến tài sản gắn liền với đất thì pháp luật quy định tài sản gắn liền với đất, nếu thuộc sở hữu của bên thế chấp, cũng đương nhiên thuộc tài sản thế chấp. Hệ quả là cơ chế xử lý tài sản gắn liền với đất cũng sẽ tương tự như xử lý quyền sử dụng đất.

Tuy nhiên, một điểm vướng mắc mà tác giả băn khoăn là ở cách sử dụng câu chữ. Khoản 3 Điều 318 quy định “trừ trường hợp có thỏa thuận khác” thì tài sản gắn liền với đất mới không thuộc tài sản thế chấp. Giả sử tình huống, các bên tham gia hợp đồng thế chấp thỏa thuận thế chấp với đối tượng là quyền sử dụng đất; trên đất lại có nhà ở, tuy nhiên, nhà ở này lại chưa được cập nhật biến động trong giấy chứng nhận quyền sở hữu. Nếu tại thời điểm ký hợp đồng thế chấp, đối tượng tài sản thế chấp mà các bên ghi nhận là quyền sử dụng đất dựa theo giấy chứng nhận mà không đề cập đến đối tượng là nhà ở thì nhà ở này có đương nhiên thuộc tài sản thế chấp hay không? Câu trả lời nếu chiếu theo khoản 3 Điều 318 Bộ luật Dân sự năm 2015 sẽ là có. Vì điều khoản này quy định chỉ trừ trường hợp có thỏa thuận khác thì nhà ở mới không thuộc tài sản thế chấp. Thỏa thuận khác của các bên được hiểu là thỏa thuận chỉ ghi nhận đối tượng tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất và loại trừ đối tượng tài sản thế chấp là nhà ở. Tuy nhiên, bởi cách sử dụng câu chữ lại khiến chúng ta băn khoăn rằng: Nếu các bên biết đến sự tồn tại của nhà ở trên đất nhưng lại không đề cập đến nhà ở này vào hợp đồng thế chấp thì sự không đề cập này của các bên có được coi là đã có “thỏa thuận khác” hay chưa? Hoặc giả sử “nếu dùng quyền sử dụng đất của bên thứ ba để thế chấp, một thời gian sau khi xác lập hợp đồng thế chấp thì bên thế chấp xây dựng nhà cửa, biệt thự trên đó và khi phải xử lý thì bên thế chấp phản đối bởi họ chỉ thế chấp quyền sử dụng đất chứ không thế chấp nhà cửa, biệt thự trên đất”[1].

Hiển nhiên, dưới góc độ của nội dung hợp đồng thế chấp, điều khoản về đối tượng tài sản thế chấp phải được liệt kê rõ. Tuy nhiên, theo tác giả, để tránh nhầm lẫn, gây tranh cãi không cần thiết thì điều luật nên theo hướng đòi hỏi sự ghi nhận một cách rõ ràng, chi tiết đối với đối tượng tài sản thế chấp. Theo đó, tác giả kiến nghị nên sửa đổi khoản 3 Điều 318 Bộ luật Dân sự năm 2015 theo hướng: “… trừ trường hợp các bên trong hợp đồng thế chấp ghi nhận đối tượng thế chấp chỉ là quyền sử dụng đất”. Việc ghi nhận minh thị đối tượng tài sản thế chấp sẽ là cơ sở để giải quyết tranh chấp giữa đôi bên trong quan hệ thế chấp.

2. Xử lý tài sản gắn liền với đất thuộc quyền sở hữu của bên thế chấp trong trường hợp chỉ thế chấp quyền sử dụng đất

Bàn về vấn đề xử lý đồng thời quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất khi cùng thuộc sở hữu của bên thế chấp, có quan điểm cho rằng: Chúng ta thấy, khoản 3 Điều 318 Bộ luật Dân sự năm 2015 đã khẳng định “tài sản gắn liền với đất cũng là tài sản thế chấp” nhưng tại sao khoản 1 Điều 325 Bộ luật này vẫn khẳng định “trường hợp thế chấp quyền sử dụng đất mà không thế chấp tài sản gắn liền với đất”, tức là, điều khoản thứ nhất đã “nhập” tài sản trên đất thành “tài sản thế chấp” rồi nhưng tại sao điều khoản sau lại “tách” tài sản trên đất ra khỏi “quyền sử dụng đất”, đối tượng của hợp đồng thế chấp?[2]. Từ đó, tác giả băn khoăn về quy định giữa khoản 3 Điều 318 và khoản 1 Điều 325 nêu trên là không có sự nhất quán?

Theo quan điểm của tác giả, phạm vi điều chỉnh của khoản 3 Điều 318 và khoản 1 Điều 325 Bộ luật Dân sự năm 2015 là không giống nhau. Vì vậy, không có cơ sở để khẳng định rằng, 02 điều luật này không có sự nhất quán với nhau. Điều 318 có tên gọi là “Tài sản thế chấp”, theo đó, nhà làm luật đang mô tả về tài sản thế chấp. Khoản 3 Điều 318 quy định theo hướng áp dụng nguyên tắc mặc định đối với tài sản thế chấp: “Trường hợp thế chấp quyền sử dụng đất mà tài sản gắn liền với đất thuộc sở hữu của bên thế chấp thì tài sản gắn liền với đất cũng thuộc tài sản thế chấp, trừ trường hợp có thỏa thuận khác”. Nghĩa là, nếu các bên không thỏa thuận một cách rõ ràng, chi tiết, minh thị về đối tượng tài sản thế chấp khi thế chấp quyền sử dụng đất thì mặc nhiên, trong trường hợp thế chấp quyền sử dụng đất mà trên đất có tài sản và tài sản này cũng thuộc sở hữu của bên thế chấp thì tài sản này cũng thuộc tài sản thế chấp. Còn hướng dẫn tại Điều 325 là về cơ chế xử lý đồng thời đối với quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất khi chỉ thế chấp quyền sử dụng đất mà không thế chấp kèm theo tài sản gắn liền với đất. Điều 325 chỉ đưa ra cơ chế xử lý đồng thời quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất, chứ không đề cập đến tài sản thế chấp cụ thể là tài sản nào và xử lý số tiền thu được từ tài sản thế chấp này như thế nào.

Ví dụ:

Tình huống 1: A (bên thế chấp) được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và thế chấp quyền sử dụng đất cho B (bên nhận thế chấp). Trên đất còn có nhà ở (có thể có hoặc không có giấy chứng nhận) nhưng các bên chỉ thỏa thuận thế chấp đối với quyền sử dụng đất, không thế chấp nhà ở và ghi nhận rõ nội dung này vào hợp đồng thế chấp. Như vậy, đối tượng tài sản thế chấp trong trường hợp này chỉ là quyền sử dụng đất. Giả sử, trong trường hợp cần phải xử lý tài sản thế chấp thì trong trường hợp này, bởi vì quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất nếu tách riêng rất khó xử lý nên cho phép xử lý đồng thời đối với cả 02 loại tài sản. Tuy nhiên, việc xử lý số tiền thu được là hoàn toàn khác nhau. Bởi lẽ, trường hợp nếu cùng là tài sản thế chấp thì số tiền thu được sau khi xử lý quyền sử dụng đất và nhà ở, đương nhiên được ưu tiên thanh toán cho B, nhưng trong tình huống này, vì nhà ở không phải là tài sản thế chấp nên số tiền thu được sau khi xử lý nhà ở phải trả về cho chủ sở hữu (A).

Tình huống 2: Giả sử A (bên thế chấp) thế chấp quyền sử dụng đất mà trên đất có nhà ở (có hoặc không có giấy chứng nhận) nhưng các bên không đề cập đến đối tượng tài sản này một cách rõ ràng, ghi nhận chung là thế chấp quyền sử dụng đất. Giả sử, trong trường hợp cần phải xử lý tài sản thế chấp, thì trong tình huống này, cả quyền sử dụng đất và cả tài sản gắn liền với đất đều đã mặc nhiên là tài sản thế chấp. Do đó, khi xử lý tài sản thế chấp, hiển nhiên không áp dụng Điều 325 Bộ luật Dân sự năm 2015. Cụm từ “mà không thế chấp” đã tương thích với trường hợp các bên có thỏa thuận khác theo hướng dẫn tại khoản 3 Điều 318 Bộ luật Dân sự năm 2015. Như vậy, số tiền thu được từ việc xử lý quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất (với tư cách cùng là tài sản thế chấp) được ưu tiên thanh toán cho B (bên nhận thế chấp).

Như vậy, nội dung của khoản 1 Điều 325 Bộ luật Dân sự năm 2015 đã nêu ra cơ chế xử lý đồng thời đối với quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất khi chỉ thế chấp quyền sử dụng đất mà không thế chấp tài sản gắn liền với đất. Tức là khoản 1 Điều 325 đã loại trừ trường hợp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất cùng thuộc tài sản thế chấp (phù hợp với cách quy định của khoản 1 Điều 318). Tuy nhiên, khoản 1 Điều 325 lại chưa đề cập đến việc xử lý số tiền thu được từ việc xử lý đồng thời 02 loại tài sản này (vừa có tài sản thế chấp, vừa có tài sản không phải tài sản thế chấp). Về vấn đề này, trước đây, Nghị định số 11/2012/NĐ-CP ngày 22/02/2012 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 của Chính phủ về giao dịch bảo đảm đã có đề cập đến việc xử lý đồng thời quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất. Cụ thể, khoản 19 Điều 1 Nghị định này nêu rõ: Trong trường hợp chỉ thế chấp quyền sử dụng đất mà không thế chấp tài sản gắn liền với đất và người sử dụng đất đồng thời là chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất thì tài sản gắn liền với đất được xử lý đồng thời với quyền sử dụng đất, trừ trường hợp có thỏa thuận khác. Số tiền thu được từ việc xử lý “tài sản bảo đảm” được thanh toán trước cho chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất, trừ trường hợp có thỏa thuận khác. Quy định này đã có đề cập đến xử lý số tiền thu được từ tài sản bảo đảm, tuy nhiên, Nghị định lại chưa cho biết tài sản bảo đảm trong trường hợp này có đồng thời là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất hay không? Mặt khác, quy định này làm chúng ta cảm thấy hoang mang vì theo đó thì số tiền thu được từ tài sản bảo đảm được dùng để thanh toán cho chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất, chứ không phải ưu tiên thanh toán cho bên nhận bảo đảm.

Bàn về cách diễn đạt của khoản 3 Điều 318 và khoản 1 Điều 325 của Bộ luật Dân sự năm 2015, có quan đểm cho rằng sẽ dẫn đến nguy cơ “người nhận thế chấp sẽ khai thác khoản 3 Điều 318 để đòi hỏi được ưu tiên cả đối với khoản tiền thu được từ xử lý tài sản trên đất và như vậy là trái với nguyên tắc bình đẳng được ghi nhận trong Hiến pháp và Bộ luật dân sự”[3], theo tác giả, quan điểm này là chưa phù hợp và đi ngược lại với tinh thần đổi mới của Bộ luật Dân sự năm 2015 về bảo vệ quyền lợi cho bên nhận thế chấp quyền sử dụng đất. Bởi lẽ, nếu khai thác khoản 3 Điều 318 thì cả quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất đều là tài sản thế chấp. Cho nên bên nhận thế chấp đòi hỏi được ưu tiên thanh toán đối với số tiền thu được từ cả 02 loại tài sản này là điều hoàn toàn hợp lý. Hiển nhiên, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác (như đã phân tích ở trên).

Mặt khác, cách quy định xử lý đồng thời của khoản 1 Điều 325 Bộ luật Dân sự năm 2015 cũng chỉ trong trường hợp 02 đối tượng tài sản này không cùng là tài sản thế chấp. Theo đó, quyền sử dụng đất là tài sản thế chấp, còn tài sản gắn liền với đất không phải là tài sản thế chấp. Có ý kiến cho rằng, cần thống nhất về mặt nhận thức, việc xử lý đồng thời tài sản gắn liền với đất (trong trường hợp chỉ thế chấp quyền sử dụng đất) hoặc quyền sử dụng đất (trong trường hợp chỉ thế chấp tài sản gắn liền với đất) nhằm tạo thuận lợi cho việc xử lý tài sản bảo đảm chứ không đồng nghĩa với việc nó là căn cứ để xác định tài sản được xử lý đồng thời với tài sản thế chấp cũng trở thành tài sản thế chấp; theo đó, trên nguyên tắc, tài sản được xử lý đồng thời không phải là tài sản thế chấp, nên khoản tiền thu được từ việc bán tài sản này sẽ chỉ được thanh toán cho bên nhận thế chấp trong trường hợp các bên có thỏa thuận và việc thanh toán sẽ phải được thực hiện theo quy định của pháp luật. Theo quan điểm của tác giả, để tránh cách nhìn khác nhau liên quan đến khoản 1 Điều 325 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì cần có văn bản giải thích rõ nội hàm của điều khoản này. Tác giả đề xuất giải thích khoản 1 Điều 325 Bộ luật Dân sự năm 2015 theo hướng: “Trường hợp thế chấp quyền sử dụng đất mà không thế chấp tài sản gắn liền với đất và người sử dụng đất đồng thời là chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất thì tài sản được xử lý bao gồm cả tài sản gắn liền với đất, trừ trường hợp có thỏa thuận khác. Số tiền thu được từ việc xử lý quyền sử dụng đất được ưu tiên thanh toán cho chủ nợ có bảo đảm (bên nhận thế chấp). Số tiền thu được từ việc xử lý tài sản gắn liền với đất được trả lại cho chủ sở hữu tài sản (bên thế chấp)”.

ThS. Nguyễn Thị Hoàng Yến
Trường Đại học Thủ Dầu Một


[1] Trần Minh Hải, Hiểu nghề giữ nghiệp - 26 bài học pháp lý nghiệp vụ dành cho nghề tín dụng ngân hàng, Nxb. Lao động, 2015, Hồ Chí Minh, tr. 217.

[2] Đỗ Văn Đại (2017), Luật nghĩa vụ và bảo đảm thực hiện nghĩa vụ - Bản án và bình luận bản án, tập 2 (sách chuyên khảo, xuất bản lần thứ ba), Nxb. Hồng Đức - Hội Luật gia Việt Nam, tr. 121.

[3] Đỗ Văn Đại (2017), Luật nghĩa vụ và bảo đảm thực hiện nghĩa vụ - Bản án và bình luận bản án, tập 2 (sách chuyên khảo, xuất bản lần thứ ba), Nxb. Hồng Đức - Hội Luật gia Việt Nam, tr. 122.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Công tác kiểm tra, giám sát Đảng ủy cấp xã tại Hà Nội hiện nay

Công tác kiểm tra, giám sát Đảng ủy cấp xã tại Hà Nội hiện nay

Đổi mới công tác kiểm tra, giám sát không chỉ dừng lại ở việc xử lý vi phạm mà cốt lõi là để cảnh báo, phòng ngừa và kiến tạo sự phát triển. Trước thực trạng 70% cán bộ kiểm tra cấp xã còn lúng túng về nghiệp vụ và áp lực từ việc thiếu vắng sự giám sát của Hội đồng nhân dân tại các xã, phường, Hà Nội đang nỗ lực tìm kiếm những mô hình mới như "giám sát dữ liệu số" hay cơ chế bảo vệ cán bộ "dám nói, dám làm". Đây chính là chìa khóa để bảo đảm bộ máy chính quyền Thủ đô vận hành liêm chính và hiệu quả sau khi tinh gọn.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định và tổ chức thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Kiến nghị hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định và tổ chức thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 là đạo luật quan trọng nhằm cụ thể hóa quyền tiếp cận thông tin của công dân theo Hiến pháp năm 2013[*], góp phần nâng cao tính công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Sau 08 năm thi hành, bên cạnh những kết quả đạt được, thực tiễn cho thấy còn bộc lộ một số hạn chế, bất cập trong quy định pháp luật và tổ chức thi hành, đặc biệt, liên quan đến phạm vi thông tin, trách nhiệm cung cấp thông tin, trình tự, thủ tục và điều kiện bảo đảm thực hiện quyền. Trên cơ sở nhận diện các vướng mắc, bất cập, nghiên cứu đề xuất định hướng sửa đổi, bổ sung Luật theo hướng bảo đảm tính đồng bộ với hệ thống pháp luật hiện hành, phù hợp với yêu cầu chuyển đổi số và tổ chức bộ máy nhà nước, đồng thời kiến nghị các giải pháp nâng cao hiệu quả tổ chức thi hành, qua đó góp phần bảo đảm tốt hơn quyền tiếp cận thông tin của công dân và xây dựng nền hành chính công khai, minh bạch.
Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018) sau hơn 08 năm thi hành đã bộc lộ nhiều bất cập trước sự vận động nhanh chóng của thực tiễn, đặc biệt là sự xuất hiện của các hình thức hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng và các quan hệ tôn giáo có yếu tố nước ngoài ngày càng phức tạp. Vì vậy, việc tăng cường quản lý nhà nước đối với các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng là yêu cầu cấp thiết không chỉ bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân mà còn nhằm giữ vững an ninh, trật tự xã hội và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới.
Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Thẩm quyền ban hành VBQPPL là nội dung trọng tâm nhằm bảo đảm mỗi loại VBQPPL được ban hành bởi đúng cơ quan, đúng cấp, vừa phù hợp với phạm vi pháp lý, vừa hạn chế rủi ro và xung đột giữa các văn bản.
Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Việc ban hành Luật Ban hành VBQPPL số 64/2025/QH15 được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 87/2025/QH15 và các nghị định hướng dẫn thi hành có ý nghĩa đặc biệt trong bối cảnh đổi mới tư duy xây dựng pháp luật, gắn kết chặt chẽ giữa xây dựng và thi hành pháp luật.
Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Bài viết phân tích quy trình xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ của Quốc hội và quy trình xây dựng chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội, từ đó, đưa ra một số lưu ý nhằm nâng cao hiệu quả việc thực hiện hai quy trình này.
Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Tóm tắt: Bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra góp phần bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp cần miễm trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra để bảo vệ lợi ích hợp pháp của các nhà sản xuất kinh doanh. Bài viết nghiên cứu những trường hợp miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023, đồng thời chỉ ra ưu, nhược điểm và hạn chế của Luật, từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Trong bối cảnh nhiều thách thức, đội ngũ luật sư với kiến thức chuyên môn và kỹ năng nghề nghiệp của mình, đóng vai trò then chốt trong việc nâng cao chất lượng, hiệu quả trợ giúp pháp lý.
Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Những năm qua, công tác trợ giúp pháp lý trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận. Nhiều vụ việc được trợ giúp pháp lý kịp thời, góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người nghèo, người có công với cách mạng và các nhóm yếu thế khác.
Ứng dụng công nghệ số, nền tảng trực tuyến, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động trợ giúp pháp lý

Ứng dụng công nghệ số, nền tảng trực tuyến, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động trợ giúp pháp lý

Những nỗ lực số hóa hồ sơ, vận hành Hệ thống quản lý trợ giúp pháp lý, kết nối dữ liệu dân cư, phát triển tư vấn trực tuyến… đã mở ra hướng tiếp cận mới, góp phần nâng cao chất lượng và tính minh bạch của dịch vụ trợ giúp pháp lý.
Tăng cường hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế trong tố tụng hình sự

Tăng cường hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế trong tố tụng hình sự

Trong tiến trình cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, việc bảo đảm quyền con người luôn là sợi chỉ đỏ xuyên suốt, đặc biệt, với đối tượng yếu thế, yêu cầu này càng trở nên cấp thiết và nhân văn. Trong tố tụng hình sự (TTHS), đối tượng yếu thế với tư cách bị hại, người làm chứng hay bị can, bị cáo, đã và đang phải đối mặt với hệ thống tư pháp hình sự. Đối tượng yếu thế có được tiếp cận công lý bình đẳng hay không phụ thuộc vào sự công tâm, chuyên nghiệp và nhạy cảm của các cơ quan trong hoạt động tố tụng, trong đó có vai trò của hoạt động trợ giúp pháp lý.
Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo trong bối cảnh mới

Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo trong bối cảnh mới

Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và thúc đẩy phát triển bền vững, hoạt động trợ giúp pháp lý đóng vai trò quan trọng trong việc bảo đảm công bằng xã hội và tiếp cận công lý cho người dân, đặc biệt là người nghèo thuộc nhóm đối tượng yếu thế.
Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Đây là giải pháp quan trọng nhằm khắc phục khó khăn, vướng mắc, nâng cao chất lượng tổ chức thi hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo.
Ưu điểm, hạn chế và một số vấn đề chính cần rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Ưu điểm, hạn chế và một số vấn đề chính cần rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 đã góp phần quan trọng trong việc bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của cá nhân, tổ chức, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đối với lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo. Tuy nhiên, thực tiễn triển khai Luật cũng bộc lộ những bất cập, hạn chế cần sửa đổi, hoàn thiện nhằm đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới.
Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là một trong những loại tội phạm có diễn biến ngày càng phức tạp, đa dạng và tinh vi. Phương thức thực hiện tội phạm không ngừng biến đổi, đặc biệt là việc sử dụng công nghệ cao để phạm tội, gây thiệt hại lớn đối với tài sản và tâm lý hoang mang cho người dân, ảnh hưởng đến trật tự, an toàn xã hội. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng các quy định của Bộ luật Hình sự về tội này vẫn còn tồn tại một số vướng mắc, bất cập từ chính quy định của pháp luật.

Theo dõi chúng tôi trên: