Chủ nhật 07/12/2025 13:11
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Bàn về thực trạng áp dụng pháp luật trong trường hợp không thu phí thi hành án

Bài viết bàn về thực trạng áp dụng pháp luật trong trường hợp không thu phí thi hành án, từ đó, tác giả đưa ra quan điểm cá nhân nhằm đảm bảo tính thống nhất về áp dụng pháp luật trong trường hợp này.


Xét về bản chất, phí là khoản tiền để bù đắp một phần chi phí về đầu tư, quản lý và các mặt khác của tổ chức, cá nhân đã cung cấp dịch vụ của mình cho người được thụ hưởng lợi ích từ dịch vụ đó. Trong lĩnh vực công, phí là khoản phải thu của Nhà nước để đóng góp một phần trong duy trì hoạt động của bộ máy nhà nước và đóng góp vào ngân sách quốc gia. ở phạm vi của thi hành án dân sự, Điều 60 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014) cũng quy định, người được thi hành án phải có trách nhiệm nộp phí thi hành án, theo đó, phí thi hành án là khoản tiền mà người được thi hành án phải nộp khi được nhận tiền, tài sản hay các lợi ích vật chất khác do cơ quan thi hành án dân sự thu được của người phải thi hành án… Tuy nhiên, trong một số trường hợp, pháp luật quy định người được thi hành án không phải chịu phí thi hành án mặc dù được nhận tiền, tài sản hay các lợi ích vật chất khác từ người phải thi hành án (theo Điều 6 Thông tư số 216/2016/TT-BTC ngày 10/11/2016 của Bộ Tài chính về quy định mức thu, chế độ thu, nộp, quản lý và sử dụng phí thi hành án dân sự - Thông tư số 216/2016/TT-BTC). Trong đó, đáng chú ý là quy định tại khoản 8 Điều này: “…Tiền, tài sản mà đương sự tự nguyện thi hành trong thời hạn tự nguyện thi hành án theo quy định tại Điều 45 Luật Thi hành án dân sự”.

Theo quy định này, pháp luật ràng buộc rất cụ thể sự tự nguyện có điều kiện của đương sự, đó là tự nguyện thi hành nhưng phải trong thời hạn tự nguyện thi hành án. Tức là, dù người phải thi hành án có tự nguyện nhưng không thuộc khoảng thời gian này thì người được thi hành án khi nhận được tiền, tài sản hay các lợi ích vật chất khác mà người phải thi hành án đã tự nguyện nộp cho cơ quan thi hành án dân sự vẫn phải chịu phí thi hành án.

Theo quy định tại khoản 1 Điều 45 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014): “Thời hạn tự nguyện thi hành án là 10 ngày, kể từ ngày người phải thi hành án nhận được quyết định thi hành án hoặc được thông báo hợp lệ quyết định thi hành án”. Như vậy, từ ngày đầu tiên cho đến hết ngày thứ mười kể từ khi nhận được hay được thông báo hợp lệ quyết định thi hành án, nếu người phải thi hành án thực hiện nghĩa vụ của mình thì được coi là tự nguyện thi hành án, ngoài thời hạn đó tính tự nguyện không được pháp luật thừa nhận.

Từ các quy định trên, có thể khẳng định rằng, người được thi hành án không phải chịu phí thi hành án chỉ khi người phải thi hành án tự nguyện thi hành trong thời hạn tự nguyện thi hành án. Mặc dù pháp luật quy định khá cụ thể, nhưng quá trình áp dụng trên thực tế vẫn còn tồn tại các quan điểm khác nhau dẫn đến cách áp dụng pháp luật khác nhau và trở thành “lỗ hổng” để vi phạm.

Trong đó, có quan điểm cho rằng, việc người phải thi hành án thi hành nghĩa vụ trước khi có quyết định thi hành án là tự nguyện thi hành án và khi chi trả số tiền này thì người được thi hành án không phải chịu phí. Khi giải thích, những người có quan điểm này lập luận rằng, pháp luật đã quy định không thu phí của người được thi hành án trong thời hạn tự nguyện thi hành án thì khi người phải thi hành án hay các cá nhân, tổ chức khác đã thi hành thay cho người phải thi hành án trước thời hạn đó thì họ đã thể hiện ý chí tự nguyện thi hành, cho nên xem đây là trường không phải chịu phí thi hành án của người được thi hành án, đồng nghĩa với việc cơ quan thi hành án không được thu phí trong trường hợp này. Theo tác giả, quan điểm và cách lập luận trong áp dụng pháp luật nêu trên chưa đúng, bởi lẽ:

Thứ nhất, quan điểm này đã tự cho phép cơ quan thi hành án mở rộng giới hạn không chịu phí thi hành án mà không dựa trên bất kỳ căn cứ pháp lý nào ngoài suy luận mang tính chất chủ quan. Về kỹ thuật lập pháp, nếu pháp luật được xây dựng theo lập luận của quan điểm trên thì tại sao khoản 8 không quy định cụ thể thành văn như: “Tiền, tài sản mà đương sự tự nguyện thi hành trừ trường hợp thi hành sau thời hạn tự nguyện thi hành án theo quy định tại Điều 45 Luật Thi hành án dân sự”, mà lại khống chế trong thời hạn tự nguyện thi hành án?. Đó chính là mục đích mang tính dự báo, loại trừ tiêu cực, chồng chéo lợi ích, đảm bảo tính khả thi của khoản 8 khi áp dụng trong thực tiễn.

Thứ hai, xét về chủ thể, người phải thi hành án và người được thi hành án là hai chủ thể khác nhau trong mối quan hệ với phí thi hành án. Như đã đề cập ở trên, phí thi hành án là trách nhiệm của người được thi hành án đối với cơ quan thi hành án dân sự - nơi đem lại lợi ích cho người được thi hành án; hay nói cách khác, đó là trách nhiệm đối với Nhà nước của người được thi hành. Đối với người phải thi hành án, họ có thi hành trước, trong hay sau thời hạn tự nguyện thi hành án thì lợi ích của họ vẫn không thay đổi trong mối quan hệ với trách nhiệm chịu phí thi hành án của người được thi hành án. Theo quy luật, khi một người tự nguyện, tự giác thi hành một điều gì đó có lợi cho tổ chức, cá nhân, xã hội thì họ phải được lợi ích nhất định từ việc tự nguyện, tự giác đó, nhưng nếu lập luận theo quan điểm trên thì câu hỏi đặt ra là, tại sao lợi ích lại thuộc về người được thi hành án (không phải chịu phí) mà không phải là người phải thi hành án? Có lẽ, quan điểm này đã có phần nhầm lẫn đối tượng thụ hưởng này (người được thi hành án) với tính chất tự nguyện của đối tượng kia (người phải thi hành án).

Theo tác giả, mục đích của khoản 8 là để đảm bảo lợi ích của người được thi hành án tương đồng với lợi ích của người phải thi hành án. Bởi lẽ, pháp luật quy định khoảng thời gian tự nguyện thi hành án đối với người phải thi hành án là thực hiện chính sách khoan hồng trong thực hiện quyền của họ, đồng thời không thu phí cũng nhằm đảm bảo lợi ích của người được thi hành án vốn đã có nhiều mâu thuẫn với người phải thi hành án trong suốt quá trình giải quyết vụ án trước đó. Bên cạnh đó, đây cũng là khoảng thời gian pháp luật mặc định không phát sinh các hoạt động mang tính dịch vụ của cơ quan thi hành án. Do vậy, để đảm bảo thống nhất về lợi ích của người được thi hành án, người phải thi hành án và Nhà nước trong liên quan đến phí thi hành án, pháp luật đã quy định “trong thời hạn tự nguyện thi hành án” là giới hạn chung để bảo vệ quyền và nghĩa vụ của các bên để không phát sinh mâu thuẫn, tiêu cực, chồng lấn quyền lợi.

Thứ ba, sự xung đột về lợi ích giữa người được thi hành án và người phải thi hành án với việc một bên luôn muốn nhận tiền, tài sản... nhưng không muốn chịu phí với một bên phải thi hành nghĩa vụ nhưng giảm được phần nào tốt phần đó, thì điểm chung duy nhất về lợi ích trong mối quan hệ với phí thi hành án đó là chia sẻ trách nhiệm chịu phí thi hành án là mục đích hướng đến của hai bên. Bằng phương thức này, các đương sự tìm mọi cách để cụ thể hóa mục đích chung đó với việc sẵn sàng bắt tay, thỏa hiệp với nhau để đạt được lợi ích tốt nhất và giảm khoản phải chi của mỗi bên. Thay vì phải nộp phí cho cơ quan thi hành án dân sự thì đương sự có thể thỏa thuận tự nguyện thi hành trước thời hạn tự nguyện thi hành án để chia phần phí lẽ ra theo pháp luật phải thuộc về Nhà nước. Đó chính là “kẽ hở” lớn nhất của quan điểm nêu trên, chưa kể đến sự thoái hóa, biến chất của một bộ phận nhỏ chấp hành viên đã lợi dụng “kẽ hở” này để tham gia chia phần trong số phí thi hành án này.

Ví dụ: Theo quyết định của bản án hình sự số (M), người phải thi hành án (A) phải thi hành nghĩa vụ bồi thường số tiền (n) đồng cho người được thi hành án (B). Bản án này có hiệu lực pháp luật và chấp hành viên (C) được phân công giải quyết phần chủ động của bản án, qua đó, đã phát hiện ngoài nghĩa vụ thi hành án phí hình sự, án phí dân sự thì A còn có nghĩa vụ bồi thường số tiền như trên. Lợi dụng “kẽ hở” trong quan điểm áp dụng pháp luật của cơ quan thi hành án dân sự đang công tác) đã liên hệ với A và B và trao đổi như sau: A phải thực hiện nghĩa vụ bồi thường cho B số tiền (n) đồng, nếu A thi hành trong thời gian tự nguyện thi hành án thì A và B sẽ không có lợi ích chung gì, còn nếu thi hành khi hết thời gian tự nguyện thi hành án thì B mất phí 1 tỷ đồng cho cơ quan thi hành án mà A cũng không có lợi ích gì. Do đó, C đề nghị, A tự nguyện thi hành nghĩa vụ bồi thường cho B thông qua cơ quan thi hành án; sau khi đã có biên lai thu tiền của cơ quan thi hành án, B làm đơn yêu cầu thi hành án để không mất phí 1 tỷ đồng, số tiền này thay vì nộp cho cơ quan thi hành án thì B chỉ nộp 400 triệu cho A, 100 triệu cho C, còn 500 triệu B hưởng. Như vậy, với quan điểm trên, pháp luật đã chứng minh đó là “kẽ hở” để A, B, C lợi dụng, bắt tay nhau chiếm đoạt số tiền phí.

Tóm lại, khoản 8 Điều 6 Thông tư số 216/2016/TT-BTC đã quy định rất cụ thể, đảm bảo tính thống nhất, hài hòa quyền lợi, nghĩa vụ của đương sự và Nhà nước trong hoạt động thu hay không thu phí thi hành án dân sự. Vì vậy, đòi hỏi người áp dụng pháp luật cần có nhận thức đúng về ý nghĩa, mục đích của quy định này để tránh sai lầm và tạo điều kiện cho các hành vi vi phạm pháp luật nảy sinh, đồng thời, đảm bảo sự nghiêm minh của pháp luật trong xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa trong giai đoạn hiện nay.

Thiếu tá Nguyễn Minh Trường

Phòng Thi hành án Quân khu 7

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bài viết nêu lên vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước và đề xuất một số giải pháp nâng cao vai trò của Bộ Tư pháp trong giai đoạn mới.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Trong quá trình phát triển của đất nước, đặc biệt, trong 10 năm gần đây, với sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế - xã hội Việt Nam, việc xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật là công tác đặc biệt quan trọng. Với sự nỗ lực không ngừng, Bộ Tư pháp đã cùng các bộ, ngành làm tốt công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và đưa pháp luật vào cuộc sống, góp phần quan trọng trong thực hiện thành công công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế, giữ vững chủ quyền quốc gia, an ninh, trật tự xã hội, nâng cao đời sống vật chất và văn hóa, tinh thần của Nhân dân, bảo đảm công bằng xã hội, xây dựng xã hội dân chủ, văn minh theo đường lối của Đảng và Nhà nước. Để đạt được những thành tựu đó, nhiều hoạt động đã được triển khai đồng bộ, từ công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL); đặc biệt, đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực làm công tác xây dựng, thi hành pháp luật. Bộ Tư pháp đã chủ động, tích cực phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, trong đó có Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trong công tác xây dựng thể chế, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác pháp chế.
Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Với chức năng là cơ quan của Chính phủ, thực hiện quản lý nhà nước về xây dựng và thi hành pháp luật, Bộ Tư pháp đã và đang đóng góp, góp phần quan trọng trong kiến tạo nền tảng pháp lý vững chắc, phục vụ mục tiêu phát triển đất nước; đồng thời, đóng vai trò chủ đạo trong xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ pháp luật, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và thúc đẩy tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Những kết quả đạt được thể hiện qua các nội dung chính sau:
Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Ngày 01/01/2004, tỉnh Lai Châu chính thức được chia tách thành tỉnh Điện Biên và Lai Châu. Đây cũng là thời điểm Sở Tư pháp tỉnh Lai Châu (mới) được thành lập và đi vào hoạt động. Trải qua hơn 21 năm xây dựng và phát triển, ngành Tư pháp tỉnh Lai Châu đã vượt qua khó khăn, thử thách, ngày càng lớn mạnh và khẳng định được vai trò, vị thế của mình.
Công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế - Những khó khăn, vướng mắc và kiến nghị hoàn thiện thể chế từ góc nhìn của luật sư

Công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế - Những khó khăn, vướng mắc và kiến nghị hoàn thiện thể chế từ góc nhìn của luật sư

Trợ giúp pháp lý (TGPL) là một trong những chính sách xã hội có ý nghĩa nhân văn sâu sắc của Đảng và Nhà nước ta trong việc bảo đảm quyền được tiếp cận công lý bình đẳng của mọi tầng lớp Nhân dân, đặc biệt là nhóm những người yếu thế trong xã hội. Thông qua các hoạt động TGPL, người yếu thế trong xã hội được cung cấp, sử dụng dịch vụ pháp lý miễn phí khi có tranh chấp, góp phần nâng cao ý thức pháp luật và phòng ngừa vi phạm pháp luật. Trong hoạt động TGPL, đội ngũ luật sư đóng vai trò then chốt, là lực lượng trực tiếp thực hiện việc tư vấn, đại diện và bào chữa cho các đối tượng yếu thế. Tuy nhiên, thực tế cho thấy công tác TGPL còn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc, cả về cơ chế, nguồn lực và phương thức triển khai.
Nâng cao hiệu quả tích hợp nội dung bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong học phần “Thực tiễn và kinh nghiệm xây dựng, phát triển địa phương – ngành – đoàn thể” thuộc chương trình Trung cấp lý luận chính trị

Nâng cao hiệu quả tích hợp nội dung bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong học phần “Thực tiễn và kinh nghiệm xây dựng, phát triển địa phương – ngành – đoàn thể” thuộc chương trình Trung cấp lý luận chính trị

Việc tích hợp nội dung bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong giảng dạy chương trình Trung cấp lý luận chính trị là yêu cầu tất yếu, góp phần trực tiếp vào việc xây dựng bản lĩnh chính trị, củng cố niềm tin và năng lực tư duy lý luận cho đội ngũ cán bộ đương chức và dự nguồn cấp cơ sở. Trên cơ sở thực tiễn công tác giảng dạy và yêu cầu đổi mới giáo dục lý luận chính trị, cần đề ra giải pháp nâng cao hiệu quả tích hợp nội dung bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong học phần “Thực tiễn và kinh nghiệm xây dựng, phát triển địa phương – ngành – đoàn thể” thuộc chương trình Trung cấp lý luận chính trị (Học phần) tại Trường Chính trị tỉnh Phú Thọ.
Đào tạo pháp luật vì cộng đồng và định hướng phát triển trong giai đoạn mới

Đào tạo pháp luật vì cộng đồng và định hướng phát triển trong giai đoạn mới

Trường Cao đẳng Luật miền Bắc được nâng cấp từ Trường Trung cấp Luật Thái Nguyên theo Quyết định số 869/QĐ-LĐTBXH ngày 10/7/2020 của Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội (nay là Bộ Nội vụ), đã kế thừa hơn một thập kỷ kinh nghiệm đào tạo và bồi dưỡng cán bộ pháp lý cấp cơ sở, đặc biệt, tại khu vực trung du và miền núi phía Bắc.
Hoạt động ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số tại Bộ, ngành Tư pháp - Thực trạng và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Hoạt động ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số tại Bộ, ngành Tư pháp - Thực trạng và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Bộ Tư pháp đã trang bị, bổ sung, ứng dụng các công nghệ mới như máy chủ ảo hóa, lưu trữ SAN; máy chủ ứng dụng, máy chủ cơ sở dữ liệu cho Trung tâm dữ liệu điện tử để đáp ứng yêu cầu quản lý, vận hành và hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp.
Công tác hành chính tư pháp - Thành tựu và định hướng phát triển trong thời gian tới

Công tác hành chính tư pháp - Thành tựu và định hướng phát triển trong thời gian tới

Bài viết về những thành tựu nổi bật và định hướng phát triển công tác hành chính tư pháp trong thời gian tới.
Phát huy vai trò là diễn đàn khoa học trong xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong kỷ nguyên mới

Phát huy vai trò là diễn đàn khoa học trong xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong kỷ nguyên mới

Tạp chí Dân chủ và Pháp luật (Tạp chí) là cơ quan ngôn luận của Bộ Tư pháp, có chức năng thông tin về khoa học pháp lý, thông tin lý luận, nghiệp vụ và thực tiễn trong xây dựng, thi hành pháp luật và công tác tư pháp của Bộ, ngành Tư pháp; tuyên truyền, phổ biến chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước theo quy định pháp luật; đồng thời, là diễn đàn trao đổi học thuật, thực tiễn và chính sách trong lĩnh vực pháp luật[1].
Báo Pháp luật Việt Nam với sứ mệnh truyền thông tư pháp, pháp luật, vì Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Báo Pháp luật Việt Nam với sứ mệnh truyền thông tư pháp, pháp luật, vì Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Báo Pháp luật Việt Nam là cơ quan ngôn luận của Bộ Tư pháp, thực hiện chức năng thông tin về các hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp và các vấn đề chính trị, kinh tế, văn hoá xã hội trong nước và quốc tế; truyền thông, phổ biến chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, hoạt động xây dựng, thi hành pháp luật và công tác tư pháp phục vụ yêu cầu quản lý của Bộ Tư pháp, đáp ứng nhu cầu của xã hội về thông tin, nghiên cứu, tìm hiểu pháp luật và hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp, góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý nhà nước bằng pháp luật, phát huy dân chủ, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam; tham gia định hướng tư tưởng, phản biện xã hội, khơi dậy lòng yêu nước, tinh thần đoàn kết và tự lực, tự cường của Nhân dân, đồng hành với an sinh xã hội.
Cơ cấu tổ chức và chức năng, nhiệm vụ của Hội đồng bầu cử quốc gia

Cơ cấu tổ chức và chức năng, nhiệm vụ của Hội đồng bầu cử quốc gia

Để bảo đảm cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân nhiệm kỳ 2026-2031 được tiến hành dân chủ, đúng pháp luật và thống nhất trên phạm vi cả nước, Hội đồng bầu cử quốc gia (HĐBCQG) được thành lập, giữ vai trò tổ chức bầu cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH); chỉ đạo và hướng dẫn công tác bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND). Việc tìm hiểu cơ cấu tổ chức, chức năng, nhiệm vụ của HĐBCQG có ý nghĩa quan trọng, góp phần nâng cao nhận thức, trách nhiệm của cán bộ, đảng viên và cử tri thực hiện quyền làm chủ của mình, đồng thời giúp cơ quan, tổ chức và cá nhân có liên quan thực hiện tốt nhiệm vụ trong công tác bầu cử.
Thành tựu và định hướng phát triển công tác kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật, pháp điển hệ thống quy phạm pháp luật, xử lý vi phạm hành chính và tổ chức thi hành pháp luật trong kỷ nguyên mới

Thành tựu và định hướng phát triển công tác kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật, pháp điển hệ thống quy phạm pháp luật, xử lý vi phạm hành chính và tổ chức thi hành pháp luật trong kỷ nguyên mới

Bài viết phân tích một số thành tựu và định hướng phát triển công tác kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật, pháp điển hệ thống quy phạm pháp luật, xử lý vi phạm hành chính và tổ chức thi hành pháp luật trong kỷ nguyên mới của Cục Kiểm tra văn bản và Quản lý xử lý vi phạm hành chính, Bộ Tư pháp.
Công tác nghiên cứu khoa học pháp lý của Bộ, ngành Tư pháp - Thành tựu đạt được và những yêu cầu trong kỷ nguyên vươn mình của đất nước

Công tác nghiên cứu khoa học pháp lý của Bộ, ngành Tư pháp - Thành tựu đạt được và những yêu cầu trong kỷ nguyên vươn mình của đất nước

Trong những năm qua, hoạt động nghiên cứu khoa học của Bộ Tư pháp đã khẳng định được vai trò cung cấp cơ sở lý luận và thực tiễn, giúp Lãnh đạo Bộ tham mưu với các cấp có thẩm quyền xây dựng các chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước về công tác pháp luật, tư pháp, về xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của Nhân dân, do Nhân dân và vì Nhân dân, dưới sự lãnh đạo của Đảng.
Trợ giúp pháp lý - Điểm tựa pháp lý cho tuổi vị thành niên lầm lỡ

Trợ giúp pháp lý - Điểm tựa pháp lý cho tuổi vị thành niên lầm lỡ

Lứa tuổi vị thành niên là giai đoạn các em đang hình thành nhân cách, dễ bồng bột, thiếu kỹ năng kiểm soát cảm xúc và nhận thức pháp luật còn hạn chế. Nếu không được định hướng, các em rất dễ sa vào những hành vi vi phạm pháp luật đáng tiếc. Chỉ một phút nóng giận, một quyết định bồng bột… cũng đủ khiến tuổi trẻ phải trả giá bằng cả những tháng ngày sau song sắt. Thế nhưng, trong câu chuyện buồn ấy, vẫn có một điểm sáng nhân văn - đó là bàn tay nâng đỡ của trợ giúp pháp lý miễn phí, để một thiếu niên lầm lỡ có cơ hội sửa sai và làm lại từ đầu.

Theo dõi chúng tôi trên: