Thứ tư 26/08/2026 09:03
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Bàn về thực trạng áp dụng pháp luật trong trường hợp không thu phí thi hành án

Bài viết bàn về thực trạng áp dụng pháp luật trong trường hợp không thu phí thi hành án, từ đó, tác giả đưa ra quan điểm cá nhân nhằm đảm bảo tính thống nhất về áp dụng pháp luật trong trường hợp này.


Xét về bản chất, phí là khoản tiền để bù đắp một phần chi phí về đầu tư, quản lý và các mặt khác của tổ chức, cá nhân đã cung cấp dịch vụ của mình cho người được thụ hưởng lợi ích từ dịch vụ đó. Trong lĩnh vực công, phí là khoản phải thu của Nhà nước để đóng góp một phần trong duy trì hoạt động của bộ máy nhà nước và đóng góp vào ngân sách quốc gia. ở phạm vi của thi hành án dân sự, Điều 60 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014) cũng quy định, người được thi hành án phải có trách nhiệm nộp phí thi hành án, theo đó, phí thi hành án là khoản tiền mà người được thi hành án phải nộp khi được nhận tiền, tài sản hay các lợi ích vật chất khác do cơ quan thi hành án dân sự thu được của người phải thi hành án… Tuy nhiên, trong một số trường hợp, pháp luật quy định người được thi hành án không phải chịu phí thi hành án mặc dù được nhận tiền, tài sản hay các lợi ích vật chất khác từ người phải thi hành án (theo Điều 6 Thông tư số 216/2016/TT-BTC ngày 10/11/2016 của Bộ Tài chính về quy định mức thu, chế độ thu, nộp, quản lý và sử dụng phí thi hành án dân sự - Thông tư số 216/2016/TT-BTC). Trong đó, đáng chú ý là quy định tại khoản 8 Điều này: “…Tiền, tài sản mà đương sự tự nguyện thi hành trong thời hạn tự nguyện thi hành án theo quy định tại Điều 45 Luật Thi hành án dân sự”.

Theo quy định này, pháp luật ràng buộc rất cụ thể sự tự nguyện có điều kiện của đương sự, đó là tự nguyện thi hành nhưng phải trong thời hạn tự nguyện thi hành án. Tức là, dù người phải thi hành án có tự nguyện nhưng không thuộc khoảng thời gian này thì người được thi hành án khi nhận được tiền, tài sản hay các lợi ích vật chất khác mà người phải thi hành án đã tự nguyện nộp cho cơ quan thi hành án dân sự vẫn phải chịu phí thi hành án.

Theo quy định tại khoản 1 Điều 45 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014): “Thời hạn tự nguyện thi hành án là 10 ngày, kể từ ngày người phải thi hành án nhận được quyết định thi hành án hoặc được thông báo hợp lệ quyết định thi hành án”. Như vậy, từ ngày đầu tiên cho đến hết ngày thứ mười kể từ khi nhận được hay được thông báo hợp lệ quyết định thi hành án, nếu người phải thi hành án thực hiện nghĩa vụ của mình thì được coi là tự nguyện thi hành án, ngoài thời hạn đó tính tự nguyện không được pháp luật thừa nhận.

Từ các quy định trên, có thể khẳng định rằng, người được thi hành án không phải chịu phí thi hành án chỉ khi người phải thi hành án tự nguyện thi hành trong thời hạn tự nguyện thi hành án. Mặc dù pháp luật quy định khá cụ thể, nhưng quá trình áp dụng trên thực tế vẫn còn tồn tại các quan điểm khác nhau dẫn đến cách áp dụng pháp luật khác nhau và trở thành “lỗ hổng” để vi phạm.

Trong đó, có quan điểm cho rằng, việc người phải thi hành án thi hành nghĩa vụ trước khi có quyết định thi hành án là tự nguyện thi hành án và khi chi trả số tiền này thì người được thi hành án không phải chịu phí. Khi giải thích, những người có quan điểm này lập luận rằng, pháp luật đã quy định không thu phí của người được thi hành án trong thời hạn tự nguyện thi hành án thì khi người phải thi hành án hay các cá nhân, tổ chức khác đã thi hành thay cho người phải thi hành án trước thời hạn đó thì họ đã thể hiện ý chí tự nguyện thi hành, cho nên xem đây là trường không phải chịu phí thi hành án của người được thi hành án, đồng nghĩa với việc cơ quan thi hành án không được thu phí trong trường hợp này. Theo tác giả, quan điểm và cách lập luận trong áp dụng pháp luật nêu trên chưa đúng, bởi lẽ:

Thứ nhất, quan điểm này đã tự cho phép cơ quan thi hành án mở rộng giới hạn không chịu phí thi hành án mà không dựa trên bất kỳ căn cứ pháp lý nào ngoài suy luận mang tính chất chủ quan. Về kỹ thuật lập pháp, nếu pháp luật được xây dựng theo lập luận của quan điểm trên thì tại sao khoản 8 không quy định cụ thể thành văn như: “Tiền, tài sản mà đương sự tự nguyện thi hành trừ trường hợp thi hành sau thời hạn tự nguyện thi hành án theo quy định tại Điều 45 Luật Thi hành án dân sự”, mà lại khống chế trong thời hạn tự nguyện thi hành án?. Đó chính là mục đích mang tính dự báo, loại trừ tiêu cực, chồng chéo lợi ích, đảm bảo tính khả thi của khoản 8 khi áp dụng trong thực tiễn.

Thứ hai, xét về chủ thể, người phải thi hành án và người được thi hành án là hai chủ thể khác nhau trong mối quan hệ với phí thi hành án. Như đã đề cập ở trên, phí thi hành án là trách nhiệm của người được thi hành án đối với cơ quan thi hành án dân sự - nơi đem lại lợi ích cho người được thi hành án; hay nói cách khác, đó là trách nhiệm đối với Nhà nước của người được thi hành. Đối với người phải thi hành án, họ có thi hành trước, trong hay sau thời hạn tự nguyện thi hành án thì lợi ích của họ vẫn không thay đổi trong mối quan hệ với trách nhiệm chịu phí thi hành án của người được thi hành án. Theo quy luật, khi một người tự nguyện, tự giác thi hành một điều gì đó có lợi cho tổ chức, cá nhân, xã hội thì họ phải được lợi ích nhất định từ việc tự nguyện, tự giác đó, nhưng nếu lập luận theo quan điểm trên thì câu hỏi đặt ra là, tại sao lợi ích lại thuộc về người được thi hành án (không phải chịu phí) mà không phải là người phải thi hành án? Có lẽ, quan điểm này đã có phần nhầm lẫn đối tượng thụ hưởng này (người được thi hành án) với tính chất tự nguyện của đối tượng kia (người phải thi hành án).

Theo tác giả, mục đích của khoản 8 là để đảm bảo lợi ích của người được thi hành án tương đồng với lợi ích của người phải thi hành án. Bởi lẽ, pháp luật quy định khoảng thời gian tự nguyện thi hành án đối với người phải thi hành án là thực hiện chính sách khoan hồng trong thực hiện quyền của họ, đồng thời không thu phí cũng nhằm đảm bảo lợi ích của người được thi hành án vốn đã có nhiều mâu thuẫn với người phải thi hành án trong suốt quá trình giải quyết vụ án trước đó. Bên cạnh đó, đây cũng là khoảng thời gian pháp luật mặc định không phát sinh các hoạt động mang tính dịch vụ của cơ quan thi hành án. Do vậy, để đảm bảo thống nhất về lợi ích của người được thi hành án, người phải thi hành án và Nhà nước trong liên quan đến phí thi hành án, pháp luật đã quy định “trong thời hạn tự nguyện thi hành án” là giới hạn chung để bảo vệ quyền và nghĩa vụ của các bên để không phát sinh mâu thuẫn, tiêu cực, chồng lấn quyền lợi.

Thứ ba, sự xung đột về lợi ích giữa người được thi hành án và người phải thi hành án với việc một bên luôn muốn nhận tiền, tài sản... nhưng không muốn chịu phí với một bên phải thi hành nghĩa vụ nhưng giảm được phần nào tốt phần đó, thì điểm chung duy nhất về lợi ích trong mối quan hệ với phí thi hành án đó là chia sẻ trách nhiệm chịu phí thi hành án là mục đích hướng đến của hai bên. Bằng phương thức này, các đương sự tìm mọi cách để cụ thể hóa mục đích chung đó với việc sẵn sàng bắt tay, thỏa hiệp với nhau để đạt được lợi ích tốt nhất và giảm khoản phải chi của mỗi bên. Thay vì phải nộp phí cho cơ quan thi hành án dân sự thì đương sự có thể thỏa thuận tự nguyện thi hành trước thời hạn tự nguyện thi hành án để chia phần phí lẽ ra theo pháp luật phải thuộc về Nhà nước. Đó chính là “kẽ hở” lớn nhất của quan điểm nêu trên, chưa kể đến sự thoái hóa, biến chất của một bộ phận nhỏ chấp hành viên đã lợi dụng “kẽ hở” này để tham gia chia phần trong số phí thi hành án này.

Ví dụ: Theo quyết định của bản án hình sự số (M), người phải thi hành án (A) phải thi hành nghĩa vụ bồi thường số tiền (n) đồng cho người được thi hành án (B). Bản án này có hiệu lực pháp luật và chấp hành viên (C) được phân công giải quyết phần chủ động của bản án, qua đó, đã phát hiện ngoài nghĩa vụ thi hành án phí hình sự, án phí dân sự thì A còn có nghĩa vụ bồi thường số tiền như trên. Lợi dụng “kẽ hở” trong quan điểm áp dụng pháp luật của cơ quan thi hành án dân sự đang công tác) đã liên hệ với A và B và trao đổi như sau: A phải thực hiện nghĩa vụ bồi thường cho B số tiền (n) đồng, nếu A thi hành trong thời gian tự nguyện thi hành án thì A và B sẽ không có lợi ích chung gì, còn nếu thi hành khi hết thời gian tự nguyện thi hành án thì B mất phí 1 tỷ đồng cho cơ quan thi hành án mà A cũng không có lợi ích gì. Do đó, C đề nghị, A tự nguyện thi hành nghĩa vụ bồi thường cho B thông qua cơ quan thi hành án; sau khi đã có biên lai thu tiền của cơ quan thi hành án, B làm đơn yêu cầu thi hành án để không mất phí 1 tỷ đồng, số tiền này thay vì nộp cho cơ quan thi hành án thì B chỉ nộp 400 triệu cho A, 100 triệu cho C, còn 500 triệu B hưởng. Như vậy, với quan điểm trên, pháp luật đã chứng minh đó là “kẽ hở” để A, B, C lợi dụng, bắt tay nhau chiếm đoạt số tiền phí.

Tóm lại, khoản 8 Điều 6 Thông tư số 216/2016/TT-BTC đã quy định rất cụ thể, đảm bảo tính thống nhất, hài hòa quyền lợi, nghĩa vụ của đương sự và Nhà nước trong hoạt động thu hay không thu phí thi hành án dân sự. Vì vậy, đòi hỏi người áp dụng pháp luật cần có nhận thức đúng về ý nghĩa, mục đích của quy định này để tránh sai lầm và tạo điều kiện cho các hành vi vi phạm pháp luật nảy sinh, đồng thời, đảm bảo sự nghiêm minh của pháp luật trong xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa trong giai đoạn hiện nay.

Thiếu tá Nguyễn Minh Trường

Phòng Thi hành án Quân khu 7

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Trong bối cảnh tai nạn lao động vẫn diễn biến phức tạp, chuyển đổi số đang mở ra khả năng thay đổi căn bản phương thức quản trị an toàn, vệ sinh lao động (ATVSLĐ) tại doanh nghiệp. Từ số hóa hoạt động huấn luyện, cấp chứng nhận điện tử đến ứng dụng trí tuệ nhân tạo, cảm biến và robot để nhận diện, cảnh báo sớm nguy cơ, vấn đề đặt ra hiện nay là cần tiếp tục hoàn thiện hành lang pháp lý để chuyển từ quản lý mang tính thủ tục, hậu kiểm sang quản trị chủ động, lấy phòng ngừa rủi ro làm trọng tâm.
Đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

Đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

Với mục tiêu đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, thành phố Hà Nội đặt trọng tâm vào đổi mới nội dung, hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật, tăng cường ứng dụng công nghệ số và xây dựng đội ngũ làm công tác phổ biến, giáo dục pháp luật am hiểu địa bàn, phong tục, tập quán và văn hóa của người dân nơi đây.
Quan điểm, định hướng mới của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai

Quan điểm, định hướng mới của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai

Ngày 16/6/2022, Ban chấp hành trung ương Đảng khóa XIII ban hành Nghị quyết số 18-NQ/TW về "Tiếp tục đổi mới, hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý và sử dụng đất, tạo động lực đưa nước ta trở thành nước phát triển có thu nhập cao" (Nghị quyết số 18-NQ/TW). Để hiện thực hóa mục tiêu đưa đất nước trở thành nước phát triển có thu nhập cao, trong thời điểm hiện tại, nhằm phù hợp với sự phát triển chung của đất nước, Hội nghị lần thứ ba, Ban chấp hành trung ương Đảng khóa XIV đã đưa ra những quan điểm, định hướng sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan tại Nghị quyết số 21-NQ/TW ngày 28/7/2026 (Nghị quyết số 21-NQ/TW) làm kim chỉ nam cho mọi hoạt động sửa đổi chính sách pháp luật sau này. Nghị quyết số 21-NQ/TW đã thể hiện những điểm mới trong chủ trương của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan.
Luật Thủ đô năm 2026: Mở rộng cơ hội đầu tư cho nhiều dự án

Luật Thủ đô năm 2026: Mở rộng cơ hội đầu tư cho nhiều dự án

Luật Thủ đô năm 2026 được Quốc hội thông qua ngày 23/4/2026 và có hiệu lực từ ngày 01/7/2026, tiếp tục hoàn thiện các cơ chế, chính sách đặc thù nhằm xây dựng và phát triển Thủ đô. Đáng chú ý, tại Điều 26 của Luật đã thiết lập khung chính sách tương đối toàn diện về thu hút đầu tư, ưu đãi, hỗ trợ đầu tư và phát triển doanh nghiệp, mở rộng cơ hội cho nhiều dự án trên địa bàn Thành phố được tiếp cận các chính sách ưu đãi về đất đai, thuế, tín dụng, hạ tầng, phát triển nhân lực và đổi mới sáng tạo.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Tóm tắt: Trong bối cảnh hệ thống pháp luật ngày càng phức tạp và thường xuyên thay đổi, việc tiếp cận, hiểu và sử dụng pháp luật trở thành thách thức đối với người dân. Mô hình phổ biến, giáo dục pháp luật hiện nay chủ yếu tập trung vào truyền đạt văn bản, chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu hỗ trợ người dân sử dụng pháp luật trong thực tiễn. Trên cơ sở phân tích xu hướng quốc tế về tiếp cận công lý lấy người dân làm trung tâm và ứng dụng công nghệ số, nghiên cứu đề xuất chuyển từ mô hình “phổ biến pháp luật” sang “hạ tầng tuân thủ phòng ngừa”, gắn phổ biến pháp luật với nhu cầu thực tiễn, cảnh báo sớm rủi ro pháp lý và hỗ trợ tra cứu, sử dụng pháp luật hiệu quả trong môi trường số.
Nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng cho người gửi tiền ở Việt Nam

Nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng cho người gửi tiền ở Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh ngân hàng số phát triển, thông tin chưa được kiểm chứng có thể tác động nhanh đến tâm lý và hành vi của người gửi tiền. Nghiên cứu phân tích quy định pháp luật và thực tiễn phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cho thấy, hoạt động này chưa chú trọng đầy đủ đến mức độ hiểu và khả năng vận dụng pháp luật của người gửi tiền; nội dung còn thiên về tính chuyên môn; phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật và cơ chế cung cấp thông tin kịp thời còn hạn chế. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá, tích hợp thông tin pháp luật ngắn gọn vào dịch vụ ngân hàng số và tăng cường cung cấp thông tin chính thức, kịp thời nhằm bảo vệ người gửi tiền và củng cố niềm tin vào hệ thống ngân hàng.
Phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Tóm tắt: Quyền con người phản ánh sự kết tinh những giá trị nhân phẩm cao quý của nhân loại. Nghiên cứu công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người là phân tích, đánh giá phương thức thể chế hóa các chủ trương của Đảng về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đồng thời, đề xuất giải pháp khắc phục những hạn chế của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 trước thách thức mới từ công nghệ số. Trên cơ sở tổng hợp và so sánh luật học, nghiên cứu phân tích, đánh giá vai trò của công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người và thực trạng thi hành Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012. Đồng thời, nghiên cứu đánh giá tính phù hợp, khả thi của dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)* (dự thảo Luật). Từ đó, kiến nghị và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Luật Phòng, chống ma túy năm 2021 quy định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi nghiện ma túy mà không tự nguyện cai nghiện. Mặc dù không được xem là biện pháp xử lý hành chính nhưng biện pháp này mang tính cách ly người bị áp dụng khỏi cộng đồng. Để bảo vệ quyền của người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi, pháp luật cho phép các chủ thể liên quan khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành chưa quy định quyền khởi kiện hay kháng cáo đối với quyết định này. Nghiên cứu phân tích bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi, đồng thời, đề xuất giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật nhằm bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người bị áp dụng biện pháp này.
Nâng cao trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Nâng cao trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã xác định rõ trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật. Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, cải cách tư pháp và chuyển đổi số quốc gia, vai trò này ngày càng trở nên quan trọng. Nghiên cứu phân tích cơ sở chính trị, pháp lý, thực trạng quy định pháp luật và thực tiễn triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật của Tòa án nhân dân; trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện hoạt động này trong hệ thống Tòa án nhân dân.
Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Sự phát triển của nền tảng số, mạng xã hội và trí tuệ nhân tạo tạo sinh đang làm thay đổi phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật, đồng thời, đặt ra nhiều thách thức trong kiểm soát thông tin pháp luật trên môi trường số. Bên cạnh việc mở rộng khả năng tiếp cận pháp luật của người dân, tình trạng lan truyền thông tin pháp luật sai lệch, thiếu kiểm chứng hoặc được tạo sinh bởi hệ thống trí tuệ nhân tạo đang ảnh hưởng đến hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật và quyền tiếp cận thông tin pháp luật chính xác. Trên cơ sở phân tích các vấn đề lý luận, đánh giá thực trạng quy định và thực tiễn áp dụng pháp luật tại Việt Nam, nghiên cứu phân tích bất cập trong kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số và đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả quản lý và bảo đảm chính xác của thông tin pháp luật trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật.
Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 7/2026

Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 7/2026

(Cập nhật bởi LuatVietnam.vn)
Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam[1]

Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam[1]

Tóm tắt: Mô hình chính quyền địa phương hai cấp được triển khai ở Việt Nam từ ngày 01/7/2025 đánh dấu bước chuyển quan trọng trong quá trình đổi mới tổ chức bộ máy nhà nước theo hướng tinh, gọn, tăng cường phân quyền, phân cấp và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị địa phương. Nghiên cứu phân tích các cơ hội và thách thức trong quá trình triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam, làm rõ những vấn đề đặt ra trong hoàn thiện thể chế, bảo đảm nguồn lực và nâng cao năng lực quản trị địa phương, từ đó, đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam thời gian tới.
Một số bất cập của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 và kiến nghị hoàn thiện

Một số bất cập của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Sau hơn 13 năm thi hành, Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng trong triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, góp phần nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ và Nhân dân. Tuy nhiên, trước yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, chuyển đổi số và hoàn thiện thể chế theo chủ trương, định hướng của Đảng, nhiều quy định của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 bộc lộ những hạn chế, bất cập. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, tổng kết thực tiễn thi hành và bối cảnh phát triển đất nước giai đoạn mới, nghiên cứu làm rõ những bất cập về tổ chức thực hiện công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên pháp luật, đối tượng đặc thù, nội dung, hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật và sự không thống nhất của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 với một số luật liên quan. Từ đó, kiến nghị sửa đổi, bổ sung nhằm hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật và nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong bối cảnh hiện nay.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật - Yêu cầu chuyển từ phổ biến, giáo dục pháp luật hình thức sang tiếp cận dựa trên nhu cầu của người dân

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật - Yêu cầu chuyển từ phổ biến, giáo dục pháp luật hình thức sang tiếp cận dựa trên nhu cầu của người dân

Tóm tắt: Việc sửa đổi Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 là cấp thiết trước yêu cầu khắc phục tình trạng tuyên truyền thiên về hình thức, chưa gắn chặt với những vấn đề pháp lý mà người dân thực sự cần được hỗ trợ. Nghiên cứu phân tích khoảng cách giữa nguyên tắc phù hợp với nhu cầu và cơ chế nhận diện, phản ánh, đáp ứng, đo lường nhu cầu pháp lý trong dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật[1] (dự thảo Luật). Trên cơ sở phân tích quy phạm, bình luận chính sách và tiếp cận liên ngành về nhu cầu pháp lý, năng lực pháp lý, tiếp cận công lý, nghiên cứu tập trung vào các quy định về nguyên tắc, nội dung, hình thức, hướng dẫn và giải đáp pháp luật, đối tượng đặc thù, giáo dục pháp luật trong cơ sở giáo dục, trách nhiệm tổ chức thực hiện, cơ chế cấp xã, chuyển đổi số và đánh giá hiệu quả. Kết quả nghiên cứu cho thấy, dự thảo Luật đã có nhiều định hướng tích cực nhưng thiếu cơ chế khảo sát nhu cầu, thiết kế nội dung theo tình huống, chuyển tuyến hỗ trợ pháp lý và đánh giá khả năng hiểu, vận dụng pháp luật. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện các cơ chế bảo đảm cách tiếp cận lấy nhu cầu pháp lý của người dân làm trung tâm.
Chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên ở Việt Nam

Chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên ở Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển nhanh, mạnh mẽ của không gian mạng đang tác động sâu sắc đến đời sống xã hội, đồng thời, đặt ra nhiều rủi ro đối với người chưa thành niên. Trong bối cảnh đó, chuyển đổi số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật trở thành yêu cầu cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả tiếp cận pháp luật cho nhóm đối tượng này. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết của chuyển đổi số trong phổ biến, giáo dục pháp luật đối với người chưa thành niên; đánh giá thực trạng triển khai tại Việt Nam, chỉ ra những hạn chế, bất cập, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên.

Theo dõi chúng tôi trên: