Thứ sáu 16/01/2026 23:15
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Bàn về tình tiết tái phạm, tái phạm nguy hiểm - Góc nhìn từ vụ án cụ thể

Trong phạm vi bài viết này, tác giả nêu lên một số quan điểm chưa thống nhất đối với việc xác định tình tiết tái phạm, tái phạm nguy hiểm trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử; từ đó, đưa ra nhận định, đánh giá đối với trường hợp người phạm tội có tiền án nhằm xác định rõ hành vi phạm tội của người phạm tội thuộc trường hợp tái phạm hay tái phạm nguy hiểm.

1. Quy định pháp luật về tình tiết tái phạm, tái phạm nguy hiểm

Tái phạm hoặc tái phạm nguy hiểm là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 (Bộ luật Hình sự năm 2015). Theo quy định tại Điều 53 Bộ luật Hình sự năm 2015 thì tái phạm là trường hợp đã bị kết án, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý hoặc thực hiện hành vi phạm tội về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do vô ý; còn tái phạm nguy hiểm được hiểu là trường hợp đã bị kết án về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do cố ý, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do cố ý hoặc đã tái phạm, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý.

Trong phần riêng (phần các tội phạm) của Bộ luật Hình sự năm 2015 thì tái phạm, tái phạm nguy hiểm còn là tình tiết định tội, định khung hình phạt trong một số tội, cụ thể: Tái phạm là tình tiết định tội quy định trong một số tội như khoản 1 Điều 172, khoản 1 Điều 173, khoản 1 Điều 174, khoản 1 Điều 178...; tái phạm nguy hiểm là tình tiết định khung hình phạt quy định tại một số tội như điểm p khoản 1 Điều 123, điểm d khoản 2 Điều 134, điểm i khoản 2 Điều 141, điểm e khoản 3 Điều 150, điểm h khoản 2 Điều 168, điểm g khoản 2 Điều 173, điểm d khoản 2 Điều 174...

Như vậy, việc hiểu và vận dụng đúng quy định của pháp luật hình sự về tái phạm, tái phạm nguy hiểm trong thực tiễn xét xử là quan trọng và cần thiết nhằm xác định một người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội đã đủ yếu tố cấu thành tội phạm (cấu thành tội phạm cơ bản) hay chưa? Khi một người thực hiện hành vi nguy hiểm đáng kể cho xã hội và đã đủ yếu tố cấu thành tội phạm thì người đó còn có các dấu hiệu phản ánh tội phạm có mức độ nguy hiểm cho xã hội tăng lên và thuộc trường hợp định khung phạt (cấu thành tội phạm tăng nặng) hay không?

Trong quá trình áp dụng pháp luật, việc xác định tái phạm, tái phạm nguy hiểm trong điều tra, truy tố, xét xử vẫn có nhiều trường hợp vận dụng không đúng với quy định của pháp luật và còn có nhiều ý kiến chưa thống nhất; có nhiều trường hợp hành vi phạm tội chỉ là tái phạm nhưng các cơ quan tiến hành tố tụng lại xác định là tái phạm nguy hiểm, ngược lại, có trường hợp hành vi phạm tội là tái phạm nguy hiểm nhưng lại xác định là tái phạm, hoặc có trường hợp xác định tình tiết tái phạm, tái phạm nguy hiểm là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, trong khi đó nó phải là tình tiết định khung hình phạt...

Để làm rõ hơn thực trạng này, tác giả đưa ra một vụ án mà bị cáo có hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác và bị truy tố, xét xử về Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản. Trong quá trình giải quyết vụ án đã có nhiều quan điểm khác nhau về việc xác định bị cáo thuộc trường hợp tái phạm hay tái phạm nguy hiểm và hành vi phạm tội của bị cáo thuộc cấu thành cơ bản quy định tại khoản 1 Điều 175 Bộ luật Hình sự năm 2015 và phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015 hay hành vi phạm tội của bị cáo thuộc cấu thành tăng nặng (có tình tiết định khung tăng nặng trách nhiệm hình sự) là tái phạm nguy hiểm theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 175 Bộ luật Hình sự năm 2015.

2. Nội dung vụ án và một số nhận định

Ngày 10/01/2021, tại thôn P, xã Đ, huyện B, tỉnh Hà Giang, T, sinh ngày 21/4/1998, có hành vi lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt 01 xe máy của anh H có trị giá 18.000.000 đồng. Hành vi của T đã bị Viện kiểm sát nhân dân huyện B truy tố về Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 175 Bộ luật Hình sự năm 2015. Theo tài liệu có trong hồ sơ xác định, T có các tiền án như sau:

- Trong thời gian thử thách của án treo (tại Bản án số 115/2016/HSST ngày 23/5/2016 (Bản án số 115) của Tòa án nhân dân quận N, thành phố Hà Nội xử phạt T 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 tháng về Tội trộm cắp tài sản), vào ngày 16/11/2016, T tiếp tục thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, tại Bản án số 05/2017/HSST ngày 27/02/2017 (Bản án số 05) của Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh Yên Bái xử phạt T 01 năm tù về Tội trộm cắp tài sản, tổng hợp hình phạt với Bản án số 115, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là 01 năm 06 tháng tù (Bản án này, Tòa án nhân dân huyện V đã áp dụng tình tiết tăng nặng là tái phạm đối với T).

- Bản án số 172/2017/HSST ngày 23/8/2017 (Bản án số 172) của Tòa án nhân dân quận N, Thành phố Hà Nội xử phạt T 18 tháng tù về Tội trộm cắp tài sản, tổng hợp hình phạt với Bản án số 05, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là 36 tháng tù, T đã chấp hành xong hình phạt tù vào ngày 13/12/2019 (Bản án này Tòa án nhân dân quận N không áp dụng tình tiết tăng nặng là tái phạm đối với T).

- Về nhân thân: (i) Bản án số 115 của Tòa án nhân dân quận N, Thành phố Hà Nội xử phạt T 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 tháng về Tội trộm cắp tài sản, trong vụ án này, T bị kết án về tội phạm ít nghiêm trọng khi chưa đủ 18 tuổi. (ii) Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 05/2022/HS-ST ngày 18/01/2022 của Tòa án nhân dân huyện B đã áp dụng khoản 1 Điều 175, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo T 02 năm tù về Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản.

Quá trình truy tố, xét xử đối với bị cáo T đã có nhiều quan điểm khác nhau như sau:

(i) Quan điểm thứ nhất cho rằng: Hành vi phạm tội của T thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm và bị cáo T phải bị xét xử theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 175 Bộ luật Hình sự năm 2015 vì tính đến ngày bị cáo T thực hiện hành vi phạm tội có 02 bản án (Bản án số 05 và Bản án số 172) chưa được xóa án tích, 02 bản án này phải được xem xét để xác định tái phạm nguy hiểm đối với bị cáo T.

Các bản án tuyên về hành vi độc lập và trong các lần phạm tội này của bị cáo đều không được xem xét là dấu hiệu cấu thành tội phạm, đến khi bị cáo thực hiện hành vi phạm tội ngày 10/01/2021, các bản án đã có hiệu lực pháp luật. Theo hướng dẫn tại điểm b tiết 7.3 mục 7 Nghị quyết số 01/2006/NQ-HĐTP ngày 12/5/2006 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật Hình sự (Nghị quyết số 01/2006/NQ-HĐTP) thì “trường hợp các tiền án của bị cáo không được xem xét là dấu hiệu cấu thành tội phạm (đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm) vì hành vi phạm tội của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội phạm thì các tiền án của bị cáo phải tính để xác định tái phạm, tái phạm nguy hiểm”. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 53 Bộ luật Hình sự năm 2015, được coi là tái phạm nguy hiểm tức là “đã tái phạm, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý”. Do đó, hành vi phạm tội của T thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm và bị cáo phải bị xét xử theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 175 Bộ luật Hình sự năm 2015.

(ii) Quan điểm thứ hai (cũng là quan điểm của tác giả) cho rằng: Ngày 10/01/2021, tại thôn P, xã Đ, huyện B, tỉnh Hà Giang, T đã có hành vi lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản của anh H 01 chiếc xe máy trị giá là 18.000.000 đồng, hành vi của T đã đủ yếu tố cấu thành Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo quy định tại Điều 175 Bộ luật Hình sự năm 2015. Tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo có 02 tiền án, là Bản án số 05 (bản án có áp dụng tái phạm) và Bản án số 172 (bản án không áp dụng tái phạm).

Vận dụng hướng dẫn tại điểm b tiết 7.3 mục 7 Nghị quyết số 01/2006/NQ-HĐTP thì “Trường hợp các tiền án của bị cáo không được xem xét là dấu hiệu cấu thành tội phạm (đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm) vì hành vi phạm tội của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội phạm thì các tiền án của bị cáo phải tính để xác định tái phạm, tái phạm nguy hiểm”. Trong vụ án này, hành vi lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản của T vào ngày 10/01/2021 đã đủ yếu tố cấu thành tội phạm nên 02 tiền án của bị cáo phải tính để xác định tái phạm, tái phạm nguy hiểm.

Tuy nhiên, xem xét 02 bản án được xác định là tiền án đối với bị cáo T thì:

- Đối với Bản án số 05: Căn cứ Nghị quyết số 109/2015/QH13 ngày 27/11/2015 của Quốc hội về việc thi hành Bộ luật Hình sự, Nghị quyết số 144/2016/QH13 ngày 29/6/2016 của Quốc hội về việc lùi hiệu lực thi hành của Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13, Bộ luật Tố tụng hình sự số 101/2015/QH13, Luật Tổ chức cơ quan điều tra hình sự số 99/2015/QH13, Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam số 94/2015/QH13 và bổ sung dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13 vào chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2016, khoản 3 Điều 7 Bộ luật Hình sự năm 2015 và theo hướng dẫn tại Công văn số 276/TANDTC-PC ngày 13/9/2016 của Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn một số quy định có lợi cho người phạm tội của Bộ luật Hình sự năm 2015 thì lần phạm tội trước của bị cáo T đã được xét xử tại Bản án số 115, bị cáo T phạm tội khi chưa đủ 18 tuổi (17 tuổi 09 tháng 02 ngày) và bị kết án về tội phạm ít nghiêm trọng. Tại điểm b khoản 1 Điều 107 Bộ luật Hình sự năm 2015 có quy định: “Người dưới 18 tuổi bị kết án được coi là không có án tích, nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây: “... b) Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi bị kết án về tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng hoặc tội phạm rất nghiêm trọng do vô ý”.

Như vậy, trong lần phạm tội này, bị cáo T được coi là không có án tích. Để bảo đảm áp dụng đúng pháp luật, bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp, bảo đảm việc áp dụng các quy định có lợi cho người phạm tội, cần phải xác định hành vi phạm tội của bị cáo T trong vụ án đã được Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh Yên Bái xét xử tại Bản án số 05 không thuộc trường hợp tái phạm.

- Đối với Bản án số 172 xử phạt T 18 tháng tù về Tội trộm cắp tài sản, tổng hợp hình phạt với Bản án số 05, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là 36 tháng tù, bị cáo T chấp hành xong hình phạt tù ngày 13/12/2019 (chưa được xóa án tích), bản án này của Tòa án nhân dân quận N, Thành phố Hà Nội không xác định tái phạm.

Như vậy, cả hai tiền án của bị cáo T trước đó đều về tội chiếm đoạt (trộm cắp tài sản) và trong cả hai bản án nêu trên, hành vi phạm tội của bị cáo T đều không thuộc trường hợp tái phạm. Tại khoản 1 Điều 53 Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định: “Tái phạm là trường hợp đã bị kết án, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý...”. Do đó, hành vi phạm tội của bị cáo T trong lần phạm tội tại vụ án này thuộc trường hợp tái phạm, mà không thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 53 Bộ luật Hình sự năm 2015. Do đó, việc Tòa án nhân dân huyện B xét xử bị cáo T theo khoản 1 Điều 175 Bộ luật Hình sự năm 2015 và áp dụng thêm tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự tái phạm theo điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015 đối với bị cáo T là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.

3. Kiến nghị

Từ những ý kiến, quan điểm còn tồn tại một số điểm khác nhau về việc áp dụng tình tiết tái phạm, tái phạm nguy hiểm, để tạo sự thống nhất cho việc áp dụng trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, tác giả kiến nghị như sau: Đối với trường hợp bị cáo đã có tiền án trước đó đều về tội chiếm đoạt tài sản và được xác định bằng bản án có hiệu lực pháp luật thể hiện hành vi phạm tội của bị cáo đều không thuộc trường hợp tái phạm theo quy định tại khoản 1 Điều 53 Bộ luật Hình sự năm 2015 thì cần xác định hành vi phạm tội của bị cáo trong lần phạm tội tiếp theo thuộc trường hợp tái phạm, mà không thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 53 Bộ luật Hình sự năm 2015 như đã nêu theo quan điểm thứ nhất.

Thẩm phán Hoàng Văn Đạng

Tòa án nhân dân huyện Yên Minh, tỉnh Hà Giang

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 2 (Số 393), tháng 11/2023)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Việc lập và nộp hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH), đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là thủ tục bắt buộc, bảo đảm tính chặt chẽ, minh bạch và khách quan trong quá trình lựa chọn những người tiêu biểu tham gia cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Căn cứ Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND, Hội đồng bầu cử quốc gia đã ban hành mẫu biểu, hướng dẫn và quy trình tiếp nhận hồ sơ, tạo điều kiện để người được giới thiệu ứng cử và người tự ứng cử thực hiện quyền chính trị - pháp lý đúng quy định.
Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Việc điều chỉnh cơ cấu và phân bổ giới thiệu người ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) được thực hiện trên cơ sở điều chỉnh lần thứ nhất của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về cơ cấu, thành phần và số lượng được phân bổ cho từng cơ quan, tổ chức, đơn vị. Trên cơ sở đó, Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tổ chức hội nghị hiệp thương có trách nhiệm thông báo phân bổ và hướng dẫn nội dung, trình tự, thủ tục giới thiệu người ứng cử, bảo đảm việc lập hồ sơ ứng cử được thực hiện theo quy định pháp luật.
Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Từ năm 2026, các quy định liên quan đến thu nhập từ kinh doanh, từ tiền lương, tiền công của cá nhân cư trú tại Luật Thuế thu nhập cá nhân số 109/2025/QH15 có hiệu lực, với nhiều chính sách mới như tăng mức giảm trừ gia cảnh lên 15,5 triệu đồng, nâng ngưỡng doanh thu chịu thuế của hộ, cá nhân kinh doanh lên 500 triệu đồng/năm giúp giảm gánh nặng đối với người nộp thuế.
Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Luật Thương mại điện tử số 122/2025/QH15 được Quốc hội thông qua ngày 10/12/2025, gồm 07 chương, 41 điều, được xây dựng theo định hướng kiến tạo phát triển, tăng cường hiệu quả quản lý và bảo vệ lợi ích chính đáng của doanh nghiệp, người tiêu dùng với nhiều nội dung mới, nổi bật. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2026.
Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Hội đồng nhân dân (HĐND) cấp tỉnh, cấp xã và bố trí đại biểu HĐND hoạt động chuyên trách nhiệm kỳ 2026 - 2031 là nội dung quan trọng nhằm bảo đảm tổ chức bộ máy HĐND các cấp tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu sắp xếp đơn vị hành chính và định hướng cải cách của Đảng và Nhà nước. Những quy định này được thực hiện thống nhất theo Nghị quyết số 106/2025/UBTVQH15 ngày 16/10/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) và các văn bản có liên quan.
Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là một trong những quyền chính trị cơ bản của công dân, đồng thời là khâu có ý nghĩa quyết định đối với chất lượng hoạt động của cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Pháp luật về bầu cử không chỉ bảo đảm quyền ứng cử của công dân mà còn đặt ra những tiêu chuẩn, điều kiện, giới hạn và cơ chế sàng lọc chặt chẽ nhằm lựa chọn được những người đủ đức, đủ tài, xứng đáng đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân.
Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức theo các quy định chặt chẽ của Hiến pháp và pháp luật về bầu cử, trong đó xác định rõ tổng số đại biểu được bầu, cơ cấu, thành phần người ứng cử cũng như nguyên tắc phân bổ đại biểu ở từng địa phương. Bài viết làm rõ số lượng ĐBQH khóa XVI dự kiến được bầu, các yêu cầu về tỷ lệ đại diện của phụ nữ, người dân tộc thiểu số và những nguyên tắc cụ thể để xác định số lượng đại biểu HĐND các cấp, qua đó giúp cử tri hiểu rõ hơn cơ sở pháp lý và ý nghĩa của việc bảo đảm tính đại diện, dân chủ trong bầu cử.
Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Theo quy định tại Điều 7 Hiến pháp năm 2013 và Điều 1 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015, việc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tiến hành theo các nguyên tắc bầu cử phổ thông; nguyên tắc bình đẳng trong bầu cử; nguyên tắc bầu cử trực tiếp; nguyên tắc bỏ phiếu kín. Việc quán triệt và thực hiện nghiêm các nguyên tắc này không chỉ bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân, mà còn là thước đo quan trọng để đánh giá một cuộc bầu cử dân chủ, đúng pháp luật.
Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là những người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân trong bộ máy quyền lực nhà nước. Trên cơ sở Hiến pháp năm 2013, được sửa đổi, bổ sung năm 2025, Luật Tổ chức Quốc hội và Luật Tổ chức chính quyền địa phương quy định rõ hệ thống quyền hạn, trách nhiệm cũng như cơ chế miễn trừ đối với đại biểu nhằm bảo đảm thực hiện đầy đủ chức năng lập pháp, giám sát, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và địa phương, đồng thời tăng cường trách nhiệm của đại biểu dân cử trước cử tri và xã hội.
Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số là yêu cầu cấp thiết trong tiến trình xây dựng xã hội phát triển toàn diện và bền vững ở Việt Nam hiện nay. Trên cơ sở phân tích lý luận và khảo sát thực tiễn tại tỉnh Gia Lai, nơi có 24,76% dân số là người dân tộc thiểu số thuộc 44 thành phần, bài viết đánh giá việc thực hiện quyền này theo khung phân tích của Bình luận chung số 21 của Liên hợp quốc, gồm ba tiêu chí: tính sẵn có, khả năng tiếp cận và tính chấp nhận được. Kết quả cho thấy, còn tồn tại hạn chế về thiết chế văn hóa cơ sở, chênh lệch vùng miền và mức độ tham gia còn hình thức. Từ đó, bài viết đề xuất giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả, bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số tại tỉnh Gia Lai.
Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu cải cách toàn diện, đẩy mạnh hội nhập quốc tế và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, việc nâng cao vai trò lãnh đạo toàn diện, trực tiếp của Đảng đối với hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp có ý nghĩa chiến lược và cấp thiết.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bài viết nêu lên vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước và đề xuất một số giải pháp nâng cao vai trò của Bộ Tư pháp trong giai đoạn mới.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Trong quá trình phát triển của đất nước, đặc biệt, trong 10 năm gần đây, với sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế - xã hội Việt Nam, việc xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật là công tác đặc biệt quan trọng. Với sự nỗ lực không ngừng, Bộ Tư pháp đã cùng các bộ, ngành làm tốt công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và đưa pháp luật vào cuộc sống, góp phần quan trọng trong thực hiện thành công công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế, giữ vững chủ quyền quốc gia, an ninh, trật tự xã hội, nâng cao đời sống vật chất và văn hóa, tinh thần của Nhân dân, bảo đảm công bằng xã hội, xây dựng xã hội dân chủ, văn minh theo đường lối của Đảng và Nhà nước. Để đạt được những thành tựu đó, nhiều hoạt động đã được triển khai đồng bộ, từ công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL); đặc biệt, đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực làm công tác xây dựng, thi hành pháp luật. Bộ Tư pháp đã chủ động, tích cực phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, trong đó có Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trong công tác xây dựng thể chế, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác pháp chế.
Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Với chức năng là cơ quan của Chính phủ, thực hiện quản lý nhà nước về xây dựng và thi hành pháp luật, Bộ Tư pháp đã và đang đóng góp, góp phần quan trọng trong kiến tạo nền tảng pháp lý vững chắc, phục vụ mục tiêu phát triển đất nước; đồng thời, đóng vai trò chủ đạo trong xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ pháp luật, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và thúc đẩy tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Những kết quả đạt được thể hiện qua các nội dung chính sau:
Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Ngày 01/01/2004, tỉnh Lai Châu chính thức được chia tách thành tỉnh Điện Biên và Lai Châu. Đây cũng là thời điểm Sở Tư pháp tỉnh Lai Châu (mới) được thành lập và đi vào hoạt động. Trải qua hơn 21 năm xây dựng và phát triển, ngành Tư pháp tỉnh Lai Châu đã vượt qua khó khăn, thử thách, ngày càng lớn mạnh và khẳng định được vai trò, vị thế của mình.

Theo dõi chúng tôi trên: