Thứ tư 26/08/2026 00:07
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Bàn về tình tiết tái phạm, tái phạm nguy hiểm - Góc nhìn từ vụ án cụ thể

Trong phạm vi bài viết này, tác giả nêu lên một số quan điểm chưa thống nhất đối với việc xác định tình tiết tái phạm, tái phạm nguy hiểm trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử; từ đó, đưa ra nhận định, đánh giá đối với trường hợp người phạm tội có tiền án nhằm xác định rõ hành vi phạm tội của người phạm tội thuộc trường hợp tái phạm hay tái phạm nguy hiểm.

1. Quy định pháp luật về tình tiết tái phạm, tái phạm nguy hiểm

Tái phạm hoặc tái phạm nguy hiểm là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 (Bộ luật Hình sự năm 2015). Theo quy định tại Điều 53 Bộ luật Hình sự năm 2015 thì tái phạm là trường hợp đã bị kết án, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý hoặc thực hiện hành vi phạm tội về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do vô ý; còn tái phạm nguy hiểm được hiểu là trường hợp đã bị kết án về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do cố ý, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do cố ý hoặc đã tái phạm, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý.

Trong phần riêng (phần các tội phạm) của Bộ luật Hình sự năm 2015 thì tái phạm, tái phạm nguy hiểm còn là tình tiết định tội, định khung hình phạt trong một số tội, cụ thể: Tái phạm là tình tiết định tội quy định trong một số tội như khoản 1 Điều 172, khoản 1 Điều 173, khoản 1 Điều 174, khoản 1 Điều 178...; tái phạm nguy hiểm là tình tiết định khung hình phạt quy định tại một số tội như điểm p khoản 1 Điều 123, điểm d khoản 2 Điều 134, điểm i khoản 2 Điều 141, điểm e khoản 3 Điều 150, điểm h khoản 2 Điều 168, điểm g khoản 2 Điều 173, điểm d khoản 2 Điều 174...

Như vậy, việc hiểu và vận dụng đúng quy định của pháp luật hình sự về tái phạm, tái phạm nguy hiểm trong thực tiễn xét xử là quan trọng và cần thiết nhằm xác định một người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội đã đủ yếu tố cấu thành tội phạm (cấu thành tội phạm cơ bản) hay chưa? Khi một người thực hiện hành vi nguy hiểm đáng kể cho xã hội và đã đủ yếu tố cấu thành tội phạm thì người đó còn có các dấu hiệu phản ánh tội phạm có mức độ nguy hiểm cho xã hội tăng lên và thuộc trường hợp định khung phạt (cấu thành tội phạm tăng nặng) hay không?

Trong quá trình áp dụng pháp luật, việc xác định tái phạm, tái phạm nguy hiểm trong điều tra, truy tố, xét xử vẫn có nhiều trường hợp vận dụng không đúng với quy định của pháp luật và còn có nhiều ý kiến chưa thống nhất; có nhiều trường hợp hành vi phạm tội chỉ là tái phạm nhưng các cơ quan tiến hành tố tụng lại xác định là tái phạm nguy hiểm, ngược lại, có trường hợp hành vi phạm tội là tái phạm nguy hiểm nhưng lại xác định là tái phạm, hoặc có trường hợp xác định tình tiết tái phạm, tái phạm nguy hiểm là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, trong khi đó nó phải là tình tiết định khung hình phạt...

Để làm rõ hơn thực trạng này, tác giả đưa ra một vụ án mà bị cáo có hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác và bị truy tố, xét xử về Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản. Trong quá trình giải quyết vụ án đã có nhiều quan điểm khác nhau về việc xác định bị cáo thuộc trường hợp tái phạm hay tái phạm nguy hiểm và hành vi phạm tội của bị cáo thuộc cấu thành cơ bản quy định tại khoản 1 Điều 175 Bộ luật Hình sự năm 2015 và phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015 hay hành vi phạm tội của bị cáo thuộc cấu thành tăng nặng (có tình tiết định khung tăng nặng trách nhiệm hình sự) là tái phạm nguy hiểm theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 175 Bộ luật Hình sự năm 2015.

2. Nội dung vụ án và một số nhận định

Ngày 10/01/2021, tại thôn P, xã Đ, huyện B, tỉnh Hà Giang, T, sinh ngày 21/4/1998, có hành vi lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt 01 xe máy của anh H có trị giá 18.000.000 đồng. Hành vi của T đã bị Viện kiểm sát nhân dân huyện B truy tố về Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 175 Bộ luật Hình sự năm 2015. Theo tài liệu có trong hồ sơ xác định, T có các tiền án như sau:

- Trong thời gian thử thách của án treo (tại Bản án số 115/2016/HSST ngày 23/5/2016 (Bản án số 115) của Tòa án nhân dân quận N, thành phố Hà Nội xử phạt T 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 tháng về Tội trộm cắp tài sản), vào ngày 16/11/2016, T tiếp tục thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, tại Bản án số 05/2017/HSST ngày 27/02/2017 (Bản án số 05) của Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh Yên Bái xử phạt T 01 năm tù về Tội trộm cắp tài sản, tổng hợp hình phạt với Bản án số 115, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là 01 năm 06 tháng tù (Bản án này, Tòa án nhân dân huyện V đã áp dụng tình tiết tăng nặng là tái phạm đối với T).

- Bản án số 172/2017/HSST ngày 23/8/2017 (Bản án số 172) của Tòa án nhân dân quận N, Thành phố Hà Nội xử phạt T 18 tháng tù về Tội trộm cắp tài sản, tổng hợp hình phạt với Bản án số 05, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là 36 tháng tù, T đã chấp hành xong hình phạt tù vào ngày 13/12/2019 (Bản án này Tòa án nhân dân quận N không áp dụng tình tiết tăng nặng là tái phạm đối với T).

- Về nhân thân: (i) Bản án số 115 của Tòa án nhân dân quận N, Thành phố Hà Nội xử phạt T 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 tháng về Tội trộm cắp tài sản, trong vụ án này, T bị kết án về tội phạm ít nghiêm trọng khi chưa đủ 18 tuổi. (ii) Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 05/2022/HS-ST ngày 18/01/2022 của Tòa án nhân dân huyện B đã áp dụng khoản 1 Điều 175, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo T 02 năm tù về Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản.

Quá trình truy tố, xét xử đối với bị cáo T đã có nhiều quan điểm khác nhau như sau:

(i) Quan điểm thứ nhất cho rằng: Hành vi phạm tội của T thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm và bị cáo T phải bị xét xử theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 175 Bộ luật Hình sự năm 2015 vì tính đến ngày bị cáo T thực hiện hành vi phạm tội có 02 bản án (Bản án số 05 và Bản án số 172) chưa được xóa án tích, 02 bản án này phải được xem xét để xác định tái phạm nguy hiểm đối với bị cáo T.

Các bản án tuyên về hành vi độc lập và trong các lần phạm tội này của bị cáo đều không được xem xét là dấu hiệu cấu thành tội phạm, đến khi bị cáo thực hiện hành vi phạm tội ngày 10/01/2021, các bản án đã có hiệu lực pháp luật. Theo hướng dẫn tại điểm b tiết 7.3 mục 7 Nghị quyết số 01/2006/NQ-HĐTP ngày 12/5/2006 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật Hình sự (Nghị quyết số 01/2006/NQ-HĐTP) thì “trường hợp các tiền án của bị cáo không được xem xét là dấu hiệu cấu thành tội phạm (đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm) vì hành vi phạm tội của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội phạm thì các tiền án của bị cáo phải tính để xác định tái phạm, tái phạm nguy hiểm”. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 53 Bộ luật Hình sự năm 2015, được coi là tái phạm nguy hiểm tức là “đã tái phạm, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý”. Do đó, hành vi phạm tội của T thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm và bị cáo phải bị xét xử theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 175 Bộ luật Hình sự năm 2015.

(ii) Quan điểm thứ hai (cũng là quan điểm của tác giả) cho rằng: Ngày 10/01/2021, tại thôn P, xã Đ, huyện B, tỉnh Hà Giang, T đã có hành vi lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản của anh H 01 chiếc xe máy trị giá là 18.000.000 đồng, hành vi của T đã đủ yếu tố cấu thành Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo quy định tại Điều 175 Bộ luật Hình sự năm 2015. Tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo có 02 tiền án, là Bản án số 05 (bản án có áp dụng tái phạm) và Bản án số 172 (bản án không áp dụng tái phạm).

Vận dụng hướng dẫn tại điểm b tiết 7.3 mục 7 Nghị quyết số 01/2006/NQ-HĐTP thì “Trường hợp các tiền án của bị cáo không được xem xét là dấu hiệu cấu thành tội phạm (đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm) vì hành vi phạm tội của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội phạm thì các tiền án của bị cáo phải tính để xác định tái phạm, tái phạm nguy hiểm”. Trong vụ án này, hành vi lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản của T vào ngày 10/01/2021 đã đủ yếu tố cấu thành tội phạm nên 02 tiền án của bị cáo phải tính để xác định tái phạm, tái phạm nguy hiểm.

Tuy nhiên, xem xét 02 bản án được xác định là tiền án đối với bị cáo T thì:

- Đối với Bản án số 05: Căn cứ Nghị quyết số 109/2015/QH13 ngày 27/11/2015 của Quốc hội về việc thi hành Bộ luật Hình sự, Nghị quyết số 144/2016/QH13 ngày 29/6/2016 của Quốc hội về việc lùi hiệu lực thi hành của Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13, Bộ luật Tố tụng hình sự số 101/2015/QH13, Luật Tổ chức cơ quan điều tra hình sự số 99/2015/QH13, Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam số 94/2015/QH13 và bổ sung dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13 vào chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2016, khoản 3 Điều 7 Bộ luật Hình sự năm 2015 và theo hướng dẫn tại Công văn số 276/TANDTC-PC ngày 13/9/2016 của Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn một số quy định có lợi cho người phạm tội của Bộ luật Hình sự năm 2015 thì lần phạm tội trước của bị cáo T đã được xét xử tại Bản án số 115, bị cáo T phạm tội khi chưa đủ 18 tuổi (17 tuổi 09 tháng 02 ngày) và bị kết án về tội phạm ít nghiêm trọng. Tại điểm b khoản 1 Điều 107 Bộ luật Hình sự năm 2015 có quy định: “Người dưới 18 tuổi bị kết án được coi là không có án tích, nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây: “... b) Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi bị kết án về tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng hoặc tội phạm rất nghiêm trọng do vô ý”.

Như vậy, trong lần phạm tội này, bị cáo T được coi là không có án tích. Để bảo đảm áp dụng đúng pháp luật, bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp, bảo đảm việc áp dụng các quy định có lợi cho người phạm tội, cần phải xác định hành vi phạm tội của bị cáo T trong vụ án đã được Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh Yên Bái xét xử tại Bản án số 05 không thuộc trường hợp tái phạm.

- Đối với Bản án số 172 xử phạt T 18 tháng tù về Tội trộm cắp tài sản, tổng hợp hình phạt với Bản án số 05, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là 36 tháng tù, bị cáo T chấp hành xong hình phạt tù ngày 13/12/2019 (chưa được xóa án tích), bản án này của Tòa án nhân dân quận N, Thành phố Hà Nội không xác định tái phạm.

Như vậy, cả hai tiền án của bị cáo T trước đó đều về tội chiếm đoạt (trộm cắp tài sản) và trong cả hai bản án nêu trên, hành vi phạm tội của bị cáo T đều không thuộc trường hợp tái phạm. Tại khoản 1 Điều 53 Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định: “Tái phạm là trường hợp đã bị kết án, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý...”. Do đó, hành vi phạm tội của bị cáo T trong lần phạm tội tại vụ án này thuộc trường hợp tái phạm, mà không thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 53 Bộ luật Hình sự năm 2015. Do đó, việc Tòa án nhân dân huyện B xét xử bị cáo T theo khoản 1 Điều 175 Bộ luật Hình sự năm 2015 và áp dụng thêm tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự tái phạm theo điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015 đối với bị cáo T là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.

3. Kiến nghị

Từ những ý kiến, quan điểm còn tồn tại một số điểm khác nhau về việc áp dụng tình tiết tái phạm, tái phạm nguy hiểm, để tạo sự thống nhất cho việc áp dụng trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, tác giả kiến nghị như sau: Đối với trường hợp bị cáo đã có tiền án trước đó đều về tội chiếm đoạt tài sản và được xác định bằng bản án có hiệu lực pháp luật thể hiện hành vi phạm tội của bị cáo đều không thuộc trường hợp tái phạm theo quy định tại khoản 1 Điều 53 Bộ luật Hình sự năm 2015 thì cần xác định hành vi phạm tội của bị cáo trong lần phạm tội tiếp theo thuộc trường hợp tái phạm, mà không thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 53 Bộ luật Hình sự năm 2015 như đã nêu theo quan điểm thứ nhất.

Thẩm phán Hoàng Văn Đạng

Tòa án nhân dân huyện Yên Minh, tỉnh Hà Giang

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 2 (Số 393), tháng 11/2023)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Trong bối cảnh tai nạn lao động vẫn diễn biến phức tạp, chuyển đổi số đang mở ra khả năng thay đổi căn bản phương thức quản trị an toàn, vệ sinh lao động (ATVSLĐ) tại doanh nghiệp. Từ số hóa hoạt động huấn luyện, cấp chứng nhận điện tử đến ứng dụng trí tuệ nhân tạo, cảm biến và robot để nhận diện, cảnh báo sớm nguy cơ, vấn đề đặt ra hiện nay là cần tiếp tục hoàn thiện hành lang pháp lý để chuyển từ quản lý mang tính thủ tục, hậu kiểm sang quản trị chủ động, lấy phòng ngừa rủi ro làm trọng tâm.
Đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

Đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

Với mục tiêu đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, thành phố Hà Nội đặt trọng tâm vào đổi mới nội dung, hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật, tăng cường ứng dụng công nghệ số và xây dựng đội ngũ làm công tác phổ biến, giáo dục pháp luật am hiểu địa bàn, phong tục, tập quán và văn hóa của người dân nơi đây.
Quan điểm, định hướng mới của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai

Quan điểm, định hướng mới của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai

Ngày 16/6/2022, Ban chấp hành trung ương Đảng khóa XIII ban hành Nghị quyết số 18-NQ/TW về "Tiếp tục đổi mới, hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý và sử dụng đất, tạo động lực đưa nước ta trở thành nước phát triển có thu nhập cao" (Nghị quyết số 18-NQ/TW). Để hiện thực hóa mục tiêu đưa đất nước trở thành nước phát triển có thu nhập cao, trong thời điểm hiện tại, nhằm phù hợp với sự phát triển chung của đất nước, Hội nghị lần thứ ba, Ban chấp hành trung ương Đảng khóa XIV đã đưa ra những quan điểm, định hướng sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan tại Nghị quyết số 21-NQ/TW ngày 28/7/2026 (Nghị quyết số 21-NQ/TW) làm kim chỉ nam cho mọi hoạt động sửa đổi chính sách pháp luật sau này. Nghị quyết số 21-NQ/TW đã thể hiện những điểm mới trong chủ trương của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan.
Luật Thủ đô năm 2026: Mở rộng cơ hội đầu tư cho nhiều dự án

Luật Thủ đô năm 2026: Mở rộng cơ hội đầu tư cho nhiều dự án

Luật Thủ đô năm 2026 được Quốc hội thông qua ngày 23/4/2026 và có hiệu lực từ ngày 01/7/2026, tiếp tục hoàn thiện các cơ chế, chính sách đặc thù nhằm xây dựng và phát triển Thủ đô. Đáng chú ý, tại Điều 26 của Luật đã thiết lập khung chính sách tương đối toàn diện về thu hút đầu tư, ưu đãi, hỗ trợ đầu tư và phát triển doanh nghiệp, mở rộng cơ hội cho nhiều dự án trên địa bàn Thành phố được tiếp cận các chính sách ưu đãi về đất đai, thuế, tín dụng, hạ tầng, phát triển nhân lực và đổi mới sáng tạo.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Tóm tắt: Trong bối cảnh hệ thống pháp luật ngày càng phức tạp và thường xuyên thay đổi, việc tiếp cận, hiểu và sử dụng pháp luật trở thành thách thức đối với người dân. Mô hình phổ biến, giáo dục pháp luật hiện nay chủ yếu tập trung vào truyền đạt văn bản, chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu hỗ trợ người dân sử dụng pháp luật trong thực tiễn. Trên cơ sở phân tích xu hướng quốc tế về tiếp cận công lý lấy người dân làm trung tâm và ứng dụng công nghệ số, nghiên cứu đề xuất chuyển từ mô hình “phổ biến pháp luật” sang “hạ tầng tuân thủ phòng ngừa”, gắn phổ biến pháp luật với nhu cầu thực tiễn, cảnh báo sớm rủi ro pháp lý và hỗ trợ tra cứu, sử dụng pháp luật hiệu quả trong môi trường số.
Nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng cho người gửi tiền ở Việt Nam

Nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng cho người gửi tiền ở Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh ngân hàng số phát triển, thông tin chưa được kiểm chứng có thể tác động nhanh đến tâm lý và hành vi của người gửi tiền. Nghiên cứu phân tích quy định pháp luật và thực tiễn phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cho thấy, hoạt động này chưa chú trọng đầy đủ đến mức độ hiểu và khả năng vận dụng pháp luật của người gửi tiền; nội dung còn thiên về tính chuyên môn; phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật và cơ chế cung cấp thông tin kịp thời còn hạn chế. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá, tích hợp thông tin pháp luật ngắn gọn vào dịch vụ ngân hàng số và tăng cường cung cấp thông tin chính thức, kịp thời nhằm bảo vệ người gửi tiền và củng cố niềm tin vào hệ thống ngân hàng.
Phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Tóm tắt: Quyền con người phản ánh sự kết tinh những giá trị nhân phẩm cao quý của nhân loại. Nghiên cứu công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người là phân tích, đánh giá phương thức thể chế hóa các chủ trương của Đảng về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đồng thời, đề xuất giải pháp khắc phục những hạn chế của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 trước thách thức mới từ công nghệ số. Trên cơ sở tổng hợp và so sánh luật học, nghiên cứu phân tích, đánh giá vai trò của công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người và thực trạng thi hành Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012. Đồng thời, nghiên cứu đánh giá tính phù hợp, khả thi của dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)* (dự thảo Luật). Từ đó, kiến nghị và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Luật Phòng, chống ma túy năm 2021 quy định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi nghiện ma túy mà không tự nguyện cai nghiện. Mặc dù không được xem là biện pháp xử lý hành chính nhưng biện pháp này mang tính cách ly người bị áp dụng khỏi cộng đồng. Để bảo vệ quyền của người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi, pháp luật cho phép các chủ thể liên quan khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành chưa quy định quyền khởi kiện hay kháng cáo đối với quyết định này. Nghiên cứu phân tích bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi, đồng thời, đề xuất giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật nhằm bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người bị áp dụng biện pháp này.
Nâng cao trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Nâng cao trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã xác định rõ trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật. Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, cải cách tư pháp và chuyển đổi số quốc gia, vai trò này ngày càng trở nên quan trọng. Nghiên cứu phân tích cơ sở chính trị, pháp lý, thực trạng quy định pháp luật và thực tiễn triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật của Tòa án nhân dân; trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện hoạt động này trong hệ thống Tòa án nhân dân.
Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Sự phát triển của nền tảng số, mạng xã hội và trí tuệ nhân tạo tạo sinh đang làm thay đổi phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật, đồng thời, đặt ra nhiều thách thức trong kiểm soát thông tin pháp luật trên môi trường số. Bên cạnh việc mở rộng khả năng tiếp cận pháp luật của người dân, tình trạng lan truyền thông tin pháp luật sai lệch, thiếu kiểm chứng hoặc được tạo sinh bởi hệ thống trí tuệ nhân tạo đang ảnh hưởng đến hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật và quyền tiếp cận thông tin pháp luật chính xác. Trên cơ sở phân tích các vấn đề lý luận, đánh giá thực trạng quy định và thực tiễn áp dụng pháp luật tại Việt Nam, nghiên cứu phân tích bất cập trong kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số và đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả quản lý và bảo đảm chính xác của thông tin pháp luật trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật.
Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 7/2026

Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 7/2026

(Cập nhật bởi LuatVietnam.vn)
Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam[1]

Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam[1]

Tóm tắt: Mô hình chính quyền địa phương hai cấp được triển khai ở Việt Nam từ ngày 01/7/2025 đánh dấu bước chuyển quan trọng trong quá trình đổi mới tổ chức bộ máy nhà nước theo hướng tinh, gọn, tăng cường phân quyền, phân cấp và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị địa phương. Nghiên cứu phân tích các cơ hội và thách thức trong quá trình triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam, làm rõ những vấn đề đặt ra trong hoàn thiện thể chế, bảo đảm nguồn lực và nâng cao năng lực quản trị địa phương, từ đó, đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam thời gian tới.
Một số bất cập của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 và kiến nghị hoàn thiện

Một số bất cập của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Sau hơn 13 năm thi hành, Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng trong triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, góp phần nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ và Nhân dân. Tuy nhiên, trước yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, chuyển đổi số và hoàn thiện thể chế theo chủ trương, định hướng của Đảng, nhiều quy định của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 bộc lộ những hạn chế, bất cập. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, tổng kết thực tiễn thi hành và bối cảnh phát triển đất nước giai đoạn mới, nghiên cứu làm rõ những bất cập về tổ chức thực hiện công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên pháp luật, đối tượng đặc thù, nội dung, hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật và sự không thống nhất của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 với một số luật liên quan. Từ đó, kiến nghị sửa đổi, bổ sung nhằm hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật và nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong bối cảnh hiện nay.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật - Yêu cầu chuyển từ phổ biến, giáo dục pháp luật hình thức sang tiếp cận dựa trên nhu cầu của người dân

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật - Yêu cầu chuyển từ phổ biến, giáo dục pháp luật hình thức sang tiếp cận dựa trên nhu cầu của người dân

Tóm tắt: Việc sửa đổi Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 là cấp thiết trước yêu cầu khắc phục tình trạng tuyên truyền thiên về hình thức, chưa gắn chặt với những vấn đề pháp lý mà người dân thực sự cần được hỗ trợ. Nghiên cứu phân tích khoảng cách giữa nguyên tắc phù hợp với nhu cầu và cơ chế nhận diện, phản ánh, đáp ứng, đo lường nhu cầu pháp lý trong dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật[1] (dự thảo Luật). Trên cơ sở phân tích quy phạm, bình luận chính sách và tiếp cận liên ngành về nhu cầu pháp lý, năng lực pháp lý, tiếp cận công lý, nghiên cứu tập trung vào các quy định về nguyên tắc, nội dung, hình thức, hướng dẫn và giải đáp pháp luật, đối tượng đặc thù, giáo dục pháp luật trong cơ sở giáo dục, trách nhiệm tổ chức thực hiện, cơ chế cấp xã, chuyển đổi số và đánh giá hiệu quả. Kết quả nghiên cứu cho thấy, dự thảo Luật đã có nhiều định hướng tích cực nhưng thiếu cơ chế khảo sát nhu cầu, thiết kế nội dung theo tình huống, chuyển tuyến hỗ trợ pháp lý và đánh giá khả năng hiểu, vận dụng pháp luật. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện các cơ chế bảo đảm cách tiếp cận lấy nhu cầu pháp lý của người dân làm trung tâm.
Chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên ở Việt Nam

Chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên ở Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển nhanh, mạnh mẽ của không gian mạng đang tác động sâu sắc đến đời sống xã hội, đồng thời, đặt ra nhiều rủi ro đối với người chưa thành niên. Trong bối cảnh đó, chuyển đổi số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật trở thành yêu cầu cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả tiếp cận pháp luật cho nhóm đối tượng này. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết của chuyển đổi số trong phổ biến, giáo dục pháp luật đối với người chưa thành niên; đánh giá thực trạng triển khai tại Việt Nam, chỉ ra những hạn chế, bất cập, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên.

Theo dõi chúng tôi trên: