Thứ hai 10/08/2026 11:07
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Bàn về văn bản ủy quyền tham gia tố tụng dân sự

Bài viết phân tích, đánh giá quy định của pháp luật Việt Nam về việc đương sự lập văn bản ủy quyền cho người đại diện tham gia tố tụng qua một vụ án thực tế, làm cơ sở kiến nghị hoàn thiện, nâng cao khả năng áp dụng pháp luật về vấn đề này.

Quá trình tố tụng để giải quyết vụ án dân sự là quá trình diễn ra với trình tự, thủ tục chặt chẽ và có thể kéo dài. Do đó, nhiều đương sự lựa chọn ủy quyền cho người đại diện để họ nhân danh mình tham gia tố tụng nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự cũng như làm rõ sự thật khách quan của vụ án[1]. Hiện nay, việc ủy quyền trong tố tụng dân sự (TTDS) phải được lập thành văn bản. Tuy nhiên, pháp luật lại chưa có quy định cụ thể về hình thức của văn bản ủy quyền, điều này dẫn đến thực tế áp dụng pháp luật có sự khác nhau, gây ảnh hưởng đến quá trình giải quyết vụ án dân sự.

1. Thực hiện quy định pháp luật về văn bản ủy quyền tham gia tố tụng dân sự qua một vụ án

Vụ án xảy ra như sau: Ông A là bị đơn trong vụ án dân sự về tranh chấp ranh giới thửa đất được Tòa án nhân dân huyện X, tỉnh Y thụ lý giải quyết. Ngày 26/7/2022, ông A lập và nộp cho Tòa án văn bản (tên là giấy ủy quyền) để ủy quyền cho ông B thay mặt và nhân danh ông A liên hệ với Tòa án nhân dân các cấp, cá nhân, tổ chức và cơ quan có thẩm quyền để tham gia tố tụng tại Tòa án, làm việc với các cơ quan có thẩm quyền để giải quyết vụ việc nói trên cho đến khi có bản án/quyết định có hiệu lực của pháp luật. Việc ủy quyền này là không có thù lao. Văn bản ủy quyền đã được Văn phòng Công chứng Z chứng nhận với nội dung như sau:

“Lời chứng của công chứng viên: Hôm nay, ngày ... tháng ... năm ... tại Văn phòng Công chứng Z, địa chỉ: ... Tôi Nguyễn Văn D, công chứng viên, trong phạm vi trách nhiệm của mình theo quy định của pháp luật,

Chứng nhận: (1) Giấy ủy quyền này được lập bởi: Ông A, sinh ngày ..., căn cước công dân số ... cấp ngày ... tại ... Địa chỉ: ... (2) Người ủy quyền đã tự nguyện giao kết giấy ủy quyền này; (3) Tại thời điểm ký vào giấy ủy quyền này, người ủy quyền có năng lực hành vi dân sự theo quy định của pháp luật; (4) Người ủy quyền cam đoan chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính chính xác, tính hợp pháp của các giấy tờ đã cung cấp liên quan đến việc xác lập giấy ủy quyền này; (5) Mục đích, nội dung của Giấy ủy quyền không vi phạm pháp luật, không trái đạo đức xã hội; (6) Người ủy quyền đã nghe tôi đọc lại, đồng ý toàn bộ nội dung và ký/điểm chỉ vào từng trang của giấy ủy quyền này trước mặt tôi; chữ ký/dấu điểm chỉ trong giấy ủy quyền này đúng là chữ ký hoặc dấu điểm chỉ của người ủy quyền...”.

Ngày 06/10/2022, ông B nhận được thông báo của Tòa án về việc từ chối giấy ủy quyền trên với lý do căn cứ khoản 2 và khoản 3 Điều 14 Thông tư số 01/2020/TT-BTP ngày 03/3/2020 của Bộ Tư pháp quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị định số 23/2015/NĐ-CP ngày 16/02/2015 của Chính phủ về cấp bản sao từ sổ gốc, chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký và chứng thực hợp đồng, giao dịch (Thông tư số 01/2020/TT-BTP) thì: Nội dung ủy quyền của ông A là ủy quyền tham gia giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất, bị đơn cung cấp giấy ủy quyền là chưa đúng quy định của pháp luật. Trong trường hợp này, bị đơn phải có hợp đồng ủy quyền hợp pháp để người đại diện theo ủy quyền được tham gia tố tụng trong vụ án theo quy định tại khoản 4 Điều 85 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 138 Bộ luật Dân sự năm 2015 và Thông tư số 01/2020/TT-BTP.

Từ thực vụ việc trên, tác giả đặt ra các vấn đề pháp lý sau:

Một là, về việc công chứng, chứng thực văn bản ủy quyền tham gia tố tụng dân sự:

Văn bản ủy quyền có bắt buộc phải công chứng, chứng thực hay không? Thực tiễn hiện nay cho thấy, nếu người ủy quyền là pháp nhân thì chỉ cần người đại diện theo pháp luật của pháp nhân lập văn bản ủy quyền và có đóng dấu của pháp nhân thì văn bản quyền được Tòa án chấp nhận, không cần phải công chứng, chứng thực[2]. Nhưng nếu người ủy quyền là cá nhân thì hầu hết Tòa án chỉ tiếp nhận các văn bản ủy quyền được công chứng, chứng thực.

Hiện nay, ngoài khoản 6 Điều 272 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì không có quy định khác về hình thức của văn bản ủy quyền này. Nói cách khác, theo pháp luật Việt Nam hiện hành, văn bản ủy quyền tham gia tố tụng không bắt buộc phải công chứng, chứng thực, trừ trường hợp ủy quyền thực hiện việc kháng cáo. Mặt khác, hiện nay, Luật Doanh nghiệp năm 2020 cho phép doanh nghiệp được quyết định loại dấu, số lượng, hình thức và nội dung dấu của doanh nghiệp, chi nhánh, văn phòng đại diện và đơn vị khác của doanh nghiệp (khoản 2 Điều 43) và bỏ quy định doanh nghiệp phải thông báo mẫu dấu. Do đó, việc Tòa án căn cứ vào con dấu để cho phép doanh nghiệp không cần công chứng, chứng thực văn bản ủy quyền còn cá nhân thì phải công chứng, chứng thực văn bản ủy quyền đã “vô tình” tạo ra sự bất bình đẳng trong quá trình tiến hành tố tụng giữa đương sự là cá nhân và đương sự là pháp nhân[3].

Một số quan điểm cá nhân cho rằng, về thực tế, nếu không công chứng, chứng thực văn bản ủy quyền thì Tòa án không có căn cứ để xác định bên ủy quyền và bên được ủy quyền có phải là người đã ký vào văn bản ủy quyền hay không? Kể cả trường hợp họ ký văn bản ủy quyền trước mặt của thẩm phán hoặc người được chánh án Tòa án phân công thì cũng không thể xác định được họ có đầy đủ năng lực hành vi dân sự để xác lập văn bản đó. Việc yêu cầu công chứng, chứng thực văn bản ủy quyền là xuất phát từ sự thận trọng của Tòa án, tránh trường hợp văn bản ủy quyền có thể bị giả mạo, dẫn đến ý chí được xác lập trong văn bản này không phải của đương sự. Trong khi đó, hành vi tố tụng của người được ủy quyền lại có sự ảnh hưởng trực tiếp và nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự (ví dụ: Rút đơn khởi kiện, thay đổi yêu cầu khởi kiện, hòa giải với phương án bất lợi cho đương sự…)[4]. Thậm chí trong trường hợp xét xử một vụ án dân sự có ủy quyền với tính chất phức tạp, các đương sự có liên quan có thể dựa vào văn bản ủy quyền để yêu cầu hủy án nếu quyền lợi của họ không được đảm bảo, dẫn đến nhiều vấn đề khác phát sinh và kéo dài thời gian giải quyết vụ án. Do đó, ở một khía cạnh nhất định, việc công chứng, chứng thực văn bản ủy quyền là cần thiết.

Thực tế, đa số các trường hợp, kể cả trường hợp cho rằng việc yêu cầu công chứng, chứng thực văn bản ủy quyền là không hợp lý thì hầu hết đương sự vẫn thực hiện việc công chứng, chứng thực văn bản này nếu Tòa án yêu cầu. Bởi lẽ, xét về thực tiễn, việc ủy quyền là “thủ tục nhỏ” trong tiến trình tố tụng “dài” phía sau, đương sự chấp nhận thực hiện để người đại diện theo ủy quyền của họ được tham gia tố tụng thuận lợi. Trường hợp không đồng ý thì đương sự có thể khiếu nại. Tuy nhiên, việc khiếu nại (nếu có) cũng do Tòa án tự giải quyết nên trong trường hợp Tòa án không chấp nhận thì đương sự hoặc người đại diện của họ sẽ gặp khó khăn trong quá trình tiến hành tố tụng sau đó.

Có thể thấy, cách làm trên là sự thận trọng của Tòa án nhằm tạo ra sự an toàn cho người tiến hành tố tụng. Thế nhưng, điều này ít nhiều gây ảnh hưởng cho đương sự và người đại diện theo ủy quyền của họ. Bởi lẽ, không phải mọi trường hợp họ đều trong hoàn cảnh thuận lợi (khoảng cách địa lý, thời gian, chi phí…) để thực hiện việc công chứng, chứng thực văn bản ủy quyền.

Hai là, về việc lập văn bản ủy quyền là “hợp đồng ủy quyền” (có ký xác nhận của bên ủy quyền và bên được ủy quyền) hay “giấy ủy quyền” (bên ủy quyền ký):

Khoản 2 Điều 86 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 chỉ quy định việc ủy quyền lập thành văn bản, không quy định cụ thể là hợp đồng ủy quyền hay giấy ủy quyền. Thực tế, việc ủy quyền đối với pháp nhân có thể lập hợp đồng ủy quyền hoặc giấy ủy quyền và đóng dấu pháp nhân (có thể công chứng, chứng thực nếu pháp nhân có nguyện vọng). Đối với cá nhân, việc chấp nhận văn bản ủy quyền được lập dưới dạng hợp đồng ủy quyền có công chứng, chứng thực hoặc giấy ủy quyền có công chứng, chứng thực tùy từng Tòa án khác nhau.

Trong vụ án trên, Tòa án cho rằng giấy ủy quyền của ông A là chưa đúng quy định của pháp luật vì nội dung ủy quyền của ông A là ủy quyền tham gia giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất. Do đó, ông A phải có hợp đồng ủy quyền hợp pháp.

Vấn đề đặt ra là, văn bản ủy quyền trong vụ án trên có bắt buộc phải lập dưới dạng hợp đồng ủy quyền hay không? Có thể thấy, pháp luật hiện hành chưa có quy định về nội dung, hình thức hay tên gọi của văn bản ủy quyền tham gia tố tụng trong trường hợp này. Do đó, theo tác giả, việc ông A lập văn bản ủy quyền có tên là giấy ủy quyền để ủy quyền cho ông B là không trái quy định của pháp luật. Mặt khác, căn cứ khoản 1 và khoản 4 Điều 85 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì ông B đã được Văn phòng Công chứng Z chứng nhận là người đại diện theo ủy quyền của ông A.

Thực tế, việc lập văn bản ủy quyền dưới dạng giấy ủy quyền thuận lợi hơn cho đương sự so với lập hợp đồng ủy quyền vì không phải các bên lúc nào cũng có thể gặp nhau để ký vào hợp đồng ủy quyền. Mặt khác, nếu lập hợp đồng ủy quyền thì khi chấm dứt ủy quyền, các bên cũng phải lập văn bản có hình thức phù hợp với hình thức của văn bản ủy quyền đã lập trước đó. Trong khi đó, xét về ý nghĩa thực tế, việc lập giấy ủy quyền hay hợp đồng ủy quyền là giống nhau vì nếu người được ủy quyền không đồng ý nội dung ủy quyền, các quyền và nghĩa vụ của người được ủy quyền (bao gồm cả theo giấy ủy quyền và theo quy định của pháp luật) thì họ sẽ không nộp văn bản ủy quyền cho Tòa án, không đến Tòa án để làm việc hoặc sẽ có văn bản từ chối việc được ủy quyền.

Ba là, về việc công chứng văn bản ủy quyền, chứng thực chữ ký trong văn bản ủy quyền và chứng thực văn bản ủy quyền:

Giấy ủy quyền ông A đã lập là văn bản được công chứng hay chứng thực? Nếu giấy ủy quyền trên là chứng thực thì nội dung chứng thực nêu trên là chứng thực chữ ký hay chứng thực giao dịch? Tòa án căn cứ vào Thông tư số 01/2020/TT-BTP để từ chối giấy ủy quyền của ông A cho ông B có cơ sở pháp lý hay không? Cần phân biệt công chứng, chứng thực chữ ký và chứng thực hợp đồng, giao dịch, bởi vì, việc công chứng văn bản ủy quyền, chứng thực chữ ký trong văn bản ủy quyền hay chứng thực văn bản ủy quyền là hoàn toàn khác nhau.

Trong vụ án trên, hành vi ủy quyền của ông A cho ông B (hành vi pháp lý đơn phương của ông A) là giao dịch dân sự theo Điều 116 Bộ luật Dân sự năm 2015. Đối chiếu “Lời chứng nhận của công chứng viên” trong giấy ủy quyền của ông A với quy định trên, mẫu TP-CC-21 (Mẫu lời chứng của công chứng viên áp dụng chung đối với hợp đồng, giao dịch) kèm theo Thông tư số 01/2021/TT-BTP ngày 03/02/2021 của Bộ Tư pháp hướng dẫn Luật Công chứng, Phụ lục Mẫu lời chứng tại mục I.1 (Lời chứng chứng thực chữ ký của một người trong một giấy tờ, văn bản) kèm theo Thông tư số 01/2020/TT-BTP), Phụ lục Mẫu lời chứng, mẫu sổ chứng thực ban hành kèm theo Nghị định số 23/2015/NĐ-CP ngày 16/02/2015 của Chính phủ về cấp bản sao từ sổ gốc, chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký và chứng thực hợp đồng, giao dịch (Nghị định số 23/2015/NĐ-CP) tại mục I.2 (Lời chứng chứng thực chữ ký), Phụ lục Mẫu lời chứng, Mẫu sổ chứng thực tại mục I.4 (Lời chứng chứng thực hợp đồng, giao dịch) kèm theo Nghị định số 23/2015/NĐ-CP thì giấy ủy quyền của ông A nêu trên là văn bản công chứng. Công chứng viên Văn phòng công chứng Z đã chứng nhận về tính xác thực, hợp pháp của giao dịch trên (mục đích, nội dung của giấy ủy quyền không vi phạm pháp luật, không trái đạo đức xã hội). Như vậy, giấy ủy quyền của ông A không phải là trường hợp chứng thực chữ ký theo căn cứ pháp lý mà Tòa án đã áp dụng (khoản 2, 3 Điều 14 Thông tư số 01/2020/TT-BTP).

Trong vụ án trên, Tòa án chỉ trích dẫn quy định tại khoản 2, 3 Điều 14 Thông tư số 01/2020/TT-BTP mà “bỏ qua” quy định tại khoản 1 Điều này: Việc ủy quyền theo quy định tại điểm d khoản 4 Điều 24 Nghị định số 23/2015/NĐ-CP thỏa mãn đầy đủ các điều kiện như không có thù lao, không có nghĩa vụ bồi thường của bên được ủy quyền và không liên quan đến việc chuyển quyền sở hữu tài sản, quyền sử dụng bất động sản thì được thực hiện dưới hình thức chứng thực chữ ký trên giấy ủy quyền. Khoản 2, 3 Điều 14 Thông tư số 01/2020/TT-BTP là sự diễn giải của khoản 1 Điều 14 Thông tư số 01/2020/TT-BTP (cụ thể hóa các trường hợp được chứng thực chữ ký). Còn khoản 1 Điều 14 Thông tư số 01/2020/TT-BTP là để diễn giải quy định tại điểm d khoản 4 Điều 24 Nghị định số 23/2015/NĐ-CP (thủ tục chứng thực chữ ký) với nội dung như sau: “Thủ tục chứng thực chữ ký quy định tại khoản 1, 2 và 3 Điều này cũng được áp dụng đối với các trường hợp sau đây: (a) Chứng thực chữ ký của nhiều người trong cùng một giấy tờ, văn bản; (b) Chứng thực chữ ký của người khai lý lịch cá nhân; (c) Chứng thực chữ ký trong giấy tờ, văn bản do cá nhân tự lập theo quy định của pháp luật; (d) Chứng thực chữ ký trong giấy ủy quyền đối với trường hợp ủy quyền không có thù lao, không có nghĩa vụ bồi thường của bên được ủy quyền và không liên quan đến việc chuyển quyền sở hữu tài sản, quyền sử dụng bất động sản”. Điểm d khoản 4 Điều 24 Nghị định số 23/2015/NĐ-CP sử dụng từ “cũng được áp dụng đối với các trường hợp sau đây”. Điều đó có nghĩa là, ngoài trường hợp tại khoản 4 Điều 24 này thì việc chứng thực chữ ký còn được thực hiện trong các trường hợp khác nữa. Đó có thể là các trường hợp được hướng dẫn tại khoản 2 Điều 14 Thông tư số 01/2020/TT-BTP.

Trong vụ án này, thẩm phán đã “trích dẫn lược bỏ” quy định tại khoản 1 mà trực tiếp áp dụng vụ án của ông A (tranh chấp ranh giới thửa đất, không có thù lao, không có nghĩa vụ bồi thường của bên được ủy quyền và không liên quan đến việc chuyển quyền sở hữu tài sản, quyền sử dụng bất động sản) vào các trường hợp được nêu ra tại khoản 2 Điều 14 Thông tư số 01/2020/TT-BTP theo tác giả là thiếu sót nghiêm trọng, gây ảnh hưởng trực tiếp đến quyền, lợi ích hợp pháp của ông A.

Mặt khác, theo tác giả, quy định tại khoản 1 Điều 14 Thông tư số 01/2020/TT-BTP cũng chưa thực sự đúng tinh thần của điểm d khoản 4 Điều 24 Nghị định số 23/2015/NĐ-CP. Trong khi điểm d khoản 4 Điều 24 Nghị định số 23/2015/NĐ-CP cho phép chứng thực chữ ký trong giấy ủy quyền tham gia tố tụng nếu thuộc trường hợp ủy quyền không có thù lao, không có nghĩa vụ bồi thường của bên được ủy quyền và không liên quan đến việc chuyển quyền sở hữu tài sản, quyền sử dụng bất động sản thì Điều 14 Thông tư số 01/2020/TT-BTP lại bó hẹp phạm vi của Nghị định số 23/2015/NĐ-CP chỉ cho phép chứng thực chữ ký trên giấy uỷ quyền trong 04 trường hợp nêu tại khoản 2, 3 Điều 14 Thông tư này. Điều 25 Nghị định số 23/2015/NĐ-CP quy định về trường hợp không được chứng thực chữ ký, như vậy, chỉ những văn bản ủy quyền nào rơi vào trường hợp tại Điều 25 thì mới không được chứng thực chữ ký. Do đó, có thể nói, hướng dẫn tại Điều 14 Thông tư số 01/2020/TT-BTP là chưa đúng với quy định của Nghị định số 23/2015/NĐ-CP. Trường hợp Thông tư số 01/2020/TT-BTP và Nghị định số 23/2015/NĐ-CP có quy định khác nhau về cùng một vấn đề thì quy định tại Nghị định số 23/2015/NĐ-CP (văn bản có hiệu lực pháp lý cao hơn) được áp dụng (khoản 2 Điều 156 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2020).

2. Một số kiến nghị

Từ những phân tích trên, có thể thấy, việc Tòa án từ chối giấy ủy quyền của ông A là không chưa đúng với các quy định của pháp luật. Điều này không chỉ xuất phát từ cách áp dụng pháp luật không đúng của Tòa án mà còn do Thông tư số 01/2020/TT-BTP và Nghị định số 23/2015/NĐ-CP có quy định chưa thống nhất về cùng một vấn đề. Điều này dẫn đến việc áp dụng pháp luật trong thực tiễn không thống nhất với nhau và gây tốn kém thời gian, chi phí cho đương sự nếu bị từ chối văn bản ủy quyền và phải lập lại văn bản mới (phải đóng lại phí công chứng, chứng thực); gây ảnh hưởng trực tiếp đến quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự và người đại diện theo ủy quyền của họ trong quá trình giải quyết vụ án, làm kéo dài thời gian giải quyết vụ án. Từ thực tế trên, để thống nhất áp dụng pháp luật trong thực tiễn, tác giả có một số kiến nghị như sau:

Thứ nhất, cần có văn bản hướng dẫn cụ thể về vấn đề này, theo hướng chấp nhận văn bản ủy quyền được lập cả dưới dạng giấy ủy quyền và hợp đồng ủy quyền để tạo sự chủ động, thuận lợi cho đương sự và người đại diện của họ khi tham gia tố tụng tại Tòa án.

Thứ hai, tương tự khoản 6 Điều 272 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, tác giả kiến nghị bổ sung vào khoản 2 Điều 86 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 hình thức của văn bản ủy quyền để bảo đảm việc thống nhất áp dụng pháp luật như sau: “… 2. Người đại diện theo ủy quyền trong TTDS thực hiện quyền, nghĩa vụ TTDS của đương sự theo nội dung văn bản ủy quyền có công chứng, chứng thực hợp pháp, trừ trường hợp văn bản ủy quyền đó được lập tại Tòa án có sự chứng kiến của bộ phận tiếp nhận hồ sơ”.

Thứ ba, bãi bỏ quy định của tại Điều 14 Thông tư số 01/2020/TT-BTP vì hướng dẫn này chưa đúng với quy định tại khoản 4 Điều 24 Nghị định số 23/2015/NĐ-CP. Mặt khác, quy định tại khoản 4 Điều 24 Nghị định này đã phù hợp, rõ ràng nên không cần thiết phải hướng dẫn thêm.

Thứ tư, bên cạnh đó, cũng cần quan tâm, trú trọng đến công tác tập huấn chuyên môn cho đội ngũ thẩm phán để nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật trong thực tế, góp phần giải quyết nhanh chóng, hiệu quả các vụ án dân sự.

ThS. Luật sư Vũ Thị Bích Hải & NCS. ThS. Nguyễn Quyết Thắng

Trường Đại học Văn Lang

[1]. Minh Nhất (2015), “Đại diện của đương sự - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn”, https://moj.gov.vn/qt/tintuc/Pages/nghien-cuu-trao-doi.aspx?ItemID=1784, truy cập ngày 25/01/2024.

[2]. Nguyễn Công Tín (2020), “Bàn về hình thức của văn bản ủy quyền tham gia tố tụng trong vụ án dân sự”, Diễn đàn Nghề Luật, Bản tin số 08 (tháng 9/2020), tr.

[3]. Nguyễn Công Tín (2020), ttđd, tr. 3.

[4]. Nguyễn Công Tín (2020), ttđd, tr. 7.

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 2 (Số 399), tháng 2/2024)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Tóm tắt: Trong bối cảnh hệ thống pháp luật ngày càng phức tạp và thường xuyên thay đổi, việc tiếp cận, hiểu và sử dụng pháp luật trở thành thách thức đối với người dân. Mô hình phổ biến, giáo dục pháp luật hiện nay chủ yếu tập trung vào truyền đạt văn bản, chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu hỗ trợ người dân sử dụng pháp luật trong thực tiễn. Trên cơ sở phân tích xu hướng quốc tế về tiếp cận công lý lấy người dân làm trung tâm và ứng dụng công nghệ số, nghiên cứu đề xuất chuyển từ mô hình “phổ biến pháp luật” sang “hạ tầng tuân thủ phòng ngừa”, gắn phổ biến pháp luật với nhu cầu thực tiễn, cảnh báo sớm rủi ro pháp lý và hỗ trợ tra cứu, sử dụng pháp luật hiệu quả trong môi trường số.
Nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng cho người gửi tiền ở Việt Nam

Nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng cho người gửi tiền ở Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh ngân hàng số phát triển, thông tin chưa được kiểm chứng có thể tác động nhanh đến tâm lý và hành vi của người gửi tiền. Nghiên cứu phân tích quy định pháp luật và thực tiễn phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cho thấy, hoạt động này chưa chú trọng đầy đủ đến mức độ hiểu và khả năng vận dụng pháp luật của người gửi tiền; nội dung còn thiên về tính chuyên môn; phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật và cơ chế cung cấp thông tin kịp thời còn hạn chế. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá, tích hợp thông tin pháp luật ngắn gọn vào dịch vụ ngân hàng số và tăng cường cung cấp thông tin chính thức, kịp thời nhằm bảo vệ người gửi tiền và củng cố niềm tin vào hệ thống ngân hàng.
Phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Tóm tắt: Quyền con người phản ánh sự kết tinh những giá trị nhân phẩm cao quý của nhân loại. Nghiên cứu công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người là phân tích, đánh giá phương thức thể chế hóa các chủ trương của Đảng về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đồng thời, đề xuất giải pháp khắc phục những hạn chế của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 trước thách thức mới từ công nghệ số. Trên cơ sở tổng hợp và so sánh luật học, nghiên cứu phân tích, đánh giá vai trò của công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người và thực trạng thi hành Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012. Đồng thời, nghiên cứu đánh giá tính phù hợp, khả thi của dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)* (dự thảo Luật). Từ đó, kiến nghị và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Luật Phòng, chống ma túy năm 2021 quy định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi nghiện ma túy mà không tự nguyện cai nghiện. Mặc dù không được xem là biện pháp xử lý hành chính nhưng biện pháp này mang tính cách ly người bị áp dụng khỏi cộng đồng. Để bảo vệ quyền của người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi, pháp luật cho phép các chủ thể liên quan khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành chưa quy định quyền khởi kiện hay kháng cáo đối với quyết định này. Nghiên cứu phân tích bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi, đồng thời, đề xuất giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật nhằm bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người bị áp dụng biện pháp này.
Nâng cao trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Nâng cao trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã xác định rõ trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật. Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, cải cách tư pháp và chuyển đổi số quốc gia, vai trò này ngày càng trở nên quan trọng. Nghiên cứu phân tích cơ sở chính trị, pháp lý, thực trạng quy định pháp luật và thực tiễn triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật của Tòa án nhân dân; trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện hoạt động này trong hệ thống Tòa án nhân dân.
Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Sự phát triển của nền tảng số, mạng xã hội và trí tuệ nhân tạo tạo sinh đang làm thay đổi phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật, đồng thời, đặt ra nhiều thách thức trong kiểm soát thông tin pháp luật trên môi trường số. Bên cạnh việc mở rộng khả năng tiếp cận pháp luật của người dân, tình trạng lan truyền thông tin pháp luật sai lệch, thiếu kiểm chứng hoặc được tạo sinh bởi hệ thống trí tuệ nhân tạo đang ảnh hưởng đến hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật và quyền tiếp cận thông tin pháp luật chính xác. Trên cơ sở phân tích các vấn đề lý luận, đánh giá thực trạng quy định và thực tiễn áp dụng pháp luật tại Việt Nam, nghiên cứu phân tích bất cập trong kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số và đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả quản lý và bảo đảm chính xác của thông tin pháp luật trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật.
Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 7/2026

Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 7/2026

(Cập nhật bởi LuatVietnam.vn)
Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam[1]

Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam[1]

Tóm tắt: Mô hình chính quyền địa phương hai cấp được triển khai ở Việt Nam từ ngày 01/7/2025 đánh dấu bước chuyển quan trọng trong quá trình đổi mới tổ chức bộ máy nhà nước theo hướng tinh, gọn, tăng cường phân quyền, phân cấp và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị địa phương. Nghiên cứu phân tích các cơ hội và thách thức trong quá trình triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam, làm rõ những vấn đề đặt ra trong hoàn thiện thể chế, bảo đảm nguồn lực và nâng cao năng lực quản trị địa phương, từ đó, đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam thời gian tới.
Một số bất cập của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 và kiến nghị hoàn thiện

Một số bất cập của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Sau hơn 13 năm thi hành, Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng trong triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, góp phần nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ và Nhân dân. Tuy nhiên, trước yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, chuyển đổi số và hoàn thiện thể chế theo chủ trương, định hướng của Đảng, nhiều quy định của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 bộc lộ những hạn chế, bất cập. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, tổng kết thực tiễn thi hành và bối cảnh phát triển đất nước giai đoạn mới, nghiên cứu làm rõ những bất cập về tổ chức thực hiện công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên pháp luật, đối tượng đặc thù, nội dung, hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật và sự không thống nhất của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 với một số luật liên quan. Từ đó, kiến nghị sửa đổi, bổ sung nhằm hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật và nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong bối cảnh hiện nay.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật - Yêu cầu chuyển từ phổ biến, giáo dục pháp luật hình thức sang tiếp cận dựa trên nhu cầu của người dân

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật - Yêu cầu chuyển từ phổ biến, giáo dục pháp luật hình thức sang tiếp cận dựa trên nhu cầu của người dân

Tóm tắt: Việc sửa đổi Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 là cấp thiết trước yêu cầu khắc phục tình trạng tuyên truyền thiên về hình thức, chưa gắn chặt với những vấn đề pháp lý mà người dân thực sự cần được hỗ trợ. Nghiên cứu phân tích khoảng cách giữa nguyên tắc phù hợp với nhu cầu và cơ chế nhận diện, phản ánh, đáp ứng, đo lường nhu cầu pháp lý trong dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật[1] (dự thảo Luật). Trên cơ sở phân tích quy phạm, bình luận chính sách và tiếp cận liên ngành về nhu cầu pháp lý, năng lực pháp lý, tiếp cận công lý, nghiên cứu tập trung vào các quy định về nguyên tắc, nội dung, hình thức, hướng dẫn và giải đáp pháp luật, đối tượng đặc thù, giáo dục pháp luật trong cơ sở giáo dục, trách nhiệm tổ chức thực hiện, cơ chế cấp xã, chuyển đổi số và đánh giá hiệu quả. Kết quả nghiên cứu cho thấy, dự thảo Luật đã có nhiều định hướng tích cực nhưng thiếu cơ chế khảo sát nhu cầu, thiết kế nội dung theo tình huống, chuyển tuyến hỗ trợ pháp lý và đánh giá khả năng hiểu, vận dụng pháp luật. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện các cơ chế bảo đảm cách tiếp cận lấy nhu cầu pháp lý của người dân làm trung tâm.
Chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên ở Việt Nam

Chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên ở Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển nhanh, mạnh mẽ của không gian mạng đang tác động sâu sắc đến đời sống xã hội, đồng thời, đặt ra nhiều rủi ro đối với người chưa thành niên. Trong bối cảnh đó, chuyển đổi số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật trở thành yêu cầu cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả tiếp cận pháp luật cho nhóm đối tượng này. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết của chuyển đổi số trong phổ biến, giáo dục pháp luật đối với người chưa thành niên; đánh giá thực trạng triển khai tại Việt Nam, chỉ ra những hạn chế, bất cập, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật đối với viên chức tại các cơ sở giáo dục công lập

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật đối với viên chức tại các cơ sở giáo dục công lập

Tóm tắt: Pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật đối với viên chức tại các cơ sở giáo dục công lập là một bộ phận của pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật, có vai trò quan trọng trong xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Trên cơ sở làm rõ khái niệm, đặc trưng và các tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thiện, nghiên cứu phân tích thực trạng pháp luật hiện hành, chỉ ra những kết quả đạt được và các hạn chế. Từ đó, nghiên cứu đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật đối với viên chức tại các cơ sở giáo dục công lập, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Nguyên tắc “6 rõ” trong tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật

Nguyên tắc “6 rõ” trong tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật

Trong đợt tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật năm 2026 - một nhiệm vụ trọng yếu được triển khai theo Kết luận số 09-KL/TW ngày 10/3/2026 của Bộ Chính trị về hoàn thiện cấu trúc hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới - nguyên tắc “6 rõ” đã được xác lập như một chuẩn mực kỹ thuật và quản trị cốt lõi. Nội dung của nguyên tắc này bao gồm: rõ người, rõ việc, rõ thời gian, rõ trách nhiệm, rõ thẩm quyền và rõ kết quả.
Nâng cao nhận thức, chung tay đẩy lùi tội phạm mua bán người

Nâng cao nhận thức, chung tay đẩy lùi tội phạm mua bán người

Ngày 30/7 hằng năm được Đại hội đồng Liên hợp quốc chọn là Ngày Thế giới phòng, chống mua bán người (World Day Against Trafficking in Persons) nhằm nâng cao nhận thức của cộng đồng về những hậu quả nghiêm trọng của tội phạm mua bán người, đồng thời kêu gọi các quốc gia tăng cường hợp tác, triển khai các giải pháp phòng ngừa, đấu tranh và bảo vệ nạn nhân.
"Tầm nhìn mới, tư duy mới, hành động mới" - Động lực xây dựng chính quyền Thủ đô Hà Nội kiến tạo, phục vụ

"Tầm nhìn mới, tư duy mới, hành động mới" - Động lực xây dựng chính quyền Thủ đô Hà Nội kiến tạo, phục vụ

Ngày 23/3/2026, Ban Thường vụ Thành ủy Hà Nội đã ban hành Chỉ thị số 09-CT/TU về nâng cao hiệu lực, hiệu quả thực thi công vụ; siết chặt kỷ luật, kỷ cương và trách nhiệm của cán bộ, nhất là người đứng đầu trong giai đoạn phát triển mới của Thủ đô Hà Nội (Chỉ thị số 09-CT/TU). Theo đó, Thành phố xác định rõ việc định vị hình ảnh và giá trị cốt lõi của Thủ đô với 09 đặc trưng "Thủ đô văn hiến - kết nối toàn cầu - thanh lịch, hào hoa - phát triển hài hòa - thanh bình, thịnh vượng - chính quyền phục vụ - doanh nghiệp cống hiến - xã hội niềm tin - người dân hạnh phúc", lấy "Văn hiến - bản sắc - sáng tạo" làm trục giá trị xuyên suốt.

Theo dõi chúng tôi trên: