Thứ hai 11/05/2026 18:21
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Bàn về văn bản ủy quyền tham gia tố tụng dân sự

Bài viết phân tích, đánh giá quy định của pháp luật Việt Nam về việc đương sự lập văn bản ủy quyền cho người đại diện tham gia tố tụng qua một vụ án thực tế, làm cơ sở kiến nghị hoàn thiện, nâng cao khả năng áp dụng pháp luật về vấn đề này.

Quá trình tố tụng để giải quyết vụ án dân sự là quá trình diễn ra với trình tự, thủ tục chặt chẽ và có thể kéo dài. Do đó, nhiều đương sự lựa chọn ủy quyền cho người đại diện để họ nhân danh mình tham gia tố tụng nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự cũng như làm rõ sự thật khách quan của vụ án[1]. Hiện nay, việc ủy quyền trong tố tụng dân sự (TTDS) phải được lập thành văn bản. Tuy nhiên, pháp luật lại chưa có quy định cụ thể về hình thức của văn bản ủy quyền, điều này dẫn đến thực tế áp dụng pháp luật có sự khác nhau, gây ảnh hưởng đến quá trình giải quyết vụ án dân sự.

1. Thực hiện quy định pháp luật về văn bản ủy quyền tham gia tố tụng dân sự qua một vụ án

Vụ án xảy ra như sau: Ông A là bị đơn trong vụ án dân sự về tranh chấp ranh giới thửa đất được Tòa án nhân dân huyện X, tỉnh Y thụ lý giải quyết. Ngày 26/7/2022, ông A lập và nộp cho Tòa án văn bản (tên là giấy ủy quyền) để ủy quyền cho ông B thay mặt và nhân danh ông A liên hệ với Tòa án nhân dân các cấp, cá nhân, tổ chức và cơ quan có thẩm quyền để tham gia tố tụng tại Tòa án, làm việc với các cơ quan có thẩm quyền để giải quyết vụ việc nói trên cho đến khi có bản án/quyết định có hiệu lực của pháp luật. Việc ủy quyền này là không có thù lao. Văn bản ủy quyền đã được Văn phòng Công chứng Z chứng nhận với nội dung như sau:

“Lời chứng của công chứng viên: Hôm nay, ngày ... tháng ... năm ... tại Văn phòng Công chứng Z, địa chỉ: ... Tôi Nguyễn Văn D, công chứng viên, trong phạm vi trách nhiệm của mình theo quy định của pháp luật,

Chứng nhận: (1) Giấy ủy quyền này được lập bởi: Ông A, sinh ngày ..., căn cước công dân số ... cấp ngày ... tại ... Địa chỉ: ... (2) Người ủy quyền đã tự nguyện giao kết giấy ủy quyền này; (3) Tại thời điểm ký vào giấy ủy quyền này, người ủy quyền có năng lực hành vi dân sự theo quy định của pháp luật; (4) Người ủy quyền cam đoan chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính chính xác, tính hợp pháp của các giấy tờ đã cung cấp liên quan đến việc xác lập giấy ủy quyền này; (5) Mục đích, nội dung của Giấy ủy quyền không vi phạm pháp luật, không trái đạo đức xã hội; (6) Người ủy quyền đã nghe tôi đọc lại, đồng ý toàn bộ nội dung và ký/điểm chỉ vào từng trang của giấy ủy quyền này trước mặt tôi; chữ ký/dấu điểm chỉ trong giấy ủy quyền này đúng là chữ ký hoặc dấu điểm chỉ của người ủy quyền...”.

Ngày 06/10/2022, ông B nhận được thông báo của Tòa án về việc từ chối giấy ủy quyền trên với lý do căn cứ khoản 2 và khoản 3 Điều 14 Thông tư số 01/2020/TT-BTP ngày 03/3/2020 của Bộ Tư pháp quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị định số 23/2015/NĐ-CP ngày 16/02/2015 của Chính phủ về cấp bản sao từ sổ gốc, chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký và chứng thực hợp đồng, giao dịch (Thông tư số 01/2020/TT-BTP) thì: Nội dung ủy quyền của ông A là ủy quyền tham gia giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất, bị đơn cung cấp giấy ủy quyền là chưa đúng quy định của pháp luật. Trong trường hợp này, bị đơn phải có hợp đồng ủy quyền hợp pháp để người đại diện theo ủy quyền được tham gia tố tụng trong vụ án theo quy định tại khoản 4 Điều 85 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 138 Bộ luật Dân sự năm 2015 và Thông tư số 01/2020/TT-BTP.

Từ thực vụ việc trên, tác giả đặt ra các vấn đề pháp lý sau:

Một là, về việc công chứng, chứng thực văn bản ủy quyền tham gia tố tụng dân sự:

Văn bản ủy quyền có bắt buộc phải công chứng, chứng thực hay không? Thực tiễn hiện nay cho thấy, nếu người ủy quyền là pháp nhân thì chỉ cần người đại diện theo pháp luật của pháp nhân lập văn bản ủy quyền và có đóng dấu của pháp nhân thì văn bản quyền được Tòa án chấp nhận, không cần phải công chứng, chứng thực[2]. Nhưng nếu người ủy quyền là cá nhân thì hầu hết Tòa án chỉ tiếp nhận các văn bản ủy quyền được công chứng, chứng thực.

Hiện nay, ngoài khoản 6 Điều 272 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì không có quy định khác về hình thức của văn bản ủy quyền này. Nói cách khác, theo pháp luật Việt Nam hiện hành, văn bản ủy quyền tham gia tố tụng không bắt buộc phải công chứng, chứng thực, trừ trường hợp ủy quyền thực hiện việc kháng cáo. Mặt khác, hiện nay, Luật Doanh nghiệp năm 2020 cho phép doanh nghiệp được quyết định loại dấu, số lượng, hình thức và nội dung dấu của doanh nghiệp, chi nhánh, văn phòng đại diện và đơn vị khác của doanh nghiệp (khoản 2 Điều 43) và bỏ quy định doanh nghiệp phải thông báo mẫu dấu. Do đó, việc Tòa án căn cứ vào con dấu để cho phép doanh nghiệp không cần công chứng, chứng thực văn bản ủy quyền còn cá nhân thì phải công chứng, chứng thực văn bản ủy quyền đã “vô tình” tạo ra sự bất bình đẳng trong quá trình tiến hành tố tụng giữa đương sự là cá nhân và đương sự là pháp nhân[3].

Một số quan điểm cá nhân cho rằng, về thực tế, nếu không công chứng, chứng thực văn bản ủy quyền thì Tòa án không có căn cứ để xác định bên ủy quyền và bên được ủy quyền có phải là người đã ký vào văn bản ủy quyền hay không? Kể cả trường hợp họ ký văn bản ủy quyền trước mặt của thẩm phán hoặc người được chánh án Tòa án phân công thì cũng không thể xác định được họ có đầy đủ năng lực hành vi dân sự để xác lập văn bản đó. Việc yêu cầu công chứng, chứng thực văn bản ủy quyền là xuất phát từ sự thận trọng của Tòa án, tránh trường hợp văn bản ủy quyền có thể bị giả mạo, dẫn đến ý chí được xác lập trong văn bản này không phải của đương sự. Trong khi đó, hành vi tố tụng của người được ủy quyền lại có sự ảnh hưởng trực tiếp và nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự (ví dụ: Rút đơn khởi kiện, thay đổi yêu cầu khởi kiện, hòa giải với phương án bất lợi cho đương sự…)[4]. Thậm chí trong trường hợp xét xử một vụ án dân sự có ủy quyền với tính chất phức tạp, các đương sự có liên quan có thể dựa vào văn bản ủy quyền để yêu cầu hủy án nếu quyền lợi của họ không được đảm bảo, dẫn đến nhiều vấn đề khác phát sinh và kéo dài thời gian giải quyết vụ án. Do đó, ở một khía cạnh nhất định, việc công chứng, chứng thực văn bản ủy quyền là cần thiết.

Thực tế, đa số các trường hợp, kể cả trường hợp cho rằng việc yêu cầu công chứng, chứng thực văn bản ủy quyền là không hợp lý thì hầu hết đương sự vẫn thực hiện việc công chứng, chứng thực văn bản này nếu Tòa án yêu cầu. Bởi lẽ, xét về thực tiễn, việc ủy quyền là “thủ tục nhỏ” trong tiến trình tố tụng “dài” phía sau, đương sự chấp nhận thực hiện để người đại diện theo ủy quyền của họ được tham gia tố tụng thuận lợi. Trường hợp không đồng ý thì đương sự có thể khiếu nại. Tuy nhiên, việc khiếu nại (nếu có) cũng do Tòa án tự giải quyết nên trong trường hợp Tòa án không chấp nhận thì đương sự hoặc người đại diện của họ sẽ gặp khó khăn trong quá trình tiến hành tố tụng sau đó.

Có thể thấy, cách làm trên là sự thận trọng của Tòa án nhằm tạo ra sự an toàn cho người tiến hành tố tụng. Thế nhưng, điều này ít nhiều gây ảnh hưởng cho đương sự và người đại diện theo ủy quyền của họ. Bởi lẽ, không phải mọi trường hợp họ đều trong hoàn cảnh thuận lợi (khoảng cách địa lý, thời gian, chi phí…) để thực hiện việc công chứng, chứng thực văn bản ủy quyền.

Hai là, về việc lập văn bản ủy quyền là “hợp đồng ủy quyền” (có ký xác nhận của bên ủy quyền và bên được ủy quyền) hay “giấy ủy quyền” (bên ủy quyền ký):

Khoản 2 Điều 86 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 chỉ quy định việc ủy quyền lập thành văn bản, không quy định cụ thể là hợp đồng ủy quyền hay giấy ủy quyền. Thực tế, việc ủy quyền đối với pháp nhân có thể lập hợp đồng ủy quyền hoặc giấy ủy quyền và đóng dấu pháp nhân (có thể công chứng, chứng thực nếu pháp nhân có nguyện vọng). Đối với cá nhân, việc chấp nhận văn bản ủy quyền được lập dưới dạng hợp đồng ủy quyền có công chứng, chứng thực hoặc giấy ủy quyền có công chứng, chứng thực tùy từng Tòa án khác nhau.

Trong vụ án trên, Tòa án cho rằng giấy ủy quyền của ông A là chưa đúng quy định của pháp luật vì nội dung ủy quyền của ông A là ủy quyền tham gia giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất. Do đó, ông A phải có hợp đồng ủy quyền hợp pháp.

Vấn đề đặt ra là, văn bản ủy quyền trong vụ án trên có bắt buộc phải lập dưới dạng hợp đồng ủy quyền hay không? Có thể thấy, pháp luật hiện hành chưa có quy định về nội dung, hình thức hay tên gọi của văn bản ủy quyền tham gia tố tụng trong trường hợp này. Do đó, theo tác giả, việc ông A lập văn bản ủy quyền có tên là giấy ủy quyền để ủy quyền cho ông B là không trái quy định của pháp luật. Mặt khác, căn cứ khoản 1 và khoản 4 Điều 85 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì ông B đã được Văn phòng Công chứng Z chứng nhận là người đại diện theo ủy quyền của ông A.

Thực tế, việc lập văn bản ủy quyền dưới dạng giấy ủy quyền thuận lợi hơn cho đương sự so với lập hợp đồng ủy quyền vì không phải các bên lúc nào cũng có thể gặp nhau để ký vào hợp đồng ủy quyền. Mặt khác, nếu lập hợp đồng ủy quyền thì khi chấm dứt ủy quyền, các bên cũng phải lập văn bản có hình thức phù hợp với hình thức của văn bản ủy quyền đã lập trước đó. Trong khi đó, xét về ý nghĩa thực tế, việc lập giấy ủy quyền hay hợp đồng ủy quyền là giống nhau vì nếu người được ủy quyền không đồng ý nội dung ủy quyền, các quyền và nghĩa vụ của người được ủy quyền (bao gồm cả theo giấy ủy quyền và theo quy định của pháp luật) thì họ sẽ không nộp văn bản ủy quyền cho Tòa án, không đến Tòa án để làm việc hoặc sẽ có văn bản từ chối việc được ủy quyền.

Ba là, về việc công chứng văn bản ủy quyền, chứng thực chữ ký trong văn bản ủy quyền và chứng thực văn bản ủy quyền:

Giấy ủy quyền ông A đã lập là văn bản được công chứng hay chứng thực? Nếu giấy ủy quyền trên là chứng thực thì nội dung chứng thực nêu trên là chứng thực chữ ký hay chứng thực giao dịch? Tòa án căn cứ vào Thông tư số 01/2020/TT-BTP để từ chối giấy ủy quyền của ông A cho ông B có cơ sở pháp lý hay không? Cần phân biệt công chứng, chứng thực chữ ký và chứng thực hợp đồng, giao dịch, bởi vì, việc công chứng văn bản ủy quyền, chứng thực chữ ký trong văn bản ủy quyền hay chứng thực văn bản ủy quyền là hoàn toàn khác nhau.

Trong vụ án trên, hành vi ủy quyền của ông A cho ông B (hành vi pháp lý đơn phương của ông A) là giao dịch dân sự theo Điều 116 Bộ luật Dân sự năm 2015. Đối chiếu “Lời chứng nhận của công chứng viên” trong giấy ủy quyền của ông A với quy định trên, mẫu TP-CC-21 (Mẫu lời chứng của công chứng viên áp dụng chung đối với hợp đồng, giao dịch) kèm theo Thông tư số 01/2021/TT-BTP ngày 03/02/2021 của Bộ Tư pháp hướng dẫn Luật Công chứng, Phụ lục Mẫu lời chứng tại mục I.1 (Lời chứng chứng thực chữ ký của một người trong một giấy tờ, văn bản) kèm theo Thông tư số 01/2020/TT-BTP), Phụ lục Mẫu lời chứng, mẫu sổ chứng thực ban hành kèm theo Nghị định số 23/2015/NĐ-CP ngày 16/02/2015 của Chính phủ về cấp bản sao từ sổ gốc, chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký và chứng thực hợp đồng, giao dịch (Nghị định số 23/2015/NĐ-CP) tại mục I.2 (Lời chứng chứng thực chữ ký), Phụ lục Mẫu lời chứng, Mẫu sổ chứng thực tại mục I.4 (Lời chứng chứng thực hợp đồng, giao dịch) kèm theo Nghị định số 23/2015/NĐ-CP thì giấy ủy quyền của ông A nêu trên là văn bản công chứng. Công chứng viên Văn phòng công chứng Z đã chứng nhận về tính xác thực, hợp pháp của giao dịch trên (mục đích, nội dung của giấy ủy quyền không vi phạm pháp luật, không trái đạo đức xã hội). Như vậy, giấy ủy quyền của ông A không phải là trường hợp chứng thực chữ ký theo căn cứ pháp lý mà Tòa án đã áp dụng (khoản 2, 3 Điều 14 Thông tư số 01/2020/TT-BTP).

Trong vụ án trên, Tòa án chỉ trích dẫn quy định tại khoản 2, 3 Điều 14 Thông tư số 01/2020/TT-BTP mà “bỏ qua” quy định tại khoản 1 Điều này: Việc ủy quyền theo quy định tại điểm d khoản 4 Điều 24 Nghị định số 23/2015/NĐ-CP thỏa mãn đầy đủ các điều kiện như không có thù lao, không có nghĩa vụ bồi thường của bên được ủy quyền và không liên quan đến việc chuyển quyền sở hữu tài sản, quyền sử dụng bất động sản thì được thực hiện dưới hình thức chứng thực chữ ký trên giấy ủy quyền. Khoản 2, 3 Điều 14 Thông tư số 01/2020/TT-BTP là sự diễn giải của khoản 1 Điều 14 Thông tư số 01/2020/TT-BTP (cụ thể hóa các trường hợp được chứng thực chữ ký). Còn khoản 1 Điều 14 Thông tư số 01/2020/TT-BTP là để diễn giải quy định tại điểm d khoản 4 Điều 24 Nghị định số 23/2015/NĐ-CP (thủ tục chứng thực chữ ký) với nội dung như sau: “Thủ tục chứng thực chữ ký quy định tại khoản 1, 2 và 3 Điều này cũng được áp dụng đối với các trường hợp sau đây: (a) Chứng thực chữ ký của nhiều người trong cùng một giấy tờ, văn bản; (b) Chứng thực chữ ký của người khai lý lịch cá nhân; (c) Chứng thực chữ ký trong giấy tờ, văn bản do cá nhân tự lập theo quy định của pháp luật; (d) Chứng thực chữ ký trong giấy ủy quyền đối với trường hợp ủy quyền không có thù lao, không có nghĩa vụ bồi thường của bên được ủy quyền và không liên quan đến việc chuyển quyền sở hữu tài sản, quyền sử dụng bất động sản”. Điểm d khoản 4 Điều 24 Nghị định số 23/2015/NĐ-CP sử dụng từ “cũng được áp dụng đối với các trường hợp sau đây”. Điều đó có nghĩa là, ngoài trường hợp tại khoản 4 Điều 24 này thì việc chứng thực chữ ký còn được thực hiện trong các trường hợp khác nữa. Đó có thể là các trường hợp được hướng dẫn tại khoản 2 Điều 14 Thông tư số 01/2020/TT-BTP.

Trong vụ án này, thẩm phán đã “trích dẫn lược bỏ” quy định tại khoản 1 mà trực tiếp áp dụng vụ án của ông A (tranh chấp ranh giới thửa đất, không có thù lao, không có nghĩa vụ bồi thường của bên được ủy quyền và không liên quan đến việc chuyển quyền sở hữu tài sản, quyền sử dụng bất động sản) vào các trường hợp được nêu ra tại khoản 2 Điều 14 Thông tư số 01/2020/TT-BTP theo tác giả là thiếu sót nghiêm trọng, gây ảnh hưởng trực tiếp đến quyền, lợi ích hợp pháp của ông A.

Mặt khác, theo tác giả, quy định tại khoản 1 Điều 14 Thông tư số 01/2020/TT-BTP cũng chưa thực sự đúng tinh thần của điểm d khoản 4 Điều 24 Nghị định số 23/2015/NĐ-CP. Trong khi điểm d khoản 4 Điều 24 Nghị định số 23/2015/NĐ-CP cho phép chứng thực chữ ký trong giấy ủy quyền tham gia tố tụng nếu thuộc trường hợp ủy quyền không có thù lao, không có nghĩa vụ bồi thường của bên được ủy quyền và không liên quan đến việc chuyển quyền sở hữu tài sản, quyền sử dụng bất động sản thì Điều 14 Thông tư số 01/2020/TT-BTP lại bó hẹp phạm vi của Nghị định số 23/2015/NĐ-CP chỉ cho phép chứng thực chữ ký trên giấy uỷ quyền trong 04 trường hợp nêu tại khoản 2, 3 Điều 14 Thông tư này. Điều 25 Nghị định số 23/2015/NĐ-CP quy định về trường hợp không được chứng thực chữ ký, như vậy, chỉ những văn bản ủy quyền nào rơi vào trường hợp tại Điều 25 thì mới không được chứng thực chữ ký. Do đó, có thể nói, hướng dẫn tại Điều 14 Thông tư số 01/2020/TT-BTP là chưa đúng với quy định của Nghị định số 23/2015/NĐ-CP. Trường hợp Thông tư số 01/2020/TT-BTP và Nghị định số 23/2015/NĐ-CP có quy định khác nhau về cùng một vấn đề thì quy định tại Nghị định số 23/2015/NĐ-CP (văn bản có hiệu lực pháp lý cao hơn) được áp dụng (khoản 2 Điều 156 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2020).

2. Một số kiến nghị

Từ những phân tích trên, có thể thấy, việc Tòa án từ chối giấy ủy quyền của ông A là không chưa đúng với các quy định của pháp luật. Điều này không chỉ xuất phát từ cách áp dụng pháp luật không đúng của Tòa án mà còn do Thông tư số 01/2020/TT-BTP và Nghị định số 23/2015/NĐ-CP có quy định chưa thống nhất về cùng một vấn đề. Điều này dẫn đến việc áp dụng pháp luật trong thực tiễn không thống nhất với nhau và gây tốn kém thời gian, chi phí cho đương sự nếu bị từ chối văn bản ủy quyền và phải lập lại văn bản mới (phải đóng lại phí công chứng, chứng thực); gây ảnh hưởng trực tiếp đến quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự và người đại diện theo ủy quyền của họ trong quá trình giải quyết vụ án, làm kéo dài thời gian giải quyết vụ án. Từ thực tế trên, để thống nhất áp dụng pháp luật trong thực tiễn, tác giả có một số kiến nghị như sau:

Thứ nhất, cần có văn bản hướng dẫn cụ thể về vấn đề này, theo hướng chấp nhận văn bản ủy quyền được lập cả dưới dạng giấy ủy quyền và hợp đồng ủy quyền để tạo sự chủ động, thuận lợi cho đương sự và người đại diện của họ khi tham gia tố tụng tại Tòa án.

Thứ hai, tương tự khoản 6 Điều 272 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, tác giả kiến nghị bổ sung vào khoản 2 Điều 86 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 hình thức của văn bản ủy quyền để bảo đảm việc thống nhất áp dụng pháp luật như sau: “… 2. Người đại diện theo ủy quyền trong TTDS thực hiện quyền, nghĩa vụ TTDS của đương sự theo nội dung văn bản ủy quyền có công chứng, chứng thực hợp pháp, trừ trường hợp văn bản ủy quyền đó được lập tại Tòa án có sự chứng kiến của bộ phận tiếp nhận hồ sơ”.

Thứ ba, bãi bỏ quy định của tại Điều 14 Thông tư số 01/2020/TT-BTP vì hướng dẫn này chưa đúng với quy định tại khoản 4 Điều 24 Nghị định số 23/2015/NĐ-CP. Mặt khác, quy định tại khoản 4 Điều 24 Nghị định này đã phù hợp, rõ ràng nên không cần thiết phải hướng dẫn thêm.

Thứ tư, bên cạnh đó, cũng cần quan tâm, trú trọng đến công tác tập huấn chuyên môn cho đội ngũ thẩm phán để nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật trong thực tế, góp phần giải quyết nhanh chóng, hiệu quả các vụ án dân sự.

ThS. Luật sư Vũ Thị Bích Hải & NCS. ThS. Nguyễn Quyết Thắng

Trường Đại học Văn Lang

[1]. Minh Nhất (2015), “Đại diện của đương sự - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn”, https://moj.gov.vn/qt/tintuc/Pages/nghien-cuu-trao-doi.aspx?ItemID=1784, truy cập ngày 25/01/2024.

[2]. Nguyễn Công Tín (2020), “Bàn về hình thức của văn bản ủy quyền tham gia tố tụng trong vụ án dân sự”, Diễn đàn Nghề Luật, Bản tin số 08 (tháng 9/2020), tr.

[3]. Nguyễn Công Tín (2020), ttđd, tr. 3.

[4]. Nguyễn Công Tín (2020), ttđd, tr. 7.

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 2 (Số 399), tháng 2/2024)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định và tổ chức thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Kiến nghị hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định và tổ chức thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 là đạo luật quan trọng nhằm cụ thể hóa quyền tiếp cận thông tin của công dân theo Hiến pháp năm 2013[*], góp phần nâng cao tính công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Sau 08 năm thi hành, bên cạnh những kết quả đạt được, thực tiễn cho thấy còn bộc lộ một số hạn chế, bất cập trong quy định pháp luật và tổ chức thi hành, đặc biệt, liên quan đến phạm vi thông tin, trách nhiệm cung cấp thông tin, trình tự, thủ tục và điều kiện bảo đảm thực hiện quyền. Trên cơ sở nhận diện các vướng mắc, bất cập, nghiên cứu đề xuất định hướng sửa đổi, bổ sung Luật theo hướng bảo đảm tính đồng bộ với hệ thống pháp luật hiện hành, phù hợp với yêu cầu chuyển đổi số và tổ chức bộ máy nhà nước, đồng thời kiến nghị các giải pháp nâng cao hiệu quả tổ chức thi hành, qua đó góp phần bảo đảm tốt hơn quyền tiếp cận thông tin của công dân và xây dựng nền hành chính công khai, minh bạch.
Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018) sau hơn 08 năm thi hành đã bộc lộ nhiều bất cập trước sự vận động nhanh chóng của thực tiễn, đặc biệt là sự xuất hiện của các hình thức hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng và các quan hệ tôn giáo có yếu tố nước ngoài ngày càng phức tạp. Vì vậy, việc tăng cường quản lý nhà nước đối với các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng là yêu cầu cấp thiết không chỉ bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân mà còn nhằm giữ vững an ninh, trật tự xã hội và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới.
Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Thẩm quyền ban hành VBQPPL là nội dung trọng tâm nhằm bảo đảm mỗi loại VBQPPL được ban hành bởi đúng cơ quan, đúng cấp, vừa phù hợp với phạm vi pháp lý, vừa hạn chế rủi ro và xung đột giữa các văn bản.
Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Việc ban hành Luật Ban hành VBQPPL số 64/2025/QH15 được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 87/2025/QH15 và các nghị định hướng dẫn thi hành có ý nghĩa đặc biệt trong bối cảnh đổi mới tư duy xây dựng pháp luật, gắn kết chặt chẽ giữa xây dựng và thi hành pháp luật.
Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Bài viết phân tích quy trình xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ của Quốc hội và quy trình xây dựng chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội, từ đó, đưa ra một số lưu ý nhằm nâng cao hiệu quả việc thực hiện hai quy trình này.
Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Tóm tắt: Bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra góp phần bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp cần miễm trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra để bảo vệ lợi ích hợp pháp của các nhà sản xuất kinh doanh. Bài viết nghiên cứu những trường hợp miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023, đồng thời chỉ ra ưu, nhược điểm và hạn chế của Luật, từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Trong bối cảnh nhiều thách thức, đội ngũ luật sư với kiến thức chuyên môn và kỹ năng nghề nghiệp của mình, đóng vai trò then chốt trong việc nâng cao chất lượng, hiệu quả trợ giúp pháp lý.
Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Những năm qua, công tác trợ giúp pháp lý trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận. Nhiều vụ việc được trợ giúp pháp lý kịp thời, góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người nghèo, người có công với cách mạng và các nhóm yếu thế khác.
Ứng dụng công nghệ số, nền tảng trực tuyến, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động trợ giúp pháp lý

Ứng dụng công nghệ số, nền tảng trực tuyến, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động trợ giúp pháp lý

Những nỗ lực số hóa hồ sơ, vận hành Hệ thống quản lý trợ giúp pháp lý, kết nối dữ liệu dân cư, phát triển tư vấn trực tuyến… đã mở ra hướng tiếp cận mới, góp phần nâng cao chất lượng và tính minh bạch của dịch vụ trợ giúp pháp lý.
Tăng cường hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế trong tố tụng hình sự

Tăng cường hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế trong tố tụng hình sự

Trong tiến trình cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, việc bảo đảm quyền con người luôn là sợi chỉ đỏ xuyên suốt, đặc biệt, với đối tượng yếu thế, yêu cầu này càng trở nên cấp thiết và nhân văn. Trong tố tụng hình sự (TTHS), đối tượng yếu thế với tư cách bị hại, người làm chứng hay bị can, bị cáo, đã và đang phải đối mặt với hệ thống tư pháp hình sự. Đối tượng yếu thế có được tiếp cận công lý bình đẳng hay không phụ thuộc vào sự công tâm, chuyên nghiệp và nhạy cảm của các cơ quan trong hoạt động tố tụng, trong đó có vai trò của hoạt động trợ giúp pháp lý.
Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo trong bối cảnh mới

Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo trong bối cảnh mới

Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và thúc đẩy phát triển bền vững, hoạt động trợ giúp pháp lý đóng vai trò quan trọng trong việc bảo đảm công bằng xã hội và tiếp cận công lý cho người dân, đặc biệt là người nghèo thuộc nhóm đối tượng yếu thế.
Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Đây là giải pháp quan trọng nhằm khắc phục khó khăn, vướng mắc, nâng cao chất lượng tổ chức thi hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo.
Ưu điểm, hạn chế và một số vấn đề chính cần rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Ưu điểm, hạn chế và một số vấn đề chính cần rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 đã góp phần quan trọng trong việc bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của cá nhân, tổ chức, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đối với lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo. Tuy nhiên, thực tiễn triển khai Luật cũng bộc lộ những bất cập, hạn chế cần sửa đổi, hoàn thiện nhằm đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới.
Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là một trong những loại tội phạm có diễn biến ngày càng phức tạp, đa dạng và tinh vi. Phương thức thực hiện tội phạm không ngừng biến đổi, đặc biệt là việc sử dụng công nghệ cao để phạm tội, gây thiệt hại lớn đối với tài sản và tâm lý hoang mang cho người dân, ảnh hưởng đến trật tự, an toàn xã hội. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng các quy định của Bộ luật Hình sự về tội này vẫn còn tồn tại một số vướng mắc, bất cập từ chính quy định của pháp luật.
Xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Bài viết làm rõ sự cần thiết của việc xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên bứt phá, phát triển mới của dân tộc, theo tinh thần Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Đại hội XIV).

Theo dõi chúng tôi trên: