Thứ sáu 13/03/2026 17:32
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Bàn về việc có trừ thời hạn tạm giữ, tạm giam khi áp dụng án treo hay không theo quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015

Án treo là một trong những biểu hiện cụ thể của phương châm “trừng trị kết hợp với giáo dục”, thể hiện tính nhân đạo xã hội chủ nghĩa trong chính sách hình sự của Nhà nước ta. Áp dụng đúng đắn các quy định về án treo sẽ có tác dụng tốt là không bắt người bị kết án phải cách ly khỏi xã hội mà cũng đạt được mục đích giáo dục, cải tạo họ trở thành người có ích cho xã hội; nhưng nếu áp dụng không đúng thì sẽ gây ảnh hưởng xấu về nhiều mặt như: không phát huy được tác dụng tích cực của án treo là khuyến khích người bị kết án tự cải tạo để trở thành người tốt, không thể hiện được tính công minh của pháp luật, không được nhân dân đồng tình ủng hộ, không đề cao được tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung. Chính vì vậy, án treo là một chế định có ý nghĩa quan trọng trong pháp luật hình sự Việt Nam, xoay quanh vấn đề án treo hiện nay còn có nhiều quan điểm tranh luận không có hồi kết như bản chất án treo có phải là một loại hình phạt không? có trừ thời hạn tạm giữ, tạm giam khi áp dụng án t


1. Khái niệm và đặc điểm của án treo

Án treo là một chế định pháp lý hình sự được quy định rất sớm trong pháp luật hình sự Việt Nam. Tuy nhiên, trước năm 1986 chưa có một khái niệm thống nhất về án treo mà án treo được hiểu theo nhiều quan điểm khác nhau như: Tại Sắc lệnh số 21/SL ngày 14/02/1946 về tổ chức các Toà án quân sự, án treo được hiểu là tạm đình chỉ thi hành án: “Khi phạt tù Tòa có thể cho tội nhân được hưởng án treo nếu có những lý do đáng khoan hồng. Bản án xử treo sẽ tạm đình việc thi hành. Nếu trong 05 năm bắt đầu từ ngày tuyên án, tội nhân không bị Tòa án quân sự làm tội một lần nữa về một việc mới, thì bản án đã tuyên sẽ hủy đi, coi như không có. Nếu trong 05 năm ấy, tội nhân bị kết án một lần nữa trước một Tòa án quân sự thì bản án treo sẽ đem thi hành”[1].

Thông tư số 2308/NCPL ngày 01/12/1961 coi án treo là biện pháp hoãn hình có điều kiện: “Án treo là một biện pháp hoãn hình có điều kiện, áp dụng chủ yếu đối với những kẻ phạm tội nhẹ, bản chất không nguy hiểm, xét không thực cần thiết phải bắt thi hành ngay án phạt tù, nhằm mục đích khuyến khích họ tự nguyện lao động cải tạo với sự giúp đỡ tích cực của xã hội, đồng thời cảnh cáo họ còn nếu tiếp tục phạm tội trong thời gian thử thách thì tùy trường hợp sẽ buộc chấp hành án cũ trong mức độ cần thiết, ngược lại nếu trong thời gian thử thách họ không phạm tội gì mới, án treo sẽ được xóa bỏ”. Thậm chí có thời kỳ án treo được coi là hình thức xử lý nhẹ hơn hình phạt tù giam theo Thông tư số 19/TATC ngày 02/10/1974 của Tòa án nhân dân tối cao: “So sánh hậu quả phổ biến về mặt pháp lý cũng như hậu quả về mọi mặt khác của án tù giam và án tù treo (người bị án treo không bị cách lý khỏi xã hội, vẫn sống trong môi trường bình thường hàng ngày của họ mà cũng không bị hạn chế gì, tất cả các quyền lợi của người công dân, người bị án treo đều được hưởng, nếu họ là công dân viên chức, họ không bị buộc thôi việc, họ cũng chỉ bị án tích trong thời gian thử thách 05 năm) thì án treo phải được xem là hình thức giảm nhẹ hơn tù giam. Như, vẫn chuyển án tù treo sang án tù giam nặng thời gian ngắn hơn cũng là tăng nặng hình phạt. Ngược lại, chuyển án tù giam sang án tù treo dù thời gian dài hơn cũng là giảm nhẹ hình phạt”. Theo sự hướng dẫn này, án treo không đồng nghĩa là một loại hình phạt nhẹ hơn hình phạt tù có thời hạn trong hệ thống hình phạt của pháp luật hình sự, mà án treo chỉ được coi là một hình thức xử lý nhẹ hơn tù giam. Mặc dù, án treo được hiểu với các tên gọi khác nhau nhưng qua các quy định trên án treo được áp dụng như một biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện.

Từ năm 1986 đến nay, án treo được quy định rõ là biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện[2]. Khái niệm về án treo được quy định rõ tại Nghị quyết 01/2013/NQ-HĐTP ngày 06/11/2013 và Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao theo đó: “Án treo là biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện, được Tòa án áp dụng đối với người phạm tội bị phạt tù không quá 03 năm, căn cứ vào nhân thân của người phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ, xét thấy không cần bắt họ phải chấp hành hình phạt tù”[3]. Từ khái niệm trên, về bản chất án treo có một số đặc điểm như sau:

Thứ nhất, án treo là một biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện.

Thứ hai, án treo thể hiện tính nhân đạo xã hội chủ nghĩa trong chính sách hình sự của Nhà nước ta“trừng trị kết hợp với giáo dục. Do đó, trong bản án Tòa án tuyên cho bị cáo một mức án (loại hình phạt tù có thời hạn) tương xứng với tính chất, mức độ hình vi phạm tội và nhân thân của bị cáo. Tuy nhiên, bị cáo không phải cách ly ra khỏi đời sống xã hội mà được cải tạo tại cộng đồng xã hội nơi bị cáo công tác hoặc sinh sống trong thời gian chấp hành án đồng thời chịu sự giám sát, giáo dục của cơ quan, tổ chức nơi làm việc hoặc chính quyền địa phương nơi cư trú.

Thứ ba, người được hưởng án treo sẽ phải chịu một thời gian thử thách bằng hai lần mức hình phạt tù đã tuyên, nhưng không được dưới 01 năm và không được quá 05 năm.

Thứ tư, trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới.

Thứ năm, án treo không phải là hình phạt trong hệ thống các hình phạt quy định trong Bộ luật Hình sự. Điều 32 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 quy định 7 loại hình phạt chính: Cảnh cáo; phạt tiền; cải tạo không giam giữ; trục xuất; tù có thời hạn; tù chung thân; tử hình và 7 loại hình bổ sung là: cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc công việc nhất định; cấm cư trú; quản chế; tước một số quyền công dân; tịch thu tài sản; phạt tiền khi không áp dụng là hình phạt chính; trục xuất khi không áp dụng là hình phạt chính. Trong số 14 loại hình phạt được quy định hoàn toàn không có án treo, điều này có nghĩa là án treo không phải là hình phạt.

2. Quan điểm có trừ thời hạn tạm giữ, tạm giam khi áp dụng án treo hay không theo quy định của Bộ luật Hình sự

Việc trừ hay không trừ thời hạn tạm giữ, tạm giam khi áp dụng án treo đối với người phạm tội là vấn đề còn đang tranh luận ở cả mặt lý luận và thực tiễn, trong phạm vi bài viết, tác giả chỉ nêu hai quan điểm chính, cũng như phân tích căn cứ áp dụng của từng quan điểm, trên cơ sở các quy định của pháp luật để đưa quan điểm chính xác nhất trong việc áp dụng án treo đối người phạm tội.

Quan điểm thứ nhất, thời gian tạm giữ, tạm giam không được trừ vào thời hạn chấp hành hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo dựa trên căn cứ quy định tại Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung 2017 và Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Quan điểm này, cho rằng thời hạn tạm giữ, tạm giam chỉ được trừ trong trường hợp: “trong thời gian thử thách nếu họ phạm tội mới hoặc vi phạm nghĩa vụ buộc phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo thì khi giải quyết Tòa án trừ thời gian họ đã bị tạm giữ, tạm giam này vào bản án đã cho hưởng án treo hoặc bản án mới”[4]. Ngoài trường hợp trên, thời gian tạm giữ, tạm giam không được trừ vào thời hạn chấp hành hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo vì án treo là một biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện chứ không phải hình phạt. Do đó, không thể áp dụng Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 tù có thời hạn để trừ thời gian tạm giữ, tạm giam vào thời hạn chấp hành hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo.

Quan điểm thứ hai, thời gian tạm giữ, tạm giam phải được trừ vào thời hạn chấp hành hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo căn cứ vào quy định khoản 1 Điều 38 Bộ luật Hình sự tù có thời hạn quy định thời gian tạm giữ, tạm giam được trừ vào thời hạn chấp hành hình phạt tù. Ở khía cạnh nào đó, quan điểm này đã bảo vệ quyền lợi đối với các trường hợp người chấp hành hình phạt tù nhưng cho hướng án treo chấp hành tốt, nhưng không được trừ đi thời hạn đã bị tạm giữ, tạm giam trước đó, so sánh với trường hợp bị cáo bị áp dụng hình phạt tù, cải tạo không giam giữ hay bị cáo buộc phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo đều được trừ thời hạn tạm giữ, tạm giam là không công bằng.

Tác giả đồng tình với quan điểm thứ nhất, bởi lẽ, án treo là biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện chứ không phải là một loại hình phạt như cải tạo không giam giữ tại Điều 36 Bộ luật Hình sự năm 2015 hay tù có thời hạn tại Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, trường hợp bị cáo buộc phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo tại khoản 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 tức là bị cáo không được hưởng án treo nữa nếu họ đã bị tạm giam, tạm giữ thì thời hạn bị tạm giam, tạm giữ được trừ vào thời hạn chấp hành hình phạt tù là phù hợp theo khoản 1 Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015. Vì vậy, khi xác định có hay không việc trừ thời hạn tạm giữ, tạm giam cần căn cứ vào Điều 65 Bộ luật Hình sự và Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP. Hơn nữa, về thời gian thử thách án treo tại khoản 1 Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 và Điều 4 của Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP quy định: “Khi cho người phạm tội hưởng án treo, Tòa án phải ấn định thời gian thử thách bằng hai lần mức hình phạt tù, nhưng không dưới 01 năm và không được quá 05 năm”. Trong nhiều trường hợp khi áp dụng án treo đối với người phạm tội việc trừ thời hạn bị tạm giam, tạm giữ vào thời hạn chấp hành hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo sẽ không đảm bảo thời hạn thử thách bằng hai lần mức hình phạt tù. Như vậy, không trừ thời hạn đã bị tạm giữ, tạm giam vào thời gian chấp hành hình phạt tù cũng như không trừ vào thời bị tạm giam, tạm giữ vào thời gian thử thách đối với người được hưởng án treo là phù hợp với quy định của pháp luật hiện hành.

Án treo là chế định không mới trong pháp luật hình sự nước ta, là một biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện trong những năm qua án treo đã phát huy hiệu quả trong công tác xử lý tội phạm với phương châm “trừng trị kết hợp với giáo dục”, thể hiện tính nhân đạo xã hội chủ nghĩa, tính ưu việt trong pháp luật hình sự khi không bắt người bị kết án phải cách ly khỏi xã hội mà cũng đạt được mục đích giáo dục, cải tạo để người phạm tội trở thành công dân có ích cho xã hội. Việc nhận thức đúng các quy định về án treo trong đó có quy định “thời gian tạm giữ, tạm giam không được trừ vào thời hạn chấp hành hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo”nhằm đảm bảo tính chính xác theo quy định của pháp luật hiện hành khi áp dụng án treo trong thực tiễn điều tra, truy tố, xét xử các vụ án hình sự./.

Hoàng Nguyên Thắng
Viện kiểm sát quân sự Quân khu 1


[1] Điều 10 Sắc lệnh số 21/SL ngày 14/02/1946.

[2] Nghị quyết số 02-HĐTP-TANDTC/QĐ ngày 05/01/1986, Nghị quyết số 01-HĐTP ngày 18/10/1990, Nghị quyết 01/2013/NQ-HĐTP ngày 6/11/2013, Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.

[3] Điều 1 Nghị quyết 01/2013/NQ-HĐTP ngày 6/11/2013,Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.

[4] Khoản 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Để bảo đảm cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân được tiến hành dân chủ, đúng pháp luật, các quy định về phiếu bầu cử cũng như nguyên tắc, trình tự bỏ phiếu đã được quy định chặt chẽ[1]. Việc nắm rõ các quy định này giúp cử tri thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ trong ngày bầu cử.
[1] Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 và Nghị quyết số 40/NQ-HĐBCQG ngày 29/9/2025 của Hội đồng bầu cử quốc gia quy định mẫu văn bản hồ sơ ứng cử và việc hồ sơ ứng cử; nội quy phòng bỏ phiếu trong công tác bầu cử ĐBQH khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031
Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Trong quá trình tổ chức bầu cử, có thể phát sinh một số tình huống đặc biệt như dịch bệnh, thiên tai, hỏa hoạn hoặc vấn đề về an ninh, trật tự. Pháp luật về bầu cử đã quy định rõ thẩm quyền và phương án xử lý nhằm bảo đảm cuộc bầu cử được tổ chức an toàn, đúng quy định và bảo đảm quyền bầu cử của cử tri.
Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Để chuẩn bị cho “Ngày hội non sông” - Ngày bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031, công tác phân chia đơn vị bầu cử cần phải được triển khai với những yêu cầu khắt khe hơn bao giờ hết với mục tiêu trọng tâm là bảo đảm cân đối, tránh chênh lệch lớn, thuận tiện cho cử tri thực hiện quyền bầu cử như: Các khu vực đô thị, khu công nghiệp có đông cử tri; các khu vực miền núi, hải đảo có ít cử tri.
Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Pháp luật quy định cụ thể về nguyên tắc bỏ phiếu, cách ghi phiếu bầu, việc viết hộ, bỏ hộ phiếu và xử lý Thẻ cử tri nhằm bảo đảm việc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân diễn ra đúng quy định.
Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Cơ chế giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân giữ vai trò quan trọng trong việc bảo đảm tính dân chủ, minh bạch và hợp pháp của quá trình bầu cử. Pháp luật Việt Nam thiết lập cơ chế này trên cơ sở kết hợp giữa các quy định đặc thù của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân với các quy định chung của pháp luật về khiếu nại, tố cáo, qua đó hình thành khung pháp lý cho việc tiếp nhận, xem xét và xử lý các khiếu nại, tố cáo phát sinh trong quá trình bầu cử.
Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Một vụ án in và phát hành sách giáo khoa giả vừa được đưa ra xét xử đã tiếp tục gióng lên hồi chuông cảnh báo về tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực xuất bản, đặc biệt là đối với sách giáo dục - mặt hàng có nhu cầu cao và ảnh hưởng trực tiếp đến hàng triệu học sinh.
Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức thống nhất vào ngày 15/3/2026 theo Nghị quyết của Quốc hội. Tuy nhiên, pháp luật cho phép tổ chức bỏ phiếu sớm trong những trường hợp đặc biệt nhằm bảo đảm quyền bầu cử của công dân không thể tham gia bỏ phiếu vào ngày chính thức. Việc tổ chức bầu cử sớm phải tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc về thẩm quyền quyết định, trình tự thủ tục, kiểm phiếu, niêm phong, bảo mật kết quả và kỷ luật thời gian bỏ phiếu theo đúng quy định của Luật Bầu cử và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Vận động bầu cử của người ứng cử là hoạt động gặp gỡ, tiếp xúc cử tri hoặc thông qua phương tiện thông tin đại chúng để người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân báo cáo với cử tri về dự kiến chương trình hành động của mình nhằm thực hiện trách nhiệm đại biểu nếu được bầu làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân và trao đổi những vấn đề mà cử tri quan tâm; tạo điều kiện để cử tri tiếp xúc với người ứng cử, hiểu rõ hơn người ứng cử; trên cơ sở đó cân nhắc, lựa chọn, bầu những người đủ tiêu chuẩn làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.
Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, yêu cầu thượng tôn Hiến pháp và pháp luật không chỉ đặt ra đối với hoạt động của bộ máy nhà nước mà trở thành chuẩn mực ứng xử phổ biến trong xã hội. Pháp luật chỉ thực sự phát huy vai trò điều chỉnh các quan hệ xã hội khi được các chủ thể tiếp nhận, tôn trọng, tuân thủ thực hiện trên tinh thần chủ động, tự giác, gắn với niềm tin vào công bằng và trật tự xã hội. Thực tiễn cho thấy, hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, nhưng tình trạng vi phạm pháp luật trong một số lĩnh vực vẫn diễn biến phức tạp; còn tồn tại khoảng trống giữa nhận thức pháp luật và hành vi tuân thủ; tâm lý tuân thủ thụ động, mang tính tình thế, phụ thuộc vào sự kiểm tra, giám sát và xử lý của cơ quan có thẩm quyền. Những biểu hiện này phản ánh việc tuân thủ pháp luật chưa thực sự trở thành chuẩn mực văn hóa trong xã hội. Vì vậy, việc nghiên cứu, nhận diện các yếu tố tác động, đánh giá đúng thực trạng, đề xuất nhiệm vụ, giải pháp xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn, góp phần thể chế hóa chủ trương của Đảng, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, mạnh, bền vững trong bối cảnh mới.
Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Tết Nguyên đán là dịp đoàn viên, nghỉ ngơi và tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí đầu năm, góp phần làm phong phú đời sống văn hóa, tinh thần của mỗi gia đình và cộng đồng. Tuy nhiên, một số hình thức vui chơi có thưởng có thể vượt ngoài khuôn khổ pháp luật nếu không được nhận diện đúng. Từ yêu cầu bảo đảm kỷ cương, pháp luật trong dịp Tết, việc làm rõ ranh giới pháp lý giữa vui xuân có thưởng và hành vi vi phạm pháp luật có ý nghĩa quan trọng.
Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết 71-NQ/TW) đặt ra những yêu cầu mang tính chiến lược đối với xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, giáo dục đại học giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành lớp trí thức mới - vừa có năng lực chuyên môn, vừa có bản lĩnh, nhân cách và tinh thần phụng sự xã hội. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật phỏng vấn Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đào Thanh Trường - Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội, xung quanh quan điểm xây dựng con người toàn diện, các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp, cũng như những định hướng tích hợp giáo dục nhân văn với khoa học, công nghệ trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Mùa xuân về không chỉ mang theo nhựa sống của thiên nhiên mà còn là thời điểm để nhìn lại những thành quả của năm qua. Xuân Bính Ngọ 2026, với Trường Cao đẳng Cơ điện Hà Nội (HCEM), là một mùa xuân đặc biệt - mùa xuân của sự cộng hưởng giữa niềm tự hào về hành trình 80 năm đất nước độc lập và quyết tâm chính trị cao để hiện thực hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị. Đây chính là “chìa khóa” để HCEM bứt phá, vươn tầm quốc tế, trở thành biểu tượng của nền giáo dục nghề nghiệp (GDNN) hiện đại trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Năm 2025 được xem là cột mốc bản lề trên hành trình đưa Việt Nam bước vào kỷ nguyên số toàn diện. Trong không khí Xuân Bính Ngọ 2026, Cục trưởng Cục Chuyển đổi số quốc gia (Bộ KH&CN) Trần Duy Ninh chia sẻ với Tạp chí Dân chủ và Pháp luật về những thành quả nổi bật, tầm nhìn, cơ hội và kỳ vọng đặt vào đội ngũ trí thức công nghệ, với khát vọng xây dựng đất nước Việt Nam hùng cường, tự chủ và thịnh vượng trên nền tảng số.
Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Nhìn lại hành trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đội ngũ doanh nhân Việt Nam tiếp tục là lực lượng năng động, sáng tạo và đóng góp quan trọng vào tăng trưởng. Tuy nhiên, bối cảnh hội nhập sâu, rộng đặt ra yêu cầu cao hơn đối với việc hoàn thiện pháp luật về kinh doanh. Nhân dịp xuân mới, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Quang Vinh - Phó Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) về kỳ vọng đổi mới và yêu cầu xây dựng hành lang pháp lý ổn định để doanh nghiệp Việt Nam tự tin phát triển trong giai đoạn mới.
Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với mục tiêu đến năm 2045 trở thành nước phát triển có thu nhập cao, đội ngũ doanh nhân Việt Nam được kỳ vọng trở thành lực lượng kiến tạo thịnh vượng quốc gia. Khát vọng ấy chỉ có thể nảy nở và lớn lên trong hệ sinh thái pháp lý minh bạch, an toàn và tạo động lực.

Theo dõi chúng tôi trên: