Thứ sáu 01/05/2026 06:24
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Bàn về việc có trừ thời hạn tạm giữ, tạm giam khi áp dụng án treo hay không theo quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015

Án treo là một trong những biểu hiện cụ thể của phương châm “trừng trị kết hợp với giáo dục”, thể hiện tính nhân đạo xã hội chủ nghĩa trong chính sách hình sự của Nhà nước ta. Áp dụng đúng đắn các quy định về án treo sẽ có tác dụng tốt là không bắt người bị kết án phải cách ly khỏi xã hội mà cũng đạt được mục đích giáo dục, cải tạo họ trở thành người có ích cho xã hội; nhưng nếu áp dụng không đúng thì sẽ gây ảnh hưởng xấu về nhiều mặt như: không phát huy được tác dụng tích cực của án treo là khuyến khích người bị kết án tự cải tạo để trở thành người tốt, không thể hiện được tính công minh của pháp luật, không được nhân dân đồng tình ủng hộ, không đề cao được tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung. Chính vì vậy, án treo là một chế định có ý nghĩa quan trọng trong pháp luật hình sự Việt Nam, xoay quanh vấn đề án treo hiện nay còn có nhiều quan điểm tranh luận không có hồi kết như bản chất án treo có phải là một loại hình phạt không? có trừ thời hạn tạm giữ, tạm giam khi áp dụng án t


1. Khái niệm và đặc điểm của án treo

Án treo là một chế định pháp lý hình sự được quy định rất sớm trong pháp luật hình sự Việt Nam. Tuy nhiên, trước năm 1986 chưa có một khái niệm thống nhất về án treo mà án treo được hiểu theo nhiều quan điểm khác nhau như: Tại Sắc lệnh số 21/SL ngày 14/02/1946 về tổ chức các Toà án quân sự, án treo được hiểu là tạm đình chỉ thi hành án: “Khi phạt tù Tòa có thể cho tội nhân được hưởng án treo nếu có những lý do đáng khoan hồng. Bản án xử treo sẽ tạm đình việc thi hành. Nếu trong 05 năm bắt đầu từ ngày tuyên án, tội nhân không bị Tòa án quân sự làm tội một lần nữa về một việc mới, thì bản án đã tuyên sẽ hủy đi, coi như không có. Nếu trong 05 năm ấy, tội nhân bị kết án một lần nữa trước một Tòa án quân sự thì bản án treo sẽ đem thi hành”[1].

Thông tư số 2308/NCPL ngày 01/12/1961 coi án treo là biện pháp hoãn hình có điều kiện: “Án treo là một biện pháp hoãn hình có điều kiện, áp dụng chủ yếu đối với những kẻ phạm tội nhẹ, bản chất không nguy hiểm, xét không thực cần thiết phải bắt thi hành ngay án phạt tù, nhằm mục đích khuyến khích họ tự nguyện lao động cải tạo với sự giúp đỡ tích cực của xã hội, đồng thời cảnh cáo họ còn nếu tiếp tục phạm tội trong thời gian thử thách thì tùy trường hợp sẽ buộc chấp hành án cũ trong mức độ cần thiết, ngược lại nếu trong thời gian thử thách họ không phạm tội gì mới, án treo sẽ được xóa bỏ”. Thậm chí có thời kỳ án treo được coi là hình thức xử lý nhẹ hơn hình phạt tù giam theo Thông tư số 19/TATC ngày 02/10/1974 của Tòa án nhân dân tối cao: “So sánh hậu quả phổ biến về mặt pháp lý cũng như hậu quả về mọi mặt khác của án tù giam và án tù treo (người bị án treo không bị cách lý khỏi xã hội, vẫn sống trong môi trường bình thường hàng ngày của họ mà cũng không bị hạn chế gì, tất cả các quyền lợi của người công dân, người bị án treo đều được hưởng, nếu họ là công dân viên chức, họ không bị buộc thôi việc, họ cũng chỉ bị án tích trong thời gian thử thách 05 năm) thì án treo phải được xem là hình thức giảm nhẹ hơn tù giam. Như, vẫn chuyển án tù treo sang án tù giam nặng thời gian ngắn hơn cũng là tăng nặng hình phạt. Ngược lại, chuyển án tù giam sang án tù treo dù thời gian dài hơn cũng là giảm nhẹ hình phạt”. Theo sự hướng dẫn này, án treo không đồng nghĩa là một loại hình phạt nhẹ hơn hình phạt tù có thời hạn trong hệ thống hình phạt của pháp luật hình sự, mà án treo chỉ được coi là một hình thức xử lý nhẹ hơn tù giam. Mặc dù, án treo được hiểu với các tên gọi khác nhau nhưng qua các quy định trên án treo được áp dụng như một biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện.

Từ năm 1986 đến nay, án treo được quy định rõ là biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện[2]. Khái niệm về án treo được quy định rõ tại Nghị quyết 01/2013/NQ-HĐTP ngày 06/11/2013 và Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao theo đó: “Án treo là biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện, được Tòa án áp dụng đối với người phạm tội bị phạt tù không quá 03 năm, căn cứ vào nhân thân của người phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ, xét thấy không cần bắt họ phải chấp hành hình phạt tù”[3]. Từ khái niệm trên, về bản chất án treo có một số đặc điểm như sau:

Thứ nhất, án treo là một biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện.

Thứ hai, án treo thể hiện tính nhân đạo xã hội chủ nghĩa trong chính sách hình sự của Nhà nước ta“trừng trị kết hợp với giáo dục. Do đó, trong bản án Tòa án tuyên cho bị cáo một mức án (loại hình phạt tù có thời hạn) tương xứng với tính chất, mức độ hình vi phạm tội và nhân thân của bị cáo. Tuy nhiên, bị cáo không phải cách ly ra khỏi đời sống xã hội mà được cải tạo tại cộng đồng xã hội nơi bị cáo công tác hoặc sinh sống trong thời gian chấp hành án đồng thời chịu sự giám sát, giáo dục của cơ quan, tổ chức nơi làm việc hoặc chính quyền địa phương nơi cư trú.

Thứ ba, người được hưởng án treo sẽ phải chịu một thời gian thử thách bằng hai lần mức hình phạt tù đã tuyên, nhưng không được dưới 01 năm và không được quá 05 năm.

Thứ tư, trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới.

Thứ năm, án treo không phải là hình phạt trong hệ thống các hình phạt quy định trong Bộ luật Hình sự. Điều 32 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 quy định 7 loại hình phạt chính: Cảnh cáo; phạt tiền; cải tạo không giam giữ; trục xuất; tù có thời hạn; tù chung thân; tử hình và 7 loại hình bổ sung là: cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc công việc nhất định; cấm cư trú; quản chế; tước một số quyền công dân; tịch thu tài sản; phạt tiền khi không áp dụng là hình phạt chính; trục xuất khi không áp dụng là hình phạt chính. Trong số 14 loại hình phạt được quy định hoàn toàn không có án treo, điều này có nghĩa là án treo không phải là hình phạt.

2. Quan điểm có trừ thời hạn tạm giữ, tạm giam khi áp dụng án treo hay không theo quy định của Bộ luật Hình sự

Việc trừ hay không trừ thời hạn tạm giữ, tạm giam khi áp dụng án treo đối với người phạm tội là vấn đề còn đang tranh luận ở cả mặt lý luận và thực tiễn, trong phạm vi bài viết, tác giả chỉ nêu hai quan điểm chính, cũng như phân tích căn cứ áp dụng của từng quan điểm, trên cơ sở các quy định của pháp luật để đưa quan điểm chính xác nhất trong việc áp dụng án treo đối người phạm tội.

Quan điểm thứ nhất, thời gian tạm giữ, tạm giam không được trừ vào thời hạn chấp hành hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo dựa trên căn cứ quy định tại Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung 2017 và Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Quan điểm này, cho rằng thời hạn tạm giữ, tạm giam chỉ được trừ trong trường hợp: “trong thời gian thử thách nếu họ phạm tội mới hoặc vi phạm nghĩa vụ buộc phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo thì khi giải quyết Tòa án trừ thời gian họ đã bị tạm giữ, tạm giam này vào bản án đã cho hưởng án treo hoặc bản án mới”[4]. Ngoài trường hợp trên, thời gian tạm giữ, tạm giam không được trừ vào thời hạn chấp hành hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo vì án treo là một biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện chứ không phải hình phạt. Do đó, không thể áp dụng Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 tù có thời hạn để trừ thời gian tạm giữ, tạm giam vào thời hạn chấp hành hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo.

Quan điểm thứ hai, thời gian tạm giữ, tạm giam phải được trừ vào thời hạn chấp hành hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo căn cứ vào quy định khoản 1 Điều 38 Bộ luật Hình sự tù có thời hạn quy định thời gian tạm giữ, tạm giam được trừ vào thời hạn chấp hành hình phạt tù. Ở khía cạnh nào đó, quan điểm này đã bảo vệ quyền lợi đối với các trường hợp người chấp hành hình phạt tù nhưng cho hướng án treo chấp hành tốt, nhưng không được trừ đi thời hạn đã bị tạm giữ, tạm giam trước đó, so sánh với trường hợp bị cáo bị áp dụng hình phạt tù, cải tạo không giam giữ hay bị cáo buộc phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo đều được trừ thời hạn tạm giữ, tạm giam là không công bằng.

Tác giả đồng tình với quan điểm thứ nhất, bởi lẽ, án treo là biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện chứ không phải là một loại hình phạt như cải tạo không giam giữ tại Điều 36 Bộ luật Hình sự năm 2015 hay tù có thời hạn tại Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, trường hợp bị cáo buộc phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo tại khoản 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 tức là bị cáo không được hưởng án treo nữa nếu họ đã bị tạm giam, tạm giữ thì thời hạn bị tạm giam, tạm giữ được trừ vào thời hạn chấp hành hình phạt tù là phù hợp theo khoản 1 Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015. Vì vậy, khi xác định có hay không việc trừ thời hạn tạm giữ, tạm giam cần căn cứ vào Điều 65 Bộ luật Hình sự và Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP. Hơn nữa, về thời gian thử thách án treo tại khoản 1 Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 và Điều 4 của Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP quy định: “Khi cho người phạm tội hưởng án treo, Tòa án phải ấn định thời gian thử thách bằng hai lần mức hình phạt tù, nhưng không dưới 01 năm và không được quá 05 năm”. Trong nhiều trường hợp khi áp dụng án treo đối với người phạm tội việc trừ thời hạn bị tạm giam, tạm giữ vào thời hạn chấp hành hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo sẽ không đảm bảo thời hạn thử thách bằng hai lần mức hình phạt tù. Như vậy, không trừ thời hạn đã bị tạm giữ, tạm giam vào thời gian chấp hành hình phạt tù cũng như không trừ vào thời bị tạm giam, tạm giữ vào thời gian thử thách đối với người được hưởng án treo là phù hợp với quy định của pháp luật hiện hành.

Án treo là chế định không mới trong pháp luật hình sự nước ta, là một biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện trong những năm qua án treo đã phát huy hiệu quả trong công tác xử lý tội phạm với phương châm “trừng trị kết hợp với giáo dục”, thể hiện tính nhân đạo xã hội chủ nghĩa, tính ưu việt trong pháp luật hình sự khi không bắt người bị kết án phải cách ly khỏi xã hội mà cũng đạt được mục đích giáo dục, cải tạo để người phạm tội trở thành công dân có ích cho xã hội. Việc nhận thức đúng các quy định về án treo trong đó có quy định “thời gian tạm giữ, tạm giam không được trừ vào thời hạn chấp hành hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo”nhằm đảm bảo tính chính xác theo quy định của pháp luật hiện hành khi áp dụng án treo trong thực tiễn điều tra, truy tố, xét xử các vụ án hình sự./.

Hoàng Nguyên Thắng
Viện kiểm sát quân sự Quân khu 1


[1] Điều 10 Sắc lệnh số 21/SL ngày 14/02/1946.

[2] Nghị quyết số 02-HĐTP-TANDTC/QĐ ngày 05/01/1986, Nghị quyết số 01-HĐTP ngày 18/10/1990, Nghị quyết 01/2013/NQ-HĐTP ngày 6/11/2013, Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.

[3] Điều 1 Nghị quyết 01/2013/NQ-HĐTP ngày 6/11/2013,Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.

[4] Khoản 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định và tổ chức thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Kiến nghị hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định và tổ chức thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 là đạo luật quan trọng nhằm cụ thể hóa quyền tiếp cận thông tin của công dân theo Hiến pháp năm 2013[*], góp phần nâng cao tính công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Sau 08 năm thi hành, bên cạnh những kết quả đạt được, thực tiễn cho thấy còn bộc lộ một số hạn chế, bất cập trong quy định pháp luật và tổ chức thi hành, đặc biệt, liên quan đến phạm vi thông tin, trách nhiệm cung cấp thông tin, trình tự, thủ tục và điều kiện bảo đảm thực hiện quyền. Trên cơ sở nhận diện các vướng mắc, bất cập, nghiên cứu đề xuất định hướng sửa đổi, bổ sung Luật theo hướng bảo đảm tính đồng bộ với hệ thống pháp luật hiện hành, phù hợp với yêu cầu chuyển đổi số và tổ chức bộ máy nhà nước, đồng thời kiến nghị các giải pháp nâng cao hiệu quả tổ chức thi hành, qua đó góp phần bảo đảm tốt hơn quyền tiếp cận thông tin của công dân và xây dựng nền hành chính công khai, minh bạch.
Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018) sau hơn 08 năm thi hành đã bộc lộ nhiều bất cập trước sự vận động nhanh chóng của thực tiễn, đặc biệt là sự xuất hiện của các hình thức hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng và các quan hệ tôn giáo có yếu tố nước ngoài ngày càng phức tạp. Vì vậy, việc tăng cường quản lý nhà nước đối với các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng là yêu cầu cấp thiết không chỉ bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân mà còn nhằm giữ vững an ninh, trật tự xã hội và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới.
Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Thẩm quyền ban hành VBQPPL là nội dung trọng tâm nhằm bảo đảm mỗi loại VBQPPL được ban hành bởi đúng cơ quan, đúng cấp, vừa phù hợp với phạm vi pháp lý, vừa hạn chế rủi ro và xung đột giữa các văn bản.
Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Việc ban hành Luật Ban hành VBQPPL số 64/2025/QH15 được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 87/2025/QH15 và các nghị định hướng dẫn thi hành có ý nghĩa đặc biệt trong bối cảnh đổi mới tư duy xây dựng pháp luật, gắn kết chặt chẽ giữa xây dựng và thi hành pháp luật.
Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Bài viết phân tích quy trình xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ của Quốc hội và quy trình xây dựng chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội, từ đó, đưa ra một số lưu ý nhằm nâng cao hiệu quả việc thực hiện hai quy trình này.
Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Tóm tắt: Bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra góp phần bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp cần miễm trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra để bảo vệ lợi ích hợp pháp của các nhà sản xuất kinh doanh. Bài viết nghiên cứu những trường hợp miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023, đồng thời chỉ ra ưu, nhược điểm và hạn chế của Luật, từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Trong bối cảnh nhiều thách thức, đội ngũ luật sư với kiến thức chuyên môn và kỹ năng nghề nghiệp của mình, đóng vai trò then chốt trong việc nâng cao chất lượng, hiệu quả trợ giúp pháp lý.
Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Những năm qua, công tác trợ giúp pháp lý trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận. Nhiều vụ việc được trợ giúp pháp lý kịp thời, góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người nghèo, người có công với cách mạng và các nhóm yếu thế khác.
Ứng dụng công nghệ số, nền tảng trực tuyến, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động trợ giúp pháp lý

Ứng dụng công nghệ số, nền tảng trực tuyến, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động trợ giúp pháp lý

Những nỗ lực số hóa hồ sơ, vận hành Hệ thống quản lý trợ giúp pháp lý, kết nối dữ liệu dân cư, phát triển tư vấn trực tuyến… đã mở ra hướng tiếp cận mới, góp phần nâng cao chất lượng và tính minh bạch của dịch vụ trợ giúp pháp lý.
Tăng cường hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế trong tố tụng hình sự

Tăng cường hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế trong tố tụng hình sự

Trong tiến trình cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, việc bảo đảm quyền con người luôn là sợi chỉ đỏ xuyên suốt, đặc biệt, với đối tượng yếu thế, yêu cầu này càng trở nên cấp thiết và nhân văn. Trong tố tụng hình sự (TTHS), đối tượng yếu thế với tư cách bị hại, người làm chứng hay bị can, bị cáo, đã và đang phải đối mặt với hệ thống tư pháp hình sự. Đối tượng yếu thế có được tiếp cận công lý bình đẳng hay không phụ thuộc vào sự công tâm, chuyên nghiệp và nhạy cảm của các cơ quan trong hoạt động tố tụng, trong đó có vai trò của hoạt động trợ giúp pháp lý.
Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo trong bối cảnh mới

Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo trong bối cảnh mới

Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và thúc đẩy phát triển bền vững, hoạt động trợ giúp pháp lý đóng vai trò quan trọng trong việc bảo đảm công bằng xã hội và tiếp cận công lý cho người dân, đặc biệt là người nghèo thuộc nhóm đối tượng yếu thế.
Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Đây là giải pháp quan trọng nhằm khắc phục khó khăn, vướng mắc, nâng cao chất lượng tổ chức thi hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo.
Ưu điểm, hạn chế và một số vấn đề chính cần rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Ưu điểm, hạn chế và một số vấn đề chính cần rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 đã góp phần quan trọng trong việc bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của cá nhân, tổ chức, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đối với lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo. Tuy nhiên, thực tiễn triển khai Luật cũng bộc lộ những bất cập, hạn chế cần sửa đổi, hoàn thiện nhằm đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới.
Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là một trong những loại tội phạm có diễn biến ngày càng phức tạp, đa dạng và tinh vi. Phương thức thực hiện tội phạm không ngừng biến đổi, đặc biệt là việc sử dụng công nghệ cao để phạm tội, gây thiệt hại lớn đối với tài sản và tâm lý hoang mang cho người dân, ảnh hưởng đến trật tự, an toàn xã hội. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng các quy định của Bộ luật Hình sự về tội này vẫn còn tồn tại một số vướng mắc, bất cập từ chính quy định của pháp luật.
Xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Bài viết làm rõ sự cần thiết của việc xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên bứt phá, phát triển mới của dân tộc, theo tinh thần Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Đại hội XIV).

Theo dõi chúng tôi trên: