Thứ bảy 13/06/2026 07:51
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Bàn về việc miễn thực hiện nghĩa vụ theo hợp đồng trong trường hợp bất khả kháng - Covid-19

Đại dịch Covid-19 đã và đang ảnh hưởng đến mọi mặt của đời sống kinh tế, xã hội không chỉ tại Việt Nam mà còn trên phạm vi toàn cầu. Về mặt pháp lý, theo quy định của pháp luật Việt Nam, Covid-19 có được xem là sự kiện bất khả kháng để bên vi phạm hợp đồng được miễn trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ theo hợp đồng hay không? Trong phạm vi bài viết này, tác giả sẽ phân tích quy định pháp luật Việt Nam hiện hành về các điều kiện cần và đủ để một sự kiện được xem là sự kiện bất khả kháng, đồng thời phân biệt sự kiện bất khả kháng với các trường hợp khác, từ đó, kết luận rằng dịch bệnh Covid-19 là một sự kiện bất khả kháng và phân tích hệ quả pháp lý của dịch bệnh Covid-19 đối với hợp đồng đã giao kết.


1. Quy định pháp luật Việt Nam về sự kiện bất khả kháng

Bộ luật Dân sự năm 2015 (BLDS 2015) không quy định sự kiện bất khả kháng trong phần hợp đồng, mà trong phần quy định chung, cụ thể là trong mục thời hiệu. Theo khoản 1 Điều 156 BLDS 2015, sự kiện bất khả kháng là sự kiện xảy ra một cách khách quan không thể lường trước được và không thể khắc phục được mặc dù đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết và khả năng cho phép.

1.1. Điều kiện để được xem là sự kiện bất khả kháng

BLDS 2015 không đưa ra bất kỳ tiêu chí nào để xác định các yếu tố cấu thành sự kiện bất khả kháng cũng không liệt kê sự kiện nào được gọi là sự kiện bất khả kháng, mà vấn đề này được điều chỉnh bởi pháp luật chuyên ngành[1]. Tuy nhiên, dựa vào khoản 1 Điều 156 BLDS 2015, có thể thấy một sự kiện được gọi là bất khả kháng khi hội đủ các điều kiện sau: (i) Xảy ra một cách khách quan, (ii) Không thể lường trước được và (iii) Không thể khắc phục được mặc dù đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết và khả năng cho phép.

(i) Yếu tố khách quan của sự kiện: Một sự kiện được xem là xảy ra một cách khách quan khi sự kiện đó không phụ thuộc vào ý chí các bên (các bên liên quan đến sự kiện, cụ thể là các bên trong hợp đồng). Ví dụ như, chiến tranh có thể được xem là sự kiện bất khả kháng, mặc dù việc xảy ra chiến tranh là do ý chí của con người, nhưng chiến tranh lại không phụ thuộc vào ý chí của các bên liên quan đến sự kiện, tức các bên trong hợp đồng.

(ii) Yếu tố không lường trước được của sự kiện: Có thể hiểu không lường trước được ở đây là nằm ngoài khả năng dự đoán của các bên liên quan. Tuy nhiên, đối với hợp đồng, thời điểm nào được xem là thời điểm các bên không lường trước được việc xảy ra sự kiện. Thời điểm giao kết hợp đồng hay thời điểm thực hiện hợp đồng? Theo quan điểm của tác giả, thời điểm không lường trước được của việc xảy ra sự kiện phải là thời điểm giao kết hợp đồng. Đặt trường hợp nếu tại thời điểm giao kết hợp đồng, một trong các bên lường trước được sự kiện, nhưng không báo cho bên kia biết, đến thời điểm thực hiện hợp đồng mới đưa ra vấn đề sự kiện bất khả kháng, thì bên này đã vi phạm nguyên tắc trung thực khi xác lập hợp đồng. Do đó, bên còn lại có thể yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng vô hiệu do bị lừa dối theo Điều 127 BLDS 2015. Dưới một góc độ khác, có thể vì lý do miễn trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ theo hợp đồng, đến thời điểm thực hiện hợp đồng, bên này mới đưa vấn đề sự kiện bất khả kháng đối với bên kia.

(iii) Yếu tố không thể khắc phục được của sự kiện: Phù hợp với nguyên tắc thiện chí, trung thực của pháp luật dân sự[2] nói chung, pháp luật về hợp đồng nói riêng[3], khi xảy ra sự kiện, bên có nghĩa vụ theo hợp đồng phải áp dụng mọi biện pháp cần thiết và khả năng cho phép để khắc phục các tác động của sự kiện đến hợp đồng nhằm mục đích thực hiện đúng và đầy đủ các cam kết và nghĩa vụ theo hợp đồng. Tuy nhiên, kết quả cuối cùng là các bên vẫn không thể hoàn thành nghĩa vụ theo hợp đồng đã ký kết. Trên thực tế, yếu tố này thường không dễ chứng minh và phải được xem xét trong từng tình huống cụ thể.

1.2. Phân biệt sự kiện bất khả kháng và các trường hợp khác

Trước tiên, cần phải phân biệt sự kiện bất khả kháng và sự kiện bất ngờ. Nếu như sự kiện bất khả kháng là một khái niệm được quy định trong luật dân sự, thì sự kiện bất ngờ là một khái niệm chỉ có trong lĩnh vực hình sự. Theo đó, Điều 20 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 quy định rằng người thực hiện hành vi gây hậu quả nguy hại cho xã hội trong trường hợp không thể thấy trước hoặc không buộc phải thấy trước hậu quả của hành vi đó, thì không phải chịu trách nhiệm hình sự.

Bên cạnh đó, cũng cần phải phân biệt sự kiện bất khả kháng và hoàn cảnh thay đổi cơ bản. Sự kiện bất khả kháng, tiếng Pháp gọi là force majeure, có nguồn gốc từ Bộ luật Dân sự Napoléon[4]. Trong khi đó, hoàn cảnh thay đổi cơ bản, tiếng Anh gọi là hardship, bắt nguồn từ nghiên cứu của Marcel Fontaine vào năm 1976[5]. Sự kiện bất khả kháng được quy định tại Điều 156 BLDS 2015. Còn hoàn cảnh thay đổi cơ bản được quy định tại Điều 420 BLDS 2015. Sự kiện bất khả kháng hàm ý rằng hợp đồng không thể thực hiện được, ít nhất là trong một khoảng thời gian nào đó và có thể đứng trước nguy cơ chấm dứt hợp đồng. Hoàn cảnh thay đổi cơ bản chỉ khiến cho việc thực hiện hợp đồng trở nên khó khăn, đặc biệt là về phương diện chi phí, chứ không phải là không thể thực hiện được hợp đồng[6].

2. Covid-19 và vấn đề miễn trách nhiệm dân sự

2.1. Covid-19 là sự kiện bất khả kháng

Đối với dịch Covid-19, ngày 29/01/2020, Bộ Y tế ban hành Quyết định 219/QĐ-BYT về việc bổ sung bệnh viêm đường hô hấp cấp do chủng mới của vi rút Corona (nCov) gây ra vào danh mục các bệnh truyền nhiễm nhóm A theo quy định tại Luật Phòng, chống bệnh truyền nhiễm năm 2007[7]. Điểm a khoản 1 Điều 3 Luật Phòng, chống bệnh truyền nhiễm năm 2007, các bệnh truyền nhiễm nhóm A gồm những bệnh truyền nhiễm đặc biệt nguy hiểm, có khả năng lây truyền rất nhanh, phát tán rộng và tỷ lệ tử vong cao hoặc chưa rõ tác nhân gây bệnh.

Đến ngày 01/02/2020, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 173/QĐ-TTg về việc công bố dịch viêm đường hô hấp cấp do chủng mới của vi rút Corona gây ra là dịch truyền nhiễm tại Việt Nam, thời điểm xảy ra dịch là từ ngày 23/01/2020[8]. Ngày 01/4/2020, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 447/QĐ-TTg về việc công bố dịch Covid-19 trên phạm vi toàn quốc[9], thay thế cho Quyết định số 173/QĐ-TTg.

Tối ngày 11/3 theo giờ Việt Nam, Tổ chức Y tế Thế giới - WHO (World Health Organization) đã tuyên bố dịch bệnh viêm đường hô hấp cấp Covid-19 do chủng mới của virus Corona (SARS-CoV-2) là một đại dịch toàn cầu[10].

Như vậy, có thể khẳng định rằng Covid-19 là một dịch bệnh truyền nhiễm. Trong lĩnh vực hợp đồng, dịch bệnh truyền nhiễm Covid-19 không thể là sự kiện bất ngờ, vốn được quy định trong luật hình sự. Dịch bệnh truyền nhiễm Covid-19 cũng không thuộc trường hợp hoàn cảnh thay đổi cơ bản. Bởi vì, đối với hoàn cảnh thay đổi cơ bản, hợp đồng vẫn có thể thực hiện được, nhưng xét về mặt chi phí, giá thành thực hiện cao hơn rất nhiều so với dự tính ban đầu. Trong khi đó, trên thực tế, do ảnh hưởng của Covid-19, nhiều doanh nghiệp đứng trước nguy cơ phá sản[11], nhiều trường mầm non tư thục “đóng cửa”[12]… Dưới khía cạnh pháp lý, ngày 27/03/2020, Thủ tướng Chính phủ ban hành Chỉ thị số 15/CT-TTg về quyết liệt thực hiện đợt cao điểm phòng chống dịch Covid-19. Ngày 31/03/2020, Thủ tướng chính phủ tiếp tục ban hành Chỉ thị số 16/CT-TTg về việc thực hiện các biện pháp cấp bách phòng, chống dịch Covid-19, theo đó, trừ các cơ sở kinh doanh các loại hàng hóa, dịch vụ thiết yếu, các cơ sở kinh doanh khác bị tạm đình chỉ hoạt động[13]. Chính lệnh cấm các cá nhân, tổ chức kinh doanh không được hoạt động trong một thời hạn đã làm cho Covid-19 trở thành sự kiện bất khả kháng. Nói cách khác, dịch bệnh truyền nhiễm Covid-19 đã hội đủ các điều kiện để trở thành một sự kiện bất khả kháng, bao gồm: Xảy ra một cách khách quan, không thể lường trước được và không thể khắc phục được mặc dù đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết và khả năng cho phép.

2.2. Hệ quả pháp lý của Covid-19 đối với hợp đồng

Khoản 2 Điều 351 BLDS 2015 quy định rằng trường hợp bên có nghĩa vụ không thực hiện đúng nghĩa vụ do sự kiện bất khả kháng thì không phải chịu trách nhiệm dân sự, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác. Theo khoản 1 Điều 351 BLDS 2015, trách nhiệm dân sự được hiểu là trách nhiệm phát sinh do bên có nghĩa vụ vi phạm nghĩa vụ đối với bên có quyền. Vi phạm nghĩa vụ là việc bên có nghĩa vụ không thực hiện nghĩa vụ đúng thời hạn, thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ hoặc thực hiện không đúng nội dung của nghĩa vụ. Tương tự như quy định tại BLDS 2015, điểm b khoản 1 Điều 294 Luật Thương mại năm 2005 xem sự kiện bất khả kháng là một trong những trường hợp bên vi phạm hợp đồng được miễn trách nhiệm đối với bên có quyền trong hợp đồng.

Dựa vào các quy định trên, có thể thấy rằng, dù có hay không có thỏa thuận về sự kiện bất khả kháng, cụ thể là dịch bệnh trong hợp đồng, trường hợp một bên vi phạm hợp đồng do bị ảnh hưởng bởi dịch bệnh Covid-19, thì bên đó không phải chịu trách nhiệm do vi phạm hợp đồng với bên bị vi phạm, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác hoặc các bên có thỏa thuận khác. Cần phải lưu ý rằng, bên vi phạm hợp đồng được miễn trách nhiệm không có nghĩa là được miễn thực hiện nghĩa vụ đã cam kết theo hợp đồng với bên còn lại, trừ trường hợp bên có quyền trong hợp đồng chủ động miễn một phần hoặc toàn bộ các nghĩa vụ đó cho bên có nghĩa vụ.

Như vậy, đối với hợp đồng vay tiền, nếu bên vay chứng minh được việc không thanh toán tiền vay đúng hạn là do ảnh hưởng của dịch bệnh Covid-19, thì bên vay được miễn trách nhiệm đối với bên cho vay đối với các khoản phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng. Đối với hợp đồng tín dụng, ngày 13/03/2020, Ngân hàng Nhà nước đã ban hành Thông tư 01/2020/TT-NHNN quy định về việc tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài cơ cấu lại thời hạn trả nợ, miễn, giảm lãi, phí, giữ nguyên nhóm nợ nhằm hỗ trợ khách hàng chịu ảnh hưởng do dịch Covid-19. Triển khai thực hiện Thông tư 01/2020/TT-NHNN, nhiều ngân hàng đã giảm lãi suất vay cho khách hàng và cam kết tiếp tục giảm lãi suất thêm 2% đối với các doanh nghiệp phục vụ nhu cầu tiêu dùng thiết yếu của người dân[14]. Đối với hợp đồng thuê nhà hoặc thuê văn phòng, nếu bên thuê vẫn sử dụng nhà hoặc văn phòng, nhưng không thể thanh toán tiền thuê cho bên cho thuê với lý do bị ảnh hưởng của dịch bệnh Covid-19, thì bên thuê sẽ không phải chịu trách nhiệm do vi phạm hợp đồng đối với bên cho thuê. Đối với hợp đồng xây dựng, việc nhà thầu phải giãn tiến độ thực hiện hợp đồng do ảnh hưởng của dịch Covid-19, nhà thầu sẽ không phải chịu trách nhiệm đối với các thiệt hại thực tế phát sinh từ việc chậm tiến độ và cũng không phải chịu chế tài phạt vi phạm hợp đồng xây dựng. Tuy nhiên, việc miễn trách nhiệm trong các hợp đồng không đồng nghĩa với việc loại trừ các nghĩa vụ theo hợp đồng đã ký kết.

Kết luận, dịch bệnh Covid-19 là tình huống pháp lý phát sinh chưa có tiền lệ từ trước đến nay, do vậy, các bên khó có thể dự liệu trong hợp đồng. Để tránh xung đột hoặc tranh chấp phát sinh về sau, ngay khi xảy ra dịch Covid-19 hoặc ít nhất là vào thời điểm này, bên vi phạm hợp đồng cần phải gửi thông báo ngay cho bên kia biết về sự kiện bất khả kháng do dịch bệnh Covid-19 gây ra, trong đó cần phải ghi rõ ảnh hưởng của dịch bệnh Covid-19 đối với việc thực hiện hợp đồng của bên vi phạm và các biện pháp mà bên vi phạm đã thực hiện để hạn chế những ảnh hưởng của Covid-19.

TS. Lâm Tố Trang

Trường Đại học Mở TP. Hồ Chí Minh


[1] Theo điểm a khoản 2 Điều 39 và Điều 51 Nghị định số 37/2015/NĐ-CP do Chính phủ ban hành ngày 22/04/2015 quy định chi tiết về hợp đồng xây dựng, các sự kiện như: Động đất, bão, lũ, lụt, sóng thần, hỏa hoạn, địch họa, thiên tai, sự cố môi trường, hỏa hoạn… được xem là sự kiện bất khả kháng. Các sự kiện như: Hang caster, cổ vật, khảo cổ, túi bùn mà khi ký hợp đồng các bên chưa lường hết được cũng được xem là sự kiện bất khả kháng tại khoản 1 Điều 16 Thông tư số 08/2016/TT-BXD do Bộ Xây dựng ban hành ngày 10/3/2016 hướng dẫn một số nội dung về hợp đồng tư vấn xây dựng và điểm a khoản 1 Điều 10 Thông tư số 09/2016/TT-BXD do Bộ Xây dựng ban hành ngày 10/3/2016 hướng dẫn hợp đồng thi công xây dựng công trình.

[2] Khoản 3 Điều 3 BLDS 2015.

[3]Trong BLDS 2005, các nguyên tắc giao kết hợp đồng được quy định tại Điều 389. Theo đó, việc giao kết hợp đồng phải tuân thủ các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự tại Điều 3 của Bộ luật này (xem Đỗ Văn Đại (Chủ biên), Bình luận khoa học những điểm mới của Bộ luật Dân sự năm 2015, Nxb. Hồng Đức, 2016, tr. 367 và 368).

[4]Trường Đại học Mở TP. Hồ Chí Minh, Nguyễn Ngọc Điện, Giáo trình Luật dân sự, Tập 2, Nxb. Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh, 2018, tr. 116.

[5]Fabio Bortolotti, ‎Dorothy Ufot, Hardship and Force Majeure in International Commercial Contracts Dealing with unforeseen events in a changing world, ICC Publication, 2018, https://books.google.com.vn/books?id=h2a5DwAAQBAJ&pg=PT9&lpg=PT9&dq=%22Marcel+Fontaine%22+%2B+hardship&source=bl&ots=-

GkN5kunp8&sig=ACfU3U0Vss_IoaUB3BtOMX3elZ6O-No_nw&hl=en&sa=X&ved=2ahUKEwjih-PVrdDoAhXymuYKHeaHC14Q6AEwAXoECAsQLg#v=onepage&q=%22Marcel%20Fontaine%22%20%2B%20hardship&f=false
, truy cập ngày 02/04/2020, xem phần Giới thiệu (Introduction).

[6]Trường Đại học Mở TP. Hồ Chí Minh, Nguyễn Ngọc Điện, sđd, tr. 116 và 117.

[7] Điều 1 Quyết định số 219/QĐ-BYT do Bộ Y tế ban hành ngày 29/01/2020.

[8] Điều 1 Quyết định số 173/QĐ-TTg do Thủ tướng Chính phủ ban hành ngày 01/02/2020.

[9] Điều 1 Quyết định số 447/QĐ-TTg do Thủ tướng Chính phủ ban hành ngày 01/04/2020.

[10] Báo điện tử Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, WHO tuyên bố COVID-19 là đại dịch toàn cầu, http://baochinhphu.vn/Tin-noi-bat/WHO-tuyen-bo-COVID19-la-dai-dich-toan-cau/389702.vgp, ngày đăng: 12/03/2020, ngày truy cập: 04/04/2020.

[11] Tạp chí Diễn đàn Doanh nghiệp, Tuấn Vỹ, Đà Nẵng: Doanh nghiệp đứng trước nguy cơ phá sản vì dịch COVID-19, ngày đăng: 16/02/2020, ngày truy cập: 02/04/2020; Báo Thanh niên, Đình Sơn, Doanh nghiệp thấm đòn Covid-19, https://thanhnien.vn/tai-chinh-kinh-doanh/doanh-nghiep-tham-don-covid-19-1201892.html, ngày đăng: 27/03/2020, ngày truy cập: 04/04/2020.

[12] Giáo dục Việt Nam, Phương Linh, Nhiều trường mầm non tư thục đóng cửa vì dịch bệnh Covid-19 kéo dài, https://giaoduc.net.vn/giao-duc-24h/nhieu-truong-mam-non-tu-thuc-dong-cua-vi-dich-benh-covid19-keo-dai-post207546.gd, ngày đăng: 03/03/2020, ngày truy cập: 04/04/2020.

[13] Mục 2 điểm c Chỉ thị số 15/CT-TTg do Thủ tướng Chính phủ ban hành ngày 27/03/2020; mục 1 và mục 4 Chỉ thị số 16/CT-TTg do Thủ tướng Chính phủ ban hành ngày 31/03/2020.

[14] Báo Tuổi trẻ, L. Thanh, Giảm lãi suất cho vay thêm 2% - 2,5%/ năm, https://tuoitre.vn/giam-lai-suat-cho-vay-them-2-25-nam-20200331192222891.htm, ngày đăng: 31/03/2020, ngày truy cập: 04/04/2020.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Luật Dân số năm 2025 chuyển trọng tâm chính sách từ kế hoạch hóa gia đình sang dân số và phát triển

Luật Dân số năm 2025 chuyển trọng tâm chính sách từ kế hoạch hóa gia đình sang dân số và phát triển

Luật Dân số được Quốc hội khóa XV, kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 10/12/2025, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026 thay thế Pháp lệnh Dân số số 06/2004/PL-UBTVQH11 (đã được sửa đổi, bổ sung theo Pháp lệnh số 07/2025/UBTVQH15). Một trong những thay đổi căn bản của Luật Dân số năm 2025 là chuyển trọng tâm chính sách dân số từ kế hoạch hóa gia đình sang dân số và phát triển. Những nội dung liên quan đến dân số và phát triển đã được thể hiện trong việc hướng tới giải quyết đồng bộ các vấn đề về quy mô dân số, cơ cấu dân số, thích ứng với già hóa dân số, nâng cao chất lượng dân số và đặt trong mối quan hệ tác động qua lại với phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, của từng địa phương, góp phần bảo đảm sự phát triển bền vững của đất nước.
Công tác kiểm tra, giám sát Đảng ủy cấp xã tại Hà Nội hiện nay

Công tác kiểm tra, giám sát Đảng ủy cấp xã tại Hà Nội hiện nay

Đổi mới công tác kiểm tra, giám sát không chỉ dừng lại ở việc xử lý vi phạm mà cốt lõi là để cảnh báo, phòng ngừa và kiến tạo sự phát triển. Trước thực trạng 70% cán bộ kiểm tra cấp xã còn lúng túng về nghiệp vụ và áp lực từ việc thiếu vắng sự giám sát của Hội đồng nhân dân tại các xã, phường, Hà Nội đang nỗ lực tìm kiếm những mô hình mới như "giám sát dữ liệu số" hay cơ chế bảo vệ cán bộ "dám nói, dám làm". Đây chính là chìa khóa để bảo đảm bộ máy chính quyền Thủ đô vận hành liêm chính và hiệu quả sau khi tinh gọn.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định và tổ chức thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Kiến nghị hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định và tổ chức thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 là đạo luật quan trọng nhằm cụ thể hóa quyền tiếp cận thông tin của công dân theo Hiến pháp năm 2013[*], góp phần nâng cao tính công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Sau 08 năm thi hành, bên cạnh những kết quả đạt được, thực tiễn cho thấy còn bộc lộ một số hạn chế, bất cập trong quy định pháp luật và tổ chức thi hành, đặc biệt, liên quan đến phạm vi thông tin, trách nhiệm cung cấp thông tin, trình tự, thủ tục và điều kiện bảo đảm thực hiện quyền. Trên cơ sở nhận diện các vướng mắc, bất cập, nghiên cứu đề xuất định hướng sửa đổi, bổ sung Luật theo hướng bảo đảm tính đồng bộ với hệ thống pháp luật hiện hành, phù hợp với yêu cầu chuyển đổi số và tổ chức bộ máy nhà nước, đồng thời kiến nghị các giải pháp nâng cao hiệu quả tổ chức thi hành, qua đó góp phần bảo đảm tốt hơn quyền tiếp cận thông tin của công dân và xây dựng nền hành chính công khai, minh bạch.
Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018) sau hơn 08 năm thi hành đã bộc lộ nhiều bất cập trước sự vận động nhanh chóng của thực tiễn, đặc biệt là sự xuất hiện của các hình thức hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng và các quan hệ tôn giáo có yếu tố nước ngoài ngày càng phức tạp. Vì vậy, việc tăng cường quản lý nhà nước đối với các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng là yêu cầu cấp thiết không chỉ bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân mà còn nhằm giữ vững an ninh, trật tự xã hội và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới.
Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Thẩm quyền ban hành VBQPPL là nội dung trọng tâm nhằm bảo đảm mỗi loại VBQPPL được ban hành bởi đúng cơ quan, đúng cấp, vừa phù hợp với phạm vi pháp lý, vừa hạn chế rủi ro và xung đột giữa các văn bản.
Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Việc ban hành Luật Ban hành VBQPPL số 64/2025/QH15 được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 87/2025/QH15 và các nghị định hướng dẫn thi hành có ý nghĩa đặc biệt trong bối cảnh đổi mới tư duy xây dựng pháp luật, gắn kết chặt chẽ giữa xây dựng và thi hành pháp luật.
Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Bài viết phân tích quy trình xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ của Quốc hội và quy trình xây dựng chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội, từ đó, đưa ra một số lưu ý nhằm nâng cao hiệu quả việc thực hiện hai quy trình này.
Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Tóm tắt: Bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra góp phần bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp cần miễm trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra để bảo vệ lợi ích hợp pháp của các nhà sản xuất kinh doanh. Bài viết nghiên cứu những trường hợp miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023, đồng thời chỉ ra ưu, nhược điểm và hạn chế của Luật, từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Trong bối cảnh nhiều thách thức, đội ngũ luật sư với kiến thức chuyên môn và kỹ năng nghề nghiệp của mình, đóng vai trò then chốt trong việc nâng cao chất lượng, hiệu quả trợ giúp pháp lý.
Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Những năm qua, công tác trợ giúp pháp lý trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận. Nhiều vụ việc được trợ giúp pháp lý kịp thời, góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người nghèo, người có công với cách mạng và các nhóm yếu thế khác.
Ứng dụng công nghệ số, nền tảng trực tuyến, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động trợ giúp pháp lý

Ứng dụng công nghệ số, nền tảng trực tuyến, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động trợ giúp pháp lý

Những nỗ lực số hóa hồ sơ, vận hành Hệ thống quản lý trợ giúp pháp lý, kết nối dữ liệu dân cư, phát triển tư vấn trực tuyến… đã mở ra hướng tiếp cận mới, góp phần nâng cao chất lượng và tính minh bạch của dịch vụ trợ giúp pháp lý.
Tăng cường hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế trong tố tụng hình sự

Tăng cường hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế trong tố tụng hình sự

Trong tiến trình cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, việc bảo đảm quyền con người luôn là sợi chỉ đỏ xuyên suốt, đặc biệt, với đối tượng yếu thế, yêu cầu này càng trở nên cấp thiết và nhân văn. Trong tố tụng hình sự (TTHS), đối tượng yếu thế với tư cách bị hại, người làm chứng hay bị can, bị cáo, đã và đang phải đối mặt với hệ thống tư pháp hình sự. Đối tượng yếu thế có được tiếp cận công lý bình đẳng hay không phụ thuộc vào sự công tâm, chuyên nghiệp và nhạy cảm của các cơ quan trong hoạt động tố tụng, trong đó có vai trò của hoạt động trợ giúp pháp lý.
Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo trong bối cảnh mới

Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo trong bối cảnh mới

Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và thúc đẩy phát triển bền vững, hoạt động trợ giúp pháp lý đóng vai trò quan trọng trong việc bảo đảm công bằng xã hội và tiếp cận công lý cho người dân, đặc biệt là người nghèo thuộc nhóm đối tượng yếu thế.
Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Đây là giải pháp quan trọng nhằm khắc phục khó khăn, vướng mắc, nâng cao chất lượng tổ chức thi hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo.
Ưu điểm, hạn chế và một số vấn đề chính cần rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Ưu điểm, hạn chế và một số vấn đề chính cần rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 đã góp phần quan trọng trong việc bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của cá nhân, tổ chức, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đối với lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo. Tuy nhiên, thực tiễn triển khai Luật cũng bộc lộ những bất cập, hạn chế cần sửa đổi, hoàn thiện nhằm đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới.

Theo dõi chúng tôi trên: