Thứ năm 19/03/2026 07:07
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Bàn về việc miễn thực hiện nghĩa vụ theo hợp đồng trong trường hợp bất khả kháng - Covid-19

Đại dịch Covid-19 đã và đang ảnh hưởng đến mọi mặt của đời sống kinh tế, xã hội không chỉ tại Việt Nam mà còn trên phạm vi toàn cầu. Về mặt pháp lý, theo quy định của pháp luật Việt Nam, Covid-19 có được xem là sự kiện bất khả kháng để bên vi phạm hợp đồng được miễn trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ theo hợp đồng hay không? Trong phạm vi bài viết này, tác giả sẽ phân tích quy định pháp luật Việt Nam hiện hành về các điều kiện cần và đủ để một sự kiện được xem là sự kiện bất khả kháng, đồng thời phân biệt sự kiện bất khả kháng với các trường hợp khác, từ đó, kết luận rằng dịch bệnh Covid-19 là một sự kiện bất khả kháng và phân tích hệ quả pháp lý của dịch bệnh Covid-19 đối với hợp đồng đã giao kết.


1. Quy định pháp luật Việt Nam về sự kiện bất khả kháng

Bộ luật Dân sự năm 2015 (BLDS 2015) không quy định sự kiện bất khả kháng trong phần hợp đồng, mà trong phần quy định chung, cụ thể là trong mục thời hiệu. Theo khoản 1 Điều 156 BLDS 2015, sự kiện bất khả kháng là sự kiện xảy ra một cách khách quan không thể lường trước được và không thể khắc phục được mặc dù đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết và khả năng cho phép.

1.1. Điều kiện để được xem là sự kiện bất khả kháng

BLDS 2015 không đưa ra bất kỳ tiêu chí nào để xác định các yếu tố cấu thành sự kiện bất khả kháng cũng không liệt kê sự kiện nào được gọi là sự kiện bất khả kháng, mà vấn đề này được điều chỉnh bởi pháp luật chuyên ngành[1]. Tuy nhiên, dựa vào khoản 1 Điều 156 BLDS 2015, có thể thấy một sự kiện được gọi là bất khả kháng khi hội đủ các điều kiện sau: (i) Xảy ra một cách khách quan, (ii) Không thể lường trước được và (iii) Không thể khắc phục được mặc dù đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết và khả năng cho phép.

(i) Yếu tố khách quan của sự kiện: Một sự kiện được xem là xảy ra một cách khách quan khi sự kiện đó không phụ thuộc vào ý chí các bên (các bên liên quan đến sự kiện, cụ thể là các bên trong hợp đồng). Ví dụ như, chiến tranh có thể được xem là sự kiện bất khả kháng, mặc dù việc xảy ra chiến tranh là do ý chí của con người, nhưng chiến tranh lại không phụ thuộc vào ý chí của các bên liên quan đến sự kiện, tức các bên trong hợp đồng.

(ii) Yếu tố không lường trước được của sự kiện: Có thể hiểu không lường trước được ở đây là nằm ngoài khả năng dự đoán của các bên liên quan. Tuy nhiên, đối với hợp đồng, thời điểm nào được xem là thời điểm các bên không lường trước được việc xảy ra sự kiện. Thời điểm giao kết hợp đồng hay thời điểm thực hiện hợp đồng? Theo quan điểm của tác giả, thời điểm không lường trước được của việc xảy ra sự kiện phải là thời điểm giao kết hợp đồng. Đặt trường hợp nếu tại thời điểm giao kết hợp đồng, một trong các bên lường trước được sự kiện, nhưng không báo cho bên kia biết, đến thời điểm thực hiện hợp đồng mới đưa ra vấn đề sự kiện bất khả kháng, thì bên này đã vi phạm nguyên tắc trung thực khi xác lập hợp đồng. Do đó, bên còn lại có thể yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng vô hiệu do bị lừa dối theo Điều 127 BLDS 2015. Dưới một góc độ khác, có thể vì lý do miễn trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ theo hợp đồng, đến thời điểm thực hiện hợp đồng, bên này mới đưa vấn đề sự kiện bất khả kháng đối với bên kia.

(iii) Yếu tố không thể khắc phục được của sự kiện: Phù hợp với nguyên tắc thiện chí, trung thực của pháp luật dân sự[2] nói chung, pháp luật về hợp đồng nói riêng[3], khi xảy ra sự kiện, bên có nghĩa vụ theo hợp đồng phải áp dụng mọi biện pháp cần thiết và khả năng cho phép để khắc phục các tác động của sự kiện đến hợp đồng nhằm mục đích thực hiện đúng và đầy đủ các cam kết và nghĩa vụ theo hợp đồng. Tuy nhiên, kết quả cuối cùng là các bên vẫn không thể hoàn thành nghĩa vụ theo hợp đồng đã ký kết. Trên thực tế, yếu tố này thường không dễ chứng minh và phải được xem xét trong từng tình huống cụ thể.

1.2. Phân biệt sự kiện bất khả kháng và các trường hợp khác

Trước tiên, cần phải phân biệt sự kiện bất khả kháng và sự kiện bất ngờ. Nếu như sự kiện bất khả kháng là một khái niệm được quy định trong luật dân sự, thì sự kiện bất ngờ là một khái niệm chỉ có trong lĩnh vực hình sự. Theo đó, Điều 20 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 quy định rằng người thực hiện hành vi gây hậu quả nguy hại cho xã hội trong trường hợp không thể thấy trước hoặc không buộc phải thấy trước hậu quả của hành vi đó, thì không phải chịu trách nhiệm hình sự.

Bên cạnh đó, cũng cần phải phân biệt sự kiện bất khả kháng và hoàn cảnh thay đổi cơ bản. Sự kiện bất khả kháng, tiếng Pháp gọi là force majeure, có nguồn gốc từ Bộ luật Dân sự Napoléon[4]. Trong khi đó, hoàn cảnh thay đổi cơ bản, tiếng Anh gọi là hardship, bắt nguồn từ nghiên cứu của Marcel Fontaine vào năm 1976[5]. Sự kiện bất khả kháng được quy định tại Điều 156 BLDS 2015. Còn hoàn cảnh thay đổi cơ bản được quy định tại Điều 420 BLDS 2015. Sự kiện bất khả kháng hàm ý rằng hợp đồng không thể thực hiện được, ít nhất là trong một khoảng thời gian nào đó và có thể đứng trước nguy cơ chấm dứt hợp đồng. Hoàn cảnh thay đổi cơ bản chỉ khiến cho việc thực hiện hợp đồng trở nên khó khăn, đặc biệt là về phương diện chi phí, chứ không phải là không thể thực hiện được hợp đồng[6].

2. Covid-19 và vấn đề miễn trách nhiệm dân sự

2.1. Covid-19 là sự kiện bất khả kháng

Đối với dịch Covid-19, ngày 29/01/2020, Bộ Y tế ban hành Quyết định 219/QĐ-BYT về việc bổ sung bệnh viêm đường hô hấp cấp do chủng mới của vi rút Corona (nCov) gây ra vào danh mục các bệnh truyền nhiễm nhóm A theo quy định tại Luật Phòng, chống bệnh truyền nhiễm năm 2007[7]. Điểm a khoản 1 Điều 3 Luật Phòng, chống bệnh truyền nhiễm năm 2007, các bệnh truyền nhiễm nhóm A gồm những bệnh truyền nhiễm đặc biệt nguy hiểm, có khả năng lây truyền rất nhanh, phát tán rộng và tỷ lệ tử vong cao hoặc chưa rõ tác nhân gây bệnh.

Đến ngày 01/02/2020, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 173/QĐ-TTg về việc công bố dịch viêm đường hô hấp cấp do chủng mới của vi rút Corona gây ra là dịch truyền nhiễm tại Việt Nam, thời điểm xảy ra dịch là từ ngày 23/01/2020[8]. Ngày 01/4/2020, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 447/QĐ-TTg về việc công bố dịch Covid-19 trên phạm vi toàn quốc[9], thay thế cho Quyết định số 173/QĐ-TTg.

Tối ngày 11/3 theo giờ Việt Nam, Tổ chức Y tế Thế giới - WHO (World Health Organization) đã tuyên bố dịch bệnh viêm đường hô hấp cấp Covid-19 do chủng mới của virus Corona (SARS-CoV-2) là một đại dịch toàn cầu[10].

Như vậy, có thể khẳng định rằng Covid-19 là một dịch bệnh truyền nhiễm. Trong lĩnh vực hợp đồng, dịch bệnh truyền nhiễm Covid-19 không thể là sự kiện bất ngờ, vốn được quy định trong luật hình sự. Dịch bệnh truyền nhiễm Covid-19 cũng không thuộc trường hợp hoàn cảnh thay đổi cơ bản. Bởi vì, đối với hoàn cảnh thay đổi cơ bản, hợp đồng vẫn có thể thực hiện được, nhưng xét về mặt chi phí, giá thành thực hiện cao hơn rất nhiều so với dự tính ban đầu. Trong khi đó, trên thực tế, do ảnh hưởng của Covid-19, nhiều doanh nghiệp đứng trước nguy cơ phá sản[11], nhiều trường mầm non tư thục “đóng cửa”[12]… Dưới khía cạnh pháp lý, ngày 27/03/2020, Thủ tướng Chính phủ ban hành Chỉ thị số 15/CT-TTg về quyết liệt thực hiện đợt cao điểm phòng chống dịch Covid-19. Ngày 31/03/2020, Thủ tướng chính phủ tiếp tục ban hành Chỉ thị số 16/CT-TTg về việc thực hiện các biện pháp cấp bách phòng, chống dịch Covid-19, theo đó, trừ các cơ sở kinh doanh các loại hàng hóa, dịch vụ thiết yếu, các cơ sở kinh doanh khác bị tạm đình chỉ hoạt động[13]. Chính lệnh cấm các cá nhân, tổ chức kinh doanh không được hoạt động trong một thời hạn đã làm cho Covid-19 trở thành sự kiện bất khả kháng. Nói cách khác, dịch bệnh truyền nhiễm Covid-19 đã hội đủ các điều kiện để trở thành một sự kiện bất khả kháng, bao gồm: Xảy ra một cách khách quan, không thể lường trước được và không thể khắc phục được mặc dù đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết và khả năng cho phép.

2.2. Hệ quả pháp lý của Covid-19 đối với hợp đồng

Khoản 2 Điều 351 BLDS 2015 quy định rằng trường hợp bên có nghĩa vụ không thực hiện đúng nghĩa vụ do sự kiện bất khả kháng thì không phải chịu trách nhiệm dân sự, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác. Theo khoản 1 Điều 351 BLDS 2015, trách nhiệm dân sự được hiểu là trách nhiệm phát sinh do bên có nghĩa vụ vi phạm nghĩa vụ đối với bên có quyền. Vi phạm nghĩa vụ là việc bên có nghĩa vụ không thực hiện nghĩa vụ đúng thời hạn, thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ hoặc thực hiện không đúng nội dung của nghĩa vụ. Tương tự như quy định tại BLDS 2015, điểm b khoản 1 Điều 294 Luật Thương mại năm 2005 xem sự kiện bất khả kháng là một trong những trường hợp bên vi phạm hợp đồng được miễn trách nhiệm đối với bên có quyền trong hợp đồng.

Dựa vào các quy định trên, có thể thấy rằng, dù có hay không có thỏa thuận về sự kiện bất khả kháng, cụ thể là dịch bệnh trong hợp đồng, trường hợp một bên vi phạm hợp đồng do bị ảnh hưởng bởi dịch bệnh Covid-19, thì bên đó không phải chịu trách nhiệm do vi phạm hợp đồng với bên bị vi phạm, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác hoặc các bên có thỏa thuận khác. Cần phải lưu ý rằng, bên vi phạm hợp đồng được miễn trách nhiệm không có nghĩa là được miễn thực hiện nghĩa vụ đã cam kết theo hợp đồng với bên còn lại, trừ trường hợp bên có quyền trong hợp đồng chủ động miễn một phần hoặc toàn bộ các nghĩa vụ đó cho bên có nghĩa vụ.

Như vậy, đối với hợp đồng vay tiền, nếu bên vay chứng minh được việc không thanh toán tiền vay đúng hạn là do ảnh hưởng của dịch bệnh Covid-19, thì bên vay được miễn trách nhiệm đối với bên cho vay đối với các khoản phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng. Đối với hợp đồng tín dụng, ngày 13/03/2020, Ngân hàng Nhà nước đã ban hành Thông tư 01/2020/TT-NHNN quy định về việc tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài cơ cấu lại thời hạn trả nợ, miễn, giảm lãi, phí, giữ nguyên nhóm nợ nhằm hỗ trợ khách hàng chịu ảnh hưởng do dịch Covid-19. Triển khai thực hiện Thông tư 01/2020/TT-NHNN, nhiều ngân hàng đã giảm lãi suất vay cho khách hàng và cam kết tiếp tục giảm lãi suất thêm 2% đối với các doanh nghiệp phục vụ nhu cầu tiêu dùng thiết yếu của người dân[14]. Đối với hợp đồng thuê nhà hoặc thuê văn phòng, nếu bên thuê vẫn sử dụng nhà hoặc văn phòng, nhưng không thể thanh toán tiền thuê cho bên cho thuê với lý do bị ảnh hưởng của dịch bệnh Covid-19, thì bên thuê sẽ không phải chịu trách nhiệm do vi phạm hợp đồng đối với bên cho thuê. Đối với hợp đồng xây dựng, việc nhà thầu phải giãn tiến độ thực hiện hợp đồng do ảnh hưởng của dịch Covid-19, nhà thầu sẽ không phải chịu trách nhiệm đối với các thiệt hại thực tế phát sinh từ việc chậm tiến độ và cũng không phải chịu chế tài phạt vi phạm hợp đồng xây dựng. Tuy nhiên, việc miễn trách nhiệm trong các hợp đồng không đồng nghĩa với việc loại trừ các nghĩa vụ theo hợp đồng đã ký kết.

Kết luận, dịch bệnh Covid-19 là tình huống pháp lý phát sinh chưa có tiền lệ từ trước đến nay, do vậy, các bên khó có thể dự liệu trong hợp đồng. Để tránh xung đột hoặc tranh chấp phát sinh về sau, ngay khi xảy ra dịch Covid-19 hoặc ít nhất là vào thời điểm này, bên vi phạm hợp đồng cần phải gửi thông báo ngay cho bên kia biết về sự kiện bất khả kháng do dịch bệnh Covid-19 gây ra, trong đó cần phải ghi rõ ảnh hưởng của dịch bệnh Covid-19 đối với việc thực hiện hợp đồng của bên vi phạm và các biện pháp mà bên vi phạm đã thực hiện để hạn chế những ảnh hưởng của Covid-19.

TS. Lâm Tố Trang

Trường Đại học Mở TP. Hồ Chí Minh


[1] Theo điểm a khoản 2 Điều 39 và Điều 51 Nghị định số 37/2015/NĐ-CP do Chính phủ ban hành ngày 22/04/2015 quy định chi tiết về hợp đồng xây dựng, các sự kiện như: Động đất, bão, lũ, lụt, sóng thần, hỏa hoạn, địch họa, thiên tai, sự cố môi trường, hỏa hoạn… được xem là sự kiện bất khả kháng. Các sự kiện như: Hang caster, cổ vật, khảo cổ, túi bùn mà khi ký hợp đồng các bên chưa lường hết được cũng được xem là sự kiện bất khả kháng tại khoản 1 Điều 16 Thông tư số 08/2016/TT-BXD do Bộ Xây dựng ban hành ngày 10/3/2016 hướng dẫn một số nội dung về hợp đồng tư vấn xây dựng và điểm a khoản 1 Điều 10 Thông tư số 09/2016/TT-BXD do Bộ Xây dựng ban hành ngày 10/3/2016 hướng dẫn hợp đồng thi công xây dựng công trình.

[2] Khoản 3 Điều 3 BLDS 2015.

[3]Trong BLDS 2005, các nguyên tắc giao kết hợp đồng được quy định tại Điều 389. Theo đó, việc giao kết hợp đồng phải tuân thủ các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự tại Điều 3 của Bộ luật này (xem Đỗ Văn Đại (Chủ biên), Bình luận khoa học những điểm mới của Bộ luật Dân sự năm 2015, Nxb. Hồng Đức, 2016, tr. 367 và 368).

[4]Trường Đại học Mở TP. Hồ Chí Minh, Nguyễn Ngọc Điện, Giáo trình Luật dân sự, Tập 2, Nxb. Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh, 2018, tr. 116.

[5]Fabio Bortolotti, ‎Dorothy Ufot, Hardship and Force Majeure in International Commercial Contracts Dealing with unforeseen events in a changing world, ICC Publication, 2018, https://books.google.com.vn/books?id=h2a5DwAAQBAJ&pg=PT9&lpg=PT9&dq=%22Marcel+Fontaine%22+%2B+hardship&source=bl&ots=-

GkN5kunp8&sig=ACfU3U0Vss_IoaUB3BtOMX3elZ6O-No_nw&hl=en&sa=X&ved=2ahUKEwjih-PVrdDoAhXymuYKHeaHC14Q6AEwAXoECAsQLg#v=onepage&q=%22Marcel%20Fontaine%22%20%2B%20hardship&f=false
, truy cập ngày 02/04/2020, xem phần Giới thiệu (Introduction).

[6]Trường Đại học Mở TP. Hồ Chí Minh, Nguyễn Ngọc Điện, sđd, tr. 116 và 117.

[7] Điều 1 Quyết định số 219/QĐ-BYT do Bộ Y tế ban hành ngày 29/01/2020.

[8] Điều 1 Quyết định số 173/QĐ-TTg do Thủ tướng Chính phủ ban hành ngày 01/02/2020.

[9] Điều 1 Quyết định số 447/QĐ-TTg do Thủ tướng Chính phủ ban hành ngày 01/04/2020.

[10] Báo điện tử Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, WHO tuyên bố COVID-19 là đại dịch toàn cầu, http://baochinhphu.vn/Tin-noi-bat/WHO-tuyen-bo-COVID19-la-dai-dich-toan-cau/389702.vgp, ngày đăng: 12/03/2020, ngày truy cập: 04/04/2020.

[11] Tạp chí Diễn đàn Doanh nghiệp, Tuấn Vỹ, Đà Nẵng: Doanh nghiệp đứng trước nguy cơ phá sản vì dịch COVID-19, ngày đăng: 16/02/2020, ngày truy cập: 02/04/2020; Báo Thanh niên, Đình Sơn, Doanh nghiệp thấm đòn Covid-19, https://thanhnien.vn/tai-chinh-kinh-doanh/doanh-nghiep-tham-don-covid-19-1201892.html, ngày đăng: 27/03/2020, ngày truy cập: 04/04/2020.

[12] Giáo dục Việt Nam, Phương Linh, Nhiều trường mầm non tư thục đóng cửa vì dịch bệnh Covid-19 kéo dài, https://giaoduc.net.vn/giao-duc-24h/nhieu-truong-mam-non-tu-thuc-dong-cua-vi-dich-benh-covid19-keo-dai-post207546.gd, ngày đăng: 03/03/2020, ngày truy cập: 04/04/2020.

[13] Mục 2 điểm c Chỉ thị số 15/CT-TTg do Thủ tướng Chính phủ ban hành ngày 27/03/2020; mục 1 và mục 4 Chỉ thị số 16/CT-TTg do Thủ tướng Chính phủ ban hành ngày 31/03/2020.

[14] Báo Tuổi trẻ, L. Thanh, Giảm lãi suất cho vay thêm 2% - 2,5%/ năm, https://tuoitre.vn/giam-lai-suat-cho-vay-them-2-25-nam-20200331192222891.htm, ngày đăng: 31/03/2020, ngày truy cập: 04/04/2020.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là một trong những loại tội phạm có diễn biến ngày càng phức tạp, đa dạng và tinh vi. Phương thức thực hiện tội phạm không ngừng biến đổi, đặc biệt là việc sử dụng công nghệ cao để phạm tội, gây thiệt hại lớn đối với tài sản và tâm lý hoang mang cho người dân, ảnh hưởng đến trật tự, an toàn xã hội. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng các quy định của Bộ luật Hình sự về tội này vẫn còn tồn tại một số vướng mắc, bất cập từ chính quy định của pháp luật.
Xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Bài viết làm rõ sự cần thiết của việc xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên bứt phá, phát triển mới của dân tộc, theo tinh thần Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Đại hội XIV).
Những quy định cần biết khi xác định kết quả bầu cử

Những quy định cần biết khi xác định kết quả bầu cử

Sau ngày 15/3/2026 - khi cử tri cả nước đã hoàn thành việc bỏ phiếu bầu đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031. Các tổ chức phụ trách bầu cử bắt đầu thực hiện những công việc tiếp theo để xác định kết quả bầu cử. Trong đó, việc tính tỷ lệ phiếu bầu, xác định người trúng cử và xử lý các vấn đề phát sinh trong quá trình kiểm phiếu được thực hiện theo những nguyên tắc chặt chẽ do pháp luật quy định.
Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Để bảo đảm cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân được tiến hành dân chủ, đúng pháp luật, các quy định về phiếu bầu cử cũng như nguyên tắc, trình tự bỏ phiếu đã được quy định chặt chẽ tại Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 và Nghị quyết số 40/NQ-HĐBCQG ngày 29/9/2025 của Hội đồng bầu cử quốc gia quy định mẫu văn bản hồ sơ ứng cử và việc hồ sơ ứng cử; nội quy phòng bỏ phiếu trong công tác bầu cử ĐBQH khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031. Việc nắm rõ các quy định này giúp cử tri thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ trong ngày bầu cử.
Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Trong quá trình tổ chức bầu cử, có thể phát sinh một số tình huống đặc biệt như dịch bệnh, thiên tai, hỏa hoạn hoặc vấn đề về an ninh, trật tự. Pháp luật về bầu cử đã quy định rõ thẩm quyền và phương án xử lý nhằm bảo đảm cuộc bầu cử được tổ chức an toàn, đúng quy định và bảo đảm quyền bầu cử của cử tri.
Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Để chuẩn bị cho “Ngày hội non sông” - Ngày bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031, công tác phân chia đơn vị bầu cử cần phải được triển khai với những yêu cầu khắt khe hơn bao giờ hết với mục tiêu trọng tâm là bảo đảm cân đối, tránh chênh lệch lớn, thuận tiện cho cử tri thực hiện quyền bầu cử như: Các khu vực đô thị, khu công nghiệp có đông cử tri; các khu vực miền núi, hải đảo có ít cử tri.
Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Pháp luật quy định cụ thể về nguyên tắc bỏ phiếu, cách ghi phiếu bầu, việc viết hộ, bỏ hộ phiếu và xử lý Thẻ cử tri nhằm bảo đảm việc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân diễn ra đúng quy định.
Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Cơ chế giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân giữ vai trò quan trọng trong việc bảo đảm tính dân chủ, minh bạch và hợp pháp của quá trình bầu cử. Pháp luật Việt Nam thiết lập cơ chế này trên cơ sở kết hợp giữa các quy định đặc thù của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân với các quy định chung của pháp luật về khiếu nại, tố cáo, qua đó hình thành khung pháp lý cho việc tiếp nhận, xem xét và xử lý các khiếu nại, tố cáo phát sinh trong quá trình bầu cử.
Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Một vụ án in và phát hành sách giáo khoa giả vừa được đưa ra xét xử đã tiếp tục gióng lên hồi chuông cảnh báo về tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực xuất bản, đặc biệt là đối với sách giáo dục - mặt hàng có nhu cầu cao và ảnh hưởng trực tiếp đến hàng triệu học sinh.
Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức thống nhất vào ngày 15/3/2026 theo Nghị quyết của Quốc hội. Tuy nhiên, pháp luật cho phép tổ chức bỏ phiếu sớm trong những trường hợp đặc biệt nhằm bảo đảm quyền bầu cử của công dân không thể tham gia bỏ phiếu vào ngày chính thức. Việc tổ chức bầu cử sớm phải tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc về thẩm quyền quyết định, trình tự thủ tục, kiểm phiếu, niêm phong, bảo mật kết quả và kỷ luật thời gian bỏ phiếu theo đúng quy định của Luật Bầu cử và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Vận động bầu cử của người ứng cử là hoạt động gặp gỡ, tiếp xúc cử tri hoặc thông qua phương tiện thông tin đại chúng để người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân báo cáo với cử tri về dự kiến chương trình hành động của mình nhằm thực hiện trách nhiệm đại biểu nếu được bầu làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân và trao đổi những vấn đề mà cử tri quan tâm; tạo điều kiện để cử tri tiếp xúc với người ứng cử, hiểu rõ hơn người ứng cử; trên cơ sở đó cân nhắc, lựa chọn, bầu những người đủ tiêu chuẩn làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.
Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, yêu cầu thượng tôn Hiến pháp và pháp luật không chỉ đặt ra đối với hoạt động của bộ máy nhà nước mà trở thành chuẩn mực ứng xử phổ biến trong xã hội. Pháp luật chỉ thực sự phát huy vai trò điều chỉnh các quan hệ xã hội khi được các chủ thể tiếp nhận, tôn trọng, tuân thủ thực hiện trên tinh thần chủ động, tự giác, gắn với niềm tin vào công bằng và trật tự xã hội. Thực tiễn cho thấy, hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, nhưng tình trạng vi phạm pháp luật trong một số lĩnh vực vẫn diễn biến phức tạp; còn tồn tại khoảng trống giữa nhận thức pháp luật và hành vi tuân thủ; tâm lý tuân thủ thụ động, mang tính tình thế, phụ thuộc vào sự kiểm tra, giám sát và xử lý của cơ quan có thẩm quyền. Những biểu hiện này phản ánh việc tuân thủ pháp luật chưa thực sự trở thành chuẩn mực văn hóa trong xã hội. Vì vậy, việc nghiên cứu, nhận diện các yếu tố tác động, đánh giá đúng thực trạng, đề xuất nhiệm vụ, giải pháp xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn, góp phần thể chế hóa chủ trương của Đảng, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, mạnh, bền vững trong bối cảnh mới.
Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Tết Nguyên đán là dịp đoàn viên, nghỉ ngơi và tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí đầu năm, góp phần làm phong phú đời sống văn hóa, tinh thần của mỗi gia đình và cộng đồng. Tuy nhiên, một số hình thức vui chơi có thưởng có thể vượt ngoài khuôn khổ pháp luật nếu không được nhận diện đúng. Từ yêu cầu bảo đảm kỷ cương, pháp luật trong dịp Tết, việc làm rõ ranh giới pháp lý giữa vui xuân có thưởng và hành vi vi phạm pháp luật có ý nghĩa quan trọng.
Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết 71-NQ/TW) đặt ra những yêu cầu mang tính chiến lược đối với xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, giáo dục đại học giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành lớp trí thức mới - vừa có năng lực chuyên môn, vừa có bản lĩnh, nhân cách và tinh thần phụng sự xã hội. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật phỏng vấn Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đào Thanh Trường - Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội, xung quanh quan điểm xây dựng con người toàn diện, các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp, cũng như những định hướng tích hợp giáo dục nhân văn với khoa học, công nghệ trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Mùa xuân về không chỉ mang theo nhựa sống của thiên nhiên mà còn là thời điểm để nhìn lại những thành quả của năm qua. Xuân Bính Ngọ 2026, với Trường Cao đẳng Cơ điện Hà Nội (HCEM), là một mùa xuân đặc biệt - mùa xuân của sự cộng hưởng giữa niềm tự hào về hành trình 80 năm đất nước độc lập và quyết tâm chính trị cao để hiện thực hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị. Đây chính là “chìa khóa” để HCEM bứt phá, vươn tầm quốc tế, trở thành biểu tượng của nền giáo dục nghề nghiệp (GDNN) hiện đại trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.

Theo dõi chúng tôi trên: