Thứ bảy 23/05/2026 23:20
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Bảo đảm quyền bào chữa của bị cáo - Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Thông qua bài viết này, tác giả đã phân tích thực trạng bảo đảm quyền bào chữa của bị cáo ở nước ta trong thời gian qua, làm rõ những hạn chế, tồn tại, nguyên nhân ảnh hưởng đến chất lượng bảo đảm quyền bào chữa của bị cáo, từ đó, đưa ra giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả bảo đảm quyền bào chữa cho bị cáo.

Thực tiễn tố tụng hình sự nước ta trong những năm qua cho thấy việc bảo đảm và thực hiện quyền bào chữa của bị cáo đã và đang có những kết quả đáng khích lệ, đặc biệt, sau khi Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 có hiệu lực thi hành. Việc tham gia tố tụng của người bào chữa đã góp phần bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của bị can, bị cáo, giúp các chủ thể tiến hành tố tụng giải quyết vụ án một cách khách quan, toàn diện, đầy đủ. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều trường hợp vi phạm việc bảo đảm quyền bào chữa của bị cáo. Những hạn chế đó xuất phát từ nhiều nguyên nhân, bao gồm cả nguyên nhân khách quan và chủ quan.


Quyền bào chữa là một trong những quyền quan trọng của con người, được ghi nhận rõ ràng, cụ thể trong Hiến pháp năm 2013. Pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam cũng như các nước trên thế giới đều xem quyền bào chữa là một trong những quyền cơ bản và quan trọng nhất của người bị buộc tội nói chung, bị cáo nói riêng. Thực tiễn tố tụng hình sự nước ta trong những năm qua cho thấy việc bảo đảm và thực hiện quyền bào chữa của bị cáo đã và đang có những kết quả đáng khích lệ, tuy nhiên, vẫn còn nhiều trường hợp vi phạm việc bảo đảm quyền bào chữa của bị cáo. Những hạn chế đó xuất phát từ nhiều nguyên nhân, bao gồm cả nguyên nhân khách quan và chủ quan.

1. Thực tiễn bảo đảm quyền bào chữa của bị cáo

1.1. Những kết quả đạt được

Sau khi Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 có hiệu lực thi hành, việc tham gia tố tụng của người bào chữa đã góp phần bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của bị can, bị cáo, giúp các chủ thể tiến hành tố tụng (THTT) giải quyết vụ án một cách khách quan, toàn diện, đầy đủ. Việc bảo đảm quyền bào chữa của bị cáo trong thời gian qua đã đạt được một số kết quả sau:

Một là, các Tòa án đã tạo điều kiện thuận lợi để bị cáo có thể thực hiện quyền bào chữa ngay từ thời điểm nhận hồ sơ vụ án. Đa số các Tòa án thực hiện đầy đủ trách nhiệm yêu cầu chỉ định người bào chữa trong các trường hợp luật định, tạo điều kiện để người bào chữa tham gia tố tụng, bảo đảm cho họ thực hiện các quyền tố tụng. Tại phiên tòa, các thẩm phán điều hành thủ tục xét xử đúng với tinh thần cải cách tư pháp, bị cáo, người bào chữa được tôn trọng, tạo điều kiện để thực hiện quyền bào chữa. Tòa án cũng bảo đảm thực hiện tốt nguyên tắc nguyên tắc tranh tụng, do đó, chất lượng bào chữa ngày càng được nâng lên.

Hai là, theo Báo cáo của Liên đoàn Luật sư Việt Nam (từ năm 2009 đến ngày 31/12/2018), đội ngũ luật sư Việt Nam đã tham gia vào các lĩnh vực hành nghề, năm sau tăng hơn năm trước. Cụ thể, đội ngũ luật sư đã tham gia vào hơn 133.000 vụ án hình sự. Đáng chú ý, đội ngũ luật sư đã đảm nhận 100% việc bào chữa trong các vụ án do cơ quan THTT yêu cầu. Chất lượng bào chữa ngày càng được nâng cao. Cũng theo Báo cáo tổng kết công tác năm 2011 của Liên đoàn Luật sư Việt Nam, năm 2011, các đoàn luật sư đã tham gia vào 17.507 vụ án hình sự (trong đó, có 9.740 vụ án hình sự được mời, 7.767 vụ án hình sự theo yêu cầu của cơ quan THTT). Hay, theo số liệu tổng hợp dựa trên cơ sở báo cáo chưa đầy đủ của các tổ chức hành nghề luật sư, trong 05 năm (từ năm 2013 đến năm 2018), Đoàn Luật sư thành phố Hà Nội đã thực hiện được tổng số 94.501 dịch vụ pháp lý, trong đó tham gia các vụ án hình sự: 12.093 vụ (trong đó có 4.246 vụ án theo yêu cầu của các cơ quan THTT, chiếm tỷ lệ trên 35%). Như vậy, số vụ án có người bào chữa tham gia tố tụng mặc dù còn chiếm một tỷ lệ khá hạn chế nhưng đã và đang có xu hướng tăng nhanh. Điều này cho thấy một dấu hiệu đáng mừng, đồng thời cũng phản ánh phần nào sự dân chủ, sự tiến bộ trong xã hội nói chung, Ngành Tư pháp nói riêng.

Ba là, đối với vấn đề bảo đảm quyền bào chữa của bị cáo là người dưới 18 tuổi đã được bảo đảm tuyệt đối, 100% số vụ án có người bào chữa tham gia, Riêng trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh, số liệu thống kê cho thấy từ năm 2013 đến năm 2017, số vụ án bị cáo dưới 18 tuổi mời người bào chữa nằm trong khoảng 20-25% và có xu hướng giảm (năm 2013: 24,38%; 2014: 22,62%; năm 2016: 20,55%). Mặc dù đây là thành phố lớn, khả năng, điều kiện tiếp cận dịch vụ, thực hiện quyền bào chữa của bị cáo là cao hơn so với trung bình của cả nước.

Bốn là, việc tham gia tố tụng của người bào chữa đã góp phần vào việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị cáo, giúp cơ quan tố tụng giải quyết vụ án một cách khách quan, toàn diện, đầy đủ. Mặc dù còn có những khó khăn nhất định nhưng sự tham gia của người bào chữa nói chung đã đáp ứng được yêu cầu. Trong đó, có những trường hợp Tòa án đã xử nhẹ hơn mức đề nghị của Viện kiểm sát hoặc tuyên bị cáo không phạm tội hay yêu cầu điều tra bổ sung… Thậm chí, có những người bào chữa có ý chí quyết tâm cao, theo vụ án đến cùng, tham gia nhiều cấp xét xử đối với cùng một vụ án, kết quả đạt được nhiều khi là cấp phúc thẩm, giám đốc thẩm chấp nhận mặc dù trước đó cấp sơ thẩm, phúc thẩm đã không chấp nhận. Ngoài ra, nhiều vụ án đã có đủ cơ sở pháp lý để kết tội bị cáo nhưng sự tham gia của người bào chữa cũng giúp cho hội đồng xét xử (HĐXX) làm sáng tỏ thêm tính chất, hành vi phạm tội của bị cáo, động cơ, mục đích, nguyên nhân phạm tội, giúp HĐXX cân nhắc, xem xét để ra một bản án công minh, đúng pháp luật, giúp bị cáo nhận thức được hành vi phạm tội của mình, chấp hành bản án một cách tự giác, nghiêm minh.

1.2. Hạn chế

Thứ nhất, trong khi thực hiện chức năng, nhiệm vụ, người bào chữa còn gặp phải nhiều khó khăn từ phía các cơ quan THTT. Việc cấp đăng ký, thông báo người bào chữa, tham dự hỏi cung bị can, việc gặp và làm việc với bị can, bị cáo, nghiên cứu hồ sơ vụ án… Người THTT chưa nhận thức đầy đủ về vai trò của người bào chữa khi tham gia tố tụng để đảm bảo sự khách quan trong hoạt động tố tụng, chưa tạo điều kiện để người bào chữa tham gia tố tụng. Còn có những quy định của các cơ quan THTT chưa phù hợp, chưa đồng bộ với quy định của luật dẫn đến cách hiểu và vận dụng pháp luật của những người THTT cũng rất khác nhau (nhiều lúc, nhiều nơi còn tùy tiện), còn nhiều trường hợp bị can từ chối người bào chữa ngay từ khi làm thủ tục tham gia tố tụng trong giai đoạn điều tra, dù rằng trước khi bị bắt họ tha thiết mời luật sư tham gia. Mọi khó khăn từ phía các cơ quan THTT mà không riêng gì Tòa án đều có ảnh hưởng đến việc bảo đảm quyền bào chữa cho bị cáo bởi trước khi trở thành bị cáo, chính bản thân người đó đã tham gia tố tụng với các tư cách khác nhau. Pháp luật quy định cho họ có quyền bào chữa ngay từ đầu chứ không phải chỉ trong giai đoạn xét xử.

Nhiều trường hợp các cơ quan THTT còn yêu cầu người bào chữa phải nộp giấy giới thiệu của tổ chức hành nghề hoặc những giấy tờ khác mà pháp luật không quy định, thậm chí có trường hợp còn đòi hỏi người bào chữa cung cấp giấy yêu cầu của khách hàng phải có thị thực của chính quyền địa phương. Việc gặp gỡ và làm việc với bị cáo đang bị tạm giam cũng gặp phải không ít cản ngại, cụ thể: Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam có hiệu lực từ 01/01/2018, quy định người bào chữa có quyền gặp người bị tạm giữ, tạm giam mà không kèm theo bất kỳ một điều kiện gì. Thế nhưng, ở nhiều nơi, nhiều lúc, người bào chữa gặp bị cáo luôn bị cơ quan điều tra gây khó, ví dụ như: Cơ quan điều tra yêu cầu trại tạm giam chỉ giải quyết cho người bào chữa gặp bị cáo khi có điều tra viên giám sát.

Quyền đọc, ghi chép, sao chụp tài liệu có trong hồ sơ vụ án của người bào chữa cũng gặp không ít khó khăn. Lẽ thường, một khi đã là quyền của người bào chữa thì sẽ là nghĩa vụ tương ứng của các cơ quan THTT (Viện kiểm sát, Tòa án). Tuy nhiên, vẫn còn nhiều lúc, nhiều nơi, kiểm sát viên, thẩm phán gây khó khi các luật sư thực hiện quyền đọc, ghi chép, sao chụp tài liệu…

Thứ hai, trường hợp bị cáo tự bào chữa cho mình thì chất lượng việc bào chữa còn hạn chế. Về mặt thực tiễn thực hiện quyền tự bào chữa của bị cáo hiện nay cho thấy, bị cáo thường chủ yếu kêu oan, không nhận tội nhưng không có khả năng sử dụng chứng cứ, lý lẽ để chứng minh hoặc không có khả năng cung cấp tài liệu để bào chữa. Một số khác lại bào chữa bằng lý do không mấy thuyết phục như hoàn cảnh gia đình, tinh thần thái độ thành khẩn… để xin giảm nhẹ hình phạt, cho hưởng án treo… Xuất phát từ vốn hiểu biết pháp luật, khả năng tranh luận của bị cáo, nhiều bị cáo không biết thế nào là tranh luận, không biết phải làm gì nên dẫn đến tình trạng không nói hoặc nói rất ít. Đặc biệt, đối với bị cáo ở các vùng sâu, vùng xa, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn… thì trình độ dân trí không đủ để thực hiện quyền này.

Thứ ba, hạn chế từ phía người bào chữa. Trong hoạt động của mình, nhiều người bào chữa (chủ yếu là bào chữa viên nhân dân, trợ giúp viên pháp lý) có trình độ chuyên môn nghiệp vụ còn thấp, tinh thần trách nhiệm chưa cao, chưa đủ bản lĩnh, tâm lý khi tham gia bào chữa cho bị cáo. Có trường hợp người bào chữa không mạnh dạn, kịp thời đề nghị với các cơ quan THTT về những chứng cứ có lợi, chưa thực hiện triệt để việc tham gia lấy lời khai, chưa chú ý đầu tư nghiên cứu hồ sơ, cáo trạng… để có căn cứ chuẩn bị cho việc bào chữa. Đối với những trường hợp bào chữa chỉ định, việc bào chữa còn mang tính hình thức, qua loa. Không ít người bào chữa lại tham gia với một thái độ hời hợt, qua loa. Tinh thần trách nhiệm với nghề, với bị cáo mà mình bào chữa còn chưa cao. Không ít các trường hợp vắng mặt tại phiên tòa với lý do “rất bận”, chỉ gửi bài bào chữa hay có mặt tại phiên tòa chỉ để giúp bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt. Điều này xuất phát từ nhiều nguyên nhân, nhưng suy cho cùng, đây là thực tế đáng báo động nhất không chỉ trong vấn đề bào chữa chỉ định.

Bên cạnh việc hạn chế về chuyên môn, tinh thần trách nhiệm thì vấn đề về tính chuyên nghiệp, đạo đức của một bộ phận người bào chữa cũng là vấn đề đáng lo ngại, gây ảnh hưởng đến việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình. Không ít người bào chữa đã có những hành vi, phát ngôn không đúng, mang đậm ý kiến chủ quan sai lệch… làm ảnh hưởng đến uy tín của các cơ quan tố tụng, mất lòng tin, sự tôn trọng từ HĐXX nên các luận điểm, chứng cứ bào chữa ít được coi trọng. Có người bào chữa không kìm chế được cảm xúc, có những cư xử không đúng mực tại phiên tòa.

Thứ tư, tỷ lệ vụ án có người bào chữa tham gia còn thấp. Theo số liệu thống kê, năm 2014, 80% số vụ án hình sự không có người bào chữa cho bị cáo. Nhìn chung, những nơi có nhiều người bào chữa tham gia tố tụng (nhất là luật sư) vẫn tập trung ở các thành phố lớn như TP. Hồ Chí Minh, Hà Nội, Hải Phòng… Trong khi ở một số địa phương, con số này là tương đối nhỏ, thậm chí là không đáng kể như: Hà Giang, Tuyên Quang, Kon Tum… Theo thống kê, trong giai đoạn từ năm 2009 đến năm 2016, số vụ án có sự tham gia của người bào chữa trong tổng số các vụ án hình sự mà Tòa án nhân dân hai cấp tỉnh Đắk Lắk đã thụ lý giải quyết theo thủ tục sơ thẩm là rất ít, chỉ chiếm tỷ lệ 9,35% (1.112/11.893) và các vụ án có người bào chữa chủ yếu là các trường hợp bào chữa theo yêu cầu của Tòa án (bào chữa chỉ định).

Thứ năm, hạn chế trong bảo đảm quyền bào chữa của bị cáo tại phiên tòa. Việc bảo đảm quyền bào chữa cho bị cáo tại phiên tòa còn nhiều hạn chế như: Có vụ án bị cáo nhận được quyết định đưa vụ án ra xét xử sau 10 ngày trước ngày mở phiên tòa nhưng phiên tòa vẫn tiến hành xét xử bình thường mà không có ý kiến của bị cáo; các lý lẽ, chứng cứ người bào chữa đưa ra chưa được HĐXX coi trọng, có biểu hiện ưu tiên cho Viện kiểm sát, hạn chế quyền tranh luận của người bào chữa. Có trường hợp tại phiên tòa, kiểm sát viên không đứng dậy khi tranh luận với người bào chữa, xưng hô sai quy định nhưng thẩm phán đã không nhắc nhở. Một số trường hợp khác, người bào chữa bị chủ tọa hạn chế về mặt thời gian; hoặc tạo điều kiện cho người bào chữa trình bày nhưng sau đó lại tuyên bố không chấp nhận ý kiến đó mà không nêu lý do, cũng không yêu cầu Viện kiểm sát đối đáp lại… Những vấn đề trên khiến người bào chữa không thực hiện được, thực hiện không đầy đủ chức năng, nhiệm vụ của mình, ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của bị cáo.

1.2. Một số nguyên nhân của hạn chế

Một là, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 đã trao rất nhiều quyền cho người bào chữa, tuy nhiên, một số quyền quy định mang tính chung chung, hình thức, chưa cụ thể hoặc không được bảo đảm khi thực hiện. Ví dụ, quy định về việc cơ quan có thẩm quyền phải báo trước một thời gian hợp lý cho người bào chữa về thời gian, địa điểm tiến hành các hoạt động tố tụng mà người bào chữa được phép tham gia. Tuy nhiên, trong thực tế như đã chỉ ra, nhiều trường hợp người bào chữa chỉ được thông báo trước vài giờ. Hay như quyền thu thập chứng cứ, tài liệu của người bào chữa cũng gặp vô vàn khó khăn khi thực hiện trên thực tế.

Hai là, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 còn chưa quy định một số vấn đề cần thiết hoặc có quy định nhưng chưa phù hợp. Cụ thể, pháp luật hiện hành chưa có quy định trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc phối hợp, hỗ trợ, cung cấp các chứng cứ, tài liệu cũng như chế tài cho việc cản trở, không thực hiện việc cung cấp chứng cứ, tài liệu nêu trên. Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 chỉ dừng lại ở việc quy định cho người bào chữa có quyền đọc, ghi chép, sao chụp những tài liệu có trong hồ sơ vụ án mà chưa quy định trong trường hợp người bào chữa muốn thu thập chứng cứ, tài liệu khác không có trong hồ sơ vụ án và cần sự phối hợp, cung cấp từ phía các cơ quan, tổ chức, cá nhân khác thì sẽ như thế nào. Việc tống đạt, thông báo một số văn bản tố tụng của Tòa án cũng chưa có quy định trách nhiệm thông báo cho người bào chữa như quyết định đình chỉ, tạm đình chỉ, quyết định áp dụng các biện pháp ngăn chặn… Đặc biệt, trong khi bị can có quyền được biết kết quả quả hoạt động điều tra bổ sung thông qua việc giao nhận kết luận điều tra bổ sung hoặc kết luận điều tra, bản cáo trạng mới. Nhưng bị cáo lại không có quyền này mặc dù Tòa án có thể tự mình hoặc yêu cầu Viện kiểm sát bổ sung tài liệu, chứng cứ hoặc ra quyết định trả hồ sơ điều tra bổ sung. Những thiếu sót này, ít nhiều ảnh hưởng đến việc thực hiện quyền bào chữa, bảo đảm quyền bào chữa cho bị cáo.

Ba là, sự có mặt của người bào chữa tại phiên tòa có vai trò vô cùng to lớn, quyết định đến kết quả bào chữa, nhưng theo quy định hiện hành, nếu người bào chữa đã được triệu tập lần hai mà vắng mặt, kể cả trường hợp người bào chữa đã gửi bản bào chữa cho Tòa án hay chưa thì Tòa án đều vẫn mở phiên tòa. Xuất phát từ vai trò, ý nghĩa của người bào chữa tại phiên tòa, nhất là trong những trường hợp bào chữa chỉ định, cần quy định về vấn đề này theo hướng chặt chẽ hơn, yêu cầu người bào chữa phải gửi bản bào chữa nếu không thể tham gia phiên tòa khi đã triệu tâp hợp lệ lần thứ 2. Tiếp theo, trong trường hợp người bào chữa vắng mặt, người này vẫn cần có quyền được xem biên bản phiên tòa nói riêng, các biên bản về hoạt động tố tụng mà mình được phép tham gia nói chung. Tuy nhiên, hiện nay, người bào chữa chỉ được xem biên bản về hoạt động tố tụng có sự tham gia của người đó…

2. Một số đề xuất hoàn thiện pháp luật

Thứ nhất, bổ sung cơ chế bảo đảm cho việc giải thích quyền, nghĩa vụ cho bị cáo. Theo đó, giải thích quyền, nghĩa vụ cho bị cáo là một quy định bắt buộc của Tòa án. Tuy nhiên, cần lưu ý đây là vấn đề “giải thích” chứ không phải “thông báo”. Thực tế cho thấy, hầu hết các Tòa án chỉ thông báo về quyền, nghĩa vụ của bị cáo một cách qua loa. Cùng với đặc điểm về hiểu biết pháp luật, tâm lý… của bị cáo nên hầu hết các bị cáo không hiểu rõ, hiểu hết những quyền của mình, trong đó có quyền bào chữa. Chính vì vậy, cần có giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động này. Cụ thể, nên bổ sung quy định “Việc giải thích quyền và nghĩa vụ cho bị cáo phải được lập biên bản và lưu vào hồ sơ vụ án”.

Thứ hai, bổ sung quy định về việc gửi, thông báo các văn bản tố tụng cho người bào chữa. Hiện nay, pháp luật chưa quy định trách nhiệm của cơ quan tiến hành tố tụng trong việc tống đạt, thông báo cho người bào chữa một số văn bản liên quan đến quyền lợi của bị cáo: quyết định đình chỉ, tạm đình chỉ, quyết định áp dụng biện pháp ngăn chặn… Đây là những quyết định ảnh hưởng đến quyền, lợi ích của bị cáo và cần phải thông báo cho người bào chữa để thực hiện chức năng bào chữa của mình.

Thứ ba, thiếu chế tài trong trường hợp có sự vi phạm quyền của người bào chữa. Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 đã ghi nhận khá đầy đủ về quyền cũng như nghĩa vụ của người bào chữa, góp phần tạo điều kiện thuận lợi cho người bào chữa trong khi tham gia tố tụng. Tuy nhiên, thực tế có nhiều trường hợp cơ quan tiến hành tố tụng đã vi phạm, gây khó dễ cho người bào chữa. Việc này gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến chất lượng hoạt động bào chữa. Do đó, cần bổ sung chế tài cho việc vi phạm quyền của người bào chữa theo hướng ghi nhận đây là trường hợp vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng.

Thứ tư, các điều 232, 238 và 245 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quy định bị can được biết kết quả hoạt động điều tra bổ sung thông qua việc giao nhận kết luận điều tra bổ sung hoặc kết luận điều tra, bản cáo trạng mới mà không quy định cho bị cáo quyền tương tự trong trường hợp Tòa án tự bổ sung, thu thập chứng cứ hoặc yêu cầu Viện kiểm sát bổ sung (theo điều 252, 284). Kết quả điều tra bổ sung sẽ chứa đựng những chứng cứ, tài liệu, thông tin mà bị cáo cần phải biết để chủ động trong việc bào chữa. Nếu không quy định cho bị cáo quyền này sẽ gây nên thiệt thòi cho bị cáo. Do đó, nên bổ sung vào khoản 7, Điều 252: “Kết quả xác minh, thu thập chứng cứ của Tòa án phải được thông báo cho bị cáo, người bào chữa, người tham gia tố tụng khác có liên quan. Bị cáo, người bào chữa có quyền đọc, ghi chép, sao chụp các tài liệu đó” và thêm vào khoản 4 Điều 284 với nội dung tương tự.

Thứ năm, hoàn thiện quy định về thủ tục đăng ký bào chữa. Điều 78 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quy định về thủ tục đăng ký bào chữa. Theo đó, người bào chữa chỉ cần đăng ký với cơ quan có thẩm quyền THTT. Tuy nhiên, quy định này còn chung chung, chưa xác định rõ trách nhiệm trong việc cấp đăng ký bào chữa là người nào trong các cơ quan THTT. Điều này dẫn đến những khó khăn cho người bào chữa, nếu có vi phạm cũng không có cơ sở xử lý trách nhiệm đối với cá nhân vi phạm. Theo đó, cần bổ sung quy định về chủ thể có thẩm quyền cấp đăng ký bào chữa, trách nhiệm của các chủ thể đó.

Thứ sáu, sửa đổi quyền xem biên bản các hoạt động tố tụng của người bào chữa. Theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 73, người bào chữa có quyền “Xem biên bản về hoạt động tố tụng có sự tham gia của mình, quyết định tố tụng liên quan đến người mà mình bào chữa”. Thực tế, có nhiều trường hợp người bào chữa vắng mặt vì lý do bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan thì sẽ không được xem biên bản các hoạt động đó của chủ thể tiến hành tố tụng. Đây là một điểm bất hợp lý và làm giảm điều kiện, chất lượng thực hiện quyền bào chữa của người bào chữa. Trên cơ sở tham khảo quy định pháp luật tố tụng hình sự của Đức, cần bổ sung quy định này như sau: “Xem biên bản về hoạt động tố tụng có sự tham gia của mình, quyết định tố tụng liên quan đến người mà mình bào chữa và những biên bản về hoạt động tố tụng lẽ ra phải có sự tham gia của mình nhưng vì lý do chính đáng mà không thể tham gia”.

Nguyễn Văn Linh
Tòa án quân sự khu vực Quân chủng Hải quân

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Công tác kiểm tra, giám sát Đảng ủy cấp xã tại Hà Nội hiện nay

Công tác kiểm tra, giám sát Đảng ủy cấp xã tại Hà Nội hiện nay

Đổi mới công tác kiểm tra, giám sát không chỉ dừng lại ở việc xử lý vi phạm mà cốt lõi là để cảnh báo, phòng ngừa và kiến tạo sự phát triển. Trước thực trạng 70% cán bộ kiểm tra cấp xã còn lúng túng về nghiệp vụ và áp lực từ việc thiếu vắng sự giám sát của Hội đồng nhân dân tại các xã, phường, Hà Nội đang nỗ lực tìm kiếm những mô hình mới như "giám sát dữ liệu số" hay cơ chế bảo vệ cán bộ "dám nói, dám làm". Đây chính là chìa khóa để bảo đảm bộ máy chính quyền Thủ đô vận hành liêm chính và hiệu quả sau khi tinh gọn.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định và tổ chức thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Kiến nghị hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định và tổ chức thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 là đạo luật quan trọng nhằm cụ thể hóa quyền tiếp cận thông tin của công dân theo Hiến pháp năm 2013[*], góp phần nâng cao tính công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Sau 08 năm thi hành, bên cạnh những kết quả đạt được, thực tiễn cho thấy còn bộc lộ một số hạn chế, bất cập trong quy định pháp luật và tổ chức thi hành, đặc biệt, liên quan đến phạm vi thông tin, trách nhiệm cung cấp thông tin, trình tự, thủ tục và điều kiện bảo đảm thực hiện quyền. Trên cơ sở nhận diện các vướng mắc, bất cập, nghiên cứu đề xuất định hướng sửa đổi, bổ sung Luật theo hướng bảo đảm tính đồng bộ với hệ thống pháp luật hiện hành, phù hợp với yêu cầu chuyển đổi số và tổ chức bộ máy nhà nước, đồng thời kiến nghị các giải pháp nâng cao hiệu quả tổ chức thi hành, qua đó góp phần bảo đảm tốt hơn quyền tiếp cận thông tin của công dân và xây dựng nền hành chính công khai, minh bạch.
Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018) sau hơn 08 năm thi hành đã bộc lộ nhiều bất cập trước sự vận động nhanh chóng của thực tiễn, đặc biệt là sự xuất hiện của các hình thức hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng và các quan hệ tôn giáo có yếu tố nước ngoài ngày càng phức tạp. Vì vậy, việc tăng cường quản lý nhà nước đối với các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng là yêu cầu cấp thiết không chỉ bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân mà còn nhằm giữ vững an ninh, trật tự xã hội và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới.
Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Thẩm quyền ban hành VBQPPL là nội dung trọng tâm nhằm bảo đảm mỗi loại VBQPPL được ban hành bởi đúng cơ quan, đúng cấp, vừa phù hợp với phạm vi pháp lý, vừa hạn chế rủi ro và xung đột giữa các văn bản.
Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Việc ban hành Luật Ban hành VBQPPL số 64/2025/QH15 được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 87/2025/QH15 và các nghị định hướng dẫn thi hành có ý nghĩa đặc biệt trong bối cảnh đổi mới tư duy xây dựng pháp luật, gắn kết chặt chẽ giữa xây dựng và thi hành pháp luật.
Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Bài viết phân tích quy trình xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ của Quốc hội và quy trình xây dựng chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội, từ đó, đưa ra một số lưu ý nhằm nâng cao hiệu quả việc thực hiện hai quy trình này.
Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Tóm tắt: Bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra góp phần bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp cần miễm trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra để bảo vệ lợi ích hợp pháp của các nhà sản xuất kinh doanh. Bài viết nghiên cứu những trường hợp miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023, đồng thời chỉ ra ưu, nhược điểm và hạn chế của Luật, từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Trong bối cảnh nhiều thách thức, đội ngũ luật sư với kiến thức chuyên môn và kỹ năng nghề nghiệp của mình, đóng vai trò then chốt trong việc nâng cao chất lượng, hiệu quả trợ giúp pháp lý.
Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Những năm qua, công tác trợ giúp pháp lý trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận. Nhiều vụ việc được trợ giúp pháp lý kịp thời, góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người nghèo, người có công với cách mạng và các nhóm yếu thế khác.
Ứng dụng công nghệ số, nền tảng trực tuyến, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động trợ giúp pháp lý

Ứng dụng công nghệ số, nền tảng trực tuyến, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động trợ giúp pháp lý

Những nỗ lực số hóa hồ sơ, vận hành Hệ thống quản lý trợ giúp pháp lý, kết nối dữ liệu dân cư, phát triển tư vấn trực tuyến… đã mở ra hướng tiếp cận mới, góp phần nâng cao chất lượng và tính minh bạch của dịch vụ trợ giúp pháp lý.
Tăng cường hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế trong tố tụng hình sự

Tăng cường hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế trong tố tụng hình sự

Trong tiến trình cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, việc bảo đảm quyền con người luôn là sợi chỉ đỏ xuyên suốt, đặc biệt, với đối tượng yếu thế, yêu cầu này càng trở nên cấp thiết và nhân văn. Trong tố tụng hình sự (TTHS), đối tượng yếu thế với tư cách bị hại, người làm chứng hay bị can, bị cáo, đã và đang phải đối mặt với hệ thống tư pháp hình sự. Đối tượng yếu thế có được tiếp cận công lý bình đẳng hay không phụ thuộc vào sự công tâm, chuyên nghiệp và nhạy cảm của các cơ quan trong hoạt động tố tụng, trong đó có vai trò của hoạt động trợ giúp pháp lý.
Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo trong bối cảnh mới

Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo trong bối cảnh mới

Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và thúc đẩy phát triển bền vững, hoạt động trợ giúp pháp lý đóng vai trò quan trọng trong việc bảo đảm công bằng xã hội và tiếp cận công lý cho người dân, đặc biệt là người nghèo thuộc nhóm đối tượng yếu thế.
Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Đây là giải pháp quan trọng nhằm khắc phục khó khăn, vướng mắc, nâng cao chất lượng tổ chức thi hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo.
Ưu điểm, hạn chế và một số vấn đề chính cần rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Ưu điểm, hạn chế và một số vấn đề chính cần rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 đã góp phần quan trọng trong việc bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của cá nhân, tổ chức, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đối với lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo. Tuy nhiên, thực tiễn triển khai Luật cũng bộc lộ những bất cập, hạn chế cần sửa đổi, hoàn thiện nhằm đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới.
Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là một trong những loại tội phạm có diễn biến ngày càng phức tạp, đa dạng và tinh vi. Phương thức thực hiện tội phạm không ngừng biến đổi, đặc biệt là việc sử dụng công nghệ cao để phạm tội, gây thiệt hại lớn đối với tài sản và tâm lý hoang mang cho người dân, ảnh hưởng đến trật tự, an toàn xã hội. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng các quy định của Bộ luật Hình sự về tội này vẫn còn tồn tại một số vướng mắc, bất cập từ chính quy định của pháp luật.

Theo dõi chúng tôi trên: