Thứ bảy 12/09/2026 06:32
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Bảo đảm quyền bào chữa của người bị buộc tội trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự

Trong tố tụng hình sự, điều tra được coi là giai đoạn trung tâm, giai đoạn mà mọi tình tiết của vụ án có thể được phát hiện, đánh giá, xem xét một cách khách quan, toàn diện. Trong giai đoạn điều tra, việc thực hiện tốt nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của người bị buộc tội giúp cho Cơ quan điều tra xác định được sự thật khách quan của vụ án, giúp hoạt động điều tra được tiến hành đúng trình tự, thủ tục, kịp thời, không để lọt tội phạm và không làm oan người vô tội. Đồng thời, trong giai đoạn điều tra nếu có sự tham gia của người bào chữa sẽ có tác dụng nâng cao trách nhiệm, chất lượng hoạt động điều tra của điều tra viên, hạn chế sự tùy tiện, chủ quan của điều tra viên.


Bài viết “Bảo đảm quyền bào chữa của người bị buộc tội trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự” của ThS. Võ Minh Trí & ThS. Phan Thị Chánh Lý phân tích về việc bảo đảm thực hiện quyền bào chữa của người bị buộc tội trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự, đồng thời có một số kiến nghị nhằm bảo đảm việc thực hiện quyền bào chữa của người bị buộc tội.

Quyền bào chữa của người bị buộc tội[1] là một trong những quyền hiến định. Kế thừa các bản hiến pháp trước (Hiến pháp năm 1946, Hiến pháp năm 1959, Hiến pháp năm 1980, Hiến pháp năm 1992), Hiến pháp năm 2013 quy định rõ hơn về quyền bào chữa tại các Điều 31, Điều 103[2] và được cụ thể hóa trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và các văn bản tố tụng hình sự (TTHS) khác có liên quan. Đồng thời, bảo đảm quyền bào chữa là một trong những nguyên tắc cơ bản của TTHS Việt Nam. Trong giai đoạn điều tra, việc thực hiện tốt nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của người bị buộc tội giúp cho Cơ quan điều tra (CQĐT) xác định được sự thật khách quan của vụ án, giúp hoạt động điều tra được tiến hành đúng trình tự, thủ tục, kịp thời, không để lọt tội phạm và không làm oan người vô tội.

Trong TTHS, điều tra được coi là giai đoạn trung tâm, giai đoạn mà mọi tình tiết của vụ án có thể được phát hiện, đánh giá, xem xét một cách khách quan, toàn diện. Theo quy định của Thông tư số 46/2019/TT-BCA ngày 10/10/2019 của Bộ Công an về trách nhiệm của lực lượng Công an nhân dân trong việc thực hiện các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 liên quan đến việc bảo đảm quyền bào chữa của người bị buộc tội, bị hại và các đương sự khác, thì người bị buộc tội không những được quyền tự bào chữa mà còn có quyền nhờ người khác bào chữa, hoặc bị can được cơ CQĐT yêu cầu người bào chữa để bào chữa trong những trường hợp luật định. Người bào chữa có những ưu thế riêng, họ là người có hiểu biết sâu sắc về pháp luật, họ không bị ức chế, bị đè nặng về tâm lí như người bị buộc tội, vì họ không có nguy cơ gánh chịu hình phạt như người bị buộc tội. Chính những ưu thế này, người bào chữa đã giúp cho người bị buộc tội đưa ra những yêu cầu, lí lẽ, quan điểm đối lập với CQĐT. Vì vậy, trong giai đoạn điều tra nếu có sự tham gia của người bào chữa sẽ có tác dụng nâng cao trách nhiệm, chất lượng hoạt động điều tra của điều tra viên (ĐTV), hạn chế sự tùy tiện, chủ quan của ĐTV.

Nội dung quyền bào chữa của người bị buộc tội trong giai đoạn điều tra có được bảo đảm thực hiện hay không theo chúng tôi phụ thuộc vào việc thực hiện các quyền tố tụng của người bị buộc tội theo quy định của pháp luật TTHS, trong đó đặc biệt theo quy định tại Điều 60 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

1. Thực trạng bảo đảm các quyền của người bị buộc tội

Trong những năm qua, trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự (VAHS), lực lượng làm nhiệm vụ điều tra cần bảo đảm thực hiện các quyền của người bị buộc tội chủ yếu sau đây:

Một là, bảo đảm quyền để người bị buộc tội biết rõ họ bị buộc tội hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội danh gì, được quy định như thế nào trong Bộ luật Hình sự

Bởi lẽ, người bị buộc tội không thể thực hiện được quyền tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa nếu không biết rõ họ bị truy cứu TNHS về tội danh gì, vì họ không xác định được mục tiêu và các công việc cần thực hiện để bảo vệ quyền lợi của mình. Vì vậy, để bảo đảm quyền bào chữa của người bị buộc tội trước hết ĐTV phải bảo đảm cho người bị buộc tội biết được họ bị truy cứu TNHS về tội danh gì, trên cơ sở được giao nhận quyết định giữ người trong trường hợp khẩn cấp, quyết định bắt người trong trường hợp phạm tội quả tang, quyết định khởi tố bị can, quyết định áp dụng biện pháp ngăn chặn, cũng như các quyết định khác trong tố tụng, được giải thích quyền và nghĩa vụ trong quá trình ĐTV tiến hành các hoạt động điều tra.

Hai là, người bị buộc tội được biết họ bị buộc tội bởi những tài liệu, chứng cứ nào, nguồn, biện pháp và chủ thể thu thập

Bảo đảm cho người bị buộc tội biết họ bị truy cứu bởi những tài liệu, chứng cứ nào là một trong những khía cạnh quan trọng để bảo đảm quyền bào chữa của người bị buộc tội. Bởi vì, để buộc tội một can phạm nào đó cần phải có chứng cứ buộc tội vững chắc và ngược lại để gỡ tội cho người bị buộc tội cũng cần đầy đủ chứng cứ gỡ tội theo hướng có lợi cho họ. Nội dung chủ yếu của việc bào chữa của người bị buộc tội hoặc của người bào chữa cho người bị buộc tội trong giai đoạn điều tra là phủ nhận các chứng cứ buộc tội của CQĐT, đưa ra các chứng cứ gỡ tội, hoặc giảm nhẹ TNHS, hoặc loại trừ TNHS. Vì vậy, người bị buộc tội cần biết rõ chứng cứ buộc tội họ là chứng cứ gì, thu thập trong trường hợp nào, biện pháp và người thu thập. Liên quan tới việc bảo đảm quyền này của người bị buộc tội CQĐT phải bảo đảm người bị buộc tội được thực hiện các quyền xin thay đổi ĐTV, người giám định, người định giá tài sản, người phiên dịch nếu có căn cứ cho rằng họ không vô tư, không khách quan trong quá trình tố tụng và tham gia tố tụng, được nhận bản kết luận điều tra khi kết thúc giai đoạn điều tra, được thông báo về nội dung quyết định giám định, kết luận giám định, được quyền đưa ra lí lẽ, lập luận phủ định chứng cứ và quan điểm của ĐTV. Ngoài ra, trong quá trình điều tra CQĐT, ĐTV bên cạnh việc chú ý thu thập những tài liệu, chứng cứ buộc tội còn chú ý thu thập những tài liệu, chứng cứ theo hướng gỡ tội, hoặc giảm nhẹ TNHS trường hợp người bị buộc tội không phải là người có am hiểu sâu sắc về pháp luật, hoặc có các nhược điểm liên quan đến khả năng trình bày, bảo vệ quan điểm của mình. Để bảo đảm quyền này, lực lượng làm nhiệm vụ điều tra phải thực hiện đúng các quy định của pháp luật về trình tự, thủ tục thông báo người bào chữa và các quyền của người bào chữa khi tham gia tố tụng trong giai đoạn điều tra.

Tuy nhiên, bên cạnh kết quả đã đạt được, việc bảo đảm quyền bào chữa của người bị buộc tội trong giai đoạn điều tra VAHS còn có những hạn chế nhất định:

- Một số ĐTV năng lực còn hạn chế nên dẫn đến hiện tượng còn có tâm lí e ngại sự tham gia của người bào chữa, cho rằng sự có mặt của người bào chữa sẽ làm cản trở hoặc gây khó khăn cho hoạt động điều tra của ĐTV. Bộ Công an chưa có hướng dẫn cụ thể về vị trí chỗ ngồi của người bào chữa trong quá trình lấy lời khai hoặc hỏi cung bị can, cũng như trong các hoạt động điều tra khác của ĐTV.

- Đối với những trường hợp bào chữa chỉ định vì nhiều lí do khác nhau mà có trường hợp việc bào chữa thường chỉ mang tính hình thức, qua loa, đại khái. Hiện nay, các cơ quan có thẩm quyền vẫn chưa có hướng dẫn cụ thể về chi trả chi phí cho người bào chữa trong trường hợp bào chữa theo chỉ định.

2. Một số đề xuất

Theo quy định của pháp luật, để bảo đảm quyền bào chữa cho người bị buộc tội trong giai đoạn điều tra, lực lượng làm nhiệm vụ điều tra cần thực hiện tốt các nội dung sau:

Một là, bất kì người bị buộc tội nào cũng được CQĐT, ĐTV bảo đảm điều kiện cần thiết để bảo đảm thực thi quyền bào chữa của mình. Không phân biệt người bị buộc tội phạm tội gì, tính chất tội phạm như thế nào[3], không phân biệt địa vị xã hội, giới tính, dân tộc, tôn giáo… của người bị buộc tội, bất kì tổ chức hoặc cá nhân nào cũng không có quyền giới hạn quyền bào chữa của người bị buộc tội. Bất kì người bị buộc tội nào cũng có quyền đưa ra lí lẽ, lập luận, chứng cứ chứng minh mình vô tội, miễn TNHS, giảm nhẹ TNHS hoặc theo hướng khác có lợi cho người bị buộc tội.

Hai là, quyền bào chữa của người bị buộc tội phải được CQĐT, ĐTV bảo đảm trong suốt giai đoạn điều tra, kể từ thời điểm người bị buộc tội chưa có quyết định khởi tố bị can cho đến khi có bản kết luận điều tra, kết thúc giai đoạn điều tra.

Ba là, CQĐT, ĐTV bảo đảm cho người bị buộc tội và người bào chữa được hưởng tất cả các quyền cụ thể được quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, cũng như các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan, đặc biệt là Thông tư số 46/2019/TT-BCA ngày 10/10/2019 của Bộ Công an về trách nhiệm của lực lượng Công an nhân dân trong việc thực hiện các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 liên quan đến việc bảo đảm quyền bào chữa của người bị buộc tội, bị hại và các đương sự khác và Luật Tổ chức cơ quan điều tra hình sự năm 2015. ĐTV cần phải nhận thức rằng, sự tham gia của người bào chữa sẽ tạo điều kiện thuận lợi để ĐTV điều tra, khám phá vụ án một cách khách quan, toàn diện, tránh được những sai sót đáng tiếc không đáng có trong công tác điều tra. Để có được nhận thức này, ĐTV bên cạnh việc nâng cao trình độ, bản lĩnh còn cần áp dụng đồng bộ các biện pháp khoa học kĩ thuật, biện pháp điều tra đặc biệt theo quy định của pháp luật, cũng như các biện pháp nghiệp vụ khác hỗ trợ trong công tác điều tra.

Bốn là, Bộ Công an cần có có hướng dẫn cụ thể về vị trí chỗ ngồi của người bào chữa trong quá trình lấy lời khai hoặc hỏi cung bị can, cũng như trong các hoạt động điều tra khác của ĐTV, cũng như phối hợp với cơ quan có thẩm quyền có hướng dẫn cụ thể về chi trả chi phí cho người bào chữa trong trường hợp bào chữa theo chỉ định. Ngoài ra, CQĐT, ĐTV phải kiểm tra, hướng dẫn người bào chữa thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ của họ trong trường hợp bào chữa theo chỉ định, chống qua loa, đại khái, mang tính hình thức.

ThS. Võ Minh Trí

Công an TP. Cần Thơ

ThS. Phan Thị Chánh Lý

Đại học Trà Vinh





[1]. Người bị buộc tội có thể bao gồm: Người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị bắt trong trường hợp phạm tội quả tang hoặc theo quyết định truy nã, người bị tạm giữ, bị can, người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố.

[2]. Ví dụ, khoản 4 Điều 31 Hiến pháp năm 2013 quy định: “Người bị bắt, tạm giữ, tạm giam, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử có quyền tự bào chữa, nhờ luật sư hoặc người khác bào chữa”.

[3]. Ít nghiệm trọng, nghiêm trọng, rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chuyển đổi số trong hoạt động ngân hàng đã làm thay đổi căn bản phương thức xác lập và thực hiện các hợp đồng, giao dịch. Nhiều giao dịch được thực hiện hoàn toàn trên môi trường điện tử thông qua Internet Banking, Mobile Banking, eKYC, chữ ký điện tử, xác thực OTP và các hệ thống ngân hàng lõi (Core Banking). Khi phát sinh tranh chấp, chứng cứ không chỉ là hồ sơ giấy mà còn là dữ liệu điện tử được lưu giữ trên các hệ thống thông tin của ngân hàng và của khách hàng. Mặc dù Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015) và Luật Giao dịch điện tử năm 2023 đã thiết lập cơ sở pháp lý quan trọng cho việc thừa nhận dữ liệu điện tử là nguồn chứng cứ. Tuy nhiên, việc xác định giá trị chứng minh của loại chứng cứ này vẫn còn nhiều khoảng trống cần tiếp tục hoàn thiện.
Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Ngày 25/6/2025, Quốc hội khóa XV đã thông qua Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 (Luật số 89/2025/QH15) đánh dấu bước quan trọng trong tư duy lập pháp, quản lý của Nhà nước đối với hệ thống ngân sách nhà nước, đáp ứng yêu cầu tổ chức mô hình chính quyền địa phương hai cấp trên phạm vi toàn quốc. Bài viết đề cập nội dung của Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 gắn với việc tổ chức mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, làm rõ những kết quả từ việc sửa đổi Luật phù hợp với thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội, tổ chức bộ máy hành chính hiện nay.
THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

Trong cấu trúc an ninh phi truyền thống hiện đại, an ninh năng lượng đóng vai trò là “mạch máu” sống còn, quyết định sức bền kinh tế và vị thế quốc gia. Bước vào giai đoạn 2026 - 2030, trước yêu cầu bứt phá tăng trưởng GDP ở mức hai con số gắn liền với cam kết lịch sử phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050, Việt Nam đứng trước bài toán vừa bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng trước biến động địa chính trị toàn cầu, vừa chủ động chuyển dịch năng lượng xanh theo chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước.
Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp, cải cách thủ tục hành chính tiếp tục được đẩy mạnh gắn với chuyển đổi số, phân cấp, phân quyền và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Kết quả thực hiện trong tháng 8/2026 cho thấy nhiều chuyển biến tích cực, đồng thời đặt ra yêu cầu tiếp tục đồng bộ dữ liệu, hoàn thiện quy trình và nâng cao hiệu quả phối hợp trong cải cách thủ tục hành chính.
Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp về tình hình, kết quả cải cách thủ tục hành chính (TTHC) tháng 8 và nhiệm vụ trọng tâm tháng 9/2026, cải cách TTHC đang chuyển sang một giai đoạn mới, trong đó dữ liệu và công nghệ số ngày càng giữ vai trò quan trọng trong quản trị và tổ chức thực hiện. Việc khai thác, kết nối, chia sẻ dữ liệu để tái cấu trúc quy trình, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục đang từng bước làm thay đổi phương thức quản lý, hướng tới nền hành chính hiện đại, hiệu quả, phục vụ tốt hơn người dân và doanh nghiệp.
Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bài viết phân tích yêu cầu tái cấu trúc phương thức bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong điều kiện tiếp tục tinh gọn tổ chức bộ máy và đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia. Từ cách tiếp cận hệ thống, bài viết làm rõ sự dịch chuyển từ bảo vệ bằng tuyên truyền tuyến tính sang bảo vệ bằng năng lực thể chế hóa, năng lực quản trị và hiệu quả tổ chức thực hiện; đồng thời phân tích vai trò của Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 66-NQ/TW) và Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 57-NQ/TW) như hai trục lớn của quá trình tái cấu trúc này. Trên cơ sở đó, bài viết khảo sát thực tiễn thi hành án dân sự, qua đó cho thấy “gọn hơn về tổ chức, mạnh hơn về quản trị” không chỉ là yêu cầu cải cách hành chính, mà còn là một phương thức củng cố niềm tin của Nhân dân vào hệ thống chính trị.
THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả không chỉ là giảm bớt hóa đơn tiền điện, mà còn trở thành “chìa khóa” bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, bảo vệ môi trường và hướng tới tăng trưởng xanh. Đứng trước những biến động phức tạp của chuỗi cung ứng toàn cầu, sự ra đời của các văn bản chỉ đạo chiến lược như Chỉ thị số 09/CT-TTg, Chỉ thị số 10/CT-TTg và Công điện số 27/CĐ-TTg từ Chính phủ đang tạo ra những bước ngoặt lớn. Cuộc cách mạng này đòi hỏi sự đồng bộ từ hoàn thiện hành lang pháp lý, đổi mới công nghệ, đến sự thay đổi tư duy và hành động của mỗi người dân, doanh nghiệp.
“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 2)

“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 2)

Du lịch xanh, du lịch bền vững đã trở thành xu hướng phổ biến tại Việt Nam, nhưng để tiến tới mục tiêu "du lịch Net Zero", ngành Du lịch cần có nhiều thay đổi theo chiều sâu: từ việc xây dựng những sản phẩm xanh sang xây dựng những doanh nghiệp lữ hành thực sự bền vững. Đây là cả một quá trình bởi phát triển "du lịch Net Zero" không chỉ liên quan đến môi trường mà còn đòi hỏi sự thay đổi đồng bộ về mô hình kinh doanh, sản phẩm, công nghệ, nhân lực, quan hệ với cộng đồng và cách thức ứng xử với các giá trị văn hóa.
“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 1)

“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 1)

Du lịch Việt Nam đang đứng trước một giai đoạn phát triển mới, trong đó yêu cầu tăng trưởng không thể tách rời nhiệm vụ bảo tồn và phát huy những giá trị làm nên bản sắc dân tộc. Nếu thiên nhiên tạo nên diện mạo của đất nước thì văn hóa chính là chiều sâu, là ký ức, là “hồn cốt” để Việt Nam trở thành một điểm đến khác biệt trong mắt du khách trong nước và quốc tế. Bởi vậy, phát triển du lịch hôm nay không chỉ là câu chuyện về lượng khách, doanh thu hay số lượng cơ sở lưu trú, mà còn là câu chuyện về cách gìn giữ di sản, bảo vệ cảnh quan, duy trì lối sống cộng đồng và trao truyền những giá trị văn hóa Việt Nam cho các thế hệ mai sau. Trong câu chuyện đó, doanh nghiệp lữ hành đóng vai trò trung tâm, là “cầu nối” đưa văn hoá Việt Nam đến với du khách.
Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Trong bối cảnh tai nạn lao động vẫn diễn biến phức tạp, chuyển đổi số đang mở ra khả năng thay đổi căn bản phương thức quản trị an toàn, vệ sinh lao động (ATVSLĐ) tại doanh nghiệp. Từ số hóa hoạt động huấn luyện, cấp chứng nhận điện tử đến ứng dụng trí tuệ nhân tạo, cảm biến và robot để nhận diện, cảnh báo sớm nguy cơ, vấn đề đặt ra hiện nay là cần tiếp tục hoàn thiện hành lang pháp lý để chuyển từ quản lý mang tính thủ tục, hậu kiểm sang quản trị chủ động, lấy phòng ngừa rủi ro làm trọng tâm.
Đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

Đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

Với mục tiêu đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, thành phố Hà Nội đặt trọng tâm vào đổi mới nội dung, hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật, tăng cường ứng dụng công nghệ số và xây dựng đội ngũ làm công tác phổ biến, giáo dục pháp luật am hiểu địa bàn, phong tục, tập quán và văn hóa của người dân nơi đây.
Con người – “Chìa khóa” đánh thức nguồn lực phát triển văn hóa trong kỷ nguyên vươn mình

Con người – “Chìa khóa” đánh thức nguồn lực phát triển văn hóa trong kỷ nguyên vươn mình

Trong bước chuyển mình của đất nước bước vào kỷ nguyên mới, văn hóa đang được đặt ở vị trí ngày càng quan trọng trong chiến lược phát triển quốc gia. Cùng với đó, con người được xác định là trung tâm của sự nghiệp phát triển văn hóa khi vừa là chủ thể sáng tạo, gìn giữ, vừa là lực lượng trực tiếp biến những giá trị ấy thành nguồn lực phát triển cho đất nước.
Quan điểm, định hướng mới của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai

Quan điểm, định hướng mới của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai

Ngày 16/6/2022, Ban chấp hành trung ương Đảng khóa XIII ban hành Nghị quyết số 18-NQ/TW về "Tiếp tục đổi mới, hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý và sử dụng đất, tạo động lực đưa nước ta trở thành nước phát triển có thu nhập cao" (Nghị quyết số 18-NQ/TW). Để hiện thực hóa mục tiêu đưa đất nước trở thành nước phát triển có thu nhập cao, trong thời điểm hiện tại, nhằm phù hợp với sự phát triển chung của đất nước, Hội nghị lần thứ ba, Ban chấp hành trung ương Đảng khóa XIV đã đưa ra những quan điểm, định hướng sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan tại Nghị quyết số 21-NQ/TW ngày 28/7/2026 (Nghị quyết số 21-NQ/TW) làm kim chỉ nam cho mọi hoạt động sửa đổi chính sách pháp luật sau này. Nghị quyết số 21-NQ/TW đã thể hiện những điểm mới trong chủ trương của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan.
Luật Thủ đô năm 2026: Mở rộng cơ hội đầu tư cho nhiều dự án

Luật Thủ đô năm 2026: Mở rộng cơ hội đầu tư cho nhiều dự án

Luật Thủ đô năm 2026 được Quốc hội thông qua ngày 23/4/2026 và có hiệu lực từ ngày 01/7/2026, tiếp tục hoàn thiện các cơ chế, chính sách đặc thù nhằm xây dựng và phát triển Thủ đô. Đáng chú ý, tại Điều 26 của Luật đã thiết lập khung chính sách tương đối toàn diện về thu hút đầu tư, ưu đãi, hỗ trợ đầu tư và phát triển doanh nghiệp, mở rộng cơ hội cho nhiều dự án trên địa bàn Thành phố được tiếp cận các chính sách ưu đãi về đất đai, thuế, tín dụng, hạ tầng, phát triển nhân lực và đổi mới sáng tạo.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Tóm tắt: Trong bối cảnh hệ thống pháp luật ngày càng phức tạp và thường xuyên thay đổi, việc tiếp cận, hiểu và sử dụng pháp luật trở thành thách thức đối với người dân. Mô hình phổ biến, giáo dục pháp luật hiện nay chủ yếu tập trung vào truyền đạt văn bản, chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu hỗ trợ người dân sử dụng pháp luật trong thực tiễn. Trên cơ sở phân tích xu hướng quốc tế về tiếp cận công lý lấy người dân làm trung tâm và ứng dụng công nghệ số, nghiên cứu đề xuất chuyển từ mô hình “phổ biến pháp luật” sang “hạ tầng tuân thủ phòng ngừa”, gắn phổ biến pháp luật với nhu cầu thực tiễn, cảnh báo sớm rủi ro pháp lý và hỗ trợ tra cứu, sử dụng pháp luật hiệu quả trong môi trường số.

Theo dõi chúng tôi trên: