Thứ bảy 13/12/2025 14:54
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Bảo đảm quyền bào chữa của người bị buộc tội trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự

Trong tố tụng hình sự, điều tra được coi là giai đoạn trung tâm, giai đoạn mà mọi tình tiết của vụ án có thể được phát hiện, đánh giá, xem xét một cách khách quan, toàn diện. Trong giai đoạn điều tra, việc thực hiện tốt nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của người bị buộc tội giúp cho Cơ quan điều tra xác định được sự thật khách quan của vụ án, giúp hoạt động điều tra được tiến hành đúng trình tự, thủ tục, kịp thời, không để lọt tội phạm và không làm oan người vô tội. Đồng thời, trong giai đoạn điều tra nếu có sự tham gia của người bào chữa sẽ có tác dụng nâng cao trách nhiệm, chất lượng hoạt động điều tra của điều tra viên, hạn chế sự tùy tiện, chủ quan của điều tra viên.


Bài viết “Bảo đảm quyền bào chữa của người bị buộc tội trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự” của ThS. Võ Minh Trí & ThS. Phan Thị Chánh Lý phân tích về việc bảo đảm thực hiện quyền bào chữa của người bị buộc tội trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự, đồng thời có một số kiến nghị nhằm bảo đảm việc thực hiện quyền bào chữa của người bị buộc tội.

Quyền bào chữa của người bị buộc tội[1] là một trong những quyền hiến định. Kế thừa các bản hiến pháp trước (Hiến pháp năm 1946, Hiến pháp năm 1959, Hiến pháp năm 1980, Hiến pháp năm 1992), Hiến pháp năm 2013 quy định rõ hơn về quyền bào chữa tại các Điều 31, Điều 103[2] và được cụ thể hóa trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và các văn bản tố tụng hình sự (TTHS) khác có liên quan. Đồng thời, bảo đảm quyền bào chữa là một trong những nguyên tắc cơ bản của TTHS Việt Nam. Trong giai đoạn điều tra, việc thực hiện tốt nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của người bị buộc tội giúp cho Cơ quan điều tra (CQĐT) xác định được sự thật khách quan của vụ án, giúp hoạt động điều tra được tiến hành đúng trình tự, thủ tục, kịp thời, không để lọt tội phạm và không làm oan người vô tội.

Trong TTHS, điều tra được coi là giai đoạn trung tâm, giai đoạn mà mọi tình tiết của vụ án có thể được phát hiện, đánh giá, xem xét một cách khách quan, toàn diện. Theo quy định của Thông tư số 46/2019/TT-BCA ngày 10/10/2019 của Bộ Công an về trách nhiệm của lực lượng Công an nhân dân trong việc thực hiện các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 liên quan đến việc bảo đảm quyền bào chữa của người bị buộc tội, bị hại và các đương sự khác, thì người bị buộc tội không những được quyền tự bào chữa mà còn có quyền nhờ người khác bào chữa, hoặc bị can được cơ CQĐT yêu cầu người bào chữa để bào chữa trong những trường hợp luật định. Người bào chữa có những ưu thế riêng, họ là người có hiểu biết sâu sắc về pháp luật, họ không bị ức chế, bị đè nặng về tâm lí như người bị buộc tội, vì họ không có nguy cơ gánh chịu hình phạt như người bị buộc tội. Chính những ưu thế này, người bào chữa đã giúp cho người bị buộc tội đưa ra những yêu cầu, lí lẽ, quan điểm đối lập với CQĐT. Vì vậy, trong giai đoạn điều tra nếu có sự tham gia của người bào chữa sẽ có tác dụng nâng cao trách nhiệm, chất lượng hoạt động điều tra của điều tra viên (ĐTV), hạn chế sự tùy tiện, chủ quan của ĐTV.

Nội dung quyền bào chữa của người bị buộc tội trong giai đoạn điều tra có được bảo đảm thực hiện hay không theo chúng tôi phụ thuộc vào việc thực hiện các quyền tố tụng của người bị buộc tội theo quy định của pháp luật TTHS, trong đó đặc biệt theo quy định tại Điều 60 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

1. Thực trạng bảo đảm các quyền của người bị buộc tội

Trong những năm qua, trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự (VAHS), lực lượng làm nhiệm vụ điều tra cần bảo đảm thực hiện các quyền của người bị buộc tội chủ yếu sau đây:

Một là, bảo đảm quyền để người bị buộc tội biết rõ họ bị buộc tội hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội danh gì, được quy định như thế nào trong Bộ luật Hình sự

Bởi lẽ, người bị buộc tội không thể thực hiện được quyền tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa nếu không biết rõ họ bị truy cứu TNHS về tội danh gì, vì họ không xác định được mục tiêu và các công việc cần thực hiện để bảo vệ quyền lợi của mình. Vì vậy, để bảo đảm quyền bào chữa của người bị buộc tội trước hết ĐTV phải bảo đảm cho người bị buộc tội biết được họ bị truy cứu TNHS về tội danh gì, trên cơ sở được giao nhận quyết định giữ người trong trường hợp khẩn cấp, quyết định bắt người trong trường hợp phạm tội quả tang, quyết định khởi tố bị can, quyết định áp dụng biện pháp ngăn chặn, cũng như các quyết định khác trong tố tụng, được giải thích quyền và nghĩa vụ trong quá trình ĐTV tiến hành các hoạt động điều tra.

Hai là, người bị buộc tội được biết họ bị buộc tội bởi những tài liệu, chứng cứ nào, nguồn, biện pháp và chủ thể thu thập

Bảo đảm cho người bị buộc tội biết họ bị truy cứu bởi những tài liệu, chứng cứ nào là một trong những khía cạnh quan trọng để bảo đảm quyền bào chữa của người bị buộc tội. Bởi vì, để buộc tội một can phạm nào đó cần phải có chứng cứ buộc tội vững chắc và ngược lại để gỡ tội cho người bị buộc tội cũng cần đầy đủ chứng cứ gỡ tội theo hướng có lợi cho họ. Nội dung chủ yếu của việc bào chữa của người bị buộc tội hoặc của người bào chữa cho người bị buộc tội trong giai đoạn điều tra là phủ nhận các chứng cứ buộc tội của CQĐT, đưa ra các chứng cứ gỡ tội, hoặc giảm nhẹ TNHS, hoặc loại trừ TNHS. Vì vậy, người bị buộc tội cần biết rõ chứng cứ buộc tội họ là chứng cứ gì, thu thập trong trường hợp nào, biện pháp và người thu thập. Liên quan tới việc bảo đảm quyền này của người bị buộc tội CQĐT phải bảo đảm người bị buộc tội được thực hiện các quyền xin thay đổi ĐTV, người giám định, người định giá tài sản, người phiên dịch nếu có căn cứ cho rằng họ không vô tư, không khách quan trong quá trình tố tụng và tham gia tố tụng, được nhận bản kết luận điều tra khi kết thúc giai đoạn điều tra, được thông báo về nội dung quyết định giám định, kết luận giám định, được quyền đưa ra lí lẽ, lập luận phủ định chứng cứ và quan điểm của ĐTV. Ngoài ra, trong quá trình điều tra CQĐT, ĐTV bên cạnh việc chú ý thu thập những tài liệu, chứng cứ buộc tội còn chú ý thu thập những tài liệu, chứng cứ theo hướng gỡ tội, hoặc giảm nhẹ TNHS trường hợp người bị buộc tội không phải là người có am hiểu sâu sắc về pháp luật, hoặc có các nhược điểm liên quan đến khả năng trình bày, bảo vệ quan điểm của mình. Để bảo đảm quyền này, lực lượng làm nhiệm vụ điều tra phải thực hiện đúng các quy định của pháp luật về trình tự, thủ tục thông báo người bào chữa và các quyền của người bào chữa khi tham gia tố tụng trong giai đoạn điều tra.

Tuy nhiên, bên cạnh kết quả đã đạt được, việc bảo đảm quyền bào chữa của người bị buộc tội trong giai đoạn điều tra VAHS còn có những hạn chế nhất định:

- Một số ĐTV năng lực còn hạn chế nên dẫn đến hiện tượng còn có tâm lí e ngại sự tham gia của người bào chữa, cho rằng sự có mặt của người bào chữa sẽ làm cản trở hoặc gây khó khăn cho hoạt động điều tra của ĐTV. Bộ Công an chưa có hướng dẫn cụ thể về vị trí chỗ ngồi của người bào chữa trong quá trình lấy lời khai hoặc hỏi cung bị can, cũng như trong các hoạt động điều tra khác của ĐTV.

- Đối với những trường hợp bào chữa chỉ định vì nhiều lí do khác nhau mà có trường hợp việc bào chữa thường chỉ mang tính hình thức, qua loa, đại khái. Hiện nay, các cơ quan có thẩm quyền vẫn chưa có hướng dẫn cụ thể về chi trả chi phí cho người bào chữa trong trường hợp bào chữa theo chỉ định.

2. Một số đề xuất

Theo quy định của pháp luật, để bảo đảm quyền bào chữa cho người bị buộc tội trong giai đoạn điều tra, lực lượng làm nhiệm vụ điều tra cần thực hiện tốt các nội dung sau:

Một là, bất kì người bị buộc tội nào cũng được CQĐT, ĐTV bảo đảm điều kiện cần thiết để bảo đảm thực thi quyền bào chữa của mình. Không phân biệt người bị buộc tội phạm tội gì, tính chất tội phạm như thế nào[3], không phân biệt địa vị xã hội, giới tính, dân tộc, tôn giáo… của người bị buộc tội, bất kì tổ chức hoặc cá nhân nào cũng không có quyền giới hạn quyền bào chữa của người bị buộc tội. Bất kì người bị buộc tội nào cũng có quyền đưa ra lí lẽ, lập luận, chứng cứ chứng minh mình vô tội, miễn TNHS, giảm nhẹ TNHS hoặc theo hướng khác có lợi cho người bị buộc tội.

Hai là, quyền bào chữa của người bị buộc tội phải được CQĐT, ĐTV bảo đảm trong suốt giai đoạn điều tra, kể từ thời điểm người bị buộc tội chưa có quyết định khởi tố bị can cho đến khi có bản kết luận điều tra, kết thúc giai đoạn điều tra.

Ba là, CQĐT, ĐTV bảo đảm cho người bị buộc tội và người bào chữa được hưởng tất cả các quyền cụ thể được quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, cũng như các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan, đặc biệt là Thông tư số 46/2019/TT-BCA ngày 10/10/2019 của Bộ Công an về trách nhiệm của lực lượng Công an nhân dân trong việc thực hiện các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 liên quan đến việc bảo đảm quyền bào chữa của người bị buộc tội, bị hại và các đương sự khác và Luật Tổ chức cơ quan điều tra hình sự năm 2015. ĐTV cần phải nhận thức rằng, sự tham gia của người bào chữa sẽ tạo điều kiện thuận lợi để ĐTV điều tra, khám phá vụ án một cách khách quan, toàn diện, tránh được những sai sót đáng tiếc không đáng có trong công tác điều tra. Để có được nhận thức này, ĐTV bên cạnh việc nâng cao trình độ, bản lĩnh còn cần áp dụng đồng bộ các biện pháp khoa học kĩ thuật, biện pháp điều tra đặc biệt theo quy định của pháp luật, cũng như các biện pháp nghiệp vụ khác hỗ trợ trong công tác điều tra.

Bốn là, Bộ Công an cần có có hướng dẫn cụ thể về vị trí chỗ ngồi của người bào chữa trong quá trình lấy lời khai hoặc hỏi cung bị can, cũng như trong các hoạt động điều tra khác của ĐTV, cũng như phối hợp với cơ quan có thẩm quyền có hướng dẫn cụ thể về chi trả chi phí cho người bào chữa trong trường hợp bào chữa theo chỉ định. Ngoài ra, CQĐT, ĐTV phải kiểm tra, hướng dẫn người bào chữa thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ của họ trong trường hợp bào chữa theo chỉ định, chống qua loa, đại khái, mang tính hình thức.

ThS. Võ Minh Trí

Công an TP. Cần Thơ

ThS. Phan Thị Chánh Lý

Đại học Trà Vinh





[1]. Người bị buộc tội có thể bao gồm: Người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị bắt trong trường hợp phạm tội quả tang hoặc theo quyết định truy nã, người bị tạm giữ, bị can, người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố.

[2]. Ví dụ, khoản 4 Điều 31 Hiến pháp năm 2013 quy định: “Người bị bắt, tạm giữ, tạm giam, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử có quyền tự bào chữa, nhờ luật sư hoặc người khác bào chữa”.

[3]. Ít nghiệm trọng, nghiêm trọng, rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bài viết nêu lên vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước và đề xuất một số giải pháp nâng cao vai trò của Bộ Tư pháp trong giai đoạn mới.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Trong quá trình phát triển của đất nước, đặc biệt, trong 10 năm gần đây, với sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế - xã hội Việt Nam, việc xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật là công tác đặc biệt quan trọng. Với sự nỗ lực không ngừng, Bộ Tư pháp đã cùng các bộ, ngành làm tốt công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và đưa pháp luật vào cuộc sống, góp phần quan trọng trong thực hiện thành công công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế, giữ vững chủ quyền quốc gia, an ninh, trật tự xã hội, nâng cao đời sống vật chất và văn hóa, tinh thần của Nhân dân, bảo đảm công bằng xã hội, xây dựng xã hội dân chủ, văn minh theo đường lối của Đảng và Nhà nước. Để đạt được những thành tựu đó, nhiều hoạt động đã được triển khai đồng bộ, từ công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL); đặc biệt, đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực làm công tác xây dựng, thi hành pháp luật. Bộ Tư pháp đã chủ động, tích cực phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, trong đó có Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trong công tác xây dựng thể chế, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác pháp chế.
Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Với chức năng là cơ quan của Chính phủ, thực hiện quản lý nhà nước về xây dựng và thi hành pháp luật, Bộ Tư pháp đã và đang đóng góp, góp phần quan trọng trong kiến tạo nền tảng pháp lý vững chắc, phục vụ mục tiêu phát triển đất nước; đồng thời, đóng vai trò chủ đạo trong xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ pháp luật, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và thúc đẩy tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Những kết quả đạt được thể hiện qua các nội dung chính sau:
Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Ngày 01/01/2004, tỉnh Lai Châu chính thức được chia tách thành tỉnh Điện Biên và Lai Châu. Đây cũng là thời điểm Sở Tư pháp tỉnh Lai Châu (mới) được thành lập và đi vào hoạt động. Trải qua hơn 21 năm xây dựng và phát triển, ngành Tư pháp tỉnh Lai Châu đã vượt qua khó khăn, thử thách, ngày càng lớn mạnh và khẳng định được vai trò, vị thế của mình.
Công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế - Những khó khăn, vướng mắc và kiến nghị hoàn thiện thể chế từ góc nhìn của luật sư

Công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế - Những khó khăn, vướng mắc và kiến nghị hoàn thiện thể chế từ góc nhìn của luật sư

Trợ giúp pháp lý (TGPL) là một trong những chính sách xã hội có ý nghĩa nhân văn sâu sắc của Đảng và Nhà nước ta trong việc bảo đảm quyền được tiếp cận công lý bình đẳng của mọi tầng lớp Nhân dân, đặc biệt là nhóm những người yếu thế trong xã hội. Thông qua các hoạt động TGPL, người yếu thế trong xã hội được cung cấp, sử dụng dịch vụ pháp lý miễn phí khi có tranh chấp, góp phần nâng cao ý thức pháp luật và phòng ngừa vi phạm pháp luật. Trong hoạt động TGPL, đội ngũ luật sư đóng vai trò then chốt, là lực lượng trực tiếp thực hiện việc tư vấn, đại diện và bào chữa cho các đối tượng yếu thế. Tuy nhiên, thực tế cho thấy công tác TGPL còn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc, cả về cơ chế, nguồn lực và phương thức triển khai.
Nâng cao hiệu quả tích hợp nội dung bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong học phần “Thực tiễn và kinh nghiệm xây dựng, phát triển địa phương – ngành – đoàn thể” thuộc chương trình Trung cấp lý luận chính trị

Nâng cao hiệu quả tích hợp nội dung bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong học phần “Thực tiễn và kinh nghiệm xây dựng, phát triển địa phương – ngành – đoàn thể” thuộc chương trình Trung cấp lý luận chính trị

Việc tích hợp nội dung bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong giảng dạy chương trình Trung cấp lý luận chính trị là yêu cầu tất yếu, góp phần trực tiếp vào việc xây dựng bản lĩnh chính trị, củng cố niềm tin và năng lực tư duy lý luận cho đội ngũ cán bộ đương chức và dự nguồn cấp cơ sở. Trên cơ sở thực tiễn công tác giảng dạy và yêu cầu đổi mới giáo dục lý luận chính trị, cần đề ra giải pháp nâng cao hiệu quả tích hợp nội dung bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong học phần “Thực tiễn và kinh nghiệm xây dựng, phát triển địa phương – ngành – đoàn thể” thuộc chương trình Trung cấp lý luận chính trị (Học phần) tại Trường Chính trị tỉnh Phú Thọ.
Thực tiễn thi hành Luật Tương trợ tư pháp phần về dân sự

Thực tiễn thi hành Luật Tương trợ tư pháp phần về dân sự

Sau hơn 17 năm thi hành, Luật Tương trợ tư pháp năm 2007, thực tiễn đời sống xã hội đang đặt ra nhiều yêu cầu mới đối với hoạt động TTTP về dân sự. Do đó, việc tổng kết thực tiễn thực hiện Luật Tương trợ tư pháp năm 2007 là cần thiết, từ đó, đánh giá những điểm còn hạn chế so với yêu cầu thực tiễn, làm cơ sở đề xuất hoàn thiện pháp luật TTTP về dân sự trong bối cảnh mới.
Đào tạo pháp luật vì cộng đồng và định hướng phát triển trong giai đoạn mới

Đào tạo pháp luật vì cộng đồng và định hướng phát triển trong giai đoạn mới

Trường Cao đẳng Luật miền Bắc được nâng cấp từ Trường Trung cấp Luật Thái Nguyên theo Quyết định số 869/QĐ-LĐTBXH ngày 10/7/2020 của Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội (nay là Bộ Nội vụ), đã kế thừa hơn một thập kỷ kinh nghiệm đào tạo và bồi dưỡng cán bộ pháp lý cấp cơ sở, đặc biệt, tại khu vực trung du và miền núi phía Bắc.
Hoạt động ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số tại Bộ, ngành Tư pháp - Thực trạng và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Hoạt động ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số tại Bộ, ngành Tư pháp - Thực trạng và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Bộ Tư pháp đã trang bị, bổ sung, ứng dụng các công nghệ mới như máy chủ ảo hóa, lưu trữ SAN; máy chủ ứng dụng, máy chủ cơ sở dữ liệu cho Trung tâm dữ liệu điện tử để đáp ứng yêu cầu quản lý, vận hành và hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp.
Công tác hành chính tư pháp - Thành tựu và định hướng phát triển trong thời gian tới

Công tác hành chính tư pháp - Thành tựu và định hướng phát triển trong thời gian tới

Bài viết về những thành tựu nổi bật và định hướng phát triển công tác hành chính tư pháp trong thời gian tới.
Phát huy vai trò là diễn đàn khoa học trong xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong kỷ nguyên mới

Phát huy vai trò là diễn đàn khoa học trong xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong kỷ nguyên mới

Tạp chí Dân chủ và Pháp luật (Tạp chí) là cơ quan ngôn luận của Bộ Tư pháp, có chức năng thông tin về khoa học pháp lý, thông tin lý luận, nghiệp vụ và thực tiễn trong xây dựng, thi hành pháp luật và công tác tư pháp của Bộ, ngành Tư pháp; tuyên truyền, phổ biến chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước theo quy định pháp luật; đồng thời, là diễn đàn trao đổi học thuật, thực tiễn và chính sách trong lĩnh vực pháp luật[1].
Báo Pháp luật Việt Nam với sứ mệnh truyền thông tư pháp, pháp luật, vì Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Báo Pháp luật Việt Nam với sứ mệnh truyền thông tư pháp, pháp luật, vì Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Báo Pháp luật Việt Nam là cơ quan ngôn luận của Bộ Tư pháp, thực hiện chức năng thông tin về các hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp và các vấn đề chính trị, kinh tế, văn hoá xã hội trong nước và quốc tế; truyền thông, phổ biến chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, hoạt động xây dựng, thi hành pháp luật và công tác tư pháp phục vụ yêu cầu quản lý của Bộ Tư pháp, đáp ứng nhu cầu của xã hội về thông tin, nghiên cứu, tìm hiểu pháp luật và hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp, góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý nhà nước bằng pháp luật, phát huy dân chủ, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam; tham gia định hướng tư tưởng, phản biện xã hội, khơi dậy lòng yêu nước, tinh thần đoàn kết và tự lực, tự cường của Nhân dân, đồng hành với an sinh xã hội.
Cơ cấu tổ chức và chức năng, nhiệm vụ của Hội đồng bầu cử quốc gia

Cơ cấu tổ chức và chức năng, nhiệm vụ của Hội đồng bầu cử quốc gia

Để bảo đảm cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân nhiệm kỳ 2026-2031 được tiến hành dân chủ, đúng pháp luật và thống nhất trên phạm vi cả nước, Hội đồng bầu cử quốc gia (HĐBCQG) được thành lập, giữ vai trò tổ chức bầu cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH); chỉ đạo và hướng dẫn công tác bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND). Việc tìm hiểu cơ cấu tổ chức, chức năng, nhiệm vụ của HĐBCQG có ý nghĩa quan trọng, góp phần nâng cao nhận thức, trách nhiệm của cán bộ, đảng viên và cử tri thực hiện quyền làm chủ của mình, đồng thời giúp cơ quan, tổ chức và cá nhân có liên quan thực hiện tốt nhiệm vụ trong công tác bầu cử.
Thành tựu và định hướng phát triển công tác kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật, pháp điển hệ thống quy phạm pháp luật, xử lý vi phạm hành chính và tổ chức thi hành pháp luật trong kỷ nguyên mới

Thành tựu và định hướng phát triển công tác kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật, pháp điển hệ thống quy phạm pháp luật, xử lý vi phạm hành chính và tổ chức thi hành pháp luật trong kỷ nguyên mới

Bài viết phân tích một số thành tựu và định hướng phát triển công tác kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật, pháp điển hệ thống quy phạm pháp luật, xử lý vi phạm hành chính và tổ chức thi hành pháp luật trong kỷ nguyên mới của Cục Kiểm tra văn bản và Quản lý xử lý vi phạm hành chính, Bộ Tư pháp.
Công tác nghiên cứu khoa học pháp lý của Bộ, ngành Tư pháp - Thành tựu đạt được và những yêu cầu trong kỷ nguyên vươn mình của đất nước

Công tác nghiên cứu khoa học pháp lý của Bộ, ngành Tư pháp - Thành tựu đạt được và những yêu cầu trong kỷ nguyên vươn mình của đất nước

Trong những năm qua, hoạt động nghiên cứu khoa học của Bộ Tư pháp đã khẳng định được vai trò cung cấp cơ sở lý luận và thực tiễn, giúp Lãnh đạo Bộ tham mưu với các cấp có thẩm quyền xây dựng các chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước về công tác pháp luật, tư pháp, về xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của Nhân dân, do Nhân dân và vì Nhân dân, dưới sự lãnh đạo của Đảng.

Theo dõi chúng tôi trên: