Thứ sáu 01/05/2026 04:33
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Bảo đảm quyền bào chữa của người bị buộc tội trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự

Trong tố tụng hình sự, điều tra được coi là giai đoạn trung tâm, giai đoạn mà mọi tình tiết của vụ án có thể được phát hiện, đánh giá, xem xét một cách khách quan, toàn diện. Trong giai đoạn điều tra, việc thực hiện tốt nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của người bị buộc tội giúp cho Cơ quan điều tra xác định được sự thật khách quan của vụ án, giúp hoạt động điều tra được tiến hành đúng trình tự, thủ tục, kịp thời, không để lọt tội phạm và không làm oan người vô tội. Đồng thời, trong giai đoạn điều tra nếu có sự tham gia của người bào chữa sẽ có tác dụng nâng cao trách nhiệm, chất lượng hoạt động điều tra của điều tra viên, hạn chế sự tùy tiện, chủ quan của điều tra viên.


Bài viết “Bảo đảm quyền bào chữa của người bị buộc tội trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự” của ThS. Võ Minh Trí & ThS. Phan Thị Chánh Lý phân tích về việc bảo đảm thực hiện quyền bào chữa của người bị buộc tội trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự, đồng thời có một số kiến nghị nhằm bảo đảm việc thực hiện quyền bào chữa của người bị buộc tội.

Quyền bào chữa của người bị buộc tội[1] là một trong những quyền hiến định. Kế thừa các bản hiến pháp trước (Hiến pháp năm 1946, Hiến pháp năm 1959, Hiến pháp năm 1980, Hiến pháp năm 1992), Hiến pháp năm 2013 quy định rõ hơn về quyền bào chữa tại các Điều 31, Điều 103[2] và được cụ thể hóa trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và các văn bản tố tụng hình sự (TTHS) khác có liên quan. Đồng thời, bảo đảm quyền bào chữa là một trong những nguyên tắc cơ bản của TTHS Việt Nam. Trong giai đoạn điều tra, việc thực hiện tốt nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của người bị buộc tội giúp cho Cơ quan điều tra (CQĐT) xác định được sự thật khách quan của vụ án, giúp hoạt động điều tra được tiến hành đúng trình tự, thủ tục, kịp thời, không để lọt tội phạm và không làm oan người vô tội.

Trong TTHS, điều tra được coi là giai đoạn trung tâm, giai đoạn mà mọi tình tiết của vụ án có thể được phát hiện, đánh giá, xem xét một cách khách quan, toàn diện. Theo quy định của Thông tư số 46/2019/TT-BCA ngày 10/10/2019 của Bộ Công an về trách nhiệm của lực lượng Công an nhân dân trong việc thực hiện các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 liên quan đến việc bảo đảm quyền bào chữa của người bị buộc tội, bị hại và các đương sự khác, thì người bị buộc tội không những được quyền tự bào chữa mà còn có quyền nhờ người khác bào chữa, hoặc bị can được cơ CQĐT yêu cầu người bào chữa để bào chữa trong những trường hợp luật định. Người bào chữa có những ưu thế riêng, họ là người có hiểu biết sâu sắc về pháp luật, họ không bị ức chế, bị đè nặng về tâm lí như người bị buộc tội, vì họ không có nguy cơ gánh chịu hình phạt như người bị buộc tội. Chính những ưu thế này, người bào chữa đã giúp cho người bị buộc tội đưa ra những yêu cầu, lí lẽ, quan điểm đối lập với CQĐT. Vì vậy, trong giai đoạn điều tra nếu có sự tham gia của người bào chữa sẽ có tác dụng nâng cao trách nhiệm, chất lượng hoạt động điều tra của điều tra viên (ĐTV), hạn chế sự tùy tiện, chủ quan của ĐTV.

Nội dung quyền bào chữa của người bị buộc tội trong giai đoạn điều tra có được bảo đảm thực hiện hay không theo chúng tôi phụ thuộc vào việc thực hiện các quyền tố tụng của người bị buộc tội theo quy định của pháp luật TTHS, trong đó đặc biệt theo quy định tại Điều 60 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

1. Thực trạng bảo đảm các quyền của người bị buộc tội

Trong những năm qua, trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự (VAHS), lực lượng làm nhiệm vụ điều tra cần bảo đảm thực hiện các quyền của người bị buộc tội chủ yếu sau đây:

Một là, bảo đảm quyền để người bị buộc tội biết rõ họ bị buộc tội hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội danh gì, được quy định như thế nào trong Bộ luật Hình sự

Bởi lẽ, người bị buộc tội không thể thực hiện được quyền tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa nếu không biết rõ họ bị truy cứu TNHS về tội danh gì, vì họ không xác định được mục tiêu và các công việc cần thực hiện để bảo vệ quyền lợi của mình. Vì vậy, để bảo đảm quyền bào chữa của người bị buộc tội trước hết ĐTV phải bảo đảm cho người bị buộc tội biết được họ bị truy cứu TNHS về tội danh gì, trên cơ sở được giao nhận quyết định giữ người trong trường hợp khẩn cấp, quyết định bắt người trong trường hợp phạm tội quả tang, quyết định khởi tố bị can, quyết định áp dụng biện pháp ngăn chặn, cũng như các quyết định khác trong tố tụng, được giải thích quyền và nghĩa vụ trong quá trình ĐTV tiến hành các hoạt động điều tra.

Hai là, người bị buộc tội được biết họ bị buộc tội bởi những tài liệu, chứng cứ nào, nguồn, biện pháp và chủ thể thu thập

Bảo đảm cho người bị buộc tội biết họ bị truy cứu bởi những tài liệu, chứng cứ nào là một trong những khía cạnh quan trọng để bảo đảm quyền bào chữa của người bị buộc tội. Bởi vì, để buộc tội một can phạm nào đó cần phải có chứng cứ buộc tội vững chắc và ngược lại để gỡ tội cho người bị buộc tội cũng cần đầy đủ chứng cứ gỡ tội theo hướng có lợi cho họ. Nội dung chủ yếu của việc bào chữa của người bị buộc tội hoặc của người bào chữa cho người bị buộc tội trong giai đoạn điều tra là phủ nhận các chứng cứ buộc tội của CQĐT, đưa ra các chứng cứ gỡ tội, hoặc giảm nhẹ TNHS, hoặc loại trừ TNHS. Vì vậy, người bị buộc tội cần biết rõ chứng cứ buộc tội họ là chứng cứ gì, thu thập trong trường hợp nào, biện pháp và người thu thập. Liên quan tới việc bảo đảm quyền này của người bị buộc tội CQĐT phải bảo đảm người bị buộc tội được thực hiện các quyền xin thay đổi ĐTV, người giám định, người định giá tài sản, người phiên dịch nếu có căn cứ cho rằng họ không vô tư, không khách quan trong quá trình tố tụng và tham gia tố tụng, được nhận bản kết luận điều tra khi kết thúc giai đoạn điều tra, được thông báo về nội dung quyết định giám định, kết luận giám định, được quyền đưa ra lí lẽ, lập luận phủ định chứng cứ và quan điểm của ĐTV. Ngoài ra, trong quá trình điều tra CQĐT, ĐTV bên cạnh việc chú ý thu thập những tài liệu, chứng cứ buộc tội còn chú ý thu thập những tài liệu, chứng cứ theo hướng gỡ tội, hoặc giảm nhẹ TNHS trường hợp người bị buộc tội không phải là người có am hiểu sâu sắc về pháp luật, hoặc có các nhược điểm liên quan đến khả năng trình bày, bảo vệ quan điểm của mình. Để bảo đảm quyền này, lực lượng làm nhiệm vụ điều tra phải thực hiện đúng các quy định của pháp luật về trình tự, thủ tục thông báo người bào chữa và các quyền của người bào chữa khi tham gia tố tụng trong giai đoạn điều tra.

Tuy nhiên, bên cạnh kết quả đã đạt được, việc bảo đảm quyền bào chữa của người bị buộc tội trong giai đoạn điều tra VAHS còn có những hạn chế nhất định:

- Một số ĐTV năng lực còn hạn chế nên dẫn đến hiện tượng còn có tâm lí e ngại sự tham gia của người bào chữa, cho rằng sự có mặt của người bào chữa sẽ làm cản trở hoặc gây khó khăn cho hoạt động điều tra của ĐTV. Bộ Công an chưa có hướng dẫn cụ thể về vị trí chỗ ngồi của người bào chữa trong quá trình lấy lời khai hoặc hỏi cung bị can, cũng như trong các hoạt động điều tra khác của ĐTV.

- Đối với những trường hợp bào chữa chỉ định vì nhiều lí do khác nhau mà có trường hợp việc bào chữa thường chỉ mang tính hình thức, qua loa, đại khái. Hiện nay, các cơ quan có thẩm quyền vẫn chưa có hướng dẫn cụ thể về chi trả chi phí cho người bào chữa trong trường hợp bào chữa theo chỉ định.

2. Một số đề xuất

Theo quy định của pháp luật, để bảo đảm quyền bào chữa cho người bị buộc tội trong giai đoạn điều tra, lực lượng làm nhiệm vụ điều tra cần thực hiện tốt các nội dung sau:

Một là, bất kì người bị buộc tội nào cũng được CQĐT, ĐTV bảo đảm điều kiện cần thiết để bảo đảm thực thi quyền bào chữa của mình. Không phân biệt người bị buộc tội phạm tội gì, tính chất tội phạm như thế nào[3], không phân biệt địa vị xã hội, giới tính, dân tộc, tôn giáo… của người bị buộc tội, bất kì tổ chức hoặc cá nhân nào cũng không có quyền giới hạn quyền bào chữa của người bị buộc tội. Bất kì người bị buộc tội nào cũng có quyền đưa ra lí lẽ, lập luận, chứng cứ chứng minh mình vô tội, miễn TNHS, giảm nhẹ TNHS hoặc theo hướng khác có lợi cho người bị buộc tội.

Hai là, quyền bào chữa của người bị buộc tội phải được CQĐT, ĐTV bảo đảm trong suốt giai đoạn điều tra, kể từ thời điểm người bị buộc tội chưa có quyết định khởi tố bị can cho đến khi có bản kết luận điều tra, kết thúc giai đoạn điều tra.

Ba là, CQĐT, ĐTV bảo đảm cho người bị buộc tội và người bào chữa được hưởng tất cả các quyền cụ thể được quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, cũng như các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan, đặc biệt là Thông tư số 46/2019/TT-BCA ngày 10/10/2019 của Bộ Công an về trách nhiệm của lực lượng Công an nhân dân trong việc thực hiện các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 liên quan đến việc bảo đảm quyền bào chữa của người bị buộc tội, bị hại và các đương sự khác và Luật Tổ chức cơ quan điều tra hình sự năm 2015. ĐTV cần phải nhận thức rằng, sự tham gia của người bào chữa sẽ tạo điều kiện thuận lợi để ĐTV điều tra, khám phá vụ án một cách khách quan, toàn diện, tránh được những sai sót đáng tiếc không đáng có trong công tác điều tra. Để có được nhận thức này, ĐTV bên cạnh việc nâng cao trình độ, bản lĩnh còn cần áp dụng đồng bộ các biện pháp khoa học kĩ thuật, biện pháp điều tra đặc biệt theo quy định của pháp luật, cũng như các biện pháp nghiệp vụ khác hỗ trợ trong công tác điều tra.

Bốn là, Bộ Công an cần có có hướng dẫn cụ thể về vị trí chỗ ngồi của người bào chữa trong quá trình lấy lời khai hoặc hỏi cung bị can, cũng như trong các hoạt động điều tra khác của ĐTV, cũng như phối hợp với cơ quan có thẩm quyền có hướng dẫn cụ thể về chi trả chi phí cho người bào chữa trong trường hợp bào chữa theo chỉ định. Ngoài ra, CQĐT, ĐTV phải kiểm tra, hướng dẫn người bào chữa thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ của họ trong trường hợp bào chữa theo chỉ định, chống qua loa, đại khái, mang tính hình thức.

ThS. Võ Minh Trí

Công an TP. Cần Thơ

ThS. Phan Thị Chánh Lý

Đại học Trà Vinh





[1]. Người bị buộc tội có thể bao gồm: Người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị bắt trong trường hợp phạm tội quả tang hoặc theo quyết định truy nã, người bị tạm giữ, bị can, người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố.

[2]. Ví dụ, khoản 4 Điều 31 Hiến pháp năm 2013 quy định: “Người bị bắt, tạm giữ, tạm giam, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử có quyền tự bào chữa, nhờ luật sư hoặc người khác bào chữa”.

[3]. Ít nghiệm trọng, nghiêm trọng, rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định và tổ chức thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Kiến nghị hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định và tổ chức thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 là đạo luật quan trọng nhằm cụ thể hóa quyền tiếp cận thông tin của công dân theo Hiến pháp năm 2013[*], góp phần nâng cao tính công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Sau 08 năm thi hành, bên cạnh những kết quả đạt được, thực tiễn cho thấy còn bộc lộ một số hạn chế, bất cập trong quy định pháp luật và tổ chức thi hành, đặc biệt, liên quan đến phạm vi thông tin, trách nhiệm cung cấp thông tin, trình tự, thủ tục và điều kiện bảo đảm thực hiện quyền. Trên cơ sở nhận diện các vướng mắc, bất cập, nghiên cứu đề xuất định hướng sửa đổi, bổ sung Luật theo hướng bảo đảm tính đồng bộ với hệ thống pháp luật hiện hành, phù hợp với yêu cầu chuyển đổi số và tổ chức bộ máy nhà nước, đồng thời kiến nghị các giải pháp nâng cao hiệu quả tổ chức thi hành, qua đó góp phần bảo đảm tốt hơn quyền tiếp cận thông tin của công dân và xây dựng nền hành chính công khai, minh bạch.
Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018) sau hơn 08 năm thi hành đã bộc lộ nhiều bất cập trước sự vận động nhanh chóng của thực tiễn, đặc biệt là sự xuất hiện của các hình thức hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng và các quan hệ tôn giáo có yếu tố nước ngoài ngày càng phức tạp. Vì vậy, việc tăng cường quản lý nhà nước đối với các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng là yêu cầu cấp thiết không chỉ bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân mà còn nhằm giữ vững an ninh, trật tự xã hội và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới.
Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Thẩm quyền ban hành VBQPPL là nội dung trọng tâm nhằm bảo đảm mỗi loại VBQPPL được ban hành bởi đúng cơ quan, đúng cấp, vừa phù hợp với phạm vi pháp lý, vừa hạn chế rủi ro và xung đột giữa các văn bản.
Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Việc ban hành Luật Ban hành VBQPPL số 64/2025/QH15 được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 87/2025/QH15 và các nghị định hướng dẫn thi hành có ý nghĩa đặc biệt trong bối cảnh đổi mới tư duy xây dựng pháp luật, gắn kết chặt chẽ giữa xây dựng và thi hành pháp luật.
Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Bài viết phân tích quy trình xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ của Quốc hội và quy trình xây dựng chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội, từ đó, đưa ra một số lưu ý nhằm nâng cao hiệu quả việc thực hiện hai quy trình này.
Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Tóm tắt: Bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra góp phần bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp cần miễm trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra để bảo vệ lợi ích hợp pháp của các nhà sản xuất kinh doanh. Bài viết nghiên cứu những trường hợp miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023, đồng thời chỉ ra ưu, nhược điểm và hạn chế của Luật, từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Trong bối cảnh nhiều thách thức, đội ngũ luật sư với kiến thức chuyên môn và kỹ năng nghề nghiệp của mình, đóng vai trò then chốt trong việc nâng cao chất lượng, hiệu quả trợ giúp pháp lý.
Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Những năm qua, công tác trợ giúp pháp lý trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận. Nhiều vụ việc được trợ giúp pháp lý kịp thời, góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người nghèo, người có công với cách mạng và các nhóm yếu thế khác.
Ứng dụng công nghệ số, nền tảng trực tuyến, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động trợ giúp pháp lý

Ứng dụng công nghệ số, nền tảng trực tuyến, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động trợ giúp pháp lý

Những nỗ lực số hóa hồ sơ, vận hành Hệ thống quản lý trợ giúp pháp lý, kết nối dữ liệu dân cư, phát triển tư vấn trực tuyến… đã mở ra hướng tiếp cận mới, góp phần nâng cao chất lượng và tính minh bạch của dịch vụ trợ giúp pháp lý.
Tăng cường hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế trong tố tụng hình sự

Tăng cường hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế trong tố tụng hình sự

Trong tiến trình cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, việc bảo đảm quyền con người luôn là sợi chỉ đỏ xuyên suốt, đặc biệt, với đối tượng yếu thế, yêu cầu này càng trở nên cấp thiết và nhân văn. Trong tố tụng hình sự (TTHS), đối tượng yếu thế với tư cách bị hại, người làm chứng hay bị can, bị cáo, đã và đang phải đối mặt với hệ thống tư pháp hình sự. Đối tượng yếu thế có được tiếp cận công lý bình đẳng hay không phụ thuộc vào sự công tâm, chuyên nghiệp và nhạy cảm của các cơ quan trong hoạt động tố tụng, trong đó có vai trò của hoạt động trợ giúp pháp lý.
Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo trong bối cảnh mới

Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo trong bối cảnh mới

Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và thúc đẩy phát triển bền vững, hoạt động trợ giúp pháp lý đóng vai trò quan trọng trong việc bảo đảm công bằng xã hội và tiếp cận công lý cho người dân, đặc biệt là người nghèo thuộc nhóm đối tượng yếu thế.
Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Đây là giải pháp quan trọng nhằm khắc phục khó khăn, vướng mắc, nâng cao chất lượng tổ chức thi hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo.
Ưu điểm, hạn chế và một số vấn đề chính cần rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Ưu điểm, hạn chế và một số vấn đề chính cần rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 đã góp phần quan trọng trong việc bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của cá nhân, tổ chức, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đối với lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo. Tuy nhiên, thực tiễn triển khai Luật cũng bộc lộ những bất cập, hạn chế cần sửa đổi, hoàn thiện nhằm đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới.
Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là một trong những loại tội phạm có diễn biến ngày càng phức tạp, đa dạng và tinh vi. Phương thức thực hiện tội phạm không ngừng biến đổi, đặc biệt là việc sử dụng công nghệ cao để phạm tội, gây thiệt hại lớn đối với tài sản và tâm lý hoang mang cho người dân, ảnh hưởng đến trật tự, an toàn xã hội. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng các quy định của Bộ luật Hình sự về tội này vẫn còn tồn tại một số vướng mắc, bất cập từ chính quy định của pháp luật.
Xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Bài viết làm rõ sự cần thiết của việc xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên bứt phá, phát triển mới của dân tộc, theo tinh thần Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Đại hội XIV).

Theo dõi chúng tôi trên: