Thứ tư 20/05/2026 10:43
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Bảo đảm quyền của công dân tham gia quản lý nhà nước và xã hội theo Hiến pháp năm 2013

Bài viết nghiên cứu về bảo đảm và thúc đẩy quyền tham gia quản lý nhà nước và xã hội của công dân sau 10 năm thi hành Hiến pháp năm 2013, trên cơ sở đó, đề xuất một số giải pháp bảo đảm và thúc đẩy quyền, phát huy vai trò của Nhà nước trong bảo đảm quyền con người ở Việt Nam trong tình hình mới.

Một trong những quan điểm chỉ đạo có ý nghĩa quan trọng đối với xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam là “lấy con người là trung tâm, mục tiêu, chủ thể và động lực phát triển đất nước; Nhà nước tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền công dân”[1]. Quan điểm này của Đảng là cơ sở để Nhà nước tiếp tục thực hiện tốt hơn nữa trách nhiệm bảo đảm và thúc đẩy quyền tham gia quản lý nhà nước và xã hội của công dân trong tình hình mới hiện nay.

1. Trách nhiệm của Nhà nước trong bảo đảm và thúc đẩy quyền của công dân tham gia quản lý nhà nước và xã hội

Nhìn từ quan hệ giữa Nhà nước và cá nhân, Nhà nước với tư cách là chủ thể quản lý xã hội có nghĩa vụ công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm các quyền con người, quyền công dân theo quy định của Hiến pháp và pháp luật. Một trong những quyền dân sự, chính trị quan trọng của công dân là quyền tham gia quản lý công việc của Nhà nước và xã hội. Điều 28 Hiến pháp năm 2013 quy định, quyền của công dân tham gia quản lý nhà nước (QLNN) và quy định trách nhiệm của Nhà nước trong bảo đảm và thúc đẩy quyền tham gia QLNN. Hoạt động QLNN là một hoạt động mang nghĩa rộng và bao quát, là hoạt động quản lý đặc biệt được thực hiện bằng quyền lực nhà nước, đòi hỏi phải có sự bảo đảm, hỗ trợ từ phía Nhà nước. Theo đó, Nhà nước bảo đảm cho công dân có quyền tham gia trực tiếp hay gián tiếp vào QLNN và xã hội. Nhà nước tạo điều kiện để công dân tham gia QLNN và xã hội, công khai, minh bạch trong việc tiếp nhận, phản hồi ý kiến, kiến nghị của công dân.

Trách nhiệm của Nhà nước trong bảo đảm và thúc đẩy quyền của công dân tham gia quản lý công việc của Nhà nước và xã hội đã được Đảng xác định tại Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII: Thực hiện tốt, có hiệu quả phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”. Điều 3 Hiến pháp năm 2013 quy định: “Nhà nước bảo đảm và phát huy quyền làm chủ của Nhân dân; công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người; thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, mọi người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện”. Với nghĩa đó, trách nhiệm bảo đảm và thúc đẩy quyền của công dân tham gia quản lý công việc của Nhà nước và xã hội được thể hiện ở một số phương diện sau:

- Nhà nước ghi nhận quyền của công dân tham gia quản lý công việc của Nhà nước và xã hội bằng Hiến pháp và các văn bản quy phạm pháp luật khác. Đây là trách nhiệm trước hết của Nhà nước với tư cách là chủ thể có nghĩa vụ bảo đảm quyền con người. Thông qua việc quy định quyền tham gia quản lý công việc của Nhà nước và xã hội trong hệ thống pháp luật, Nhà nước chính thức thừa nhận quyền của công dân tham gia quản lý công việc của Nhà nước và xã hội. Việc ghi nhận quyền này bằng Hiến pháp, pháp luật không chỉ thể hiện bản chất dân chủ của Nhà nước, mà còn có ý nghĩa tạo cơ sở pháp lý cho các cơ quan nhà nước, tổ chức, cá nhân tổ chức thực hiện quyền, con người và công dân tiếp cận, hưởng thụ quyền.

- Nhà nước tôn trọng quyền của công dân tham gia quản lý công việc của Nhà nước và xã hội. Thông qua việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ cụ thể, các thiết chế trong hệ thống chính trị thúc đẩy sự tôn trọng quyền tham gia quản lý công việc của Nhà nước và xã hội. Đặc biệt, pháp luật quy định trách nhiệm, nghĩa vụ của các thiết chế nhằm hạn chế sự lạm dụng quyền lực nhà nước vi phạm quyền tham gia quản lý công việc của Nhà nước và xã hội của công dân.

- Nhà nước bảo vệ, bảo đảm quyền của công dân tham gia quản lý công việc của Nhà nước và xã hội. Nhà nước phòng ngừa sự vi phạm quyền bằng việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn từ xa như nâng cao nhận thức, trang bị các kiến thức, kỹ năng, xây dựng môi trường sống an toàn, lành mạnh; thanh tra, kiểm tra, giám sát, xử lý vi phạm để giảm thiểu các nguy cơ vi phạm. Nhà nước hỗ trợ các điều kiện cần thiết cho công dân tiếp cận và hưởng thụ quyền tham gia quản lý công việc của Nhà nước và xã hội. Nếu quyền của công dân tham gia quản lý công việc của Nhà nước và xã hội bị xâm phạm, Nhà nước thực hiện các biện pháp can thiệp nhằm kịp thời ngăn chặn hành vi xâm hại và khôi phục quyền.

2. Thực trạng bảo đảm và thúc đẩy quyền của công dân tham gia quản lý nhà nước và xã hội thời gian qua

2.1. Kết quả đạt được

Sau 10 năm thực hiện Hiến pháp năm 2013, về cơ bản, Nhà nước đã thực hiện tốt trách nhiệm bảo đảm và thúc đẩy quyền của công dân tham gia quản lý công việc của Nhà nước và xã hội, thể hiện ở một số phương diện sau:

- Trên cơ sở quan điểm, đường lối của Đảng, Nhà nước đã kịp thời thể chế hóa thành các chính sách, văn bản pháp luật nhằm ghi nhận quyền tham gia quản lý công việc của Nhà nước và xã hội. Sau khi Hiến pháp năm 2013 được ban hành, nhiều văn bản pháp luật thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau đã được sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ hoặc ban hành mới nhằm ghi nhận và cụ thể hóa quyền này. Quốc hội đã bổ sung, sửa đổi hoặc ban hành mới nhiều văn bản luật, pháp lệnh liên quan đến việc bảo đảm quyền con người, quyền công dân, phù hợp với Hiến pháp năm 2013, trong đó, quy định rõ chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền và trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức và cán bộ, công chức trong việc bảo đảm, bảo vệ và thúc đẩy quyền tham gia quản lý công việc của Nhà nước và xã hội.

- Việc triển khai thực thi quyền của công dân tham gia quản lý công việc của Nhà nước và xã hội được các cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện nghiêm túc, toàn diện và cơ bản đầy đủ theo các nhiệm vụ được giao. Các cơ quan, tổ chức đã phát huy sự chủ động, sáng tạo, linh hoạt, tích cực theo dõi, đôn đốc tổ chức thực hiện nhiều biện pháp nhằm bảo đảm quyền tham gia quản lý công việc của Nhà nước và xã hội. Công tác theo dõi bảo đảm quyền được tiến hành bài bản, có trọng tâm, trọng điểm; công tác thanh tra, kiểm tra đạt được nhiều kết quả đáng khích lệ, đã kịp thời phát hiện các vi phạm quyền của nhiều cơ quan, tổ chức, cá nhân.

Các cơ quan nhà nước, các tổ chức và cán bộ, công chức đã bảo đảm những điều kiện cần thiết để công dân tiếp cận và thực hiện quyền một cách hiệu quả nhất. Quyền làm chủ của Nhân dân tiếp tục được củng cố và có những bước tiến quan trọng, quyền dân chủ trực tiếp thông qua hoạt động bầu cử, ứng cử; trưng cầu ý dân, bãi miễn đại biểu dân cử; việc thực hiện quyền lực nhân dân bằng dân chủ đại diện thông qua Quốc hội, Hội đồng nhân dân và các cơ quan khác của Nhà nước đạt những kết quả nhất định. Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021 - 2026, có quy mô lớn nhất từ trước đến nay với 99,60% cử tri cả nước tham gia bỏ phiếu, được tổ chức thực hiện thành công với số lượng cử tri tham gia bỏ phiếu cao nhất, gần 70 triệu lá phiếu tại 84.767 khu vực bỏ phiếu. Trong số gần 450 nghìn người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp, cử tri cả nước đã sáng suốt lựa chọn những người thực sự tiêu biểu, xứng đáng, có năng lực, trí tuệ, trình độ chuyên môn và phẩm chất đạo đức đại diện cho mình để tham gia vào các cơ quan quyền lực nhà nước từ trung ương tới địa phương. Trong đó, đại biểu là phụ nữ: 151 người, chiếm 30,26% (đạt cao nhất từ trước đến nay); đại biểu là người dân tộc thiểu số: 89 người, chiếm 17,84%[2].

Đối với hoạt động tham gia ý kiến vào quá trình xây dựng và hoạch định chính sách, việc tổ chức lấy ý kiến Nhân dân trong hoạt động lập pháp đã được thể chế hóa tại Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2020). Các cơ quan, tổ chức thực hiện trách nhiệm bảo đảm cho Nhân dân đóng góp ý kiến vào hoạt động xây dựng pháp luật của Nhà nước, đó là những đợt sinh hoạt chính trị rộng lớn không chỉ thể hiện vai trò của Nhà nước trong bảo đảm và thúc đẩy quyền mà còn thể hiện bản chất dân chủ của Nhà nước[3].

2.2. Một số hạn chế

Bên cạnh những kết quả đạt được, bảo đảm và thúc đẩy quyền của công dân tham gia quản lý công việc của Nhà nước và xã hội còn một số hạn chế nhất định:

- Một số quyền của công dân tham gia quản lý công việc của Nhà nước và xã hội chưa có luật điều chỉnh hoặc chưa quy định cụ thể; một số quy định chưa phù hợp với thực tiễn, thiếu tính khả thi, mâu thuẫn, chồng chéo; một số quy định trong các văn bản chưa phù hợp với thực tiễn cuộc sống, chưa bảo đảm điều kiện, nguồn lực thực hiện hoặc thực hiện sẽ gây lãng phí, tốn kém; quy định về một số hình thức dân chủ trực tiếp như lấy ý kiến và phản biện xã hội còn chưa thực sự hoàn thiện[4].

- Về các thiết chế bảo đảm và thúc đẩy quyền: Tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị chưa thực sự tinh gọn, nhiều tầng nấc, nhiều đầu mối; hiệu lực, hiệu quả hoạt động trên một số lĩnh vực chưa đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ. Việc đổi mới tổ chức, nhiệm vụ và thẩm quyền của một số cơ quan trong bộ máy nhà nước vẫn còn chưa thực sự đáp ứng yêu cầu. Cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước có trường hợp chưa được cụ thể hóa đầy đủ nên việc vận hành cụ thể còn lúng túng[5]. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng đã nhận định: “Năng lực của một số địa phương chưa đáp ứng yêu cầu; trong khi sự phối hợp giữa các bộ, ngành, địa phương thiếu chặt chẽ đã làm giảm hiệu lực, hiệu quả của việc phân cấp; việc công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình còn hạn chế”.

- Hoạt động giám sát, kiểm tra, phản biện xã hội trong thực thi pháp luật, chính sách hiệu quả chưa cao. Sự tham gia của người dân trong quá trình xây dựng và thực thi chính sách, pháp luật còn hạn chế nhất định[6].

Nghiên cứu cho thấy, những hạn chế trên do nhiều nguyên nhân, trong đó có những nguyên nhân như: Một số quy định pháp luật về quyền của công dân tham gia QLNN và xã hội chưa cụ thể, khó hiểu; cơ chế tổ chức pháp luật chưa rõ ràng, gây khó khăn cho các cơ quan, tổ chức trong quá trình bảo đảm quyền và Nhân dân khi tiếp cận, thụ hưởng; công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật về quyền công dân có nơi còn hình thức, chưa thực sự hiệu quả; một bộ phận cán bộ, công chức chưa đáp ứng yêu cầu về năng lực, trình độ, chưa thực sự có trách nhiệm trong bảo đảm và thúc đẩy quyền; các điều kiện bảo đảm thực hiện quyền trong lĩnh vực này chưa được quan tâm và đầu tư đúng mức; nhận thức và ý thức pháp luật của một bộ phận cán bộ, công chức và Nhân dân còn hạn chế nhất định...

3. Một số giải pháp bảo đảm và thúc đẩy quyền của công dân tham gia quản lý nhà nước và xã hội trong điều kiện hiện nay

Để bảo đảm và thúc đẩy quyền của công dân tham gia QLNN và xã hội ở Việt Nam trong tình hình mới, cần tập trung thực hiện một số giải pháp sau:

Một là, tiếp tục hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền của công dân tham gia QLNN và xã hội: Quyền của công dân tham gia QLNN và xã hội chỉ có thể được bảo đảm và thúc đẩy trên cơ sở hệ thống pháp luật chất lượng, hoàn thiện. Do vậy, trước hết, cần nâng cao chất lượng xây dựng pháp luật, bảo đảm xây dựng hệ thống pháp luật “dân chủ, công bằng, nhân đạo, đầy đủ, kịp thời, đồng bộ, thống nhất, công khai, minh bạch, ổn định, khả thi, dễ tiếp cận, đủ khả năng điều chỉnh các quan hệ xã hội, lấy quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của người dân, tổ chức, doanh nghiệp làm trung tâm”[7]. Cơ chế Nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước với các hình thức dân chủ trực tiếp, dân chủ đại diện, đặc biệt là dân chủ ở cơ sở cần nhanh chóng được thể chế hóa đầy đủ và thực hiện một cách hiệu quả trên thực tế. Việc Nhân dân tham gia thảo luận và kiến nghị với cơ quan nhà nước về các vấn đề của cơ sở, địa phương và cả nước cần phải thể chế hóa và thực hiện bảo đảm tính thực tế, tránh hình thức. Pháp luật cần quy định cụ thể cơ chế dân chủ trực tiếp của Nhân dân và có cơ chế bảo đảm thực thi hiệu quả.

Hai là, đẩy mạnh tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền của công dân tham gia QLNN và xã hội. Đây là biện pháp quan trọng nhằm trang bị cho cán bộ, công chức, viên chức và Nhân dân kiến thức về nội dung, bản chất quyền của công dân tham gia QLNN và xã hội. Từ sự nhận thức, hiểu biết về quyền của công dân tham gia QLNN và xã hội, mỗi cá nhân mới có ý thức để thực thi quyền theo đúng yêu cầu, nội dung của quyền. Công việc này đòi hỏi: (i) Nhà nước phải xây dựng được đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên có kiến thức pháp luật, có năng lực và kỹ năng truyền tải tốt. (ii) Xây dựng nội dung, chương trình, kế hoạch tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền chung và riêng phù hợp với các nhóm đối tượng. Chú ý nhóm đối tượng yếu thế, dễ bị tổn thương, đặc biệt Nhân dân ở miền núi, vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn, trình độ nhận thức còn hạn chế nhất định. (iii) Đổi mới nội dung, phương pháp, cách thức tuyên truyền, phổ biến pháp luật về quyền của công dân tham gia QLNN và xã hội. (iv) Xây dựng và thực hiện cơ chế phối hợp hiệu quả giữa các cơ quan, tổ chức trong quá trình tổ chức tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền của công dân tham gia QLNN và xã hội.

Ba là, đổi mới tổ chức bộ máy, nâng cao hiệu quả hoạt động của các thiết chế bảo đảm và thúc đẩy quyền của công dân tham gia QLNN và xã hội. Chủ thể có nghĩa vụ trong bảo đảm và thúc đẩy quyền là các thiết chế trong cơ chế bảo đảm quyền con người ở Việt Nam, do vậy, cần tinh gọn tổ chức bộ máy và nâng cao hiệu quả hoạt động của các thiết chế này. Đảng với tư cách là nhân tố lãnh đạo Nhà nước và xã hội, cần đổi mới phương thức lãnh đạo, xây dựng các chủ trương, nghị quyết làm cơ sở cho bảo đảm quyền của công dân tham gia QLNN và xã hội. Sắp xếp, tinh gọn, phân công rõ ràng chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền của các cơ quan nhà nước từ trung ương đến địa phương. Bảo đảm thực hiện tốt nguyên tắc phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp. Phát huy vai trò và thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội trong bảo đảm và thúc đẩy quyền của công dân tham gia QLNN và xã hội. Đặc biệt là chức năng phản biện và giám sát xã hội, đây chính là một trong những kênh để Nhân dân thực hiện quyền tham gia quản lý công việc của Nhà nước và xã hội khá hiệu quả. Bên cạnh đó, đổi mới tổ chức và nâng cao hiệu quả của truyền thông báo chí - một trong những thiết chế bảo đảm và thúc đẩy quyền con người rất hiệu quả hiện nay.

Bốn là, chú trọng đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức với ý nghĩa là chủ thể có nghĩa vụ bảo đảm quyền tham gia QLNN và xã hội. Thực hiện tốt công tác cán bộ, xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức có năng lực, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, có tinh thần trách nhiệm và phẩm chất đạo đức tốt, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ, đủ năng lực tham gia và thực hiện tốt các khâu của quá trình bảo đảm, thúc đẩy quyền. Quyền của công dân tham gia QLNN và xã hội là quyền dân sự, chính trị quan trọng, gắn liền trực tiếp với con người, cũng là quyền có ý nghĩa quan trọng đối với tổ chức, hoạt động của Nhà nước, do vậy, cán bộ, công chức cần có bản lĩnh chính trị, kiên định, vững vàng trong thực thi nhiệm vụ, có thái độ tôn trọng Nhân dân, tận tụy phục vụ Nhân dân.

Năm là, đầu tư nguồn lực vật chất, tài chính cho bảo đảm và thúc đẩy quyền của công dân tham gia QLNN và xã hội: Nhà nước cần hoạch định và thực hiện hiệu quả các chính sách phát triển kinh tế - xã hội, nhằm bảo đảm nguồn lực tài chính, vật chất cho bảo đảm thực thi quyền của công dân tham gia QLNN và xã hội, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của Nhân dân. Quyền tham gia QLNN và xã hội là quyền tổng hợp, trong đó, bao gồm nhiều nội dung quyền cụ thể đòi hỏi nguồn lực kinh phí, vật chất lớn. Do vậy, Nhà nước cần xây dựng và thực hiện hiệu quả các chính sách phát triển kinh tế - xã hội, tạo ra nguồn lực vật chất bảo đảm thực thi quyền của công dân tham gia QLNN và xã hội.

4. Kết luận

Sau 10 năm thi hành Hiến pháp năm 2013, quyền của công dân tham gia QLNN và xã hội đã được cụ thể hóa và bảo đảm, thúc đẩy trong đời sống xã hội. Những kết quả bảo đảm và thúc đẩy quyền của công dân tham gia QLNN và xã hội là minh chứng cho bản chất Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân. Trong điều kiện hiện nay, yêu cầu phát huy dân chủ, thu hút sự tham gia của công dân vào QLNN và xã hội ngày càng được đề cao. Nghiên cứu và thực hiện tốt các giải pháp trên sẽ bảo đảm và thúc đẩy quyền của công dân tham gia QLNN và xã hội ngày càng hiệu quả hơn, góp phần vào sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước./.

TS. Vũ Thị Hoài Phương

Học viện Chính trị khu vực I

[1]. Nghị quyết số 27/NQ-TW ngày 09/11/2022 của Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới.

[2]. https://quochoi.vn/tintuc/pages/tin-hoat-dong-cua-quoc-hoi.aspx?ItemID=56950&ref=luat khoa.com.

[3]. “... đã có 12.107.457 lượt ý kiến góp ý đối với Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi). Các nội dung được nhân dân quan tâm góp ý tập trung vào: Bồi thường, hỗ trợ, tái định cư với 1.227.238 lượt ý kiến; giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất với 1.064.464 lượt ý kiến; tài chính đất đai, giá đất với 1.035.394 lượt ý kiến; quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất với 1.008.494 lượt ý kiến”, https://baochinhphu.vn/hon-9-trieu-y-kien-dong-gop-cho-du-thao-luat-dat-dai-sua-doi-102230328165028415.htm.

[4]. https://tcnn.vn/news/detail/66199/Tiep-tuc-hoan-thien-phap-luat-ve-thuc-hien-dan-chu-truc-tiep.html.

[5]. Nghị quyết số 18-NQ/TW ngày 25/10/2017 của Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về “Một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả”.

[6]. https://danchuphapluat.vn/ban-ve-su-tham-gia-quan-tri-nha-nuoc-cua-nguoi-dan.

[7]. Nghị quyết số 27/NQ-TW ngày 09/11/2022 của Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới.

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 2 (Số 411), tháng 8/2024)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định và tổ chức thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Kiến nghị hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định và tổ chức thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 là đạo luật quan trọng nhằm cụ thể hóa quyền tiếp cận thông tin của công dân theo Hiến pháp năm 2013[*], góp phần nâng cao tính công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Sau 08 năm thi hành, bên cạnh những kết quả đạt được, thực tiễn cho thấy còn bộc lộ một số hạn chế, bất cập trong quy định pháp luật và tổ chức thi hành, đặc biệt, liên quan đến phạm vi thông tin, trách nhiệm cung cấp thông tin, trình tự, thủ tục và điều kiện bảo đảm thực hiện quyền. Trên cơ sở nhận diện các vướng mắc, bất cập, nghiên cứu đề xuất định hướng sửa đổi, bổ sung Luật theo hướng bảo đảm tính đồng bộ với hệ thống pháp luật hiện hành, phù hợp với yêu cầu chuyển đổi số và tổ chức bộ máy nhà nước, đồng thời kiến nghị các giải pháp nâng cao hiệu quả tổ chức thi hành, qua đó góp phần bảo đảm tốt hơn quyền tiếp cận thông tin của công dân và xây dựng nền hành chính công khai, minh bạch.
Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018) sau hơn 08 năm thi hành đã bộc lộ nhiều bất cập trước sự vận động nhanh chóng của thực tiễn, đặc biệt là sự xuất hiện của các hình thức hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng và các quan hệ tôn giáo có yếu tố nước ngoài ngày càng phức tạp. Vì vậy, việc tăng cường quản lý nhà nước đối với các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng là yêu cầu cấp thiết không chỉ bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân mà còn nhằm giữ vững an ninh, trật tự xã hội và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới.
Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Thẩm quyền ban hành VBQPPL là nội dung trọng tâm nhằm bảo đảm mỗi loại VBQPPL được ban hành bởi đúng cơ quan, đúng cấp, vừa phù hợp với phạm vi pháp lý, vừa hạn chế rủi ro và xung đột giữa các văn bản.
Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Việc ban hành Luật Ban hành VBQPPL số 64/2025/QH15 được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 87/2025/QH15 và các nghị định hướng dẫn thi hành có ý nghĩa đặc biệt trong bối cảnh đổi mới tư duy xây dựng pháp luật, gắn kết chặt chẽ giữa xây dựng và thi hành pháp luật.
Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Bài viết phân tích quy trình xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ của Quốc hội và quy trình xây dựng chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội, từ đó, đưa ra một số lưu ý nhằm nâng cao hiệu quả việc thực hiện hai quy trình này.
Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Tóm tắt: Bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra góp phần bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp cần miễm trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra để bảo vệ lợi ích hợp pháp của các nhà sản xuất kinh doanh. Bài viết nghiên cứu những trường hợp miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023, đồng thời chỉ ra ưu, nhược điểm và hạn chế của Luật, từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Trong bối cảnh nhiều thách thức, đội ngũ luật sư với kiến thức chuyên môn và kỹ năng nghề nghiệp của mình, đóng vai trò then chốt trong việc nâng cao chất lượng, hiệu quả trợ giúp pháp lý.
Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Những năm qua, công tác trợ giúp pháp lý trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận. Nhiều vụ việc được trợ giúp pháp lý kịp thời, góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người nghèo, người có công với cách mạng và các nhóm yếu thế khác.
Ứng dụng công nghệ số, nền tảng trực tuyến, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động trợ giúp pháp lý

Ứng dụng công nghệ số, nền tảng trực tuyến, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động trợ giúp pháp lý

Những nỗ lực số hóa hồ sơ, vận hành Hệ thống quản lý trợ giúp pháp lý, kết nối dữ liệu dân cư, phát triển tư vấn trực tuyến… đã mở ra hướng tiếp cận mới, góp phần nâng cao chất lượng và tính minh bạch của dịch vụ trợ giúp pháp lý.
Tăng cường hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế trong tố tụng hình sự

Tăng cường hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế trong tố tụng hình sự

Trong tiến trình cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, việc bảo đảm quyền con người luôn là sợi chỉ đỏ xuyên suốt, đặc biệt, với đối tượng yếu thế, yêu cầu này càng trở nên cấp thiết và nhân văn. Trong tố tụng hình sự (TTHS), đối tượng yếu thế với tư cách bị hại, người làm chứng hay bị can, bị cáo, đã và đang phải đối mặt với hệ thống tư pháp hình sự. Đối tượng yếu thế có được tiếp cận công lý bình đẳng hay không phụ thuộc vào sự công tâm, chuyên nghiệp và nhạy cảm của các cơ quan trong hoạt động tố tụng, trong đó có vai trò của hoạt động trợ giúp pháp lý.
Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo trong bối cảnh mới

Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo trong bối cảnh mới

Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và thúc đẩy phát triển bền vững, hoạt động trợ giúp pháp lý đóng vai trò quan trọng trong việc bảo đảm công bằng xã hội và tiếp cận công lý cho người dân, đặc biệt là người nghèo thuộc nhóm đối tượng yếu thế.
Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Đây là giải pháp quan trọng nhằm khắc phục khó khăn, vướng mắc, nâng cao chất lượng tổ chức thi hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo.
Ưu điểm, hạn chế và một số vấn đề chính cần rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Ưu điểm, hạn chế và một số vấn đề chính cần rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 đã góp phần quan trọng trong việc bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của cá nhân, tổ chức, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đối với lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo. Tuy nhiên, thực tiễn triển khai Luật cũng bộc lộ những bất cập, hạn chế cần sửa đổi, hoàn thiện nhằm đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới.
Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là một trong những loại tội phạm có diễn biến ngày càng phức tạp, đa dạng và tinh vi. Phương thức thực hiện tội phạm không ngừng biến đổi, đặc biệt là việc sử dụng công nghệ cao để phạm tội, gây thiệt hại lớn đối với tài sản và tâm lý hoang mang cho người dân, ảnh hưởng đến trật tự, an toàn xã hội. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng các quy định của Bộ luật Hình sự về tội này vẫn còn tồn tại một số vướng mắc, bất cập từ chính quy định của pháp luật.
Xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Bài viết làm rõ sự cần thiết của việc xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên bứt phá, phát triển mới của dân tộc, theo tinh thần Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Đại hội XIV).

Theo dõi chúng tôi trên: