Thứ hai 14/09/2026 19:17
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Bảo đảm quyền của công dân tham gia quản lý nhà nước và xã hội theo Hiến pháp năm 2013

Bài viết nghiên cứu về bảo đảm và thúc đẩy quyền tham gia quản lý nhà nước và xã hội của công dân sau 10 năm thi hành Hiến pháp năm 2013, trên cơ sở đó, đề xuất một số giải pháp bảo đảm và thúc đẩy quyền, phát huy vai trò của Nhà nước trong bảo đảm quyền con người ở Việt Nam trong tình hình mới.

Một trong những quan điểm chỉ đạo có ý nghĩa quan trọng đối với xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam là “lấy con người là trung tâm, mục tiêu, chủ thể và động lực phát triển đất nước; Nhà nước tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền công dân”[1]. Quan điểm này của Đảng là cơ sở để Nhà nước tiếp tục thực hiện tốt hơn nữa trách nhiệm bảo đảm và thúc đẩy quyền tham gia quản lý nhà nước và xã hội của công dân trong tình hình mới hiện nay.

1. Trách nhiệm của Nhà nước trong bảo đảm và thúc đẩy quyền của công dân tham gia quản lý nhà nước và xã hội

Nhìn từ quan hệ giữa Nhà nước và cá nhân, Nhà nước với tư cách là chủ thể quản lý xã hội có nghĩa vụ công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm các quyền con người, quyền công dân theo quy định của Hiến pháp và pháp luật. Một trong những quyền dân sự, chính trị quan trọng của công dân là quyền tham gia quản lý công việc của Nhà nước và xã hội. Điều 28 Hiến pháp năm 2013 quy định, quyền của công dân tham gia quản lý nhà nước (QLNN) và quy định trách nhiệm của Nhà nước trong bảo đảm và thúc đẩy quyền tham gia QLNN. Hoạt động QLNN là một hoạt động mang nghĩa rộng và bao quát, là hoạt động quản lý đặc biệt được thực hiện bằng quyền lực nhà nước, đòi hỏi phải có sự bảo đảm, hỗ trợ từ phía Nhà nước. Theo đó, Nhà nước bảo đảm cho công dân có quyền tham gia trực tiếp hay gián tiếp vào QLNN và xã hội. Nhà nước tạo điều kiện để công dân tham gia QLNN và xã hội, công khai, minh bạch trong việc tiếp nhận, phản hồi ý kiến, kiến nghị của công dân.

Trách nhiệm của Nhà nước trong bảo đảm và thúc đẩy quyền của công dân tham gia quản lý công việc của Nhà nước và xã hội đã được Đảng xác định tại Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII: Thực hiện tốt, có hiệu quả phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”. Điều 3 Hiến pháp năm 2013 quy định: “Nhà nước bảo đảm và phát huy quyền làm chủ của Nhân dân; công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người; thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, mọi người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện”. Với nghĩa đó, trách nhiệm bảo đảm và thúc đẩy quyền của công dân tham gia quản lý công việc của Nhà nước và xã hội được thể hiện ở một số phương diện sau:

- Nhà nước ghi nhận quyền của công dân tham gia quản lý công việc của Nhà nước và xã hội bằng Hiến pháp và các văn bản quy phạm pháp luật khác. Đây là trách nhiệm trước hết của Nhà nước với tư cách là chủ thể có nghĩa vụ bảo đảm quyền con người. Thông qua việc quy định quyền tham gia quản lý công việc của Nhà nước và xã hội trong hệ thống pháp luật, Nhà nước chính thức thừa nhận quyền của công dân tham gia quản lý công việc của Nhà nước và xã hội. Việc ghi nhận quyền này bằng Hiến pháp, pháp luật không chỉ thể hiện bản chất dân chủ của Nhà nước, mà còn có ý nghĩa tạo cơ sở pháp lý cho các cơ quan nhà nước, tổ chức, cá nhân tổ chức thực hiện quyền, con người và công dân tiếp cận, hưởng thụ quyền.

- Nhà nước tôn trọng quyền của công dân tham gia quản lý công việc của Nhà nước và xã hội. Thông qua việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ cụ thể, các thiết chế trong hệ thống chính trị thúc đẩy sự tôn trọng quyền tham gia quản lý công việc của Nhà nước và xã hội. Đặc biệt, pháp luật quy định trách nhiệm, nghĩa vụ của các thiết chế nhằm hạn chế sự lạm dụng quyền lực nhà nước vi phạm quyền tham gia quản lý công việc của Nhà nước và xã hội của công dân.

- Nhà nước bảo vệ, bảo đảm quyền của công dân tham gia quản lý công việc của Nhà nước và xã hội. Nhà nước phòng ngừa sự vi phạm quyền bằng việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn từ xa như nâng cao nhận thức, trang bị các kiến thức, kỹ năng, xây dựng môi trường sống an toàn, lành mạnh; thanh tra, kiểm tra, giám sát, xử lý vi phạm để giảm thiểu các nguy cơ vi phạm. Nhà nước hỗ trợ các điều kiện cần thiết cho công dân tiếp cận và hưởng thụ quyền tham gia quản lý công việc của Nhà nước và xã hội. Nếu quyền của công dân tham gia quản lý công việc của Nhà nước và xã hội bị xâm phạm, Nhà nước thực hiện các biện pháp can thiệp nhằm kịp thời ngăn chặn hành vi xâm hại và khôi phục quyền.

2. Thực trạng bảo đảm và thúc đẩy quyền của công dân tham gia quản lý nhà nước và xã hội thời gian qua

2.1. Kết quả đạt được

Sau 10 năm thực hiện Hiến pháp năm 2013, về cơ bản, Nhà nước đã thực hiện tốt trách nhiệm bảo đảm và thúc đẩy quyền của công dân tham gia quản lý công việc của Nhà nước và xã hội, thể hiện ở một số phương diện sau:

- Trên cơ sở quan điểm, đường lối của Đảng, Nhà nước đã kịp thời thể chế hóa thành các chính sách, văn bản pháp luật nhằm ghi nhận quyền tham gia quản lý công việc của Nhà nước và xã hội. Sau khi Hiến pháp năm 2013 được ban hành, nhiều văn bản pháp luật thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau đã được sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ hoặc ban hành mới nhằm ghi nhận và cụ thể hóa quyền này. Quốc hội đã bổ sung, sửa đổi hoặc ban hành mới nhiều văn bản luật, pháp lệnh liên quan đến việc bảo đảm quyền con người, quyền công dân, phù hợp với Hiến pháp năm 2013, trong đó, quy định rõ chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền và trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức và cán bộ, công chức trong việc bảo đảm, bảo vệ và thúc đẩy quyền tham gia quản lý công việc của Nhà nước và xã hội.

- Việc triển khai thực thi quyền của công dân tham gia quản lý công việc của Nhà nước và xã hội được các cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện nghiêm túc, toàn diện và cơ bản đầy đủ theo các nhiệm vụ được giao. Các cơ quan, tổ chức đã phát huy sự chủ động, sáng tạo, linh hoạt, tích cực theo dõi, đôn đốc tổ chức thực hiện nhiều biện pháp nhằm bảo đảm quyền tham gia quản lý công việc của Nhà nước và xã hội. Công tác theo dõi bảo đảm quyền được tiến hành bài bản, có trọng tâm, trọng điểm; công tác thanh tra, kiểm tra đạt được nhiều kết quả đáng khích lệ, đã kịp thời phát hiện các vi phạm quyền của nhiều cơ quan, tổ chức, cá nhân.

Các cơ quan nhà nước, các tổ chức và cán bộ, công chức đã bảo đảm những điều kiện cần thiết để công dân tiếp cận và thực hiện quyền một cách hiệu quả nhất. Quyền làm chủ của Nhân dân tiếp tục được củng cố và có những bước tiến quan trọng, quyền dân chủ trực tiếp thông qua hoạt động bầu cử, ứng cử; trưng cầu ý dân, bãi miễn đại biểu dân cử; việc thực hiện quyền lực nhân dân bằng dân chủ đại diện thông qua Quốc hội, Hội đồng nhân dân và các cơ quan khác của Nhà nước đạt những kết quả nhất định. Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021 - 2026, có quy mô lớn nhất từ trước đến nay với 99,60% cử tri cả nước tham gia bỏ phiếu, được tổ chức thực hiện thành công với số lượng cử tri tham gia bỏ phiếu cao nhất, gần 70 triệu lá phiếu tại 84.767 khu vực bỏ phiếu. Trong số gần 450 nghìn người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp, cử tri cả nước đã sáng suốt lựa chọn những người thực sự tiêu biểu, xứng đáng, có năng lực, trí tuệ, trình độ chuyên môn và phẩm chất đạo đức đại diện cho mình để tham gia vào các cơ quan quyền lực nhà nước từ trung ương tới địa phương. Trong đó, đại biểu là phụ nữ: 151 người, chiếm 30,26% (đạt cao nhất từ trước đến nay); đại biểu là người dân tộc thiểu số: 89 người, chiếm 17,84%[2].

Đối với hoạt động tham gia ý kiến vào quá trình xây dựng và hoạch định chính sách, việc tổ chức lấy ý kiến Nhân dân trong hoạt động lập pháp đã được thể chế hóa tại Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2020). Các cơ quan, tổ chức thực hiện trách nhiệm bảo đảm cho Nhân dân đóng góp ý kiến vào hoạt động xây dựng pháp luật của Nhà nước, đó là những đợt sinh hoạt chính trị rộng lớn không chỉ thể hiện vai trò của Nhà nước trong bảo đảm và thúc đẩy quyền mà còn thể hiện bản chất dân chủ của Nhà nước[3].

2.2. Một số hạn chế

Bên cạnh những kết quả đạt được, bảo đảm và thúc đẩy quyền của công dân tham gia quản lý công việc của Nhà nước và xã hội còn một số hạn chế nhất định:

- Một số quyền của công dân tham gia quản lý công việc của Nhà nước và xã hội chưa có luật điều chỉnh hoặc chưa quy định cụ thể; một số quy định chưa phù hợp với thực tiễn, thiếu tính khả thi, mâu thuẫn, chồng chéo; một số quy định trong các văn bản chưa phù hợp với thực tiễn cuộc sống, chưa bảo đảm điều kiện, nguồn lực thực hiện hoặc thực hiện sẽ gây lãng phí, tốn kém; quy định về một số hình thức dân chủ trực tiếp như lấy ý kiến và phản biện xã hội còn chưa thực sự hoàn thiện[4].

- Về các thiết chế bảo đảm và thúc đẩy quyền: Tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị chưa thực sự tinh gọn, nhiều tầng nấc, nhiều đầu mối; hiệu lực, hiệu quả hoạt động trên một số lĩnh vực chưa đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ. Việc đổi mới tổ chức, nhiệm vụ và thẩm quyền của một số cơ quan trong bộ máy nhà nước vẫn còn chưa thực sự đáp ứng yêu cầu. Cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước có trường hợp chưa được cụ thể hóa đầy đủ nên việc vận hành cụ thể còn lúng túng[5]. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng đã nhận định: “Năng lực của một số địa phương chưa đáp ứng yêu cầu; trong khi sự phối hợp giữa các bộ, ngành, địa phương thiếu chặt chẽ đã làm giảm hiệu lực, hiệu quả của việc phân cấp; việc công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình còn hạn chế”.

- Hoạt động giám sát, kiểm tra, phản biện xã hội trong thực thi pháp luật, chính sách hiệu quả chưa cao. Sự tham gia của người dân trong quá trình xây dựng và thực thi chính sách, pháp luật còn hạn chế nhất định[6].

Nghiên cứu cho thấy, những hạn chế trên do nhiều nguyên nhân, trong đó có những nguyên nhân như: Một số quy định pháp luật về quyền của công dân tham gia QLNN và xã hội chưa cụ thể, khó hiểu; cơ chế tổ chức pháp luật chưa rõ ràng, gây khó khăn cho các cơ quan, tổ chức trong quá trình bảo đảm quyền và Nhân dân khi tiếp cận, thụ hưởng; công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật về quyền công dân có nơi còn hình thức, chưa thực sự hiệu quả; một bộ phận cán bộ, công chức chưa đáp ứng yêu cầu về năng lực, trình độ, chưa thực sự có trách nhiệm trong bảo đảm và thúc đẩy quyền; các điều kiện bảo đảm thực hiện quyền trong lĩnh vực này chưa được quan tâm và đầu tư đúng mức; nhận thức và ý thức pháp luật của một bộ phận cán bộ, công chức và Nhân dân còn hạn chế nhất định...

3. Một số giải pháp bảo đảm và thúc đẩy quyền của công dân tham gia quản lý nhà nước và xã hội trong điều kiện hiện nay

Để bảo đảm và thúc đẩy quyền của công dân tham gia QLNN và xã hội ở Việt Nam trong tình hình mới, cần tập trung thực hiện một số giải pháp sau:

Một là, tiếp tục hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền của công dân tham gia QLNN và xã hội: Quyền của công dân tham gia QLNN và xã hội chỉ có thể được bảo đảm và thúc đẩy trên cơ sở hệ thống pháp luật chất lượng, hoàn thiện. Do vậy, trước hết, cần nâng cao chất lượng xây dựng pháp luật, bảo đảm xây dựng hệ thống pháp luật “dân chủ, công bằng, nhân đạo, đầy đủ, kịp thời, đồng bộ, thống nhất, công khai, minh bạch, ổn định, khả thi, dễ tiếp cận, đủ khả năng điều chỉnh các quan hệ xã hội, lấy quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của người dân, tổ chức, doanh nghiệp làm trung tâm”[7]. Cơ chế Nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước với các hình thức dân chủ trực tiếp, dân chủ đại diện, đặc biệt là dân chủ ở cơ sở cần nhanh chóng được thể chế hóa đầy đủ và thực hiện một cách hiệu quả trên thực tế. Việc Nhân dân tham gia thảo luận và kiến nghị với cơ quan nhà nước về các vấn đề của cơ sở, địa phương và cả nước cần phải thể chế hóa và thực hiện bảo đảm tính thực tế, tránh hình thức. Pháp luật cần quy định cụ thể cơ chế dân chủ trực tiếp của Nhân dân và có cơ chế bảo đảm thực thi hiệu quả.

Hai là, đẩy mạnh tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền của công dân tham gia QLNN và xã hội. Đây là biện pháp quan trọng nhằm trang bị cho cán bộ, công chức, viên chức và Nhân dân kiến thức về nội dung, bản chất quyền của công dân tham gia QLNN và xã hội. Từ sự nhận thức, hiểu biết về quyền của công dân tham gia QLNN và xã hội, mỗi cá nhân mới có ý thức để thực thi quyền theo đúng yêu cầu, nội dung của quyền. Công việc này đòi hỏi: (i) Nhà nước phải xây dựng được đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên có kiến thức pháp luật, có năng lực và kỹ năng truyền tải tốt. (ii) Xây dựng nội dung, chương trình, kế hoạch tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền chung và riêng phù hợp với các nhóm đối tượng. Chú ý nhóm đối tượng yếu thế, dễ bị tổn thương, đặc biệt Nhân dân ở miền núi, vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn, trình độ nhận thức còn hạn chế nhất định. (iii) Đổi mới nội dung, phương pháp, cách thức tuyên truyền, phổ biến pháp luật về quyền của công dân tham gia QLNN và xã hội. (iv) Xây dựng và thực hiện cơ chế phối hợp hiệu quả giữa các cơ quan, tổ chức trong quá trình tổ chức tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền của công dân tham gia QLNN và xã hội.

Ba là, đổi mới tổ chức bộ máy, nâng cao hiệu quả hoạt động của các thiết chế bảo đảm và thúc đẩy quyền của công dân tham gia QLNN và xã hội. Chủ thể có nghĩa vụ trong bảo đảm và thúc đẩy quyền là các thiết chế trong cơ chế bảo đảm quyền con người ở Việt Nam, do vậy, cần tinh gọn tổ chức bộ máy và nâng cao hiệu quả hoạt động của các thiết chế này. Đảng với tư cách là nhân tố lãnh đạo Nhà nước và xã hội, cần đổi mới phương thức lãnh đạo, xây dựng các chủ trương, nghị quyết làm cơ sở cho bảo đảm quyền của công dân tham gia QLNN và xã hội. Sắp xếp, tinh gọn, phân công rõ ràng chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền của các cơ quan nhà nước từ trung ương đến địa phương. Bảo đảm thực hiện tốt nguyên tắc phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp. Phát huy vai trò và thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội trong bảo đảm và thúc đẩy quyền của công dân tham gia QLNN và xã hội. Đặc biệt là chức năng phản biện và giám sát xã hội, đây chính là một trong những kênh để Nhân dân thực hiện quyền tham gia quản lý công việc của Nhà nước và xã hội khá hiệu quả. Bên cạnh đó, đổi mới tổ chức và nâng cao hiệu quả của truyền thông báo chí - một trong những thiết chế bảo đảm và thúc đẩy quyền con người rất hiệu quả hiện nay.

Bốn là, chú trọng đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức với ý nghĩa là chủ thể có nghĩa vụ bảo đảm quyền tham gia QLNN và xã hội. Thực hiện tốt công tác cán bộ, xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức có năng lực, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, có tinh thần trách nhiệm và phẩm chất đạo đức tốt, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ, đủ năng lực tham gia và thực hiện tốt các khâu của quá trình bảo đảm, thúc đẩy quyền. Quyền của công dân tham gia QLNN và xã hội là quyền dân sự, chính trị quan trọng, gắn liền trực tiếp với con người, cũng là quyền có ý nghĩa quan trọng đối với tổ chức, hoạt động của Nhà nước, do vậy, cán bộ, công chức cần có bản lĩnh chính trị, kiên định, vững vàng trong thực thi nhiệm vụ, có thái độ tôn trọng Nhân dân, tận tụy phục vụ Nhân dân.

Năm là, đầu tư nguồn lực vật chất, tài chính cho bảo đảm và thúc đẩy quyền của công dân tham gia QLNN và xã hội: Nhà nước cần hoạch định và thực hiện hiệu quả các chính sách phát triển kinh tế - xã hội, nhằm bảo đảm nguồn lực tài chính, vật chất cho bảo đảm thực thi quyền của công dân tham gia QLNN và xã hội, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của Nhân dân. Quyền tham gia QLNN và xã hội là quyền tổng hợp, trong đó, bao gồm nhiều nội dung quyền cụ thể đòi hỏi nguồn lực kinh phí, vật chất lớn. Do vậy, Nhà nước cần xây dựng và thực hiện hiệu quả các chính sách phát triển kinh tế - xã hội, tạo ra nguồn lực vật chất bảo đảm thực thi quyền của công dân tham gia QLNN và xã hội.

4. Kết luận

Sau 10 năm thi hành Hiến pháp năm 2013, quyền của công dân tham gia QLNN và xã hội đã được cụ thể hóa và bảo đảm, thúc đẩy trong đời sống xã hội. Những kết quả bảo đảm và thúc đẩy quyền của công dân tham gia QLNN và xã hội là minh chứng cho bản chất Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân. Trong điều kiện hiện nay, yêu cầu phát huy dân chủ, thu hút sự tham gia của công dân vào QLNN và xã hội ngày càng được đề cao. Nghiên cứu và thực hiện tốt các giải pháp trên sẽ bảo đảm và thúc đẩy quyền của công dân tham gia QLNN và xã hội ngày càng hiệu quả hơn, góp phần vào sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước./.

TS. Vũ Thị Hoài Phương

Học viện Chính trị khu vực I

[1]. Nghị quyết số 27/NQ-TW ngày 09/11/2022 của Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới.

[2]. https://quochoi.vn/tintuc/pages/tin-hoat-dong-cua-quoc-hoi.aspx?ItemID=56950&ref=luat khoa.com.

[3]. “... đã có 12.107.457 lượt ý kiến góp ý đối với Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi). Các nội dung được nhân dân quan tâm góp ý tập trung vào: Bồi thường, hỗ trợ, tái định cư với 1.227.238 lượt ý kiến; giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất với 1.064.464 lượt ý kiến; tài chính đất đai, giá đất với 1.035.394 lượt ý kiến; quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất với 1.008.494 lượt ý kiến”, https://baochinhphu.vn/hon-9-trieu-y-kien-dong-gop-cho-du-thao-luat-dat-dai-sua-doi-102230328165028415.htm.

[4]. https://tcnn.vn/news/detail/66199/Tiep-tuc-hoan-thien-phap-luat-ve-thuc-hien-dan-chu-truc-tiep.html.

[5]. Nghị quyết số 18-NQ/TW ngày 25/10/2017 của Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về “Một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả”.

[6]. https://danchuphapluat.vn/ban-ve-su-tham-gia-quan-tri-nha-nuoc-cua-nguoi-dan.

[7]. Nghị quyết số 27/NQ-TW ngày 09/11/2022 của Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới.

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 2 (Số 411), tháng 8/2024)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chuyển đổi số trong hoạt động ngân hàng đã làm thay đổi căn bản phương thức xác lập và thực hiện các hợp đồng, giao dịch. Nhiều giao dịch được thực hiện hoàn toàn trên môi trường điện tử thông qua Internet Banking, Mobile Banking, eKYC, chữ ký điện tử, xác thực OTP và các hệ thống ngân hàng lõi (Core Banking). Khi phát sinh tranh chấp, chứng cứ không chỉ là hồ sơ giấy mà còn là dữ liệu điện tử được lưu giữ trên các hệ thống thông tin của ngân hàng và của khách hàng. Mặc dù Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015) và Luật Giao dịch điện tử năm 2023 đã thiết lập cơ sở pháp lý quan trọng cho việc thừa nhận dữ liệu điện tử là nguồn chứng cứ. Tuy nhiên, việc xác định giá trị chứng minh của loại chứng cứ này vẫn còn nhiều khoảng trống cần tiếp tục hoàn thiện.
Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Ngày 25/6/2025, Quốc hội khóa XV đã thông qua Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 (Luật số 89/2025/QH15) đánh dấu bước quan trọng trong tư duy lập pháp, quản lý của Nhà nước đối với hệ thống ngân sách nhà nước, đáp ứng yêu cầu tổ chức mô hình chính quyền địa phương hai cấp trên phạm vi toàn quốc. Bài viết đề cập nội dung của Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 gắn với việc tổ chức mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, làm rõ những kết quả từ việc sửa đổi Luật phù hợp với thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội, tổ chức bộ máy hành chính hiện nay.
THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

Trong cấu trúc an ninh phi truyền thống hiện đại, an ninh năng lượng đóng vai trò là “mạch máu” sống còn, quyết định sức bền kinh tế và vị thế quốc gia. Bước vào giai đoạn 2026 - 2030, trước yêu cầu bứt phá tăng trưởng GDP ở mức hai con số gắn liền với cam kết lịch sử phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050, Việt Nam đứng trước bài toán vừa bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng trước biến động địa chính trị toàn cầu, vừa chủ động chuyển dịch năng lượng xanh theo chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước.
Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp, cải cách thủ tục hành chính tiếp tục được đẩy mạnh gắn với chuyển đổi số, phân cấp, phân quyền và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Kết quả thực hiện trong tháng 8/2026 cho thấy nhiều chuyển biến tích cực, đồng thời đặt ra yêu cầu tiếp tục đồng bộ dữ liệu, hoàn thiện quy trình và nâng cao hiệu quả phối hợp trong cải cách thủ tục hành chính.
Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp về tình hình, kết quả cải cách thủ tục hành chính (TTHC) tháng 8 và nhiệm vụ trọng tâm tháng 9/2026, cải cách TTHC đang chuyển sang một giai đoạn mới, trong đó dữ liệu và công nghệ số ngày càng giữ vai trò quan trọng trong quản trị và tổ chức thực hiện. Việc khai thác, kết nối, chia sẻ dữ liệu để tái cấu trúc quy trình, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục đang từng bước làm thay đổi phương thức quản lý, hướng tới nền hành chính hiện đại, hiệu quả, phục vụ tốt hơn người dân và doanh nghiệp.
Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bài viết phân tích yêu cầu tái cấu trúc phương thức bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong điều kiện tiếp tục tinh gọn tổ chức bộ máy và đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia. Từ cách tiếp cận hệ thống, bài viết làm rõ sự dịch chuyển từ bảo vệ bằng tuyên truyền tuyến tính sang bảo vệ bằng năng lực thể chế hóa, năng lực quản trị và hiệu quả tổ chức thực hiện; đồng thời phân tích vai trò của Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 66-NQ/TW) và Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 57-NQ/TW) như hai trục lớn của quá trình tái cấu trúc này. Trên cơ sở đó, bài viết khảo sát thực tiễn thi hành án dân sự, qua đó cho thấy “gọn hơn về tổ chức, mạnh hơn về quản trị” không chỉ là yêu cầu cải cách hành chính, mà còn là một phương thức củng cố niềm tin của Nhân dân vào hệ thống chính trị.
THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả không chỉ là giảm bớt hóa đơn tiền điện, mà còn trở thành “chìa khóa” bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, bảo vệ môi trường và hướng tới tăng trưởng xanh. Đứng trước những biến động phức tạp của chuỗi cung ứng toàn cầu, sự ra đời của các văn bản chỉ đạo chiến lược như Chỉ thị số 09/CT-TTg, Chỉ thị số 10/CT-TTg và Công điện số 27/CĐ-TTg từ Chính phủ đang tạo ra những bước ngoặt lớn. Cuộc cách mạng này đòi hỏi sự đồng bộ từ hoàn thiện hành lang pháp lý, đổi mới công nghệ, đến sự thay đổi tư duy và hành động của mỗi người dân, doanh nghiệp.
“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 2)

“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 2)

Du lịch xanh, du lịch bền vững đã trở thành xu hướng phổ biến tại Việt Nam, nhưng để tiến tới mục tiêu "du lịch Net Zero", ngành Du lịch cần có nhiều thay đổi theo chiều sâu: từ việc xây dựng những sản phẩm xanh sang xây dựng những doanh nghiệp lữ hành thực sự bền vững. Đây là cả một quá trình bởi phát triển "du lịch Net Zero" không chỉ liên quan đến môi trường mà còn đòi hỏi sự thay đổi đồng bộ về mô hình kinh doanh, sản phẩm, công nghệ, nhân lực, quan hệ với cộng đồng và cách thức ứng xử với các giá trị văn hóa.
“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 1)

“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 1)

Du lịch Việt Nam đang đứng trước một giai đoạn phát triển mới, trong đó yêu cầu tăng trưởng không thể tách rời nhiệm vụ bảo tồn và phát huy những giá trị làm nên bản sắc dân tộc. Nếu thiên nhiên tạo nên diện mạo của đất nước thì văn hóa chính là chiều sâu, là ký ức, là “hồn cốt” để Việt Nam trở thành một điểm đến khác biệt trong mắt du khách trong nước và quốc tế. Bởi vậy, phát triển du lịch hôm nay không chỉ là câu chuyện về lượng khách, doanh thu hay số lượng cơ sở lưu trú, mà còn là câu chuyện về cách gìn giữ di sản, bảo vệ cảnh quan, duy trì lối sống cộng đồng và trao truyền những giá trị văn hóa Việt Nam cho các thế hệ mai sau. Trong câu chuyện đó, doanh nghiệp lữ hành đóng vai trò trung tâm, là “cầu nối” đưa văn hoá Việt Nam đến với du khách.
Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Trong bối cảnh tai nạn lao động vẫn diễn biến phức tạp, chuyển đổi số đang mở ra khả năng thay đổi căn bản phương thức quản trị an toàn, vệ sinh lao động (ATVSLĐ) tại doanh nghiệp. Từ số hóa hoạt động huấn luyện, cấp chứng nhận điện tử đến ứng dụng trí tuệ nhân tạo, cảm biến và robot để nhận diện, cảnh báo sớm nguy cơ, vấn đề đặt ra hiện nay là cần tiếp tục hoàn thiện hành lang pháp lý để chuyển từ quản lý mang tính thủ tục, hậu kiểm sang quản trị chủ động, lấy phòng ngừa rủi ro làm trọng tâm.
Đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

Đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

Với mục tiêu đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, thành phố Hà Nội đặt trọng tâm vào đổi mới nội dung, hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật, tăng cường ứng dụng công nghệ số và xây dựng đội ngũ làm công tác phổ biến, giáo dục pháp luật am hiểu địa bàn, phong tục, tập quán và văn hóa của người dân nơi đây.
Con người – “Chìa khóa” đánh thức nguồn lực phát triển văn hóa trong kỷ nguyên vươn mình

Con người – “Chìa khóa” đánh thức nguồn lực phát triển văn hóa trong kỷ nguyên vươn mình

Trong bước chuyển mình của đất nước bước vào kỷ nguyên mới, văn hóa đang được đặt ở vị trí ngày càng quan trọng trong chiến lược phát triển quốc gia. Cùng với đó, con người được xác định là trung tâm của sự nghiệp phát triển văn hóa khi vừa là chủ thể sáng tạo, gìn giữ, vừa là lực lượng trực tiếp biến những giá trị ấy thành nguồn lực phát triển cho đất nước.
Quan điểm, định hướng mới của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai

Quan điểm, định hướng mới của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai

Ngày 16/6/2022, Ban chấp hành trung ương Đảng khóa XIII ban hành Nghị quyết số 18-NQ/TW về "Tiếp tục đổi mới, hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý và sử dụng đất, tạo động lực đưa nước ta trở thành nước phát triển có thu nhập cao" (Nghị quyết số 18-NQ/TW). Để hiện thực hóa mục tiêu đưa đất nước trở thành nước phát triển có thu nhập cao, trong thời điểm hiện tại, nhằm phù hợp với sự phát triển chung của đất nước, Hội nghị lần thứ ba, Ban chấp hành trung ương Đảng khóa XIV đã đưa ra những quan điểm, định hướng sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan tại Nghị quyết số 21-NQ/TW ngày 28/7/2026 (Nghị quyết số 21-NQ/TW) làm kim chỉ nam cho mọi hoạt động sửa đổi chính sách pháp luật sau này. Nghị quyết số 21-NQ/TW đã thể hiện những điểm mới trong chủ trương của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan.
Luật Thủ đô năm 2026: Mở rộng cơ hội đầu tư cho nhiều dự án

Luật Thủ đô năm 2026: Mở rộng cơ hội đầu tư cho nhiều dự án

Luật Thủ đô năm 2026 được Quốc hội thông qua ngày 23/4/2026 và có hiệu lực từ ngày 01/7/2026, tiếp tục hoàn thiện các cơ chế, chính sách đặc thù nhằm xây dựng và phát triển Thủ đô. Đáng chú ý, tại Điều 26 của Luật đã thiết lập khung chính sách tương đối toàn diện về thu hút đầu tư, ưu đãi, hỗ trợ đầu tư và phát triển doanh nghiệp, mở rộng cơ hội cho nhiều dự án trên địa bàn Thành phố được tiếp cận các chính sách ưu đãi về đất đai, thuế, tín dụng, hạ tầng, phát triển nhân lực và đổi mới sáng tạo.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Tóm tắt: Trong bối cảnh hệ thống pháp luật ngày càng phức tạp và thường xuyên thay đổi, việc tiếp cận, hiểu và sử dụng pháp luật trở thành thách thức đối với người dân. Mô hình phổ biến, giáo dục pháp luật hiện nay chủ yếu tập trung vào truyền đạt văn bản, chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu hỗ trợ người dân sử dụng pháp luật trong thực tiễn. Trên cơ sở phân tích xu hướng quốc tế về tiếp cận công lý lấy người dân làm trung tâm và ứng dụng công nghệ số, nghiên cứu đề xuất chuyển từ mô hình “phổ biến pháp luật” sang “hạ tầng tuân thủ phòng ngừa”, gắn phổ biến pháp luật với nhu cầu thực tiễn, cảnh báo sớm rủi ro pháp lý và hỗ trợ tra cứu, sử dụng pháp luật hiệu quả trong môi trường số.

Theo dõi chúng tôi trên: