Thứ sáu 16/01/2026 00:46
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Bảo đảm quyền yêu cầu thi hành án dân sự - Góc nhìn từ thực tiễn

Quyền yêu cầu thi hành án là một quyền cơ bản và quan trọng của người được thi hành án, người phải thi hành án. Thực hiện tốt quyền yêu cầu thi hành án không chỉ bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự mà còn góp phần khẳng định tính nghiêm minh của pháp luật. Trong phạm vi bài viết, tác giả phân tích một số vấn đề pháp lý liên quan đến quyền yêu cầu thi hành án và thực tiễn thực hiện quyền yêu cầu thi hành án, từ đó đưa ra một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật liên quan đến vấn đề này.

1. Quyền yêu cầu thi hành án

Quyền yêu cầu thi hành án cũng thuộc nội hàm các quyền cơ bản của công dân được quy định tại Hiến pháp, được thể hiện dưới hình thức các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội như: Quyền có nơi ở hợp pháp, quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở, quyền sở hữu về tài sản hợp pháp[1]... Các quyền này được Nhà nước công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật[2]. Theo quy định tại khoản 3 Điều 8 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì quyết định của Tòa án, cơ quan có thẩm quyền khác theo quy định của pháp luật là một trong những căn cứ xác lập quyền dân sự. Do đó, để khôi phục lại quyền dân sự đã bị xâm hại, trên cơ sở phán quyết của Tòa án, người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền yêu cầu thi hành án để bảo vệ quyền dân sự của mình[3].

Theo Điều 26 Luật Thi hành án dân sự năm 2008, được sửa đổi, bổ sung các năm 2014, 2018, 2020, 2022 (Luật Thi hành án dân sự), khi ra bản án, quyết định thì Tòa án, Chủ tịch Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia, Hội đồng xử lý vụ việc hạn chế cạnh tranh, Hội đồng giải quyết khiếu nại quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh, Trọng tài thương mại phải “giải thích” cho đương sự, đồng thời “ghi rõ” trong bản án, quyết định về quyền yêu cầu thi hành án, nghĩa vụ thi hành án, thời hiệu yêu cầu thi hành án. Quy định này cũng tương đồng với quy định tại Điều 483 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015: Trường hợp trong bản án, quyết định của Tòa án có quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 482 của Bộ luật này thì trong phần quyết định của bản án, quyết định của Tòa án phải ghi rõ nội dung về quyền yêu cầu thi hành án, nghĩa vụ thi hành án, thời hiệu yêu cầu thi hành án. Khi ra bản án, quyết định, Tòa án phải giải thích rõ cho đương sự biết về quyền yêu cầu thi hành án, nghĩa vụ thi hành án, thời hiệu yêu cầu thi hành án theo quy định của Luật Thi hành án dân sự.

Quy định về trách nhiệm hướng dẫn quyền yêu cầu thi hành án dân sự của các cơ quan ban hành phán quyết là rất quan trọng và cần thiết, góp phần nâng cao trách nhiệm của các cơ quan có thẩm quyền ban hành bản án, quyết định, giúp đương sự hiểu rõ và thực hiện đúng các quyền, nghĩa vụ của mình trong giai đoạn thi hành án dân sự. Trong thực tiễn, đã có những trường hợp quyền yêu cầu thi hành án bị ảnh hưởng, thậm chí là không được thực hiện chỉ vì đương sự không biết về quyền yêu cầu thi hành án của mình. Điều này xuất phát từ nhiều nguyên nhân, có thể do lỗi của Tòa án đã ra bản án, quyết định không giải thích cho đương sự về quyền yêu cầu thi hành án; cũng có thể do nhận thức hạn chế, đương sự không biết đến quyền yêu cầu thi hành án vì cho rằng bản án, quyết định tự động sẽ được thi hành trên thực tế hoặc người được thi hành án đợi người phải thi hành án chấp hành xong hình phạt tù thì mới yêu cầu thi hành án… dẫn đến hết thời hiệu yêu cầu thi hành án mà không có căn cứ nào để chứng minh được là do trở ngại khách quan hoặc do sự kiện bất khả kháng dẫn đến không thể yêu cầu thi hành án đúng hạn[4].

Tuy nhiên, quy định về trách nhiệm hướng dẫn quyền yêu cầu thi hành án vẫn còn một số điểm chưa thống nhất với những quy định pháp luật có liên quan. Cụ thể như:

Theo quy định tại Điều 61 Luật Trọng tài thương mại năm 2010 thì nội dung của phán quyết trọng tài chỉ ghi “thời hạn thi hành phán quyết” mà không quy định phải ghi rõ về quyền yêu cầu thi hành phán quyết. Do đó, cần xem xét bổ sung quy định trọng tài thương mại phải “giải thích” đồng thời phải “ghi rõ” trong phán quyết của trọng tài thương mại về quyền yêu cầu thi hành phán quyết, nghĩa vụ thi hành phán quyết, thời hiệu yêu cầu thi hành phán quyết của bên được thi hành phán quyết, bên phải thi hành phán quyết để thống nhất với các quy định của Luật Thi hành án dân sự.

Đối với quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh, Điều 94 Luật Cạnh tranh năm 2018 quy định về các nội dung chính của quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh lại không quy định việc ghi rõ trong quyết định về quyền yêu cầu thi hành quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh, nghĩa vụ thi hành, thời hiệu yêu cầu thi hành như Luật Thi hành án dân sự đã quy định. Do đó, cần xem xét bổ sung quy định trách nhiệm của Chủ tịch Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia, Hội đồng xử lý vụ việc hạn chế cạnh tranh, Hội đồng giải quyết khiếu nại quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh trong việc giải thích cho đương sự về quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền thi hành quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh, nghĩa vụ thi hành án, thời hiệu yêu cầu thi hành án để phù hợp với các quy định tại Bộ luật Dân sự và Luật Thi hành án dân sự. Đối với trường hợp quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh có liên quan đến tài sản của bên phải thi hành thì phải giải thích rõ về thẩm quyền thi hành án của cơ quan thi hành án dân sự.

2. Thời hiệu yêu cầu thi hành án

Thời hiệu là thời hạn do luật quy định mà khi kết thúc thời hạn đó thì phát sinh hậu quả pháp lý đối với chủ thể theo điều kiện do luật quy định[5]. Nhằm bảo đảm tính ổn định của các quan hệ xã hội, đồng thời bảo đảm tính khả thi và hiệu quả trong hoạt động thi hành án, ngay từ Pháp lệnh Thi hành án dân sự năm 1993 (Điều 21), Pháp lệnh Thi hành án dân sự năm 2004 (Điều 25) đã có quy định về thời hiệu yêu cầu thi hành án. Theo khoản 5 Điều 3 Luật Thi hành án dân sự thì thời hiệu yêu cầu thi hành án là thời hạn mà người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự tổ chức thi hành án; hết thời hạn đó thì mất quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự tổ chức thi hành án theo quy định của Luật Thi hành án dân sự.

Khoản 1 Điều 30 Luật Thi hành án dân sự quy định: “Trong thời hạn 05 năm, kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền ra quyết định thi hành án”. Theo đó, thời điểm bắt đầu thực hiện quyền yêu cầu thi hành án dân sự của đương sự được bắt đầu từ khi bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật. Tuy nhiên, việc quy định quyền yêu cầu thi hành án chỉ đặt ra khi bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật là chưa đầy đủ và chưa thống nhất với quy định của Luật Thi hành án dân sự.

Khoản 2 Điều 2 Luật Thi hành án dân sự quy định về những bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm được thi hành ngay, mặc dù có thể bị kháng cáo, kháng nghị[6]. Theo đó, đương sự có thể yêu cầu thi hành án đối với các trường hợp này không cần bản án, quyết định phát sinh hiệu lực pháp luật. Việc chỉ quy định thời hiệu yêu cầu thi hành án dân sự được tính từ thời điểm bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật là chưa đầy đủ. Do đó, cần bổ sung quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự trường hợp ngoại lệ đối với các bản án, quyết định được thi hành ngay mặc dù có thể bị kháng cáo, kháng nghị (bản án, quyết định chưa có hiệu lực pháp luật) để tương tích với các quy định pháp luật khác có liên quan.

Đối với trường hợp người phải thi hành án là phạm nhân, khoản 6 Điều 4 Nghị định số 62/2015/NĐ-CP ngày 18/7/2015 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thi hành án dân sự quy định về trường hợp phạm nhân là người phải thi hành án, thân nhân của họ hoặc người được họ ủy quyền yêu cầu thi hành án tự nguyện nộp tiền, tài sản thi hành án khi đã hết thời hiệu yêu cầu thi hành án. Đây là một quy định rất tiến bộ, tạo điều kiện cho người phải thi hành án thực hiện nghĩa vụ, trách nhiệm của mình và có cơ hội được hưởng chính sách khoan hồng của Đảng và Nhà nước trong các đợt xét giảm án hình sự. Tuy nhiên, ngoài các trường hợp người phải thi hành án là phạm nhân, cũng có những trường hợp người phải thi hành án vì những lý do khác nhau muốn thi hành nghĩa vụ thi hành án của mình sau khi hết thời hiệu yêu cầu thi hành án, thì pháp luật thi hành án dân sự lại chưa có quy định cụ thể.

Theo tác giả, việc quy định thời hiệu yêu cầu thi hành án dân sự là cần thiết, tuy nhiên, thời hiệu này chỉ nên áp dụng đối với người được thi hành án, còn đối với nguời phải thi hành án thì không nên quy định thời hiệu.

Trên tinh thần tôn trọng nguyên tắc tự nguyện, tự do thỏa thuận của đương sự và khuyến khích đương sự tự nguyện thi hành án[7], đồng thời nhằm nâng cao hiệu quả tổ chức thi hành án, có thể xem xét tách riêng quy định về thời hiệu yêu cầu thi hành án của người phải thi hành án và người được thi hành án. Đối với người được thi hành án có thể quy định giữ nguyên thời hiệu yêu cầu thi hành án dân sự là 05 năm kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật[8]; còn đối với người phải thi hành án có thể xem xét không quy định thời hiệu yêu cầu thi hành án. Bởi vì quy định này không chỉ làm lợi cho người được thi hành án, người phải thi hành án, mà còn giúp bản án, quyết định được thi hành một cách triệt để, bảo đảm tốt nhất quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự.

3. Thủ tục yêu cầu thi hành án

Một là, về ủy quyền yêu cầu thi hành án.

Theo quy định tại khoản 1 Điều 31 Luật Thi hành án dân sự, bên cạnh cách thức quan trọng là tự mình thực hiện quyền yêu cầu thi hành án, đương sự còn có thể thực hiện quyền yêu cầu thi hành án thông qua việc ủy quyền. Cá nhân, người đại diện theo pháp luật của pháp nhân có thể ủy quyền cho người khác thực hiện việc yêu cầu thi hành án. Việc ủy quyền thi hành án được thực hiện theo các quy định tại Bộ luật Dân sự năm 2015. Tuy nhiên, hiện nay, Luật Thi hành án dân sự không có quy định cụ thể về hình thức ủy quyền trong thi hành án dân sự. Để có căn cứ giải quyết quyền và lợi ích hợp pháp của các bên đương sự, nhằm tránh khiếu nại và có căn cứ lưu vào hồ sơ thi hành án, cần quy định rõ ràng về hình thức và nội dung ủy quyền trong thi hành án dân sự.

Hai là, về cách thức yêu cầu thi hành án.

Khoản 1, khoản 3 Điều 31 Luật Thi hành án dân sự quy định đương sự hoặc người được đương sự ủy quyền yêu cầu thi hành án có thể thực hiện quyền yêu cầu thi hành án bằng một trong các cách thức sau: (i) Đến cơ quan thi hành án dân sự để trực tiếp nộp đơn yêu cầu thi hành án bằng văn bản (ii) Trình bày yêu cầu thi hành án bằng lời nói; (iii) Gửi đơn qua bưu điện. Việc lựa chọn cách thức nào trong ba cách trên là do đương sự quyết định phù hợp với ý chí của mình mà không bị ràng buộc bởi điều kiện cụ thể nào.

Trong điều kiện công nghệ thông tin phát triển như hiện nay, cần xem xét bổ sung quy định chính thức về các hình thức yêu cầu thi hành án trực tuyến thông qua mạng internet, cho phép sử dụng chữ ký số, fax, thư điện tử gửi kèm các tài liệu có liên quan khi yêu cầu thi hành án… Việc thể chế hóa các hình thức yêu cầu thi hành án này là cần thiết và phù hợp với xu thế hội nhập hiện nay.

Ba là, về tài liệu kèm theo yêu cầu thi hành án.

Khoản 1 Điều 31 Luật Thi hành án dân sự quy định: “Người yêu cầu phải nộp bản án, quyết định, tài liệu khác có liên quan”. Về các tài liệu có liên quan, hiện nay Luật Thi hành án dân sự và các văn bản hướng dẫn thi hành chưa có quy định cụ thể đó là những tài liệu gì. Trên thực tế, các tài liệu khác mà đương sự hoặc người được ủy quyền phải cung cấp có thể là: Giấy tờ tùy thân (căn cước công dân nếu là cá nhân, giấy chứng minh là người có thẩm quyền đại diện cho tổ chức), Giấy ủy quyền (nếu có sự ủy quyền)...

Đối với các tài liệu kèm theo khi yêu cầu thi hành phán quyết của trọng tài thương mại[9], theo Điều 66 Luật Trọng tài thương mại năm 2010, hết thời hạn thi hành phán quyết trọng tài mà bên phải thi hành phán quyết không tự nguyện thi hành và cũng không yêu cầu hủy phán quyết trọng tài theo quy định tại Điều 69 Luật Trọng tài thương mại năm 2010, bên được thi hành phán quyết có quyền làm đơn yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền thi hành. Đối với phán quyết của trọng tài vụ việc, bên được thi hành có quyền làm đơn yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền thi hành phán quyết trọng tài sau khi phán quyết được đăng ký tại Tòa án theo quy định tại Điều 62 Luật Trọng tài thương mại năm 2010. Như vậy, khi nộp đơn yêu cầu thi hành phán quyết trọng tài, người yêu cầu phải chứng minh tình trạng pháp lý của phán quyết, tuy nhiên, việc xác định tình trạng pháp lý của phán quyết trọng tài là trách nhiệm của cơ quan thi hành án dân sự hay của đương sự lại chưa được quy định rõ.

Đối với quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh, theo quy định của Luật Thi hành án dân sự thì đối tượng được tổ chức thi hành án là quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh khi đáp ứng đủ điều kiện: Sau 30 ngày, kể từ ngày quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh có hiệu lực pháp luật mà đương sự không tự nguyện thi hành, không khởi kiện tại Tòa án. Tuy nhiên, Luật Thi hành án dân sự cũng chưa quy định cụ thể trách nhiệm chứng minh việc quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh có bị khởi kiện tại Tòa án là trách nhiệm của đương sự hay của cơ quan thi hành án dân sự. Do đó, khi yêu cầu thi hành án đối với phán quyết trọng tài và quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh vẫn còn có nhiều quan điểm khác nhau về các tài liệu nộp kèm theo khi yêu cầu thi hành án.

Về hình thức của các loại giấy tờ kèm theo yêu cầu thi hành án, hiện nay, Luật Thi hành án dân sự và các văn bản hướng dẫn cũng chưa quy định các tài liệu này bắt buộc phải là “bản chính” hay có thể chỉ là “bản sao” và bản sao thì cơ quan nào thực hiện việc chứng thực bản sao được công nhận, gây ra khó khăn cho đương sự khi yêu cầu thi hành án và việc áp dụng pháp luật tại các cơ quan thi hành án dân sự cũng chưa thống nhất.

ThS. Hoàng Thị Thanh Hoa

Khoa Đào tạo các chức danh thi hành án dân sự, Học viện Tư pháp

NCS. Trường Đại học Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội

Ảnh: internet


[1] Khoản 1, khoản 2 Điều 32 Hiến pháp năm 2013.

[2] Khoản 1 Điều 14 Hiến pháp năm 2013.

[3] ThS. Hoàng Thị Thanh Hoa; Hồ Quân Chính, Nguyễn Văn Nghĩa, sách “Bình luận Luật Thi hành án dân sự”, Nxb. Tư pháp, 2019.

[4] Lê Anh Thọ, Bàn về quyền yêu cầu thi hành án và thời hiệu yêu cầu thi hành án của người phải thi hành án dân sự, http://tks.edu.vn/thong-tin-khoa-hoc/chi-tiet/81/534, truy cập ngày 20/4/2024.

[5] Điều 149 Bộ luật Dân sự năm 2015.

[6] Bao gồm: Bản án, quyết định về cấp dưỡng, trả lương, trả công lao động, trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm, trợ cấp mất sức lao động hoặc bồi thường thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, tổn thất về tinh thần, nhận người lao động trở lại làm việc; quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời.

[7] Điều 9 Luật Thi hành án dân sự.

[8] Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

[9] Hoàng Thị Thanh Hoa, tài liệu kèm theo yêu cầu thi hành án dân sự: Cần hướng dẫn cụ thể, http://baophapluat.vn/hoi-dap-phap-luat/tai-lieu-kem-theo-yeu-cau-thi-hanh-an-dan-su-can-huong-dan-cu-the-398282.html, đăng ngày 18/6/2018.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Việc điều chỉnh cơ cấu và phân bổ giới thiệu người ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) được thực hiện trên cơ sở điều chỉnh lần thứ nhất của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về cơ cấu, thành phần và số lượng được phân bổ cho từng cơ quan, tổ chức, đơn vị. Trên cơ sở đó, Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tổ chức hội nghị hiệp thương có trách nhiệm thông báo phân bổ và hướng dẫn nội dung, trình tự, thủ tục giới thiệu người ứng cử, bảo đảm việc lập hồ sơ ứng cử được thực hiện theo quy định pháp luật.
Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Từ năm 2026, các quy định liên quan đến thu nhập từ kinh doanh, từ tiền lương, tiền công của cá nhân cư trú tại Luật Thuế thu nhập cá nhân số 109/2025/QH15 có hiệu lực, với nhiều chính sách mới như tăng mức giảm trừ gia cảnh lên 15,5 triệu đồng, nâng ngưỡng doanh thu chịu thuế của hộ, cá nhân kinh doanh lên 500 triệu đồng/năm giúp giảm gánh nặng đối với người nộp thuế.
Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Luật Thương mại điện tử số 122/2025/QH15 được Quốc hội thông qua ngày 10/12/2025, gồm 07 chương, 41 điều, được xây dựng theo định hướng kiến tạo phát triển, tăng cường hiệu quả quản lý và bảo vệ lợi ích chính đáng của doanh nghiệp, người tiêu dùng với nhiều nội dung mới, nổi bật. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2026.
Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Hội đồng nhân dân (HĐND) cấp tỉnh, cấp xã và bố trí đại biểu HĐND hoạt động chuyên trách nhiệm kỳ 2026 - 2031 là nội dung quan trọng nhằm bảo đảm tổ chức bộ máy HĐND các cấp tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu sắp xếp đơn vị hành chính và định hướng cải cách của Đảng và Nhà nước. Những quy định này được thực hiện thống nhất theo Nghị quyết số 106/2025/UBTVQH15 ngày 16/10/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) và các văn bản có liên quan.
Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là một trong những quyền chính trị cơ bản của công dân, đồng thời là khâu có ý nghĩa quyết định đối với chất lượng hoạt động của cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Pháp luật về bầu cử không chỉ bảo đảm quyền ứng cử của công dân mà còn đặt ra những tiêu chuẩn, điều kiện, giới hạn và cơ chế sàng lọc chặt chẽ nhằm lựa chọn được những người đủ đức, đủ tài, xứng đáng đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân.
Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức theo các quy định chặt chẽ của Hiến pháp và pháp luật về bầu cử, trong đó xác định rõ tổng số đại biểu được bầu, cơ cấu, thành phần người ứng cử cũng như nguyên tắc phân bổ đại biểu ở từng địa phương. Bài viết làm rõ số lượng ĐBQH khóa XVI dự kiến được bầu, các yêu cầu về tỷ lệ đại diện của phụ nữ, người dân tộc thiểu số và những nguyên tắc cụ thể để xác định số lượng đại biểu HĐND các cấp, qua đó giúp cử tri hiểu rõ hơn cơ sở pháp lý và ý nghĩa của việc bảo đảm tính đại diện, dân chủ trong bầu cử.
Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Theo quy định tại Điều 7 Hiến pháp năm 2013 và Điều 1 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015, việc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tiến hành theo các nguyên tắc bầu cử phổ thông; nguyên tắc bình đẳng trong bầu cử; nguyên tắc bầu cử trực tiếp; nguyên tắc bỏ phiếu kín. Việc quán triệt và thực hiện nghiêm các nguyên tắc này không chỉ bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân, mà còn là thước đo quan trọng để đánh giá một cuộc bầu cử dân chủ, đúng pháp luật.
Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là những người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân trong bộ máy quyền lực nhà nước. Trên cơ sở Hiến pháp năm 2013, được sửa đổi, bổ sung năm 2025, Luật Tổ chức Quốc hội và Luật Tổ chức chính quyền địa phương quy định rõ hệ thống quyền hạn, trách nhiệm cũng như cơ chế miễn trừ đối với đại biểu nhằm bảo đảm thực hiện đầy đủ chức năng lập pháp, giám sát, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và địa phương, đồng thời tăng cường trách nhiệm của đại biểu dân cử trước cử tri và xã hội.
Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số là yêu cầu cấp thiết trong tiến trình xây dựng xã hội phát triển toàn diện và bền vững ở Việt Nam hiện nay. Trên cơ sở phân tích lý luận và khảo sát thực tiễn tại tỉnh Gia Lai, nơi có 24,76% dân số là người dân tộc thiểu số thuộc 44 thành phần, bài viết đánh giá việc thực hiện quyền này theo khung phân tích của Bình luận chung số 21 của Liên hợp quốc, gồm ba tiêu chí: tính sẵn có, khả năng tiếp cận và tính chấp nhận được. Kết quả cho thấy, còn tồn tại hạn chế về thiết chế văn hóa cơ sở, chênh lệch vùng miền và mức độ tham gia còn hình thức. Từ đó, bài viết đề xuất giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả, bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số tại tỉnh Gia Lai.
Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu cải cách toàn diện, đẩy mạnh hội nhập quốc tế và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, việc nâng cao vai trò lãnh đạo toàn diện, trực tiếp của Đảng đối với hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp có ý nghĩa chiến lược và cấp thiết.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bài viết nêu lên vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước và đề xuất một số giải pháp nâng cao vai trò của Bộ Tư pháp trong giai đoạn mới.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Trong quá trình phát triển của đất nước, đặc biệt, trong 10 năm gần đây, với sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế - xã hội Việt Nam, việc xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật là công tác đặc biệt quan trọng. Với sự nỗ lực không ngừng, Bộ Tư pháp đã cùng các bộ, ngành làm tốt công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và đưa pháp luật vào cuộc sống, góp phần quan trọng trong thực hiện thành công công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế, giữ vững chủ quyền quốc gia, an ninh, trật tự xã hội, nâng cao đời sống vật chất và văn hóa, tinh thần của Nhân dân, bảo đảm công bằng xã hội, xây dựng xã hội dân chủ, văn minh theo đường lối của Đảng và Nhà nước. Để đạt được những thành tựu đó, nhiều hoạt động đã được triển khai đồng bộ, từ công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL); đặc biệt, đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực làm công tác xây dựng, thi hành pháp luật. Bộ Tư pháp đã chủ động, tích cực phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, trong đó có Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trong công tác xây dựng thể chế, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác pháp chế.
Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Với chức năng là cơ quan của Chính phủ, thực hiện quản lý nhà nước về xây dựng và thi hành pháp luật, Bộ Tư pháp đã và đang đóng góp, góp phần quan trọng trong kiến tạo nền tảng pháp lý vững chắc, phục vụ mục tiêu phát triển đất nước; đồng thời, đóng vai trò chủ đạo trong xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ pháp luật, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và thúc đẩy tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Những kết quả đạt được thể hiện qua các nội dung chính sau:
Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Ngày 01/01/2004, tỉnh Lai Châu chính thức được chia tách thành tỉnh Điện Biên và Lai Châu. Đây cũng là thời điểm Sở Tư pháp tỉnh Lai Châu (mới) được thành lập và đi vào hoạt động. Trải qua hơn 21 năm xây dựng và phát triển, ngành Tư pháp tỉnh Lai Châu đã vượt qua khó khăn, thử thách, ngày càng lớn mạnh và khẳng định được vai trò, vị thế của mình.
Công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế - Những khó khăn, vướng mắc và kiến nghị hoàn thiện thể chế từ góc nhìn của luật sư

Công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế - Những khó khăn, vướng mắc và kiến nghị hoàn thiện thể chế từ góc nhìn của luật sư

Trợ giúp pháp lý (TGPL) là một trong những chính sách xã hội có ý nghĩa nhân văn sâu sắc của Đảng và Nhà nước ta trong việc bảo đảm quyền được tiếp cận công lý bình đẳng của mọi tầng lớp Nhân dân, đặc biệt là nhóm những người yếu thế trong xã hội. Thông qua các hoạt động TGPL, người yếu thế trong xã hội được cung cấp, sử dụng dịch vụ pháp lý miễn phí khi có tranh chấp, góp phần nâng cao ý thức pháp luật và phòng ngừa vi phạm pháp luật. Trong hoạt động TGPL, đội ngũ luật sư đóng vai trò then chốt, là lực lượng trực tiếp thực hiện việc tư vấn, đại diện và bào chữa cho các đối tượng yếu thế. Tuy nhiên, thực tế cho thấy công tác TGPL còn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc, cả về cơ chế, nguồn lực và phương thức triển khai.

Theo dõi chúng tôi trên: