Thứ sáu 07/08/2026 18:14
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Bảo đảm thực hiện quyền khiếu nại của viên chức trong các đơn vị sự nghiệp công lập

Bài viết phân tích các quy định pháp luật về khiếu nại và giải quyết khiếu nại của viên chức trong các đơn vị sự nghiệp công lập cũng như các yêu cầu cần thực hiện để bảo đảm quyền khiếu nại của viên chức trong các đơn vị sự nghiệp công lập.


1. Quy định của pháp luật hiện hành về khiếu nại và giải quyết khiếu nại trong đơn vị sự nghiệp công lập

Khiếu nại là một trong các quyền hiến định đã được ghi nhận trong Hiến pháp. Điều 30 Hiến pháp năm 2013 quy định: “Mọi người có quyền khiếu nại, tố cáo với cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền về những việc làm trái pháp luật của cơ quan, tổ chức, cá nhân”. Một trong những điểm mới rất tiến bộ của Hiến pháp năm 2013 so với các bản Hiến pháp trước đây là đã nâng quyền khiếu nại từ quyền công dân lên một tầm mới là quyền con người.

Cụ thể hóa quy định Hiến pháp về quyền khiếu nại, Quốc hội đã ban hành Luật Khiếu nại (năm 2011) để quy định chi tiết về khiếu nại và giải quyết khiếu nại đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính của cơ quan hành chính nhà nước, của người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước; khiếu nại và giải quyết khiếu nại quyết định kỷ luật cán bộ, công chức; tiếp công dân; quản lý và giám sát công tác giải quyết khiếu nại. Bên cạnh đó, Chính phủ đã ban hành nhiều văn bản để hướng dẫn thực hiện việc khiếu nại và giải quyết khiếu nại, trong đó có quy định về khiếu nại và giải quyết khiếu nại đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính trong đơn vị sự nghiệp công lập.

Phân tích quy định của Luật Khiếu nại năm 2011 tác giả nhận thấy đạo luật này không quy định trực tiếp về khiếu nại và giải quyết khiếu nại trong đơn vị sự nghiệp công lập mà sử dụng quy định chung về giải quyết khiếu nại trong cơ quan hành chính để giải quyết vấn đề này. Cụ thể, khoản 2 Điều 3 Luật Khiếu nại năm 2011 quy định khiếu nại và giải quyết khiếu nại đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính trong đơn vị sự nghiệp công lập được áp dụng theo quy định của Luật này. Các quy định chi tiết về khiếu nại và giải quyết khiếu nại trong đơn vị sự nghiệp công lập hiện nay chỉ được quy định tại Chương 2 Nghị định số 75/2012/NĐ-CP ngày 03/10/2012 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Khiếu nại (Nghị định số 75/2012/NĐ-CP).

Theo hướng dẫn của Nghị định số 75/2012/NĐ-CP, khiếu nại quyết định hành chính, hành vi hành chính trong đơn vị sự nghiệp công lập là việc công dân, cơ quan, tổ chức, công chức, viên chức, người lao động trong đơn vị sự nghiệp công lập theo thủ tục được quy định tại Luật Khiếu nại và Nghị định này đề nghị đơn vị sự nghiệp công lập, người có thẩm quyền trong đơn vị đó xem xét lại quyết định hành chính, hành vi hành chính khi có căn cứ cho rằng quyết định, hành vi đó là trái pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của mình[1].

Về thẩm quyền giải quyết khiếu nại trong đơn vị sự nghiệp công lập, Nghị định số 75/2012/NĐ-CP quy định rõ người đứng đầu đơn vị sự nghiệp công lập có thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần đầu đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính của mình, của công chức, viên chức, người lao động do mình quản lý trực tiếp. Người đứng đầu đơn vị sự nghiệp công lập cấp trên trực tiếp có thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần hai đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính mà người đứng đầu đơn vị sự nghiệp công lập đã giải quyết lần đầu mà còn khiếu nại; đối với đơn vị sự nghiệp công lập không có đơn vị sự nghiệp công lập cấp trên trực tiếp thì người đứng đầu cơ quan nhà nước quản lý đơn vị sự nghiệp công lập đó có thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần hai. Trường hợp khiếu nại đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính của đơn vị sự nghiệp công lập do Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập thì Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ quản lý nhà nước về ngành, lĩnh vực là người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần hai[2].

Về vấn đề quyền, nghĩa vụ của người khiếu nại, người bị khiếu nại, người giải quyết khiếu nại, thời hiệu khiếu nại, thời hạn giải quyết khiếu nại, trình tự, thủ tục giải quyết khiếu nại quyết định hành chính, hành vi hành chính trong đơn vị sự nghiệp công lập, Nghị định số 75/2012/NĐ-CP quy định sẽ thực hiện theo quy định của Luật Khiếu nại và Nghị định này[3].

2. Một số kết quả tích cực trong quá trình thực hiện pháp luật về khiếu nại và giải quyết khiếu nại tại các đơn vị sự nghiệp công lập

Một là, bảo đảm được quyền và lợi ích của người khiếu nại trên cơ sở quy định của pháp luật. Luật Khiếu nại năm 2011 là văn bản đầu tiên đề cập đến việc khiếu nại và giải quyết khiếu nại trong các đơn vị sự nghiệp công lập. Do đó, sự ra đời của đạo luật này cùng với Nghị định số 75/2012/NĐ-CP là khung pháp lý quan trọng để viên chức tiến hành khiếu nại các quyết định hành chính, hành vi hành chính trong các đơn vị sự nghiệp công lập nhằm bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

Hai là, hầu hết các đơn vị sự nghiệp công lập đã xây dựng được quy trình giải quyết khiếu nại riêng tại đơn vị sự nghiệp công lập, nếu như trước đây việc giải quyết khiếu nại ở các đơn vị sự nghiệp công lập còn gặp nhiều khó khăn vì chưa xây dựng được quy trình khiếu nại phù hợp với đặc thù của từng đơn vị thì đến nay gần 85% đơn vị sự nghiệp công lập đã có quy trình giải quyết khiếu nại (các cơ quan chủ quản đã ban hành các văn bản hướng dẫn để các đơn vị sự nghiệp công lập xây dựng quy trình giải quyết khiếu nại cho đơn vị như: Thông tư số 40/2013/TT-BGDĐT ngày 18/12/2013 của Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định về tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, giải quyết tố cáo của Bộ Giáo dục và Đào tạo; Quyết định số 868/QĐ-BHXH ngày 08/6/2016 quy định quy trình giải quyết khiếu nại, tố cáo và tiếp công dân thuộc lĩnh vực bảo hiểm xã hội…).

Ba là, các đơn vị sự nghiệp công lập đã thành lập ra các bộ phận chuyên môn để đảm trách công tác tiếp nhận khiếu nại như: Phòng Thanh tra, Ban Kiểm tra, Phòng Pháp chế… để tiếp nhận và hỗ trợ thủ trưởng của đơn vị sự nghiệp công lập trong việc giải quyết khiếu nại.

Bốn là, một số đơn vị sự nghiệp công lập đã chú trọng công tác nâng cao chuyên môn nghiệp vụ cho các bộ phận chức năng chuyên môn trong việc tiếp nhận và giúp thủ trưởng đơn vị sự nghiệp công lập xử lý, giải quyết khiếu nại. Hoạt động tập huấn, đào tạo, bồi dưỡng về pháp luật, kỹ năng tiếp nhận, xử lý khiếu nại được các đơn vị sự nghiệp công lập tổ chức thường xuyên, từ đó tăng cường hiệu quả của hoạt động khiếu nại và giải quyết khiếu nại tại các đơn vị sự nghiệp công lập.

3. Một số yêu cầu cần thực hiện để bảo đảm thực hiện quyền khiếu nại của viên chức trong các đơn vị sự nghiệp công lập

3.1. Yêu cầu về mặt pháp lý

Thứ nhất, hoàn thiện pháp luật khiếu nại về đối tượng khiếu nại trong các đơn vị sự nghiệp công lập

Đối tượng khiếu nại trong các đơn vị sự nghiệp công lập bao gồm: (i) Quyết định hành chính của đơn vị sự nghiệp công lập, người đứng đầu đơn vị sự nghiệp công lập; (ii) Hành vi hành chính của những người có thẩm quyền các đơn vị sự nghiệp công lập; (iii) Quyết định kỷ luật của công chức, viên chức trong đơn vị sự nghiệp công lập. Tuy nhiên, không phải mọi quyết định hành chính, hành vi hành chính của đơn vị sự nghiệp công lập, người đứng đầu hay người có thẩm quyền trong đơn vị sự nghiệp công lập thực hiện đều là đối tượng khiếu nại. Theo đó, các quyết định hành chính, hành vi hành chính trong nội bộ đơn vị sự nghiệp công lập để chỉ đạo, tổ chức thực hiện nhiệm vụ thì không được khiếu nại[4].

Qua quy định này có thể thấy những quyết định hành chính, hành vi hành chính mà sự tác động của nó hướng vào bên trong đơn vị sự nghiệp công lập thì không thuộc đối tượng khiếu nại. Về cơ bản, điều này là hợp lý để đảm bảo tính tự quyết, tự quản lý, điều hành nội bộ của các đơn vị sự nghiệp công lập và việc sử dụng các nhiệm vụ, quyền hạn trong các trường hợp này cũng có những cơ chế kiểm soát nhất định. Mặc dù vậy, nếu tất cả các quyết định mang tính nội bộ đều không thuộc đối tượng khiếu nại thì việc kiểm soát việc thực thi nhiệm vụ, quyền hạn trong quản lý tại các đơn vị sự nghiệp công lập và việc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người có quyền, lợi ích bị tác động trực tiếp bởi quyết định có thể không kịp thời hoặc không thật sự hiệu quả. Chẳng hạn, quyết định bổ nhiệm, biệt phái, cho thôi việc viên chức trong đơn vị sự nghiệp công lập. Những quyết định này vẫn có thể rơi vào tình trạng bất hợp pháp. Trong trường hợp các quyết định này bất hợp pháp, xâm hại quyền, lợi ích hợp pháp của viên chức thì các cơ chế kiểm soát hiện nay thực sự thiếu tính kịp thời. Hơn nữa, có thể nói, quyết định kỷ luật viên chức thực chất cũng là quyết định nội bộ. Mặc dù là loại quyết định nội bộ nhưng quyết định kỷ luật đã được xác định là đối tượng khiếu nại. Như vậy, cần soát xét lại các quyết định hành chính nội bộ để xác định chính xác những quyết định như thế nào thì cần cơ chế kiểm soát quyền lực trong ban hành quyết định nào là phù hợp và rất nên coi các quyết định nội bộ nhưng liên quan trực tiếp đến quyền, lợi ích của cá nhân viên chức là đối tượng khiếu nại trong đơn vị sự nghiệp công lập[5].

Thứ hai, cần bổ sung các hình thức khiếu nại mới trong pháp luật khiếu nại

Theo quy định của pháp luật hiện hành, khiếu nại nói chung và khiếu nại trong đơn vị sự nghiệp công lập nói riêng được thực hiện thông qua hai hình thức: (i) Khiếu nại bằng đơn khiếu nại hoặc (ii) Khiếu nại trực tiếp. Trường hợp khiếu nại được thực hiện bằng đơn thì trong đơn khiếu nại phải ghi rõ ngày, tháng, năm khiếu nại; tên, địa chỉ của người khiếu nại; tên, địa chỉ của cơ quan, tổ chức, cá nhân bị khiếu nại; nội dung, lý do khiếu nại, tài liệu liên quan đến nội dung khiếu nại và yêu cầu giải quyết của người khiếu nại. Đơn khiếu nại phải do người khiếu nại ký tên hoặc điểm chỉ. Trường hợp người khiếu nại đến khiếu nại trực tiếp thì người tiếp nhận khiếu nại hướng dẫn người khiếu nại viết đơn khiếu nại hoặc người tiếp nhận ghi lại việc khiếu nại bằng văn bản và yêu cầu người khiếu nại ký hoặc điểm chỉ xác nhận vào văn bản, trong đó ghi rõ nội dung như khiếu nại bằng đơn khiếu nại nêu trên[6].

Hiện nay, bên cạnh loại hình văn bản giấy đã tồn tại thêm loại hình văn bản điện tử, đây là loại hình văn bản được sử dụng rất phổ biến trong xã hội hiện nay. Quy định pháp luật hiện hành cũng đã thừa nhận loại hình văn bản điện tử trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Cụ thể, Nghị định số 64/2007/NĐ-CP ngày 10/4/2007 của Chính phủ về ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của cơ quan nhà nước giải thích “văn bản điện tử là văn bản được thể hiện dưới dạng thông điệp dữ liệu”[7]. Bên cạnh đó, Nghị định này còn quy định “người đứng đầu cơ quan nhà nước ở các cấp có trách nhiệm chỉ đạo việc ứng dụng công nghệ thông tin vào xử lý công việc, tăng cường sử dụng văn bản điện tử, từng bước thay thế văn bản giấy trong quản lý, điều hành và trao đổi thông tin”[8]. Thiết nghĩ, Luật Khiếu nại nên bổ sung thêm các hình thức khiếu nại mới, trong đó có hình thức khiếu nại dưới dạng văn bản điện tử để phù hợp với thực tiễn trong cuộc sống.

Thứ ba, xây dựng văn bản quy phạm pháp luật dành riêng cho khiếu nại và giải quyết khiếu nại trong đơn vị sự nghiệp công lập

Như đã trình bày, Luật Khiếu nại năm 2011 cũng như Nghị định số 75/2012/NĐ-CP lần đầu tiên đã có quy định về khiếu nại và giải quyết khiếu nại trong đơn vị sự nghiệp công lập; tuy nhiên, qua phân tích các quy định này tác giả đánh giá đây là sự bổ sung khá “gượng ép” trong bối cảnh thiếu vắng các quy định pháp luật để điều chỉnh về khiếu nại và giải quyết khiếu nại trong các đơn vị sự nghiệp công lập. Trong khi đó, nhận thức về đơn vị sự nghiệp công lập ở nước ta chưa có sự thống nhất cả về phương diện lý luận cũng như thực tiễn. Các quy định của pháp luật về đơn vị sự nghiệp công lập chưa sát với thực tế phát triển cũng như quy mô, vai trò, lĩnh vực hoạt động của hệ thống đơn vị sự nghiệp công lập. Bên cạnh đó, công tác quản lý nhà nước đối với đơn vị sự nghiệp công lập nói chung và hoạt động giải quyết khiếu nại nói riêng chưa được quan tâm đúng mức; mối quan hệ phối hợp giữa các cơ quan quản lý nhà nước với các đơn vị sự nghiệp công lập, giữa cơ quan chủ quản với các đơn vị này trong công tác giải quyết khiếu nại còn chưa chặt chẽ, nhiều trường hợp rất lúng túng trong việc xác định mối quan hệ quản lý cũng như trình tự, cấp giải quyết khiếu nại[9]. Do vậy, việc làm cấp thiết và ý nghĩa là cần nhanh chóng xây dựng một văn bản quy phạm pháp luật chuyên biệt về khiếu nại và giải quyết khiếu nại trong các đơn vị sự nghiệp công lập để quy định đầy đủ các vấn đề pháp lý về đối tượng khiếu nại, thẩm quyền giải quyết khiếu nại, quyền và nghĩa vụ của các bên trong giải quyết khiếu nại, thủ tục giải quyết khiếu nại... để bảo đảm sự thống nhất trong thực hiện.

3.2. Yêu cầu về tổ chức thực hiện

Thứ nhất, phát huy sự chủ động trong khiếu nại và giải quyết khiếu nại tại các đơn vị sự nghiệp công lập

Như đã trình bày, khiếu nại là một quyền hiến định. Về phương diện lý luận, quyền là khả năng của chủ thể được hưởng lợi ích, giá trị hoặc thực hiện một hành vi, tham gia một quan hệ nào đó mà không bị chủ thể khác cản trở, can thiệp. Trong đời sống xã hội, quyền pháp lý là phạm trù có giới hạn. Quyền pháp lý không chỉ được nhận diện dưới góc độ các quy định pháp luật mà quan trọng hơn là khả năng hiện thực hóa nội dung các quyền trên thực tế như thế nào[10]. Vì thế, việc phát huy sự chủ động của các chủ thể có liên quan trong việc khiếu nại và giải quyết khiếu nại có ý nghĩa bảo đảm hoạt động khiếu nại trong đơn vị sự nghiệp công lập đạt hiệu quả. Sự chủ động này cần thể hiện ở cả người khiếu nại và người giải quyết khiếu nại.

Đối với người có quyền khiếu nại, sự chủ động thể hiện qua việc quyết định có hay không thực hiện khiếu nại đối với các quyết định hành chính, hành vi hành chính, quyết định kỷ luật trong các đơn vị sự nghiệp công lập. Quá trình giải quyết khiếu nại chỉ thực sự phát sinh khi những người chịu sự tác động của quyết định hành chính, hành vi hành chính, quyết định kỷ luật trái pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của họ. Mặc dù việc thực hiện quyền phụ thuộc vào ý chí của chủ thể có quyền xong nếu vì lý do nào đó (khách quan hay chủ quan dưới những áp lực nhất định) mà người bị ảnh hưởng bởi các quyết định hành chính, hành vi hành chính trong các đơn vị sự nghiệp công lập nhưng họ không thực hiện khiếu nại thì quyền khiếu nại chỉ tồn tại dưới dạng “tiềm ẩn” mà không được thực hiện trên thực tế. Do vậy việc giải quyết khiếu nại trong đơn vị sự nghiệp công lập sẽ không diễn ra. Điều này đồng nghĩa với việc người có quyền khiếu nại tự mình chấp nhận việc quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị xâm hại (nếu có) chứ không phải Nhà nước và pháp luật từ chối bảo vệ cho họ. Ngược lại, nếu người có quyền khiếu nại thực hiện khiếu nại thì tranh chấp giữa người khiếu nại và đơn vị sự nghiệp công lập chính thức được khởi xướng và người có thẩm quyền phải tiến hành giải quyết khiếu nại theo quy định của pháp luật. Nếu thực sự quyền, lợi ích hợp pháp của người khiếu nại bị xâm hại thì quyền, lợi ích hợp pháp đó sẽ được khôi phục sau quá trình giải quyết khiếu nại. Sự chủ động trong thực hiện khiếu nại của người khiếu nại còn thể hiện qua việc người khiếu nại chủ động nhờ luật sư bảo vệ; nhờ luật sư, trợ giúp viên pháp lý tư vấn về pháp luật hoặc ủy quyền cho luật sư, trợ giúp pháp lý khiếu nại để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình. Bên cạnh đó, người khiếu nại còn có thể chủ động trong việc rút khiếu nại nếu sau khi khiếu nại người khiếu nại nhận thấy quyết định hành chính, hành vi hành chính, quyết định kỷ luật trong đơn vị sự nghiệp công lập không trái pháp luật nên không có vấn đề xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của họ[11].

Đối với người giải quyết khiếu nại, cần có sự chủ động trong việc tiếp nhận và giải quyết khiếu nại thể hiện qua việc tập trung lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức công tác giải quyết khiếu nại tại các đơn vị sự nghiệp công lập; quan tâm xây dựng, ban hành quy chế, quy trình tiếp nhận và giải quyết khiếu nại tại đơn vị; bố trí nhân sự có năng lực chuyên môn thực hiện công tác tiếp nhận và tham mưu giải quyết khiếu nại. Trong quá trình giải quyết khiếu nại, người đứng đầu đơn vị sự nghiệp công lập thể hiện tinh thần trách nhiệm cao, tránh tình trạng đùn đẩy, né tránh trách nhiệm hay quan liêu, thiếu sâu sát, loại trừ tình trạng “khoán trắng” cho cấp dưới giải quyết dẫn đến tình trạng giải quyết khiếu nại kéo dài, trái quy định pháp luật.

Thứ hai, phát huy tính dân chủ trong việc thực hiện khiếu nại và giải quyết khiếu nại tại đơn vị sự nghiệp công lập

Thực hiện dân chủ là một trong những yêu cầu quan trọng trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước cũng như các cơ quan, tổ chức trong đó có các đơn vị sự nghiệp công lập. Do vậy, để thực hiện hiệu quả việc khiếu nại và giải quyết khiếu nại tại các đơn vị sự nghiệp công lập thì việc thực hiện và phát huy dân chủ đóng vai trò quan trọng. Nội dung thực hiện dân chủ tại đơn vị sự nghiệp công lập trong khiếu nại và giải quyết khiếu nại cần chú trọng đến yếu tố công khai thông tin về tổ chức và hoạt động của đơn vị sự nghiệp công lập.

Nội dung này đòi hỏi các đơn vị sự nghiệp công lập phải cung cấp đầy đủ thông tin liên quan đến tổ chức và hoạt động của đơn vị cho viên chức một cách chân thực, kịp thời, công khai. Có công khai thì mới có dân chủ vì công khai là điều kiện để thực hiện quyền làm chủ của viên chức tại các đơn vị sự nghiệp công lập. Yếu tố công khai đòi hỏi cơ quan, đơn vị phải thông báo cho các nhân sự của mình một cách cụ thể mục tiêu, kế hoạch hành động, các chủ trương, đường lối, chính sách xây dựng và phát triển đơn vị; tránh tình trạng giấu diếm, che đậy các thông tin của đơn vị, nhất là những thông tin ảnh hưởng trực tiếp đến quyền, lợi ích hợp pháp của viên chức tại các đơn vị sự nghiệp công lập./.

ThS. Nguyễn Nhật Khanh

Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh


[1] Khoản 1 Điều 3 Nghị định số 75/2012/NĐ-CP.

[2] Khoản 2, 3 Điều 3 Nghị định số 75/2012/NĐ-CP.

[3] Khoản 5 Điều 3 Nghị định số 75/2012/NĐ-CP.

[4] Khoản 1 Điều 11 Luật Khiếu nại năm 2011.

[5] Xem thêm: Bùi Thị Đào (2018), “Giải quyết tranh chấp hành chính với việc kiểm soát quyền lực nhà nước”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 5, tr.8.

[6] Khoản 1, 2, 3 Điều 8 Luật Khiếu nại năm 2011.

[7] Khoản 8 Điều 3 Nghị định số 64/2007/NĐ-CP.

[8] Khoản 1 Điều 8 Nghị định số 64/2007/NĐ-CP.

[9] Xem thêm: Nguyễn Thị Hạnh (2017), “Công tác giải quyết khiếu nại trong các đơn vị sự nghiệp công lập – Nhìn từ thực tiễn”, Tạp chí Thanh tra, số 8, tr.22.

[10] Lê Vương Long (2018), “Quyền chủ động của người có quyền khiếu nại, khởi kiện trong quá trình giải quyết tranh chấp hành chính”, Tạp chí Nghề luật, số 2, tr.62.

[11] Lê Vương Long (2018), “Quyền chủ động của người có quyền khiếu nại, khởi kiện trong quá trình giải quyết tranh chấp hành chính”, Tạp chí Nghề luật, số 2, tr.64.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Luật Phòng, chống ma túy năm 2021 quy định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi nghiện ma túy mà không tự nguyện cai nghiện. Mặc dù không được xem là biện pháp xử lý hành chính nhưng biện pháp này mang tính cách ly người bị áp dụng khỏi cộng đồng. Để bảo vệ quyền của người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi, pháp luật cho phép các chủ thể liên quan khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành chưa quy định quyền khởi kiện hay kháng cáo đối với quyết định này. Nghiên cứu phân tích bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi, đồng thời, đề xuất giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật nhằm bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người bị áp dụng biện pháp này.
Nâng cao trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Nâng cao trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã xác định rõ trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật. Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, cải cách tư pháp và chuyển đổi số quốc gia, vai trò này ngày càng trở nên quan trọng. Nghiên cứu phân tích cơ sở chính trị, pháp lý, thực trạng quy định pháp luật và thực tiễn triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật của Tòa án nhân dân; trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện hoạt động này trong hệ thống Tòa án nhân dân.
Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Sự phát triển của nền tảng số, mạng xã hội và trí tuệ nhân tạo tạo sinh đang làm thay đổi phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật, đồng thời, đặt ra nhiều thách thức trong kiểm soát thông tin pháp luật trên môi trường số. Bên cạnh việc mở rộng khả năng tiếp cận pháp luật của người dân, tình trạng lan truyền thông tin pháp luật sai lệch, thiếu kiểm chứng hoặc được tạo sinh bởi hệ thống trí tuệ nhân tạo đang ảnh hưởng đến hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật và quyền tiếp cận thông tin pháp luật chính xác. Trên cơ sở phân tích các vấn đề lý luận, đánh giá thực trạng quy định và thực tiễn áp dụng pháp luật tại Việt Nam, nghiên cứu phân tích bất cập trong kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số và đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả quản lý và bảo đảm chính xác của thông tin pháp luật trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật.
Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 7/2026

Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 7/2026

(Cập nhật bởi LuatVietnam.vn)
Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam[1]

Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam[1]

Tóm tắt: Mô hình chính quyền địa phương hai cấp được triển khai ở Việt Nam từ ngày 01/7/2025 đánh dấu bước chuyển quan trọng trong quá trình đổi mới tổ chức bộ máy nhà nước theo hướng tinh, gọn, tăng cường phân quyền, phân cấp và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị địa phương. Nghiên cứu phân tích các cơ hội và thách thức trong quá trình triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam, làm rõ những vấn đề đặt ra trong hoàn thiện thể chế, bảo đảm nguồn lực và nâng cao năng lực quản trị địa phương, từ đó, đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam thời gian tới.
Một số bất cập của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 và kiến nghị hoàn thiện

Một số bất cập của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Sau hơn 13 năm thi hành, Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng trong triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, góp phần nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ và Nhân dân. Tuy nhiên, trước yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, chuyển đổi số và hoàn thiện thể chế theo chủ trương, định hướng của Đảng, nhiều quy định của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 bộc lộ những hạn chế, bất cập. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, tổng kết thực tiễn thi hành và bối cảnh phát triển đất nước giai đoạn mới, nghiên cứu làm rõ những bất cập về tổ chức thực hiện công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên pháp luật, đối tượng đặc thù, nội dung, hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật và sự không thống nhất của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 với một số luật liên quan. Từ đó, kiến nghị sửa đổi, bổ sung nhằm hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật và nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong bối cảnh hiện nay.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật - Yêu cầu chuyển từ phổ biến, giáo dục pháp luật hình thức sang tiếp cận dựa trên nhu cầu của người dân

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật - Yêu cầu chuyển từ phổ biến, giáo dục pháp luật hình thức sang tiếp cận dựa trên nhu cầu của người dân

Tóm tắt: Việc sửa đổi Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 là cấp thiết trước yêu cầu khắc phục tình trạng tuyên truyền thiên về hình thức, chưa gắn chặt với những vấn đề pháp lý mà người dân thực sự cần được hỗ trợ. Nghiên cứu phân tích khoảng cách giữa nguyên tắc phù hợp với nhu cầu và cơ chế nhận diện, phản ánh, đáp ứng, đo lường nhu cầu pháp lý trong dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật[1] (dự thảo Luật). Trên cơ sở phân tích quy phạm, bình luận chính sách và tiếp cận liên ngành về nhu cầu pháp lý, năng lực pháp lý, tiếp cận công lý, nghiên cứu tập trung vào các quy định về nguyên tắc, nội dung, hình thức, hướng dẫn và giải đáp pháp luật, đối tượng đặc thù, giáo dục pháp luật trong cơ sở giáo dục, trách nhiệm tổ chức thực hiện, cơ chế cấp xã, chuyển đổi số và đánh giá hiệu quả. Kết quả nghiên cứu cho thấy, dự thảo Luật đã có nhiều định hướng tích cực nhưng thiếu cơ chế khảo sát nhu cầu, thiết kế nội dung theo tình huống, chuyển tuyến hỗ trợ pháp lý và đánh giá khả năng hiểu, vận dụng pháp luật. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện các cơ chế bảo đảm cách tiếp cận lấy nhu cầu pháp lý của người dân làm trung tâm.
Chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên ở Việt Nam

Chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên ở Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển nhanh, mạnh mẽ của không gian mạng đang tác động sâu sắc đến đời sống xã hội, đồng thời, đặt ra nhiều rủi ro đối với người chưa thành niên. Trong bối cảnh đó, chuyển đổi số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật trở thành yêu cầu cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả tiếp cận pháp luật cho nhóm đối tượng này. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết của chuyển đổi số trong phổ biến, giáo dục pháp luật đối với người chưa thành niên; đánh giá thực trạng triển khai tại Việt Nam, chỉ ra những hạn chế, bất cập, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật đối với viên chức tại các cơ sở giáo dục công lập

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật đối với viên chức tại các cơ sở giáo dục công lập

Tóm tắt: Pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật đối với viên chức tại các cơ sở giáo dục công lập là một bộ phận của pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật, có vai trò quan trọng trong xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Trên cơ sở làm rõ khái niệm, đặc trưng và các tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thiện, nghiên cứu phân tích thực trạng pháp luật hiện hành, chỉ ra những kết quả đạt được và các hạn chế. Từ đó, nghiên cứu đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật đối với viên chức tại các cơ sở giáo dục công lập, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Nguyên tắc “6 rõ” trong tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật

Nguyên tắc “6 rõ” trong tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật

Trong đợt tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật năm 2026 - một nhiệm vụ trọng yếu được triển khai theo Kết luận số 09-KL/TW ngày 10/3/2026 của Bộ Chính trị về hoàn thiện cấu trúc hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới - nguyên tắc “6 rõ” đã được xác lập như một chuẩn mực kỹ thuật và quản trị cốt lõi. Nội dung của nguyên tắc này bao gồm: rõ người, rõ việc, rõ thời gian, rõ trách nhiệm, rõ thẩm quyền và rõ kết quả.
Nâng cao nhận thức, chung tay đẩy lùi tội phạm mua bán người

Nâng cao nhận thức, chung tay đẩy lùi tội phạm mua bán người

Ngày 30/7 hằng năm được Đại hội đồng Liên hợp quốc chọn là Ngày Thế giới phòng, chống mua bán người (World Day Against Trafficking in Persons) nhằm nâng cao nhận thức của cộng đồng về những hậu quả nghiêm trọng của tội phạm mua bán người, đồng thời kêu gọi các quốc gia tăng cường hợp tác, triển khai các giải pháp phòng ngừa, đấu tranh và bảo vệ nạn nhân.
"Tầm nhìn mới, tư duy mới, hành động mới" - Động lực xây dựng chính quyền Thủ đô Hà Nội kiến tạo, phục vụ

"Tầm nhìn mới, tư duy mới, hành động mới" - Động lực xây dựng chính quyền Thủ đô Hà Nội kiến tạo, phục vụ

Ngày 23/3/2026, Ban Thường vụ Thành ủy Hà Nội đã ban hành Chỉ thị số 09-CT/TU về nâng cao hiệu lực, hiệu quả thực thi công vụ; siết chặt kỷ luật, kỷ cương và trách nhiệm của cán bộ, nhất là người đứng đầu trong giai đoạn phát triển mới của Thủ đô Hà Nội (Chỉ thị số 09-CT/TU). Theo đó, Thành phố xác định rõ việc định vị hình ảnh và giá trị cốt lõi của Thủ đô với 09 đặc trưng "Thủ đô văn hiến - kết nối toàn cầu - thanh lịch, hào hoa - phát triển hài hòa - thanh bình, thịnh vượng - chính quyền phục vụ - doanh nghiệp cống hiến - xã hội niềm tin - người dân hạnh phúc", lấy "Văn hiến - bản sắc - sáng tạo" làm trục giá trị xuyên suốt.
Nhiều điểm mới mang tính định hướng đáp ứng yêu cầu nâng cao hiệu quả hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân

Nhiều điểm mới mang tính định hướng đáp ứng yêu cầu nâng cao hiệu quả hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân

Để tăng cường sự lãnh đạo của Đảng gắn với kiểm soát quyền lực nhà nước trong hoạt động giám sát, góp phần hoàn thiện chính sách, pháp luật, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước, địa phương, bảo đảm kỷ luật, kỷ cương, nâng cao hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước, Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2025 được thông qua trên cơ sở kế thừa, bổ sung nhiều quy định mới về nguyên tắc định hướng, chủ thể giám sát, nội dung và quy trình để hoạt động giám sát đạt hiệu quả, chất lượng. Việc gắn kết giữa hoạt động giám sát với việc hoàn thiện chính sách, pháp luật, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước, địa phương có tính chất tương hỗ để hoàn thiện hệ thống pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng đất nước trong kỷ nguyên mới.
Hà Nội thí điểm cơ chế phát triển nhà ở cho thuê: Bước chuyển trong chính sách nhà ở

Hà Nội thí điểm cơ chế phát triển nhà ở cho thuê: Bước chuyển trong chính sách nhà ở

Việc Hội đồng nhân dân thành phố Hà Nội thông qua cơ chế đặc thù về đầu tư, phát triển nhà ở cho thuê được xem là bước đi mới trong thực hiện Luật Thủ đô năm 2026. Với nhiều ưu đãi về đất đai, thủ tục đầu tư và cơ chế khai thác dự án, chính sách này không chỉ tạo động lực thu hút doanh nghiệp tham gia phát triển nhà ở cho thuê mà còn góp phần mở rộng nguồn cung nhà ở, bảo đảm an sinh xã hội và thúc đẩy phát triển đô thị bền vững.
Luật Chuyển đổi số năm 2025: Đòn bẩy pháp lý phát triển đất nước

Luật Chuyển đổi số năm 2025: Đòn bẩy pháp lý phát triển đất nước

Trong những năm gần đây, chủ trương về chuyển đổi số đã trở thành một trong những định hướng chiến lược quan trọng của Đảng và Nhà nước. Với tinh thần chủ động, tích cực tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư là yêu cầu khách quan (Nghị quyết số 52-NQ/TW ngày 27/9/2019 của Bộ Chính trị) tới Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia đã xác định “Phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là đột phá quan trọng hàng đầu, là động lực chính để phát triển nhanh lực lượng sản xuất hiện đại, hoàn thiện quan hệ sản xuất, đổi mới phương thức quản trị quốc gia, phát triển kinh tế - xã hội, ngăn chặn nguy cơ tụt hậu, đưa đất nước phát triển bứt phá, giàu mạnh trong kỷ nguyên mới”.

Theo dõi chúng tôi trên: