Thứ sáu 23/01/2026 11:10
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Bảo vệ quyền đối với đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp 4.0

Trong bài viết “Bảo vệ quyền đối với đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp 4.0” tác giả Lê Thị Thúy Nga đã đi sâu phân tích những nội dung chính sau: (i) Thế nào là quyền về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình; (ii) Quy định pháp luật Việt Nam về bảo vệ quyền đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình; (iii) Thực trạng xâm phạm quyền đối với đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp 4.0; (iv) Các phương thức bảo vệ quyền về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp 4.0; (v) Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật Việt Nam trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp 4.0.


1. Thế nào là quyền về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình

Hiện nay, pháp luật chưa đưa ra khái niệm về quyền về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình. Chúng ta có thể hiểu các quyền này như sau[1]:

Về đời sống riêng tư của cá nhân: Là tập hợp các yếu tố tạo thành nét riêng đặc thù, độc lập và mang dấu ấn của riêng cá nhân, không thể trộn lẫn với người khác. Đời sống riêng tư của cá nhân có đặc điểm riêng biệt của cá nhân trong quá trình sống, thời gian sống, sự trải nghiệm trong các quan hệ xã hội mà hình thành và mang dấu ấn riêng của cá nhân.

Về bí mật cá nhân: Bí mật cá nhân là tổng thể các quan hệ quá khứ, các thông tin liên quan đến cá nhân mang tính chất chi phối các quan hệ cụ thể của cá nhân mà bị bộc lộ sẽ gây cho cá nhân những bất lợi hoặc dễ gây ra sự hiểu lầm ở các chủ thể khác.

Đời sống riêng tư và bí mật cá nhân là hai thành tố hợp thành bí mật đời tư của cá nhân, là quyền nhân thân gắn với cá nhân được pháp luật bảo hộ.

Về bí mật gia đình: Là những thông tin về vụ việc, tài liệu liên quan đến các quan hệ giữa các thành viên của gia đình với nhau có mối quan hệ hữu cơ đến truyền thống nhiều đời hay một đời về huyết thống, về bệnh lý, về năng lực trí tuệ của các thành viên có tính hệ thống, nếu bị bộc lộ sẽ gây ra sự bất lợi cho các thành viên gia đình trong các quan hệ xã hội và quan hệ pháp luật khác thuộc nhiều lĩnh vực. Bí mật gia đình được giữ kín, nếu tất cả các thành viên trong gia đình có ý thức không muốn bộc lộ, thì không chủ thể nào có quyền xâm phạm.

Ở một số quốc gia trên thế giới (Hoa Kỳ, Úc, Liên bang Nga…), quyền riêng tư hay quyền bí mật đời tư đều hướng đến nội dung sau: (i) Quyền được sở hữu các thông tin cá nhân, yêu cầu chủ thể nắm giữ thông tin chỉnh sửa thông tin cá nhân nhằm đảm bảo tính toàn vẹn, chính xác; (ii) Quyền cho phép bên thứ ba tiếp cận thông tin cá nhân của mình; (iii) Quyền yêu cầu Nhà nước, tổ chức hoặc các chủ thể khác có liên quan có các biện pháp bảo đảm tính bí mật[2].

2. Quy định pháp luật Việt Nam về bảo vệ quyền đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình

Ở nước ta, quyền về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình đã được quy định ngay trong Điều 21 Hiến pháp năm 2013, cụ thể:

“Mọi người có quyền bất khả xâm phạm về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình; có quyền bảo vệ danh dự, uy tín của mình;

Thông tin về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình được pháp luật bảo đảm an toàn”.

Thể chế hóa tinh thần của Hiến pháp năm 2013, Điều 38 Bộ luật Dân sự năm 2015 chính là căn cứ pháp lý trong việc bảo vệ đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình. Theo quy định tại khoản 2 Điều 38 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì việc thu thập, lưu giữ, sử dụng, công khai thông tin liên quan đến đời sống riêng tư, bí mật cá nhân phải được người đó đồng ý. Khoản 4 Điều 38 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: “Các bên trong hợp đồng không được tiết lộ thông tin về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình của nhau mà mình đã biết được trong quá trình xác lập, thực hiện hợp đồng, trừ trường hợp có thỏa thuận khác”. Quy định này nhằm ngăn chặn các hành vi lạm dụng lòng tin của nhau trong quan hệ hợp đồng nhằm mục đích trục lợi và ngăn chặn người thứ ba nếu biết được các thông tin liên quan đến cá nhân là chủ thể giao kết, thực hiện hợp đồng để thực hiện hành vi nhằm mục đích không trong sáng, gây thiệt hại về danh dự, uy tín của cá nhân là chủ thể xác lập, thực hiện hợp đồng.

Như vậy, Điều 38 Bộ luật Dân sự năm 2015 đã cụ thể hóa các quy định của Điều 21 Hiến pháp năm 2013 và là căn cứ viện dẫn để giải quyết các tranh chấp dân sự liên quan đến các hành vi trái pháp luật, hành vi cố ý xâm phạm đến quyền về đời sống riêng tư của cá nhân, bí mật cá nhân và bí mật gia đình.

Có thể dựa vào các tiêu chí sau đây làm căn cứ xác định một thông tin, tài liệu là bí mật đời tư:

Thứ nhất, thông tin, tài liệu đó phải thuần túy về cuộc sống riêng tư, thầm kín của cá nhân. Đây là yếu tố thể hiện rõ nhất tính “đời tư” của cá nhân.

Thứ hai, những thông tin, tài liệu này không bắt buộc phải công khai cho mọi người biết.

Thứ ba, việc giấu kín những thông tin, tài liệu này không làm ảnh hưởng đến lợi ích của Nhà nước, của xã hội và của cá nhân khác. Việc xem xét yếu tố này là hoàn toàn phù hợp, pháp luật bảo vệ quyền bí mật đời tư của cá nhân, những tài liệu và thông tin bí mật của cá nhân chỉ khi những thông tin, tài liệu đó là hợp pháp, mà tính hợp pháp được xem xét đầu tiên dựa trên việc không làm ảnh hưởng đến lợi ích của bất kỳ chủ thể nào khác, đặc biệt là Nhà nước và xã hội[3].

3. Thực trạng xâm phạm quyền đối với đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình trong bối cảnh cánh mạng công nghiệp 4.0

Cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 có đặc trưng là sự kết hợp các công nghệ giúp xóa nhòa ranh giới giữa các lĩnh vực vật lý, số hóa và sinh học; là cuộc cách mạng của sự hội tụ ở đỉnh cao, sự tiết kiệm các nguồn lực ở mức tối ưu nhất từ trước tới nay. Cuộc cách mạng này đã phát triển thành các xu hướng công nghệ lớn và ngày càng trở nên phổ biến trong đời sống xã hội hiện nay như công nghệ IoT (Internet of Thing - Internet vạn vật), AI (Artificial Intelligence - Trí tuệ nhân tạo), VR (Virtual Reality - Thực tế ảo), AR (Augmented Reality - Tương tác ảo), Cloud (Điện toán đám mây), Big Data (Dữ liệu lớn), công nghệ in 3D[4]… Thực tế cho thấy, các quy định pháp luật dân sự, trong đó, các quy định về quyền về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình cũng chịu ảnh hưởng từ những tác động to lớn của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0.

Hiện nay, có thể kể đến những vụ việc điển hình như việc Facebook bị kiện vì tính năng nhận hình ảnh đại diện: Hệ thống gợi ý tag ảnh của Facebook đã vi phạm sự riêng tư của người dùng bằng cách thu thập dữ liệu để tạo ra faceprint (dữ liệu hình học mô phỏng khuôn mặt người) mà không được phép. Tính năng faceprint thường được sử dụng để xác định người dùng và tự động gợi ý, nhận ra khi họ có mặt trong những tấm hình khi được tải lên mạng xã hội. Theo đơn khiếu nại, hành động này của Facebook đã vi phạm Đạo luật riêng tư về thông tin sinh trắc học của Bang Illinois (Hoa Kỳ), trong đó nghiêm cấm thu thập các dạng thông tin sinh trắc học của con người như dấu vân tay hay khuôn mặt mà chưa được sự đồng ý của cá nhân[5]. Chính vì vậy, không chỉ Việt Nam mà cả các quốc gia trên thế giới đều yêu cầu Facebook ngừng thu thập dữ liệu thông tin người dùng[6].

Với cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, Big Data là tài sản thông tin, mà những thông tin này có khối lượng dữ liệu lớn, tốc độ cao và dữ liệu đa dạng, đòi hỏi phải có công nghệ mới để xử lý hiệu quả nhằm đưa ra được các quyết định hiệu quả, khám phá được các yếu tố ẩn sâu trong dữ liệu và tối ưu hóa được quá trình xử lý dữ liệu[7]. Hiện nay, thông tin khách hàng, nhất là data của ngân hàng, là nguồn dữ liệu khổng lồ, bị mua bán trái với ý muốn của khách hàng mà chưa được xử lý. Trong đó, những thông tin về tên, số điện thoại, địa chỉ email, thông tin về số tiền gửi và biến động tài khoản ngân hàng cũng bị mua bán để sử dụng vào những mục đích khác nhau[8].

Như vậy, internet kết nối vạn vật cũng như Big Data bên cạnh những ảnh hưởng tích cực cũng dẫn đến tình trạng thu thập và chia sẻ các thông tin về cá nhân không được sự cho phép càng trở nên dễ dàng và phổ biến. Việc sử dụng thông tin nhân thân của cá nhân như hình ảnh, tên, độ tuổi, giới tính… vào hệ thống dữ liệu của một công ty nào đó đang trở nên phổ biến. Trong đó, những thông tin về bí mật đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình của một số chính trị gia, diễn viên, ca sĩ... không chỉ xâm phạm đến quyền về bí mật đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình của họ mà còn gây tổn hại đến tinh thần, danh dự, nhân phẩm, uy tín của người đó[9]. Nghiêm trọng hơn, những khách hàng bị lộ thông tin cá nhân còn trở thành nạn nhân của tội trộm cắp, lừa đảo chiếm đoạt tài sản[10].

Tuy nhiên, việc xác định chủ thể trên mạng xã hội đã có hành vi trái pháp luật là xâm phạm đến bí mật cá nhân, bí mật gia đình của người khác rất khó khăn (do đặc tính không gian mạng internet, liên quan đến nhiều quốc gia...). Do đó, rất khó để có thể truy cứu trách nhiệm pháp lý cho các tổ chức, cá nhân có hành vi trái pháp luật này.

4. Các phương thức bảo vệ quyền về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình trong bối cảnh cách mạng công nghiệp 4.0

Các phương thức bảo vệ quyền nhân thân có thể kể đến là biện pháp tự bảo vệ và các biện pháp pháp lý khác theo quy định của pháp luật dân sự, hành chính, hình sự. Trong phạm vi bài viết này, tác giả chỉ tập trung vào đánh giá việc bảo vệ quyền về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình bằng phương thức dân sự.

Việc xác định mức thiệt hại, mối quan hệ nhân quả trong vụ kiện đòi bồi thường thiệt hại trong những vụ việc xâm phạm quyền về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình còn gặp nhiều khó khăn. Điều kiện phát sinh trách nhiệm dân sự của người có hành vi xâm phạm quyền riêng tư, bí mật cá nhân và bí mật gia đình bao gồm các điều kiện sau:

(i) Có hành vi trái pháp luật: Hành vi xâm phạm đến quyền về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình là hành vi trái pháp luật. Người có hành vi xâm phạm các quyền nhân thân của cá nhân trái pháp luật phải chịu trách nhiệm dân sự như: Xin lỗi, cải chính, bồi thường thiệt hại. Căn cứ vào hành vi gây thiệt hại và nếu động cơ của chủ thể gây thiệt hại, mức độ thiệt hại là nghiêm trọng thì người gây thiệt hại có hành vi trái pháp luật có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Người có hành vi xâm phạm đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình của cá nhân là người có lỗi (lỗi vô ý hoặc cố ý).

(ii) Có thiệt hại về lợi ích tinh thần, vật chất: Những thiệt hại về quyền nhân thân do hành vi trái pháp luật gây ra được xác định là hành vi làm tổn thất về tinh thần, vật chất cho cá nhân; người gây thiệt hại có trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho người bị thiệt hại. Những khoản bồi thường thiệt hại do quyền nhân thân bị xâm phạm là bồi thường thiệt hại về vật chất và bồi thường thiệt hại về tinh thần theo quy định tại Điều 592 Bộ luật Dân sự năm 2015.

(iii) Có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi xâm phạm quyền về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình và thiệt hại về vật chất, về tinh thần xảy ra cho người bị thiệt hại: Hành vi gây thiệt hại về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình là nguyên nhân của thiệt hại về vật chất và những tổn thất về tinh thần của người bị thiệt hại.

Xác định hành vi xâm phạm đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình thỏa mãn các điều kiện trên thì người có hành vi trái pháp luật phải bồi thường cho người bị thiệt hại. Tính chất của trách nhiệm bồi thường trong trường hợp này là trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng. Tuy nhiên, trong bối cảnh cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, việc xác định các yếu tố này để tiến hành bồi thường thiệt hại không đơn giản, đòi hỏi cơ quan có thẩm quyền có năng lực trình độ và sự phối hợp từ các quốc gia khác.

Bên cạnh những thách thức nêu trên, thực tế việc bảo vệ quyền về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình còn gặp khó khăn khi các căn cứ pháp luật quy định còn thiếu hoặc chưa phù hợp. Chẳng hạn, nội dung quyền về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình chưa được quy định cụ thể, các phương thức bảo vệ quyền chưa đầy đủ hay chế tài xử lý chưa có tính răn đe với người xâm phạm quyền này.

5. Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật Việt Nam trong bối cảnh cách mạng công nghiệp 4.0

Cần thống nhất quy định về các phương thức bảo vệ quyền về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình.

Cần mở rộng, làm rõ nội hàm quyền về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình. Vì hiện nay có rất nhiều cách hiểu khác nhau, có cách hiểu quyền riêng tư là quyền được một mình, có cách hiểu quyền này theo nghĩa hẹp hơn là quyền kiểm soát các thông tin về bản thân. Một khái niệm dung hòa thì là sự tự do khỏi sự can thiệp không hợp lý và không mong muốn vào các hoạt động mà xã hội thừa nhận là thuộc về phạm vi tự chủ của cá nhân. Phạm vi tự chủ của cá nhân là những hành động không làm ảnh hưởng đến tự do của người khác, nơi một người cách ly với những người khác để tạo nên một cuộc đời của mình như mong muốn và ước vọng của cá nhân.

Quy định trách nhiệm của các cơ quan liên quan trong việc giữ an toàn và bí mật thuộc về cơ quan bưu chính. Hiến pháp và các đạo luật khác ở Việt Nam có quy định về bí mật thư tín, điện tín, điện thoại, tin nhắn… của cá nhân được bảo đảm an toàn và đảm bảo tính bí mật về nội dung. Việc khám xét, bóc mở thư tín, điện tín, tin nhắn của cá nhân phải do người có thẩm quyền tiến hành theo quy định của pháp luật. Cần có cơ chế kiểm soát hành vi của các doanh nghiệp trong nước và nước ngoài để hạn chế hành vi nghe trộm nội dung điện thoại, bóc mở để đọc, sao chụp dưới mọi hình thức tin nhắn, điện tín, thư tín hay ghi âm nội dung đàm thoại của người khác.

Sự phát triển của công nghệ trong cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 đã và đang tác động đến nhiều mặt của đời sống xã hội, đòi hỏi rất nhiều các lĩnh vực pháp luật phải được điều chỉnh để ứng xử kịp thời trước những vấn đề phát sinh. Cùng với đó, pháp luật về bảo vệ quyền nhân thân cần có những quy định thúc đẩy sự phát triển của công nghệ được ứng dụng mạnh mẽ trong đời sống, làm cho sự phát triển của công nghệ mang lại lợi ích chung và thúc đẩy tiến bộ xã hội.

ThS. Lê Thị Thúy Nga

Viện Khoa học pháp lý, Bộ Tư pháp

[1]. Phùng Trung Tập (2018), Quyền đối với đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình, Tạp chí Kiểm sát số 02/2018, tr. 2 - 3.

[2]. TS. Bùi Đức Hiển (2019), “Pháp luật về bảo vệ quyền về đời sống tiêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình ở một số quốc gia trên thế giới”, Đề tài khoa học cấp Bộ “Cơ chế pháp lý bảo vệ quyền về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình”, Hà Nội, 2019, tr. 3.

[3]. ThS. Đoàn Thị Ngọc Hải, Quyền về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình trong pháp luật dân sự, tham khảo trực tuyến tại: Https://moj.gov.vn/qt/tintuc/Pages/nghien-cuu-trao-doi.aspx?ItemID=2442, ngày truy cập 16/10/2019.

[4]. TS. Nguyễn Thị Thu Vân, “Bảo vệ dữ liệu cá nhân trong bối cảnh cách mạng công nghiệp 4.0 - Những thách thức đối với nhà làm luật”, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, 2017.

[5]. Tham khảo trực tuyến tại: Http://www.nhandan.com.vn/congnghe/item/29549502-facebook-bi-kien-vi-chuc-nang-nhan-dien-khuon-mat-trong-anh.html, đăng tải ngày 10/5/2016.

[6]. Tham khảo trực tuyến tại: Https://vtv.vn/the-gioi/duc-yeu-cau-facebook-ngung-thu-thap-du-lieu-ca-nhan-20190216121433653.htm, đăng tải ngày 16/02/2019.

[7]. Tham khảo trực tuyến tại: Https://blogchiasekienthuc.com/dan-cong-nghe/cach-mang-4-0-la-gi.html.

[8]. Tham khảo trực tuyến tại: Https://vtv.vn/mua-ban-data.html, đăng tải ngày 26/02/2019.

[9]. Tham khảo trực tuyến tại: Http://www.doisongphapluat.com/tin-tuc/tin-trong-nuoc/dau-long-nhung-vu-tu-tu-vi-bi-dang-clip-len-mang-xa-hoi-a222250.html, đăng tải ngày 12/3/2018.

[10]. Tham khảo trực tuyến tại: Https://suckhoedoisong.vn/-thong-tin-tai-khoan-ngan-hang-n166582.html, đăng tải ngày 09/12/2019.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Việc lập và nộp hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH), đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là thủ tục bắt buộc, bảo đảm tính chặt chẽ, minh bạch và khách quan trong quá trình lựa chọn những người tiêu biểu tham gia cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Căn cứ Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND, Hội đồng bầu cử quốc gia đã ban hành mẫu biểu, hướng dẫn và quy trình tiếp nhận hồ sơ, tạo điều kiện để người được giới thiệu ứng cử và người tự ứng cử thực hiện quyền chính trị - pháp lý đúng quy định.
Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Việc điều chỉnh cơ cấu và phân bổ giới thiệu người ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) được thực hiện trên cơ sở điều chỉnh lần thứ nhất của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về cơ cấu, thành phần và số lượng được phân bổ cho từng cơ quan, tổ chức, đơn vị. Trên cơ sở đó, Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tổ chức hội nghị hiệp thương có trách nhiệm thông báo phân bổ và hướng dẫn nội dung, trình tự, thủ tục giới thiệu người ứng cử, bảo đảm việc lập hồ sơ ứng cử được thực hiện theo quy định pháp luật.
Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Từ năm 2026, các quy định liên quan đến thu nhập từ kinh doanh, từ tiền lương, tiền công của cá nhân cư trú tại Luật Thuế thu nhập cá nhân số 109/2025/QH15 có hiệu lực, với nhiều chính sách mới như tăng mức giảm trừ gia cảnh lên 15,5 triệu đồng, nâng ngưỡng doanh thu chịu thuế của hộ, cá nhân kinh doanh lên 500 triệu đồng/năm giúp giảm gánh nặng đối với người nộp thuế.
Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Luật Thương mại điện tử số 122/2025/QH15 được Quốc hội thông qua ngày 10/12/2025, gồm 07 chương, 41 điều, được xây dựng theo định hướng kiến tạo phát triển, tăng cường hiệu quả quản lý và bảo vệ lợi ích chính đáng của doanh nghiệp, người tiêu dùng với nhiều nội dung mới, nổi bật. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2026.
Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Hội đồng nhân dân (HĐND) cấp tỉnh, cấp xã và bố trí đại biểu HĐND hoạt động chuyên trách nhiệm kỳ 2026 - 2031 là nội dung quan trọng nhằm bảo đảm tổ chức bộ máy HĐND các cấp tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu sắp xếp đơn vị hành chính và định hướng cải cách của Đảng và Nhà nước. Những quy định này được thực hiện thống nhất theo Nghị quyết số 106/2025/UBTVQH15 ngày 16/10/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) và các văn bản có liên quan.
Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là một trong những quyền chính trị cơ bản của công dân, đồng thời là khâu có ý nghĩa quyết định đối với chất lượng hoạt động của cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Pháp luật về bầu cử không chỉ bảo đảm quyền ứng cử của công dân mà còn đặt ra những tiêu chuẩn, điều kiện, giới hạn và cơ chế sàng lọc chặt chẽ nhằm lựa chọn được những người đủ đức, đủ tài, xứng đáng đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân.
Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức theo các quy định chặt chẽ của Hiến pháp và pháp luật về bầu cử, trong đó xác định rõ tổng số đại biểu được bầu, cơ cấu, thành phần người ứng cử cũng như nguyên tắc phân bổ đại biểu ở từng địa phương. Bài viết làm rõ số lượng ĐBQH khóa XVI dự kiến được bầu, các yêu cầu về tỷ lệ đại diện của phụ nữ, người dân tộc thiểu số và những nguyên tắc cụ thể để xác định số lượng đại biểu HĐND các cấp, qua đó giúp cử tri hiểu rõ hơn cơ sở pháp lý và ý nghĩa của việc bảo đảm tính đại diện, dân chủ trong bầu cử.
Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Theo quy định tại Điều 7 Hiến pháp năm 2013 và Điều 1 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015, việc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tiến hành theo các nguyên tắc bầu cử phổ thông; nguyên tắc bình đẳng trong bầu cử; nguyên tắc bầu cử trực tiếp; nguyên tắc bỏ phiếu kín. Việc quán triệt và thực hiện nghiêm các nguyên tắc này không chỉ bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân, mà còn là thước đo quan trọng để đánh giá một cuộc bầu cử dân chủ, đúng pháp luật.
Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là những người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân trong bộ máy quyền lực nhà nước. Trên cơ sở Hiến pháp năm 2013, được sửa đổi, bổ sung năm 2025, Luật Tổ chức Quốc hội và Luật Tổ chức chính quyền địa phương quy định rõ hệ thống quyền hạn, trách nhiệm cũng như cơ chế miễn trừ đối với đại biểu nhằm bảo đảm thực hiện đầy đủ chức năng lập pháp, giám sát, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và địa phương, đồng thời tăng cường trách nhiệm của đại biểu dân cử trước cử tri và xã hội.
Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số là yêu cầu cấp thiết trong tiến trình xây dựng xã hội phát triển toàn diện và bền vững ở Việt Nam hiện nay. Trên cơ sở phân tích lý luận và khảo sát thực tiễn tại tỉnh Gia Lai, nơi có 24,76% dân số là người dân tộc thiểu số thuộc 44 thành phần, bài viết đánh giá việc thực hiện quyền này theo khung phân tích của Bình luận chung số 21 của Liên hợp quốc, gồm ba tiêu chí: tính sẵn có, khả năng tiếp cận và tính chấp nhận được. Kết quả cho thấy, còn tồn tại hạn chế về thiết chế văn hóa cơ sở, chênh lệch vùng miền và mức độ tham gia còn hình thức. Từ đó, bài viết đề xuất giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả, bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số tại tỉnh Gia Lai.
Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu cải cách toàn diện, đẩy mạnh hội nhập quốc tế và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, việc nâng cao vai trò lãnh đạo toàn diện, trực tiếp của Đảng đối với hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp có ý nghĩa chiến lược và cấp thiết.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bài viết nêu lên vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước và đề xuất một số giải pháp nâng cao vai trò của Bộ Tư pháp trong giai đoạn mới.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Trong quá trình phát triển của đất nước, đặc biệt, trong 10 năm gần đây, với sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế - xã hội Việt Nam, việc xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật là công tác đặc biệt quan trọng. Với sự nỗ lực không ngừng, Bộ Tư pháp đã cùng các bộ, ngành làm tốt công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và đưa pháp luật vào cuộc sống, góp phần quan trọng trong thực hiện thành công công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế, giữ vững chủ quyền quốc gia, an ninh, trật tự xã hội, nâng cao đời sống vật chất và văn hóa, tinh thần của Nhân dân, bảo đảm công bằng xã hội, xây dựng xã hội dân chủ, văn minh theo đường lối của Đảng và Nhà nước. Để đạt được những thành tựu đó, nhiều hoạt động đã được triển khai đồng bộ, từ công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL); đặc biệt, đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực làm công tác xây dựng, thi hành pháp luật. Bộ Tư pháp đã chủ động, tích cực phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, trong đó có Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trong công tác xây dựng thể chế, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác pháp chế.
Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Với chức năng là cơ quan của Chính phủ, thực hiện quản lý nhà nước về xây dựng và thi hành pháp luật, Bộ Tư pháp đã và đang đóng góp, góp phần quan trọng trong kiến tạo nền tảng pháp lý vững chắc, phục vụ mục tiêu phát triển đất nước; đồng thời, đóng vai trò chủ đạo trong xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ pháp luật, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và thúc đẩy tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Những kết quả đạt được thể hiện qua các nội dung chính sau:
Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Ngày 01/01/2004, tỉnh Lai Châu chính thức được chia tách thành tỉnh Điện Biên và Lai Châu. Đây cũng là thời điểm Sở Tư pháp tỉnh Lai Châu (mới) được thành lập và đi vào hoạt động. Trải qua hơn 21 năm xây dựng và phát triển, ngành Tư pháp tỉnh Lai Châu đã vượt qua khó khăn, thử thách, ngày càng lớn mạnh và khẳng định được vai trò, vị thế của mình.

Theo dõi chúng tôi trên: