Thứ ba 08/09/2026 16:04
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Bảo vệ quyền đối với đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp 4.0

Trong bài viết “Bảo vệ quyền đối với đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp 4.0” tác giả Lê Thị Thúy Nga đã đi sâu phân tích những nội dung chính sau: (i) Thế nào là quyền về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình; (ii) Quy định pháp luật Việt Nam về bảo vệ quyền đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình; (iii) Thực trạng xâm phạm quyền đối với đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp 4.0; (iv) Các phương thức bảo vệ quyền về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp 4.0; (v) Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật Việt Nam trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp 4.0.


1. Thế nào là quyền về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình

Hiện nay, pháp luật chưa đưa ra khái niệm về quyền về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình. Chúng ta có thể hiểu các quyền này như sau[1]:

Về đời sống riêng tư của cá nhân: Là tập hợp các yếu tố tạo thành nét riêng đặc thù, độc lập và mang dấu ấn của riêng cá nhân, không thể trộn lẫn với người khác. Đời sống riêng tư của cá nhân có đặc điểm riêng biệt của cá nhân trong quá trình sống, thời gian sống, sự trải nghiệm trong các quan hệ xã hội mà hình thành và mang dấu ấn riêng của cá nhân.

Về bí mật cá nhân: Bí mật cá nhân là tổng thể các quan hệ quá khứ, các thông tin liên quan đến cá nhân mang tính chất chi phối các quan hệ cụ thể của cá nhân mà bị bộc lộ sẽ gây cho cá nhân những bất lợi hoặc dễ gây ra sự hiểu lầm ở các chủ thể khác.

Đời sống riêng tư và bí mật cá nhân là hai thành tố hợp thành bí mật đời tư của cá nhân, là quyền nhân thân gắn với cá nhân được pháp luật bảo hộ.

Về bí mật gia đình: Là những thông tin về vụ việc, tài liệu liên quan đến các quan hệ giữa các thành viên của gia đình với nhau có mối quan hệ hữu cơ đến truyền thống nhiều đời hay một đời về huyết thống, về bệnh lý, về năng lực trí tuệ của các thành viên có tính hệ thống, nếu bị bộc lộ sẽ gây ra sự bất lợi cho các thành viên gia đình trong các quan hệ xã hội và quan hệ pháp luật khác thuộc nhiều lĩnh vực. Bí mật gia đình được giữ kín, nếu tất cả các thành viên trong gia đình có ý thức không muốn bộc lộ, thì không chủ thể nào có quyền xâm phạm.

Ở một số quốc gia trên thế giới (Hoa Kỳ, Úc, Liên bang Nga…), quyền riêng tư hay quyền bí mật đời tư đều hướng đến nội dung sau: (i) Quyền được sở hữu các thông tin cá nhân, yêu cầu chủ thể nắm giữ thông tin chỉnh sửa thông tin cá nhân nhằm đảm bảo tính toàn vẹn, chính xác; (ii) Quyền cho phép bên thứ ba tiếp cận thông tin cá nhân của mình; (iii) Quyền yêu cầu Nhà nước, tổ chức hoặc các chủ thể khác có liên quan có các biện pháp bảo đảm tính bí mật[2].

2. Quy định pháp luật Việt Nam về bảo vệ quyền đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình

Ở nước ta, quyền về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình đã được quy định ngay trong Điều 21 Hiến pháp năm 2013, cụ thể:

“Mọi người có quyền bất khả xâm phạm về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình; có quyền bảo vệ danh dự, uy tín của mình;

Thông tin về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình được pháp luật bảo đảm an toàn”.

Thể chế hóa tinh thần của Hiến pháp năm 2013, Điều 38 Bộ luật Dân sự năm 2015 chính là căn cứ pháp lý trong việc bảo vệ đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình. Theo quy định tại khoản 2 Điều 38 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì việc thu thập, lưu giữ, sử dụng, công khai thông tin liên quan đến đời sống riêng tư, bí mật cá nhân phải được người đó đồng ý. Khoản 4 Điều 38 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: “Các bên trong hợp đồng không được tiết lộ thông tin về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình của nhau mà mình đã biết được trong quá trình xác lập, thực hiện hợp đồng, trừ trường hợp có thỏa thuận khác”. Quy định này nhằm ngăn chặn các hành vi lạm dụng lòng tin của nhau trong quan hệ hợp đồng nhằm mục đích trục lợi và ngăn chặn người thứ ba nếu biết được các thông tin liên quan đến cá nhân là chủ thể giao kết, thực hiện hợp đồng để thực hiện hành vi nhằm mục đích không trong sáng, gây thiệt hại về danh dự, uy tín của cá nhân là chủ thể xác lập, thực hiện hợp đồng.

Như vậy, Điều 38 Bộ luật Dân sự năm 2015 đã cụ thể hóa các quy định của Điều 21 Hiến pháp năm 2013 và là căn cứ viện dẫn để giải quyết các tranh chấp dân sự liên quan đến các hành vi trái pháp luật, hành vi cố ý xâm phạm đến quyền về đời sống riêng tư của cá nhân, bí mật cá nhân và bí mật gia đình.

Có thể dựa vào các tiêu chí sau đây làm căn cứ xác định một thông tin, tài liệu là bí mật đời tư:

Thứ nhất, thông tin, tài liệu đó phải thuần túy về cuộc sống riêng tư, thầm kín của cá nhân. Đây là yếu tố thể hiện rõ nhất tính “đời tư” của cá nhân.

Thứ hai, những thông tin, tài liệu này không bắt buộc phải công khai cho mọi người biết.

Thứ ba, việc giấu kín những thông tin, tài liệu này không làm ảnh hưởng đến lợi ích của Nhà nước, của xã hội và của cá nhân khác. Việc xem xét yếu tố này là hoàn toàn phù hợp, pháp luật bảo vệ quyền bí mật đời tư của cá nhân, những tài liệu và thông tin bí mật của cá nhân chỉ khi những thông tin, tài liệu đó là hợp pháp, mà tính hợp pháp được xem xét đầu tiên dựa trên việc không làm ảnh hưởng đến lợi ích của bất kỳ chủ thể nào khác, đặc biệt là Nhà nước và xã hội[3].

3. Thực trạng xâm phạm quyền đối với đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình trong bối cảnh cánh mạng công nghiệp 4.0

Cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 có đặc trưng là sự kết hợp các công nghệ giúp xóa nhòa ranh giới giữa các lĩnh vực vật lý, số hóa và sinh học; là cuộc cách mạng của sự hội tụ ở đỉnh cao, sự tiết kiệm các nguồn lực ở mức tối ưu nhất từ trước tới nay. Cuộc cách mạng này đã phát triển thành các xu hướng công nghệ lớn và ngày càng trở nên phổ biến trong đời sống xã hội hiện nay như công nghệ IoT (Internet of Thing - Internet vạn vật), AI (Artificial Intelligence - Trí tuệ nhân tạo), VR (Virtual Reality - Thực tế ảo), AR (Augmented Reality - Tương tác ảo), Cloud (Điện toán đám mây), Big Data (Dữ liệu lớn), công nghệ in 3D[4]… Thực tế cho thấy, các quy định pháp luật dân sự, trong đó, các quy định về quyền về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình cũng chịu ảnh hưởng từ những tác động to lớn của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0.

Hiện nay, có thể kể đến những vụ việc điển hình như việc Facebook bị kiện vì tính năng nhận hình ảnh đại diện: Hệ thống gợi ý tag ảnh của Facebook đã vi phạm sự riêng tư của người dùng bằng cách thu thập dữ liệu để tạo ra faceprint (dữ liệu hình học mô phỏng khuôn mặt người) mà không được phép. Tính năng faceprint thường được sử dụng để xác định người dùng và tự động gợi ý, nhận ra khi họ có mặt trong những tấm hình khi được tải lên mạng xã hội. Theo đơn khiếu nại, hành động này của Facebook đã vi phạm Đạo luật riêng tư về thông tin sinh trắc học của Bang Illinois (Hoa Kỳ), trong đó nghiêm cấm thu thập các dạng thông tin sinh trắc học của con người như dấu vân tay hay khuôn mặt mà chưa được sự đồng ý của cá nhân[5]. Chính vì vậy, không chỉ Việt Nam mà cả các quốc gia trên thế giới đều yêu cầu Facebook ngừng thu thập dữ liệu thông tin người dùng[6].

Với cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, Big Data là tài sản thông tin, mà những thông tin này có khối lượng dữ liệu lớn, tốc độ cao và dữ liệu đa dạng, đòi hỏi phải có công nghệ mới để xử lý hiệu quả nhằm đưa ra được các quyết định hiệu quả, khám phá được các yếu tố ẩn sâu trong dữ liệu và tối ưu hóa được quá trình xử lý dữ liệu[7]. Hiện nay, thông tin khách hàng, nhất là data của ngân hàng, là nguồn dữ liệu khổng lồ, bị mua bán trái với ý muốn của khách hàng mà chưa được xử lý. Trong đó, những thông tin về tên, số điện thoại, địa chỉ email, thông tin về số tiền gửi và biến động tài khoản ngân hàng cũng bị mua bán để sử dụng vào những mục đích khác nhau[8].

Như vậy, internet kết nối vạn vật cũng như Big Data bên cạnh những ảnh hưởng tích cực cũng dẫn đến tình trạng thu thập và chia sẻ các thông tin về cá nhân không được sự cho phép càng trở nên dễ dàng và phổ biến. Việc sử dụng thông tin nhân thân của cá nhân như hình ảnh, tên, độ tuổi, giới tính… vào hệ thống dữ liệu của một công ty nào đó đang trở nên phổ biến. Trong đó, những thông tin về bí mật đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình của một số chính trị gia, diễn viên, ca sĩ... không chỉ xâm phạm đến quyền về bí mật đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình của họ mà còn gây tổn hại đến tinh thần, danh dự, nhân phẩm, uy tín của người đó[9]. Nghiêm trọng hơn, những khách hàng bị lộ thông tin cá nhân còn trở thành nạn nhân của tội trộm cắp, lừa đảo chiếm đoạt tài sản[10].

Tuy nhiên, việc xác định chủ thể trên mạng xã hội đã có hành vi trái pháp luật là xâm phạm đến bí mật cá nhân, bí mật gia đình của người khác rất khó khăn (do đặc tính không gian mạng internet, liên quan đến nhiều quốc gia...). Do đó, rất khó để có thể truy cứu trách nhiệm pháp lý cho các tổ chức, cá nhân có hành vi trái pháp luật này.

4. Các phương thức bảo vệ quyền về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình trong bối cảnh cách mạng công nghiệp 4.0

Các phương thức bảo vệ quyền nhân thân có thể kể đến là biện pháp tự bảo vệ và các biện pháp pháp lý khác theo quy định của pháp luật dân sự, hành chính, hình sự. Trong phạm vi bài viết này, tác giả chỉ tập trung vào đánh giá việc bảo vệ quyền về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình bằng phương thức dân sự.

Việc xác định mức thiệt hại, mối quan hệ nhân quả trong vụ kiện đòi bồi thường thiệt hại trong những vụ việc xâm phạm quyền về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình còn gặp nhiều khó khăn. Điều kiện phát sinh trách nhiệm dân sự của người có hành vi xâm phạm quyền riêng tư, bí mật cá nhân và bí mật gia đình bao gồm các điều kiện sau:

(i) Có hành vi trái pháp luật: Hành vi xâm phạm đến quyền về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình là hành vi trái pháp luật. Người có hành vi xâm phạm các quyền nhân thân của cá nhân trái pháp luật phải chịu trách nhiệm dân sự như: Xin lỗi, cải chính, bồi thường thiệt hại. Căn cứ vào hành vi gây thiệt hại và nếu động cơ của chủ thể gây thiệt hại, mức độ thiệt hại là nghiêm trọng thì người gây thiệt hại có hành vi trái pháp luật có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Người có hành vi xâm phạm đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình của cá nhân là người có lỗi (lỗi vô ý hoặc cố ý).

(ii) Có thiệt hại về lợi ích tinh thần, vật chất: Những thiệt hại về quyền nhân thân do hành vi trái pháp luật gây ra được xác định là hành vi làm tổn thất về tinh thần, vật chất cho cá nhân; người gây thiệt hại có trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho người bị thiệt hại. Những khoản bồi thường thiệt hại do quyền nhân thân bị xâm phạm là bồi thường thiệt hại về vật chất và bồi thường thiệt hại về tinh thần theo quy định tại Điều 592 Bộ luật Dân sự năm 2015.

(iii) Có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi xâm phạm quyền về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình và thiệt hại về vật chất, về tinh thần xảy ra cho người bị thiệt hại: Hành vi gây thiệt hại về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình là nguyên nhân của thiệt hại về vật chất và những tổn thất về tinh thần của người bị thiệt hại.

Xác định hành vi xâm phạm đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình thỏa mãn các điều kiện trên thì người có hành vi trái pháp luật phải bồi thường cho người bị thiệt hại. Tính chất của trách nhiệm bồi thường trong trường hợp này là trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng. Tuy nhiên, trong bối cảnh cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, việc xác định các yếu tố này để tiến hành bồi thường thiệt hại không đơn giản, đòi hỏi cơ quan có thẩm quyền có năng lực trình độ và sự phối hợp từ các quốc gia khác.

Bên cạnh những thách thức nêu trên, thực tế việc bảo vệ quyền về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình còn gặp khó khăn khi các căn cứ pháp luật quy định còn thiếu hoặc chưa phù hợp. Chẳng hạn, nội dung quyền về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình chưa được quy định cụ thể, các phương thức bảo vệ quyền chưa đầy đủ hay chế tài xử lý chưa có tính răn đe với người xâm phạm quyền này.

5. Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật Việt Nam trong bối cảnh cách mạng công nghiệp 4.0

Cần thống nhất quy định về các phương thức bảo vệ quyền về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình.

Cần mở rộng, làm rõ nội hàm quyền về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình. Vì hiện nay có rất nhiều cách hiểu khác nhau, có cách hiểu quyền riêng tư là quyền được một mình, có cách hiểu quyền này theo nghĩa hẹp hơn là quyền kiểm soát các thông tin về bản thân. Một khái niệm dung hòa thì là sự tự do khỏi sự can thiệp không hợp lý và không mong muốn vào các hoạt động mà xã hội thừa nhận là thuộc về phạm vi tự chủ của cá nhân. Phạm vi tự chủ của cá nhân là những hành động không làm ảnh hưởng đến tự do của người khác, nơi một người cách ly với những người khác để tạo nên một cuộc đời của mình như mong muốn và ước vọng của cá nhân.

Quy định trách nhiệm của các cơ quan liên quan trong việc giữ an toàn và bí mật thuộc về cơ quan bưu chính. Hiến pháp và các đạo luật khác ở Việt Nam có quy định về bí mật thư tín, điện tín, điện thoại, tin nhắn… của cá nhân được bảo đảm an toàn và đảm bảo tính bí mật về nội dung. Việc khám xét, bóc mở thư tín, điện tín, tin nhắn của cá nhân phải do người có thẩm quyền tiến hành theo quy định của pháp luật. Cần có cơ chế kiểm soát hành vi của các doanh nghiệp trong nước và nước ngoài để hạn chế hành vi nghe trộm nội dung điện thoại, bóc mở để đọc, sao chụp dưới mọi hình thức tin nhắn, điện tín, thư tín hay ghi âm nội dung đàm thoại của người khác.

Sự phát triển của công nghệ trong cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 đã và đang tác động đến nhiều mặt của đời sống xã hội, đòi hỏi rất nhiều các lĩnh vực pháp luật phải được điều chỉnh để ứng xử kịp thời trước những vấn đề phát sinh. Cùng với đó, pháp luật về bảo vệ quyền nhân thân cần có những quy định thúc đẩy sự phát triển của công nghệ được ứng dụng mạnh mẽ trong đời sống, làm cho sự phát triển của công nghệ mang lại lợi ích chung và thúc đẩy tiến bộ xã hội.

ThS. Lê Thị Thúy Nga

Viện Khoa học pháp lý, Bộ Tư pháp

[1]. Phùng Trung Tập (2018), Quyền đối với đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình, Tạp chí Kiểm sát số 02/2018, tr. 2 - 3.

[2]. TS. Bùi Đức Hiển (2019), “Pháp luật về bảo vệ quyền về đời sống tiêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình ở một số quốc gia trên thế giới”, Đề tài khoa học cấp Bộ “Cơ chế pháp lý bảo vệ quyền về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình”, Hà Nội, 2019, tr. 3.

[3]. ThS. Đoàn Thị Ngọc Hải, Quyền về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình trong pháp luật dân sự, tham khảo trực tuyến tại: Https://moj.gov.vn/qt/tintuc/Pages/nghien-cuu-trao-doi.aspx?ItemID=2442, ngày truy cập 16/10/2019.

[4]. TS. Nguyễn Thị Thu Vân, “Bảo vệ dữ liệu cá nhân trong bối cảnh cách mạng công nghiệp 4.0 - Những thách thức đối với nhà làm luật”, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, 2017.

[5]. Tham khảo trực tuyến tại: Http://www.nhandan.com.vn/congnghe/item/29549502-facebook-bi-kien-vi-chuc-nang-nhan-dien-khuon-mat-trong-anh.html, đăng tải ngày 10/5/2016.

[6]. Tham khảo trực tuyến tại: Https://vtv.vn/the-gioi/duc-yeu-cau-facebook-ngung-thu-thap-du-lieu-ca-nhan-20190216121433653.htm, đăng tải ngày 16/02/2019.

[7]. Tham khảo trực tuyến tại: Https://blogchiasekienthuc.com/dan-cong-nghe/cach-mang-4-0-la-gi.html.

[8]. Tham khảo trực tuyến tại: Https://vtv.vn/mua-ban-data.html, đăng tải ngày 26/02/2019.

[9]. Tham khảo trực tuyến tại: Http://www.doisongphapluat.com/tin-tuc/tin-trong-nuoc/dau-long-nhung-vu-tu-tu-vi-bi-dang-clip-len-mang-xa-hoi-a222250.html, đăng tải ngày 12/3/2018.

[10]. Tham khảo trực tuyến tại: Https://suckhoedoisong.vn/-thong-tin-tai-khoan-ngan-hang-n166582.html, đăng tải ngày 09/12/2019.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chuyển đổi số trong hoạt động ngân hàng đã làm thay đổi căn bản phương thức xác lập và thực hiện các hợp đồng, giao dịch. Nhiều giao dịch được thực hiện hoàn toàn trên môi trường điện tử thông qua Internet Banking, Mobile Banking, eKYC, chữ ký điện tử, xác thực OTP và các hệ thống ngân hàng lõi (Core Banking). Khi phát sinh tranh chấp, chứng cứ không chỉ là hồ sơ giấy mà còn là dữ liệu điện tử được lưu giữ trên các hệ thống thông tin của ngân hàng và của khách hàng. Mặc dù Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015) và Luật Giao dịch điện tử năm 2023 đã thiết lập cơ sở pháp lý quan trọng cho việc thừa nhận dữ liệu điện tử là nguồn chứng cứ. Tuy nhiên, việc xác định giá trị chứng minh của loại chứng cứ này vẫn còn nhiều khoảng trống cần tiếp tục hoàn thiện.
Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Ngày 25/6/2025, Quốc hội khóa XV đã thông qua Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 (Luật số 89/2025/QH15) đánh dấu bước quan trọng trong tư duy lập pháp, quản lý của Nhà nước đối với hệ thống ngân sách nhà nước, đáp ứng yêu cầu tổ chức mô hình chính quyền địa phương hai cấp trên phạm vi toàn quốc. Bài viết đề cập nội dung của Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 gắn với việc tổ chức mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, làm rõ những kết quả từ việc sửa đổi Luật phù hợp với thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội, tổ chức bộ máy hành chính hiện nay.
THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

Trong cấu trúc an ninh phi truyền thống hiện đại, an ninh năng lượng đóng vai trò là “mạch máu” sống còn, quyết định sức bền kinh tế và vị thế quốc gia. Bước vào giai đoạn 2026 - 2030, trước yêu cầu bứt phá tăng trưởng GDP ở mức hai con số gắn liền với cam kết lịch sử phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050, Việt Nam đứng trước bài toán vừa bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng trước biến động địa chính trị toàn cầu, vừa chủ động chuyển dịch năng lượng xanh theo chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước.
Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp, cải cách thủ tục hành chính tiếp tục được đẩy mạnh gắn với chuyển đổi số, phân cấp, phân quyền và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Kết quả thực hiện trong tháng 8/2026 cho thấy nhiều chuyển biến tích cực, đồng thời đặt ra yêu cầu tiếp tục đồng bộ dữ liệu, hoàn thiện quy trình và nâng cao hiệu quả phối hợp trong cải cách thủ tục hành chính.
Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp về tình hình, kết quả cải cách thủ tục hành chính (TTHC) tháng 8 và nhiệm vụ trọng tâm tháng 9/2026, cải cách TTHC đang chuyển sang một giai đoạn mới, trong đó dữ liệu và công nghệ số ngày càng giữ vai trò quan trọng trong quản trị và tổ chức thực hiện. Việc khai thác, kết nối, chia sẻ dữ liệu để tái cấu trúc quy trình, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục đang từng bước làm thay đổi phương thức quản lý, hướng tới nền hành chính hiện đại, hiệu quả, phục vụ tốt hơn người dân và doanh nghiệp.
Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bài viết phân tích yêu cầu tái cấu trúc phương thức bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong điều kiện tiếp tục tinh gọn tổ chức bộ máy và đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia. Từ cách tiếp cận hệ thống, bài viết làm rõ sự dịch chuyển từ bảo vệ bằng tuyên truyền tuyến tính sang bảo vệ bằng năng lực thể chế hóa, năng lực quản trị và hiệu quả tổ chức thực hiện; đồng thời phân tích vai trò của Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 66-NQ/TW) và Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 57-NQ/TW) như hai trục lớn của quá trình tái cấu trúc này. Trên cơ sở đó, bài viết khảo sát thực tiễn thi hành án dân sự, qua đó cho thấy “gọn hơn về tổ chức, mạnh hơn về quản trị” không chỉ là yêu cầu cải cách hành chính, mà còn là một phương thức củng cố niềm tin của Nhân dân vào hệ thống chính trị.
THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả không chỉ là giảm bớt hóa đơn tiền điện, mà còn trở thành “chìa khóa” bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, bảo vệ môi trường và hướng tới tăng trưởng xanh. Đứng trước những biến động phức tạp của chuỗi cung ứng toàn cầu, sự ra đời của các văn bản chỉ đạo chiến lược như Chỉ thị số 09/CT-TTg, Chỉ thị số 10/CT-TTg và Công điện số 27/CĐ-TTg từ Chính phủ đang tạo ra những bước ngoặt lớn. Cuộc cách mạng này đòi hỏi sự đồng bộ từ hoàn thiện hành lang pháp lý, đổi mới công nghệ, đến sự thay đổi tư duy và hành động của mỗi người dân, doanh nghiệp.
“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 2)

“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 2)

Du lịch xanh, du lịch bền vững đã trở thành xu hướng phổ biến tại Việt Nam, nhưng để tiến tới mục tiêu "du lịch Net Zero", ngành Du lịch cần có nhiều thay đổi theo chiều sâu: từ việc xây dựng những sản phẩm xanh sang xây dựng những doanh nghiệp lữ hành thực sự bền vững. Đây là cả một quá trình bởi phát triển "du lịch Net Zero" không chỉ liên quan đến môi trường mà còn đòi hỏi sự thay đổi đồng bộ về mô hình kinh doanh, sản phẩm, công nghệ, nhân lực, quan hệ với cộng đồng và cách thức ứng xử với các giá trị văn hóa.
“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 1)

“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 1)

Du lịch Việt Nam đang đứng trước một giai đoạn phát triển mới, trong đó yêu cầu tăng trưởng không thể tách rời nhiệm vụ bảo tồn và phát huy những giá trị làm nên bản sắc dân tộc. Nếu thiên nhiên tạo nên diện mạo của đất nước thì văn hóa chính là chiều sâu, là ký ức, là “hồn cốt” để Việt Nam trở thành một điểm đến khác biệt trong mắt du khách trong nước và quốc tế. Bởi vậy, phát triển du lịch hôm nay không chỉ là câu chuyện về lượng khách, doanh thu hay số lượng cơ sở lưu trú, mà còn là câu chuyện về cách gìn giữ di sản, bảo vệ cảnh quan, duy trì lối sống cộng đồng và trao truyền những giá trị văn hóa Việt Nam cho các thế hệ mai sau. Trong câu chuyện đó, doanh nghiệp lữ hành đóng vai trò trung tâm, là “cầu nối” đưa văn hoá Việt Nam đến với du khách.
Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Trong bối cảnh tai nạn lao động vẫn diễn biến phức tạp, chuyển đổi số đang mở ra khả năng thay đổi căn bản phương thức quản trị an toàn, vệ sinh lao động (ATVSLĐ) tại doanh nghiệp. Từ số hóa hoạt động huấn luyện, cấp chứng nhận điện tử đến ứng dụng trí tuệ nhân tạo, cảm biến và robot để nhận diện, cảnh báo sớm nguy cơ, vấn đề đặt ra hiện nay là cần tiếp tục hoàn thiện hành lang pháp lý để chuyển từ quản lý mang tính thủ tục, hậu kiểm sang quản trị chủ động, lấy phòng ngừa rủi ro làm trọng tâm.
Đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

Đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

Với mục tiêu đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, thành phố Hà Nội đặt trọng tâm vào đổi mới nội dung, hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật, tăng cường ứng dụng công nghệ số và xây dựng đội ngũ làm công tác phổ biến, giáo dục pháp luật am hiểu địa bàn, phong tục, tập quán và văn hóa của người dân nơi đây.
Con người – “Chìa khóa” đánh thức nguồn lực phát triển văn hóa trong kỷ nguyên vươn mình

Con người – “Chìa khóa” đánh thức nguồn lực phát triển văn hóa trong kỷ nguyên vươn mình

Trong bước chuyển mình của đất nước bước vào kỷ nguyên mới, văn hóa đang được đặt ở vị trí ngày càng quan trọng trong chiến lược phát triển quốc gia. Cùng với đó, con người được xác định là trung tâm của sự nghiệp phát triển văn hóa khi vừa là chủ thể sáng tạo, gìn giữ, vừa là lực lượng trực tiếp biến những giá trị ấy thành nguồn lực phát triển cho đất nước.
Quan điểm, định hướng mới của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai

Quan điểm, định hướng mới của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai

Ngày 16/6/2022, Ban chấp hành trung ương Đảng khóa XIII ban hành Nghị quyết số 18-NQ/TW về "Tiếp tục đổi mới, hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý và sử dụng đất, tạo động lực đưa nước ta trở thành nước phát triển có thu nhập cao" (Nghị quyết số 18-NQ/TW). Để hiện thực hóa mục tiêu đưa đất nước trở thành nước phát triển có thu nhập cao, trong thời điểm hiện tại, nhằm phù hợp với sự phát triển chung của đất nước, Hội nghị lần thứ ba, Ban chấp hành trung ương Đảng khóa XIV đã đưa ra những quan điểm, định hướng sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan tại Nghị quyết số 21-NQ/TW ngày 28/7/2026 (Nghị quyết số 21-NQ/TW) làm kim chỉ nam cho mọi hoạt động sửa đổi chính sách pháp luật sau này. Nghị quyết số 21-NQ/TW đã thể hiện những điểm mới trong chủ trương của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan.
Luật Thủ đô năm 2026: Mở rộng cơ hội đầu tư cho nhiều dự án

Luật Thủ đô năm 2026: Mở rộng cơ hội đầu tư cho nhiều dự án

Luật Thủ đô năm 2026 được Quốc hội thông qua ngày 23/4/2026 và có hiệu lực từ ngày 01/7/2026, tiếp tục hoàn thiện các cơ chế, chính sách đặc thù nhằm xây dựng và phát triển Thủ đô. Đáng chú ý, tại Điều 26 của Luật đã thiết lập khung chính sách tương đối toàn diện về thu hút đầu tư, ưu đãi, hỗ trợ đầu tư và phát triển doanh nghiệp, mở rộng cơ hội cho nhiều dự án trên địa bàn Thành phố được tiếp cận các chính sách ưu đãi về đất đai, thuế, tín dụng, hạ tầng, phát triển nhân lực và đổi mới sáng tạo.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Tóm tắt: Trong bối cảnh hệ thống pháp luật ngày càng phức tạp và thường xuyên thay đổi, việc tiếp cận, hiểu và sử dụng pháp luật trở thành thách thức đối với người dân. Mô hình phổ biến, giáo dục pháp luật hiện nay chủ yếu tập trung vào truyền đạt văn bản, chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu hỗ trợ người dân sử dụng pháp luật trong thực tiễn. Trên cơ sở phân tích xu hướng quốc tế về tiếp cận công lý lấy người dân làm trung tâm và ứng dụng công nghệ số, nghiên cứu đề xuất chuyển từ mô hình “phổ biến pháp luật” sang “hạ tầng tuân thủ phòng ngừa”, gắn phổ biến pháp luật với nhu cầu thực tiễn, cảnh báo sớm rủi ro pháp lý và hỗ trợ tra cứu, sử dụng pháp luật hiệu quả trong môi trường số.

Theo dõi chúng tôi trên: