Thứ năm 22/01/2026 18:37
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Bảo vệ quyền lợi của người bị hại theo Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015

Bị hại là một trong những chủ thể tham gia tố tụng hình sự, việc tham gia tố tụng của họ là nhằm bảo vệ, khôi phục những quyền và lợi ích hợp pháp của họ bị hành vi phạm tội xâm phạm.

Mặt khác, sự tham gia của họ trong tố tụng hình sự là nhân tố góp phần quan trọng trong việc đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội và xác định sự thật khách quan của vụ án. Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, có nhiều điểm mới về bị hại, thể hiện tinh thần, mục tiêu của cải cách tư pháp, đáp ứng nhu cầu sửa đổi nhằm khắc phục những bất cập, hạn chế trong tố tụng hình sự, đồng thời đánh dấu một bước quan trọng về việc bảo đảm nâng cao quyền con người, quyền công dân trong tố tụng hình sự phù hợp với tinh thần của Hiến pháp năm 2013, là cơ sở pháp lý để giải quyết toàn diện vụ án hình sự, kể cả các vấn đề dân sự phát sinh trong vụ án hình sự. Bài viết đã đề cập tới một số nội dung trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, liên quan đến việc bảo vệ quyền lợi của người bị hại, như: Một số điểm mới về bị hại trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Những yêu nhằm bảo đảm tính khả thi trong áp dụng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự về bảo vệ quyền lợi của bị hại.

Một trong những mục tiêu của cải cách tư pháp hiện nay là hoàn thiện các thủ tục tư pháp, đảm bảo tính đồng bộ, dân chủ, công khai, minh bạch, đặc biệt là tôn trọng và bảo vệ quyền con người. Bảo đảm quyền lợi của bị hại, nguyên đơn dân sự trong tố tụng hình sự chính là việc tôn trọng và bảo vệ quyền con người của những chủ thể bị người phạm tội gây ra những thiệt hại về thể chất, tinh thần, tài sản và uy tín. Trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, có nhiều điểm mới về bị hại, thể hiện tinh thần, mục tiêu của cải cách tư pháp, đáp ứng nhu cầu sửa đổi nhằm khắc phục những bất cập, hạn chế trong tố tụng hình sự.

1. Một số điểm mới về bị hại trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015

Thứ nhất, định danh lại chủ thể là “bị hại” chứ không phải là “người bị hại”, mở rộng phạm vi chủ thể là bị hại

Điều 51 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 quy định: “Người bị hại là người bị thiệt hại về thể chất, tinh thần, tài sản do tội phạm gây ra”. Với quy định này cùng với một số văn bản hướng dẫn một số vụ án cụ thể của Tòa án nhân dân tối cao dẫn đến việc nhận thức và áp dụng quy định về người bị hại không thống nhất, ngay cả việc xác định chủ thể là người bị hại cũng có những quan điểm khác nhau, các quan điểm truyền thống cho rằng chủ thể là người bị hại trong tố tụng hình sự chỉ là cá nhân không thể là pháp nhân, càng không thể là tổ chức không có tư cách pháp nhân. Nếu tổ chức bị tội phạm gây ra thiệt hại thì họ là nguyên đơn dân sự.[1] Quan điểm này dựa trên cơ sở quy định “người bị hại là người…”, từ “người” có hàm ý chỉ cá nhân, nó phù hợp với thiệt hại mang tính đặc trưng gắn với một cá nhân con người cụ thể là “thể chất”, “tinh thần”. Quan điểm khác cho rằng, người bị hại có thể là cá nhân, cũng có thể là tổ chức nếu thiệt hại của tổ chức là thiệt hại do hành vi phạm tội trực tiếp gây ra, còn thiệt hại gián tiếp thì tổ chức sẽ có tư cách nguyên đơn dân sự nếu nộp đơn yêu cầu cơ quan tiến hành tố tụng bảo vệ quyền lợi của mình[2]. Với những quan điểm khác nhau như vậy dẫn đến quyền lợi của người bị hại trong những vụ án hình không được bảo đảm một cách triệt để đồng thời khó khăn đối với chính người bị hại trong việc thực hiện quyền tố tụng của mình.

Khắc phục những hạn chế đó, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 không định danh chủ thể là “người bị hại” mà định danh chủ thể bị thiệt hại do hành vi của người phạm tội là “bị hại”, đồng thời quy định như sau: “Bị hại gồm cá nhân bị thiệt hại về thể chất, tinh thần, tài sản và cơ quan, tổ chức bị thiệt hại về tài sản, uy tín do tội phạm gây ra hoặc đe dọa gây ra”[3]. Quy định này xác định cụ thể, rõ ràng những chủ thể là bị hại trong vụ án hình sự, mở rộng phạm vi chủ thể bị hại không chỉ là cá nhân, mà còn bao gồm cả cơ quan, tổ chức (có hoặc không có tư cách pháp nhân), bảo đảm sự thống nhất trong xác định tư cách bị hại cũng như bảo đảm quyền lợi chính đáng của bị hại trong quá trình áp dụng pháp luật giải quyết vụ án hình sự.

Thứ hai, quy định một số quyền mới của bị hại

Quyền đưa ra chứng cứ của bị hại, bên cạnh quyền đưa ra tài liệu, đồ vật và yêu cầu như trước đây, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 bổ sung thêm “bị hại có quyền đưa ra chứng cứ”. Quy định này phù hợp với quy định mới về chứng cứ[4], đồng thời mở rộng quyền của bị hại trong quá trình chứng minh người phạm tội, hành vi của người phạm tội, chứng minh những thiệt hại của mình là do hành vi phạm tội gây ra, thậm chí bị hại có thể chứng minh cả những tình tiết khác có ý nghĩa trong việc giải quyết quyền lợi của mình như việc giải quyết bồi thường thiệt hại.

Quyền đề nghị chủ tọa phiên tòa hỏi bị cáo và những người tham gia phiên tòa. Có thể nói đây là quyền rất đặc biệt đối với bị hại, nếu như trước đây, bị hại chỉ tham gia phiên tòa một cách thụ động thể hiện qua quyền được trình bày ý kiến tại phiên tòa và thực tế xét xử mà chúng tôi quan sát qua một số vụ, thì bị hại cũng chỉ trình bày ý kiến khi chủ tọa phiên tòa hỏi, chủ tọa phiên tòa cũng chủ yếu hỏi về phần thiệt hại và yêu cầu bị hại trình bày ý kiến về mức bồi thường. Với quy định về quyền đề nghị chủ tọa phiên tòa hỏi bị cáo và những người tham gia phiên tòa, Bộ luật Tố tụng hình sự đã trao quyền chủ động cho bị hại khi tham gia phiên tòa và nâng cao vị thế tố tụng của bị hại trong quá trình tham gia tố tụng nói chung và tham gia phiên tòa nói riêng. Đồng thời thông qua quyền này, bị hại có thể truy vấn những vấn đề mà bị hại đặt ra hoặc những nội dung, tình tiết của vụ án mà bị hại thấy rằng việc chứng minh còn chưa khách quan toàn diện ảnh hưởng đến lợi ích của bị hại.

Quyền nhờ người bảo vệ quyền lợi của mình. Bị hại là chủ thể bị hành vi của người phạm tội gây ra hoặc đe dọa gây ra những thiệt hại về thể chất, tinh thần, tài sản, uy tín, vì vậy, quyền lợi trước tiên của bị hại khi tham gia tố tụng là được bồi thường thiệt hại, được bù đắp những tổn thất tinh thần mà họ phải gánh chịu do người phạm tội gây ra cho họ. Để bảo vệ được quyền lợi của mình (như quyền được bồi thường, được bù đắp tổn thất, được xin lỗi, cải chính công khai…), bị hại được tự tiến hành các hoạt động cụ thể như đưa ra mức bồi thường và chứng minh thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra cho mình cũng như yêu cầu cơ quan tiến hành tố tụng áp dụng các biện pháp bảo đảm việc bồi thường. Tuy nhiên, trên thực tế việc tiến hành các hoạt động tự bảo vệ quyền lợi nói trên phải có các căn cứ và luận chứng rõ ràng mà không phải chủ thể bị hại nào cũng tiến hành một cách hiệu quả được, vì vậy, việc nhờ người khác có chuyên môn bảo vệ quyền lợi cho bị hại là cần thiết. Thực tế, việc nhờ người khác bảo vệ quyền lợi cho bị hại đã được linh hoạt thực hiện trong quá trình xét xử, nhưng về mặt quyền pháp lý thì Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 chính thức quy định đây là quyền của bị hại để họ có thể lựa chọn hoặc là tự mình bảo vệ quyền lợi của mình hoặc là nhờ người khác bảo vệ quyền lợi cho mình.

Quyền được tham gia một số hoạt động tố tụng. Đây là quyền mới được bổ sung đối với bị hại thể hiện vị trí và vai trò của bị hại khi họ tham gia tố tụng. Những quy định về quyền của người bị hại trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 phản ánh vai trò của bị hại chỉ thực sự được thể hiện trong giai đoạn xét xử, bởi khi đó, bị hại mới thực hiện yêu cầu Tòa án giải quyết quyền lợi của mình và thực chất vai trò này cũng tương đối mờ nhạt. Với quyền được tham gia một số hoạt động tố tụng hình sự thì vai trò của bị hại đã được coi trọng hơn, theo quy định trên, họ có thể được tham gia vào một số hoạt động điều tra của cơ quan điều tra (trước đây bị hại chỉ có quyền được thông báo kết quả điều tra), bị hại cũng có thể tham gia vào hoạt động tố tụng Tòa án như đề nghị chủ tọa phiên tòa hỏi bị cáo và những người tham gia phiên tòa (như chúng tôi đã phân tích ở phần trên). Trên cơ sở quyền được tham gia một số hoạt động tố tụng, bị hại chủ động hơn trong việc bảo vệ quyền lợi của mình như họ có được thông tin từ cơ quan điều tra mà không phải chờ đến khi kết thúc điều tra, họ chủ động đưa ra câu hỏi và yêu cầu chủ tọa phiên tòa hỏi chứ không phải chờ đến khi chủ tọa đề nghị cho biết ý kiến. Tuy nhiên, cũng cần phải nhận thức rằng việc tham gia một số hoạt động tố tụng của bị hại phải tuân thủ những điều kiện nhất định chẳng hạn như việc tham gia đó không ảnh hưởng đến tính khách quan, không gây khó khăn và cản trở đến hoạt động của các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng.

Quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng bảo vệ tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản của mình hoặc của người thân khi bị đe dọa. Bị hại trong tố tụng hình sự là chủ thể tham gia tố tụng có địa vị pháp lý độc lập, là một bên có quyền cáo buộc đối với bị can, bị cáo. Quyền cáo buộc của họ mang tính chất truy cứu trách nhiệm dân sự (trong trường hợp họ yêu cầu bồi thường thiệt hại, bồi hoàn tài sản hoặc những yêu cầu dân sự khác), thậm chí mang tính chất truy cứu trách nhiệm hình sự (trong trường hợp bị hại thực hiện quyền buộc tội trong vụ án khởi tố theo yêu cầu của bị hại). Chính vì tính chất đối lập như vậy đối với bị can, bị cáo, bị hại có nguy cơ bị đe dọa hoặc bị trực tiếp xâm hại về tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản trong quá trình tham gia tố tụng hình sự. Để bảo đảm an toàn cho bị hại, Bộ luật Tố tụng hình sự quy định thêm quyền rất thiết thực cho bị hại là họ được yêu cầu cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải thực hiện các biện pháp cần thiết để bảo vệ cho họ và người thân của họ khi họ nhận thấy thực sự có nguy cơ bị xâm hại hoặc có căn cứ cụ thể về những hành vi đe dọa họ nhằm gây sức ép hoặc cản trở quyền tố tụng của họ.

Bên cạnh những điểm mới bổ sung về quyền của bị hại, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 tiếp tục kế thừa và chỉnh lý một số quyền cơ bản khác để bảo vệ quyền lợi chính đáng của bị hại và phù hợp với yêu cầu thực tế hiện nay. Chẳng hạn như quyền đưa ra mức bồi thường và các biện pháp bảo đảm bồi thường, được chỉnh lý thành quyền đề nghị hình phạt, đưa ra mức bồi thường, biện pháp bảo đảm bồi thường5; quyền yêu cầu khởi tố của bị hại, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 không quy định khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của bị hại đối với tội xâm phạm quyền tác giả như Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003[6]...

Thứ ba, sửa đổi quy định về nghĩa vụ của bị hại theo hướng mở rộng và gắn với các biện pháp cưỡng chế nếu vi phạm nghĩa vụ

Ngoài những điểm mới về quyền của bị hại, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 cũng sửa đổi một số nghĩa vụ của bị hại theo hướng mở rộng trách nhiệm của bị hại trong quá trình tham gia tố tụng, đồng thời gắn liền với đó là các biện pháp cưỡng chế để bảo đảm nghĩa vụ của bị hại phải được thực thi trên thực tế.

Nghĩa vụ phải chấp hành các quyết định tố tụng của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng7 đòi hỏi bị hại phải có trách nhiệm thực hiện các yêu cầu của các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng thể hiện trong các quyết định tố tụng. Với quy định hiện nay, bị hại phải có mặt theo giấy triệu tập của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng; trường hợp cố ý vắng mặt hoặc có hành vi gây khó khăn, cản trở hoạt động điều tra, truy tố, xét xử thì có thể bị dẫn giải; nếu bị hại từ chối hoặc trốn tránh việc khai báo, giám định, cung cấp tài liệu mà không có lý do chính đáng thì có thể phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ luật Hình sự.

2. Những yêu nhằm bảo đảm tính khả thi trong áp dụng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự về bảo vệ quyền lợi của bị hại

Với sự chỉnh lý, sửa đổi, bổ sung của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 trong quy định về bị hại đã mở rộng quyền của bị hại và đòi hỏi các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng phải bảo đảm các quyền đó khi áp dụng pháp luật trong giải quyết vụ án hình sự. Tuy nhiên, theo chúng tôi, để bảo đảm tính khả thi trong quá trình áp dụng quy định của pháp luật tố tụng hình sự về bảo vệ quyền của bị hại cần phải có văn bản hướng dẫn, giải thích rõ một số quyền cơ bản sau đây:

Một là, đối với quyền đưa ra mức bồi thường, các biện pháp bảo đảm việc bồi thường, cần phải hướng dẫn theo hướng mở rộng quyền và cụ thể hóa các biện pháp bảo đảm việc bồi thường. Quyền đưa ra mức bồi thường phải bao gồm các quyền được đưa ra một định mức cụ thể về tài sản được bồi thường, quyền yêu cầu về hình thức, phương thức bồi thường, quyền xác định các loại thiệt hại được bồi thường. Mặt khác, thực tế cho thấy, bị hại ít khi yêu cầu áp dụng các biện pháp bảo đảm việc bồi thường. Điều này xuất phát từ việc bị hại không nắm được quy định của pháp luật về các biện pháp bảo đảm việc bồi thường, chưa có hướng dẫn cụ thể về các biện pháp này. Trong Bộ luật Dân sự có quy định về các biện pháp bảo đảm việc thực hiện nghĩa vụ (như thế chấp, cầm cố, đặt cọc, ký quỹ, ký cược, bảo lãnh, tín chấp) nhưng những biện pháp này chỉ phù hợp với quan hệ hợp đồng, còn việc bồi thường thiệt hại trong vụ án hình sự là bồi thường ngoài hợp đồng. Vậy các biện pháp bảo đảm sẽ mang tính chất khác đó là xác định được tài sản của người đã gây ra thiệt hại và cần có các biện pháp để những tài sản đó sẽ được dùng để bồi thường cho người bị hại như phong tỏa tài khoản tại ngân hàng, kê biên tài sản, hạn chế hoặc cấm việc chuyển nhượng tài sản trong một thời gian nhất định... Vì vậy, theo chúng tôi các biện pháp mang tính đặc thù nói trên phải được hướng dẫn mang tính thể chế hóa thành quyền của người bị hại để họ có cơ sở đề xuất với cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Ngoài ra, theo khoản 1 Điều 62 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003, cơ quan, tổ chức bị thiệt hại về tài sản, uy tín do hành vi phạm tội gây ra hoặc đe doa gây ra là bị hại trong vụ án và họ phải được bồi thường theo nguyên tắc ngang giá, đối với thiệt hại về tài sản, việc xác định và chứng minh đã có cơ sở. Tuy nhiên đối với những thiệt hại về uy tín của cơ quan, tổ chức, hiện nay chưa có căn cứ để xác định, vì vậy cũng cần phải có hướng dẫn cụ thể thiệt hại về uy tín của cơ quan, tổ chức theo hướng đưa ra căn cứ xác định thiệt hại về uy tín, hình thức xâm hại đến uy tín, mức độ thiệt hại về uy tín, phương thức bồi thường và khắc phục hậu quả thiệt hại về uy tín.

Có thể nói quyền được bồi thường là quyền cơ bản nhất và quan trọng nhất của bị hại, bởi vì quyền này đáp ứng được mục đích, nhu cầu của họ khi tham gia tố tụng hình sự. Điều này đặt ra yêu cầu cần phải được hướng dẫn cụ thể hóa mới bảo đảm tính khả thi khi áp dụng các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự về bảo vệ quyền của bị hại.

Hai là, đối với quyền được tham gia các hoạt động tố tụng của bị hại. Đây là một quyền mới của bị hại thể hiện vị trí và vai trò của bị hại được chủ động hơn trong quá trình tham gia tố tụng hình sự để bảo vệ kịp thời quyền lợi của mình. Tuy nhiên, việc áp dụng quyền này trên thực tế sẽ rất khó khăn nếu không có hướng dẫn cụ thể bởi vì trong các giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự có rất nhiều các hoạt động tố tụng, trong đó có các hoạt động đặc thù mang tính chuyên môn, thậm chí là có những hoạt động mang tính bí mật (chưa thể công khai) để bảo đảm hiệu quả tố tụng. Mặt khác, có những hoạt động tố tụng, bị hại tham gia là cần thiết nhưng cũng có những hoạt động tố tụng bị hại không cần thiết phải tham gia. Vì vậy, chúng tôi thấy cần có quy phạm hướng dẫn quyền này cụ thể theo hướng trong từng giai đoạn tố tụng bị hại được tham gia vào những hoạt động tố tụng cụ thể nào, mức độ tham gia, hình thức tham gia và trách nhiệm nếu cản trở hoạt động tố tụng khi tham gia.

Ba là, về quyền yêu cầu cơ quan tiến hành tố tụng bảo vệ tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản của mình hoặc của người thân thích khi bị đe dọa. Đây cũng là một quyền mới của bị hại được ghi nhận trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, trong quyền này, người bị hại khi thấy bị đe dọa có thể chủ động yêu cầu để được cơ quan tiến hành tố tụng bảo đảm sự an toàn về thân thể và tài sản. Tuy nhiên, để áp dụng cần phải làm rõ các vấn đề sau: Tính chất nguy hiểm của sự đe dọa đến mức độ nào thì cần có sự bảo vệ của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng; cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng nào phải bảo vệ; cách thức bảo vệ như thế nào, bảo vệ về tài sản cần phải phối hợp với cơ quan, tổ chức nào.

Bị hại là chủ thể tham gia tố tụng hình sự, việc tham gia tố tụng của họ là nhằm bảo vệ, khôi phục những quyền và lợi ích hợp pháp của họ bị hành vi phạm tội xâm phạm. Mặt khác, sự tham gia của họ trong tố tụng hình sự là nhân tố góp phần quan trọng trong việc đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội và xác định sự thật khách quan của vụ án. Với sự chỉnh lý, sửa đổi, bổ sung của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 trong quy định về bị hại đã đánh dấu một bước quan trọng về việc bảo đảm nâng cao quyền con người, quyền công dân trong tố tụng hình sự phù hợp với tinh thần của Hiến pháp năm 2013, là cơ sở pháp lý để giải quyết toàn diện vụ án hình sự, kể cả các vấn đề dân sự phát sinh trong vụ án hình sự. Sự phân tích những điểm mới quy định về bị hại trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và đặt ra những yêu cầu bảo đảm tính khả thi có ý nghĩa nhận thức và xác định đúng tư cách của bị hại trong tố tụng hình sự, bảo đảm những quyền tố tụng của bị hại được thực thi trên thực tế, góp phần nâng cao hiệu quả của việc giải quyết vụ án hình sự bảo đảm tính khách quan, chính xác, kịp thời và toàn diện.

ThS. Ngô Quang Cảnh

Đại học Cảnh sát nhân dân

Tài liệu tham khảo:

[1]. Vũ Gia Lâm “Bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người bị hại trong tố tụng hình sự Việt Nam” – Tạp chí Luật học số 11 năm 2011, tr. 29.

[2]. Lê Nguyên Thanh “Người bị thiệt hại do tội phạm gây ra trong TTHS Việt Nam”, Luận án Tiến sĩ luật học, tr. 27.

[3]. Khoản 1 Điều 62 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

[4]. Xem Điều 86 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

[5]. Xem điểm g, khoản 2 Điều 62 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

[6]. Xem khoản 1 Điều 155 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Khoản 1 Điều 133 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003.

[7]. Xem khoản 4 Điều 62 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Việc lập và nộp hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH), đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là thủ tục bắt buộc, bảo đảm tính chặt chẽ, minh bạch và khách quan trong quá trình lựa chọn những người tiêu biểu tham gia cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Căn cứ Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND, Hội đồng bầu cử quốc gia đã ban hành mẫu biểu, hướng dẫn và quy trình tiếp nhận hồ sơ, tạo điều kiện để người được giới thiệu ứng cử và người tự ứng cử thực hiện quyền chính trị - pháp lý đúng quy định.
Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Việc điều chỉnh cơ cấu và phân bổ giới thiệu người ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) được thực hiện trên cơ sở điều chỉnh lần thứ nhất của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về cơ cấu, thành phần và số lượng được phân bổ cho từng cơ quan, tổ chức, đơn vị. Trên cơ sở đó, Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tổ chức hội nghị hiệp thương có trách nhiệm thông báo phân bổ và hướng dẫn nội dung, trình tự, thủ tục giới thiệu người ứng cử, bảo đảm việc lập hồ sơ ứng cử được thực hiện theo quy định pháp luật.
Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Từ năm 2026, các quy định liên quan đến thu nhập từ kinh doanh, từ tiền lương, tiền công của cá nhân cư trú tại Luật Thuế thu nhập cá nhân số 109/2025/QH15 có hiệu lực, với nhiều chính sách mới như tăng mức giảm trừ gia cảnh lên 15,5 triệu đồng, nâng ngưỡng doanh thu chịu thuế của hộ, cá nhân kinh doanh lên 500 triệu đồng/năm giúp giảm gánh nặng đối với người nộp thuế.
Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Luật Thương mại điện tử số 122/2025/QH15 được Quốc hội thông qua ngày 10/12/2025, gồm 07 chương, 41 điều, được xây dựng theo định hướng kiến tạo phát triển, tăng cường hiệu quả quản lý và bảo vệ lợi ích chính đáng của doanh nghiệp, người tiêu dùng với nhiều nội dung mới, nổi bật. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2026.
Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Hội đồng nhân dân (HĐND) cấp tỉnh, cấp xã và bố trí đại biểu HĐND hoạt động chuyên trách nhiệm kỳ 2026 - 2031 là nội dung quan trọng nhằm bảo đảm tổ chức bộ máy HĐND các cấp tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu sắp xếp đơn vị hành chính và định hướng cải cách của Đảng và Nhà nước. Những quy định này được thực hiện thống nhất theo Nghị quyết số 106/2025/UBTVQH15 ngày 16/10/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) và các văn bản có liên quan.
Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là một trong những quyền chính trị cơ bản của công dân, đồng thời là khâu có ý nghĩa quyết định đối với chất lượng hoạt động của cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Pháp luật về bầu cử không chỉ bảo đảm quyền ứng cử của công dân mà còn đặt ra những tiêu chuẩn, điều kiện, giới hạn và cơ chế sàng lọc chặt chẽ nhằm lựa chọn được những người đủ đức, đủ tài, xứng đáng đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân.
Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức theo các quy định chặt chẽ của Hiến pháp và pháp luật về bầu cử, trong đó xác định rõ tổng số đại biểu được bầu, cơ cấu, thành phần người ứng cử cũng như nguyên tắc phân bổ đại biểu ở từng địa phương. Bài viết làm rõ số lượng ĐBQH khóa XVI dự kiến được bầu, các yêu cầu về tỷ lệ đại diện của phụ nữ, người dân tộc thiểu số và những nguyên tắc cụ thể để xác định số lượng đại biểu HĐND các cấp, qua đó giúp cử tri hiểu rõ hơn cơ sở pháp lý và ý nghĩa của việc bảo đảm tính đại diện, dân chủ trong bầu cử.
Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Theo quy định tại Điều 7 Hiến pháp năm 2013 và Điều 1 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015, việc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tiến hành theo các nguyên tắc bầu cử phổ thông; nguyên tắc bình đẳng trong bầu cử; nguyên tắc bầu cử trực tiếp; nguyên tắc bỏ phiếu kín. Việc quán triệt và thực hiện nghiêm các nguyên tắc này không chỉ bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân, mà còn là thước đo quan trọng để đánh giá một cuộc bầu cử dân chủ, đúng pháp luật.
Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là những người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân trong bộ máy quyền lực nhà nước. Trên cơ sở Hiến pháp năm 2013, được sửa đổi, bổ sung năm 2025, Luật Tổ chức Quốc hội và Luật Tổ chức chính quyền địa phương quy định rõ hệ thống quyền hạn, trách nhiệm cũng như cơ chế miễn trừ đối với đại biểu nhằm bảo đảm thực hiện đầy đủ chức năng lập pháp, giám sát, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và địa phương, đồng thời tăng cường trách nhiệm của đại biểu dân cử trước cử tri và xã hội.
Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số là yêu cầu cấp thiết trong tiến trình xây dựng xã hội phát triển toàn diện và bền vững ở Việt Nam hiện nay. Trên cơ sở phân tích lý luận và khảo sát thực tiễn tại tỉnh Gia Lai, nơi có 24,76% dân số là người dân tộc thiểu số thuộc 44 thành phần, bài viết đánh giá việc thực hiện quyền này theo khung phân tích của Bình luận chung số 21 của Liên hợp quốc, gồm ba tiêu chí: tính sẵn có, khả năng tiếp cận và tính chấp nhận được. Kết quả cho thấy, còn tồn tại hạn chế về thiết chế văn hóa cơ sở, chênh lệch vùng miền và mức độ tham gia còn hình thức. Từ đó, bài viết đề xuất giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả, bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số tại tỉnh Gia Lai.
Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu cải cách toàn diện, đẩy mạnh hội nhập quốc tế và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, việc nâng cao vai trò lãnh đạo toàn diện, trực tiếp của Đảng đối với hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp có ý nghĩa chiến lược và cấp thiết.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bài viết nêu lên vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước và đề xuất một số giải pháp nâng cao vai trò của Bộ Tư pháp trong giai đoạn mới.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Trong quá trình phát triển của đất nước, đặc biệt, trong 10 năm gần đây, với sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế - xã hội Việt Nam, việc xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật là công tác đặc biệt quan trọng. Với sự nỗ lực không ngừng, Bộ Tư pháp đã cùng các bộ, ngành làm tốt công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và đưa pháp luật vào cuộc sống, góp phần quan trọng trong thực hiện thành công công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế, giữ vững chủ quyền quốc gia, an ninh, trật tự xã hội, nâng cao đời sống vật chất và văn hóa, tinh thần của Nhân dân, bảo đảm công bằng xã hội, xây dựng xã hội dân chủ, văn minh theo đường lối của Đảng và Nhà nước. Để đạt được những thành tựu đó, nhiều hoạt động đã được triển khai đồng bộ, từ công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL); đặc biệt, đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực làm công tác xây dựng, thi hành pháp luật. Bộ Tư pháp đã chủ động, tích cực phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, trong đó có Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trong công tác xây dựng thể chế, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác pháp chế.
Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Với chức năng là cơ quan của Chính phủ, thực hiện quản lý nhà nước về xây dựng và thi hành pháp luật, Bộ Tư pháp đã và đang đóng góp, góp phần quan trọng trong kiến tạo nền tảng pháp lý vững chắc, phục vụ mục tiêu phát triển đất nước; đồng thời, đóng vai trò chủ đạo trong xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ pháp luật, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và thúc đẩy tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Những kết quả đạt được thể hiện qua các nội dung chính sau:
Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Ngày 01/01/2004, tỉnh Lai Châu chính thức được chia tách thành tỉnh Điện Biên và Lai Châu. Đây cũng là thời điểm Sở Tư pháp tỉnh Lai Châu (mới) được thành lập và đi vào hoạt động. Trải qua hơn 21 năm xây dựng và phát triển, ngành Tư pháp tỉnh Lai Châu đã vượt qua khó khăn, thử thách, ngày càng lớn mạnh và khẳng định được vai trò, vị thế của mình.

Theo dõi chúng tôi trên: