Thứ sáu 01/05/2026 20:22
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Bảo vệ quyền lợi của người thứ ba ngay tình có quyền bề mặt hoặc quyền hưởng dụng khi giao dịch dân sự vô hiệu

Bài viết phân tích những vấn đề lý luận và quy định pháp luật về bảo vệ quyền lợi của người thứ ba ngay tình có quyền bề mặt hoặc quyền hưởng dụng khi giao dịch dân sự vô hiệu, từ đó, đưa ra một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật.

1. Bảo vệ quyền lợi của người thứ ba ngay tình khi giao dịch dân sự vô hiệu

Trên cơ sở nghiên cứu một số quan điểm, có thể nhận định, giao dịch dân sự vô hiệu là giao dịch không thỏa mãn một trong các điều kiện được pháp luật quy định như về chủ thể tham gia, mục đích và nội dung giao dịch, sự tự nguyện trong giao dịch, hình thức giao dịch. Khi giao dịch dân sự vô hiệu, các chủ thể tham gia giao dịch sẽ gánh chịu những tổn thất khác nhau trong việc không đạt được mục đích khi xác lập giao dịch. Bên cạnh đó, giao dịch dân sự vô hiệu dẫn đến việc giải quyết hậu quả pháp lý rất phức tạp, đặc biệt với trường hợp có sự xuất hiện của người thứ ba ngay tình. Đối với người thứ ba ngay tình khi giao dịch dân sự vô hiệu, đây là chủ thể nhận chuyển giao tài sản từ một bên chủ thể trong giao dịch vô hiệu mà tài sản đó là đối tượng, do không biết hoặc không buộc phải biết tài sản nhận được từng là đối tượng của giao dịch vô hiệu và họ sẽ là người bị ảnh hưởng quyền lợi từ giao dịch vô hiệu.

Trong khoa học pháp lý, bảo vệ quyền lợi của người thứ ba ngay tình được tiếp cận dưới góc độ ngôn ngữ học theo nghĩa của từ bảo vệ là chống lại mọi sự xâm phạm để giữ cho luôn luôn được nguyên vẹn[1] và nghĩa của từ quyền lợi là quyền được hưởng lợi ích về chính trị - xã hội, về vật chất, tinh thần do kết quả lao động của bản thân tạo nên hoặc do phúc lợi chung do Nhà nước, xã hội hoặc tập thể cơ quan, xí nghiệp, tổ chức nơi mình sinh sống, làm việc đem lại[2]. Theo đó, bảo vệ quyền lợi của người thứ ba ngay tình là những biện pháp tác động thông qua các quy định pháp luật nhằm chống lại sự xâm phạm đến lợi ích chính đáng của người thứ ba ngay tình hoặc khôi phục quyền lợi của họ khi giao dịch vô hiệu và bảo vệ quyền lợi người thứ ba ngay tình là bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của họ trong mối quan hệ với chủ sở hữu ban đầu và người xác lập giao dịch với họ khi có một giao dịch dân sự trước đó làm ảnh hưởng đến quyền lợi của họ[3]. Như vậy, bảo vệ quyền lợi người thứ ba ngay tình là bằng các biện pháp được pháp luật quy định để ngăn chặn các hành vi xâm hại nhằm bảo vệ lợi ích của người thứ ba được nguyên vẹn hoặc khôi phục lại quyền lợi bị xâm hại khi giao dịch dân sự vô hiệu và lợi ích của người thứ ba ngay tình là lợi ích trong mối quan hệ với chủ sở hữu và người trung gian tham gia giao dịch với họ. Bên cạnh đó, bảo vệ quyền lợi của người thứ ba ngay tình, ngoài các biện pháp, cách thức được pháp luật quy định thì còn bằng các biện pháp khác không trái quy định pháp luật như tự bảo vệ, thương lượng, buộc người có hành vi xâm phạm trả lại tài sản, yêu cầu chấm dứt hành vi trái pháp luật cản trở việc thực hiện quyền lợi của mình, yêu cầu bồi thường thiệt hại. Hơn nữa, còn có biện pháp do Tòa án, cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác sử dụng để bảo vệ quyền lợi của người thứ ba ngay tình trước các hành vi xâm phạm. Từ đó có thể rút ra kết luận: “Bảo vệ quyền lợi của người thứ ba ngay tình là những biện pháp không trái với quy định của pháp luật do người thứ ba ngay tình, cơ quan nhà nước có thẩm quyền sử dụng nhằm ngăn chặn các nguy cơ xâm phạm đến quyền lợi của người thứ ba ngay tình và khôi phục lại các lợi ích vật chất, những tổn thất đã xảy ra với họ do các hành vi xâm phạm hoặc các yếu tố khác gây ra”.

2. Xác định chủ thể và lý do cần bảo vệ quyền lợi của người thứ ba ngay tình có quyền bề mặt hoặc quyền hưởng dụng khi giao dịch dân sự vô hiệu

2.1. Xác định chủ thể người thứ ba ngay tình có quyền bề mặt hoặc quyền hưởng dụng

Quyền bề mặt, quyền hưởng dụng là quyền phụ thuộc và phái sinh từ quyền sở hữu đối với tài sản. Đối với quyền bề mặt thì xuất phát từ quy định đặc thù của pháp luật Việt Nam nên trên diện tích đất tồn tại ba loại chủ thể: Chủ sở hữu đất (toàn dân mà Nhà nước là đại diện); chủ sở hữu quyền sử dụng đất (người được Nhà nước giao quản lý, khai thác đất); chủ thể quyền bề mặt (người được sở hữu khoảng không gian bị chia cắt, người trực tiếp canh tác, hoặc tiến hành các công trình xây dựng trên đất, các công trình dưới lòng đất...)[4]. Đối với quyền hưởng dụng trong quan hệ dân sự, có hai chủ thể riêng biệt là chủ sở hữu tài sản có quyền chiếm hữu, chi phối, định đoạt và hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản và chủ thể có quyền hưởng dụng là người có quyền chiếm hữu, khai thác công dụng, hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản thuộc quyền sở hữu của chủ thể khác.

Như vậy, khi xuất hiện chủ thể quyền bề mặt hoặc quyền hưởng dụng thì quyền của chủ sở hữu sẽ bị thu hẹp lại, hay nói cách khác, chủ sở hữu sẽ không còn đầy đủ các quyền năng chiếm hữu, sử dụng và định đoạt tài sản bởi một phần quyền của chủ sở hữu đã chuyển cho người có quyền bề mặt - xác lập các tài sản trên mặt đất, mặt nước, khoảng không trên mặt đất, mặt nước và trong lòng đất hoặc người có quyền hưởng dụng - khai thác công dụng, hưởng hoa lợi, lợi tức thu được từ tài sản là đối tượng của quyền hưởng dụng. Quyền sở hữu lúc này sẽ bị hạn chế, hay còn gọi là “quyền hư hữu” hoặc “hư quyền”. Chủ sở hữu bị giảm thiểu quyền sở hữu được gọi là “hư chủ”. Theo đó, “quyền hư hữu” là quyền còn lại của chủ sở hữu đối với tài sản mà người khác được hưởng hoa lợi, lợi tức của tài sản hoặc người khác được quyền xây dựng công trình, trồng cây trên thửa đất. Phần quyền còn lại này là quyền định đoạt tài sản của chủ sở hữu[5]. Khi chủ thể quyền bề mặt hoặc quyền hưởng dụng trở thành chủ sở hữu tài sản là đối tượng của quyền bề mặt hoặc quyền hưởng dụng6 dẫn đến trên một tài sản có thể có nhiều chủ thể mang quyền, đó là chủ sở hữu tài sản và người có quyền hưởng dụng (đối với quyền hưởng dụng) hoặc chủ sở hữu, chủ thể có quyền sử dụng đất và chủ thể có quyền bề mặt (đối với quyền bề mặt) nhưng khi đó, chủ sở hữu (chủ thể có quyền sử dụng đất) chỉ còn lại quyền định đoạt tài sản.

Tuy nhiên, chủ thể có quyền bề mặt hoặc quyền hưởng dụng là người thứ ba ngay tình khi giao dịch vô hiệu thì họ cũng phải có đầy đủ các đặc điểm của người thứ ba ngay tình, chỉ có điều khác biệt là chủ thể người thứ ba ngay tình ở đây là chủ thể được nhận chuyển giao quyền bề mặt hoặc quyền hưởng dụng mà không phải là quyền sở hữu.

2.2. Lý do cần bảo vệ quyền lợi của người thứ ba ngay tình là người có quyền bề mặt hoặc quyền hưởng dụng

Thứ nhất, mặc dù quyền bề mặt và quyền hưởng dụng là quyền phái sinh từ quyền sở hữu nhưng các quyền này được quy định là quyền khác đối với tài sản và quy định bên cạnh quyền sở hữu. Chủ thể có quyền bề mặt có quyền xác lập các tài sản trên mặt đất, mặt nước, khoảng không trên mặt đất, mặt nước và trong lòng đất (quyền khai thác, sử dụng mặt đất, mặt nước, khoảng không gian trên mặt đất, mặt nước và lòng đất thuộc quyền sử dụng đất của người khác để xây dựng công trình, trồng cây, canh tác)[7] và chủ thể có quyền hưởng dụng có quyền được khai thác công dụng và hưởng hoa lợi, lợi tức đối với tài sản thuộc quyền sở hữu của chủ thể khác[8]. Các chủ thể này được trực tiếp chiếm hữu, sử dụng, khai thác tài sản hoặc không trực tiếp chiếm hữu, sử dụng, khai thác tài sản để thực hiện các quyền bề mặt hoặc quyền hưởng dụng của mình. Theo đó, các chủ thể có quyền bề mặt hoặc quyền hưởng dụng được ghi nhận quyền của mình và họ cần phải được bảo vệ quyền lợi như các chủ thể có quyền khác, đặc biệt khi họ là chủ thể tham gia giao dịch một cách ngay tình, thiện chí thì mới bảo đảm công bằng và có ý nghĩa khi ghi nhận các quyền khác đối với tài sản.

Thứ hai, hiện nay không có quy định bảo vệ quyền lợi người thứ ba ngay tình có quyền bề mặt hoặc quyền hưởng dụng. Bởi lẽ, tại Điều 133 Bộ luật Dân sự năm 2015 đã sử dụng từ “chuyển giao” mà “chuyển giao” nghĩa là “(chủ sở hữu) giao cho người khác quyền sở hữu tài sản thuộc sở hữu của mình theo cam kết, thỏa thuận trong các hợp đồng dân sự”[9] và tại khoản 3 Điều 133 cũng chỉ quy định chủ thể là “chủ sở hữu” được quyền đòi lại tài sản từ người thứ ba ngay tình khi giao dịch vô hiệu. Do đó, từ “chuyển giao” theo Điều 133 là giao quyền sở hữu cho người thứ ba, nghĩa là người thứ ba đã nhận quyền sở hữu về mặt pháp lý. Như vậy, Điều 133 chỉ đang đề cập đến chủ thể người thứ ba ngay tình nhận quyền sở hữu mà không đề cập tới chủ thể người thứ ba ngay tình có quyền khác đối với tài sản như quyền bề mặt và quyền hưởng dụng. Đây có lẽ là một trong những thiếu sót khi xây dựng chế định quyền khác đối với tài sản. Bởi vì, Bộ luật Dân sự năm 2015 khi xây dựng quyền khác đối với tài sản bên cạnh quyền sở hữu đã dẫn đến sự xuất hiện của chủ thể có quyền sở hữu và người thứ ba ngay tình nhận quyền sở hữu và đồng thời xuất hiện chủ thể có quyền bề mặt hoặc quyền hưởng dụng và người thứ ba ngay tình nhận quyền bề mặt hoặc quyền hưởng dụng do hai quyền này có đặc điểm giống quyền sở hữu là được phép chuyển dịch từ chủ thể này sang chủ thể khác nên làm xuất hiện các chủ thể nhận quyền bề mặt và quyền hưởng dụng ngay tình.

Đồng thời, khoản 3 Điều 133 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: “Chủ sở hữu không có quyền đòi lại tài sản từ người thứ ba ngay tình”. Như vậy, điều khoản này chỉ bảo vệ quyền lợi của chủ thể có quyền sở hữu còn các chủ thể có quyền khác đối với tài sản thì điều luật không quy định, dẫn đến quyền lợi của các chủ thể có quyền khác đối với tài sản chưa được xác định và bảo vệ. Điều này dẫn đến việc thu hẹp chủ thể được bảo vệ quyền lợi khi giao dịch dân sự vô hiệu, không bao quát hết các trường hợp gồm cả những chủ thể có quyền khác khi mà quyền này lần đầu tiên được bổ sung vào Bộ luật Dân sự năm 2015; thể hiện sự không tương thích với quy định khác trong Bộ luật Dân sự năm 2015 về quyền khác đối với tài sản. Đối với những trường hợp chủ thể có quyền bề mặt hoặc quyền hưởng dụng ban đầu thì quyền lợi của họ được bảo vệ như thế nào và ở mức độ nào khi có sự xuất hiện của chủ thể người thứ ba ngay tình, vấn đề này Điều 133 lại không đề cập.

3. Bảo vệ quyền lợi của người thứ ba ngay tình có quyền bề mặt hoặc quyền hưởng dụng khi giao dịch dân sự vô hiệu

Qua việc phân tích ở trên có thể thấy, chủ thể người thứ ba ngay tình nhận chuyển giao quyền bề mặt hoặc quyền hưởng dụng từ một chủ thể không có quyền định đoạt cần phải được bảo vệ quyền lợi như đối với chủ thể người thứ ba ngay tình nhận chuyển giao quyền sở hữu theo quy định tại Điều 133 Bộ luật Dân sự năm 2015, theo đó, quyền bề mặt và quyền hưởng dụng của họ không bị ảnh hưởng khi giao dịch vô hiệu, họ đạt được quyền bề mặt và quyền hưởng dụng.

Đối với trường hợp giao dịch của người thứ ba ngay tình có quyền bề mặt hoặc quyền hưởng dụng bị vô hiệu thì họ phải trả lại tài sản cho chủ sở hữu và chủ thể có quyền khác đối với tài sản ban đầu, chấm dứt quyền bề mặt và quyền hưởng dụng của mình, họ có quyền yêu cầu người giao dịch với mình phải hoàn trả và bồi thường thiệt hại; đồng thời, quyền lợi của họ được bảo vệ ở mức tương đối, đó là:

- Chủ thể người thứ ba ngay tình có quyền bề mặt thì họ được bảo vệ quyền lợi theo quy định bảo vệ quyền lợi của người chiếm hữu, người sử dụng tài sản, người được lợi về tài sản mà không có căn cứ pháp luật nhưng ngay tình, đó là: Khi trả lại tài sản cho chủ sở hữu thì họ có quyền yêu cầu chủ sở hữu, người có quyền khác đối với tài sản phải hoàn trả chi phí cần thiết đã bỏ ra để bảo quản, làm tăng giá trị của tài sản[10]. Điều này là một thiệt thòi cho chủ thể người thứ ba ngay tình có quyền bề mặt bởi họ đã xây dựng công trình, trồng cây trên mặt đất, mặt nước, nhưng những công trình, cây trồng này có được tính vào việc làm tăng giá trị của tài sản hay không? Trong khi đó, đây là những tài sản thuộc sở hữu của chủ thể người thứ ba ngay tình có quyền bề mặt.

- Chủ thể người thứ ba ngay tình có quyền hưởng dụng thì được bảo vệ quyền lợi theo quy định bảo vệ quyền lợi của người chiếm hữu, người sử dụng tài sản, người được lợi về tài sản mà không có căn cứ pháp luật nhưng ngay tình đó là: Họ phải hoàn trả hoa lợi, lợi tức thu được từ thời điểm người đó biết hoặc phải biết việc chiếm hữu, sử dụng tài sản, được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật[11]. Theo đó, họ được quyền hưởng hoa lợi, lợi tức trong thời gian chiếm hữu ngay tình. Tuy nhiên, việc bảo vệ này là chưa tương xứng với người thứ ba ngay tình có quyền hưởng dụng, bởi lẽ, chỉ khi nào giao dịch của họ bị tuyên bố là vô hiệu thì quyền hưởng dụng của họ mới thực sự chấm dứt chứ không phải bị chấm dứt kể từ khi họ biết hoặc phải biết việc hưởng dụng của mình bị vô hiệu.

4. Một số kiến nghị

Thứ nhất, Bộ luật Dân sự năm 2015 cần quy định bổ sung vào Điều 133: Đối với chủ thể có quyền khác đối với tài sản là quyền bề mặt và quyền hưởng dụng cũng áp dụng theo quy định tại Điều này.

Thứ hai, nên bổ sung quy định chủ thể người thứ ba ngay tình có quyền bề mặt khi giao dịch vô hiệu trong trường hợp phải trả lại tài sản cho chủ sở hữu hoặc chủ thể có quyền bề mặt ban đầu có quyền được công nhận là chủ sở hữu đối với tài sản là công trình, cây trồng trên mặt đất, trong lòng đất, mặt nước, không gian trên mặt đất, mặt nước và họ có thể nhận nếu phần này có thể tách ra hoặc nếu không tách ra được thì họ phải được bồi thường giá trị tài sản tạo dựng tính theo thời giá lúc thanh toán, có tính đến thực trạng của công trình, cây trồng khi chủ sở hữu hoặc chủ thể có quyền bề mặt ban đầu muốn giữ lại thì mới bảo đảm lợi ích chính đáng cho chủ thể này.

Thứ ba, nên bổ sung quy định chủ thể người thứ ba ngay tình có quyền hưởng dụng khi giao dịch vô hiệu trong trường hợp phải trả lại tài sản cho chủ sở hữu hoặc chủ thể có quyền hưởng dụng ban đầu thì họ chỉ phải hoàn trả hoa lợi, lợi tức thu được từ thời điểm giao dịch của họ bị tuyên bố vô hiệu.

Tóm lại, nhìn chung, pháp luật Việt Nam đã có cơ chế bảo vệ người thứ ba ngay tình khi giao dịch vô hiệu. Tuy nhiên, việc bảo vệ quyền lợi người thứ ba ngay tình là người có quyền bề mặt và người có quyền hưởng dụng đang bị bỏ sót, gây ra những bất cập, vướng mắc trong thực tiễn áp dụng pháp luật. Do vậy, việc bổ sung quy định bảo vệ quyền lợi người thứ ba ngay tình là người có quyền bề mặt hoặc quyền hưởng dụng khi giao dịch vô hiệu là điều rất cần thiết nhằm tương thích giữa các điều luật trong Bộ luật Dân sự năm 2015 và có ý nghĩa quan trọng trong giai đoạn phát triển hội nhập quốc tế hiện nay khi việc bổ sung quy định này sẽ thúc đẩy các giao dịch dân sự đặc biệt là những giao dịch về quyền bề mặt và quyền hưởng dụng. Bởi lẽ, chỉ khi có những quy định bảo vệ chắc chắn thì người dân mới an tâm thực hiện, xác lập giao dịch về quyền bề mặt, quyền hưởng dụng. Từ đó, giúp cho việc sử dụng tài sản một cách hiệu quả, tránh lãng phí và đồng thời giúp kinh tế nước ta phát triển.

ThS. Nguyễn Thị Linh

Tòa án nhân dân huyện Hoài Đức, TP. Hà Nội

[1]. Viện Ngôn ngữ (2010), tr. 34.

[2]. Từ điển Luật học (1999), Nxb. Từ điển Bách khoa, tr. 406.

[3]. Nguyễn Vũ Hường, Luận văn “Bảo vệ quyền lợi của người thứ ba ngay tình khi giao dịch dân sự vô hiệu”, Đại học Luật Hà Nội (2016), tr. 14; Trần Thị Hồng Nhung, Luận văn thạc sỹ “Bảo vệ người thứ ba ngay tình theo Bộ luật Dân sự năm 2015”, Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội (2019), tr. 21.

[4]. Nguyễn Thị Long, “Quyền bề mặt theo pháp luật dân sự Việt Nam”, Tạp chí Luật học số 01/2018.

[5]. Đoàn Thị Phương Diệp, Nguyễn Thị Vy Quý, “Mối quan hệ giữa quyền hưởng dụng và quyền sở hữu tài sản dưới góc nhìn so sánh”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 20 (420), tháng 10/2020.

[6]. Khoản 3 Điều 265 Bộ luật Dân sự năm 2015.

[7]. Xem khoản 1 Điều 271 Bộ luật Dân sự năm 2015.

[8]. Xem thêm Điều 257 Bộ luật Dân sự năm 2015.

[9]. Từ điển giải thích thuật ngữ luật học: Luật dân sự; Luật hôn nhân và gia đình; Luật tố tụng dân sự/Trường Đại học Luật Hà Nội năm 1999, tr. 44.

[10]. Xem thêm tại Điều 582 Bộ luật Dân sự năm 2015.

[11]. Xem thêm tại Điều 581 Bộ luật Dân sự năm 2015.

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 1 (Số 394), tháng 12/2023)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định và tổ chức thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Kiến nghị hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định và tổ chức thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 là đạo luật quan trọng nhằm cụ thể hóa quyền tiếp cận thông tin của công dân theo Hiến pháp năm 2013[*], góp phần nâng cao tính công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Sau 08 năm thi hành, bên cạnh những kết quả đạt được, thực tiễn cho thấy còn bộc lộ một số hạn chế, bất cập trong quy định pháp luật và tổ chức thi hành, đặc biệt, liên quan đến phạm vi thông tin, trách nhiệm cung cấp thông tin, trình tự, thủ tục và điều kiện bảo đảm thực hiện quyền. Trên cơ sở nhận diện các vướng mắc, bất cập, nghiên cứu đề xuất định hướng sửa đổi, bổ sung Luật theo hướng bảo đảm tính đồng bộ với hệ thống pháp luật hiện hành, phù hợp với yêu cầu chuyển đổi số và tổ chức bộ máy nhà nước, đồng thời kiến nghị các giải pháp nâng cao hiệu quả tổ chức thi hành, qua đó góp phần bảo đảm tốt hơn quyền tiếp cận thông tin của công dân và xây dựng nền hành chính công khai, minh bạch.
Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018) sau hơn 08 năm thi hành đã bộc lộ nhiều bất cập trước sự vận động nhanh chóng của thực tiễn, đặc biệt là sự xuất hiện của các hình thức hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng và các quan hệ tôn giáo có yếu tố nước ngoài ngày càng phức tạp. Vì vậy, việc tăng cường quản lý nhà nước đối với các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng là yêu cầu cấp thiết không chỉ bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân mà còn nhằm giữ vững an ninh, trật tự xã hội và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới.
Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Thẩm quyền ban hành VBQPPL là nội dung trọng tâm nhằm bảo đảm mỗi loại VBQPPL được ban hành bởi đúng cơ quan, đúng cấp, vừa phù hợp với phạm vi pháp lý, vừa hạn chế rủi ro và xung đột giữa các văn bản.
Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Việc ban hành Luật Ban hành VBQPPL số 64/2025/QH15 được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 87/2025/QH15 và các nghị định hướng dẫn thi hành có ý nghĩa đặc biệt trong bối cảnh đổi mới tư duy xây dựng pháp luật, gắn kết chặt chẽ giữa xây dựng và thi hành pháp luật.
Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Bài viết phân tích quy trình xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ của Quốc hội và quy trình xây dựng chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội, từ đó, đưa ra một số lưu ý nhằm nâng cao hiệu quả việc thực hiện hai quy trình này.
Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Tóm tắt: Bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra góp phần bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp cần miễm trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra để bảo vệ lợi ích hợp pháp của các nhà sản xuất kinh doanh. Bài viết nghiên cứu những trường hợp miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023, đồng thời chỉ ra ưu, nhược điểm và hạn chế của Luật, từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Trong bối cảnh nhiều thách thức, đội ngũ luật sư với kiến thức chuyên môn và kỹ năng nghề nghiệp của mình, đóng vai trò then chốt trong việc nâng cao chất lượng, hiệu quả trợ giúp pháp lý.
Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Những năm qua, công tác trợ giúp pháp lý trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận. Nhiều vụ việc được trợ giúp pháp lý kịp thời, góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người nghèo, người có công với cách mạng và các nhóm yếu thế khác.
Ứng dụng công nghệ số, nền tảng trực tuyến, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động trợ giúp pháp lý

Ứng dụng công nghệ số, nền tảng trực tuyến, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động trợ giúp pháp lý

Những nỗ lực số hóa hồ sơ, vận hành Hệ thống quản lý trợ giúp pháp lý, kết nối dữ liệu dân cư, phát triển tư vấn trực tuyến… đã mở ra hướng tiếp cận mới, góp phần nâng cao chất lượng và tính minh bạch của dịch vụ trợ giúp pháp lý.
Tăng cường hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế trong tố tụng hình sự

Tăng cường hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế trong tố tụng hình sự

Trong tiến trình cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, việc bảo đảm quyền con người luôn là sợi chỉ đỏ xuyên suốt, đặc biệt, với đối tượng yếu thế, yêu cầu này càng trở nên cấp thiết và nhân văn. Trong tố tụng hình sự (TTHS), đối tượng yếu thế với tư cách bị hại, người làm chứng hay bị can, bị cáo, đã và đang phải đối mặt với hệ thống tư pháp hình sự. Đối tượng yếu thế có được tiếp cận công lý bình đẳng hay không phụ thuộc vào sự công tâm, chuyên nghiệp và nhạy cảm của các cơ quan trong hoạt động tố tụng, trong đó có vai trò của hoạt động trợ giúp pháp lý.
Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo trong bối cảnh mới

Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo trong bối cảnh mới

Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và thúc đẩy phát triển bền vững, hoạt động trợ giúp pháp lý đóng vai trò quan trọng trong việc bảo đảm công bằng xã hội và tiếp cận công lý cho người dân, đặc biệt là người nghèo thuộc nhóm đối tượng yếu thế.
Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Đây là giải pháp quan trọng nhằm khắc phục khó khăn, vướng mắc, nâng cao chất lượng tổ chức thi hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo.
Ưu điểm, hạn chế và một số vấn đề chính cần rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Ưu điểm, hạn chế và một số vấn đề chính cần rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 đã góp phần quan trọng trong việc bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của cá nhân, tổ chức, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đối với lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo. Tuy nhiên, thực tiễn triển khai Luật cũng bộc lộ những bất cập, hạn chế cần sửa đổi, hoàn thiện nhằm đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới.
Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là một trong những loại tội phạm có diễn biến ngày càng phức tạp, đa dạng và tinh vi. Phương thức thực hiện tội phạm không ngừng biến đổi, đặc biệt là việc sử dụng công nghệ cao để phạm tội, gây thiệt hại lớn đối với tài sản và tâm lý hoang mang cho người dân, ảnh hưởng đến trật tự, an toàn xã hội. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng các quy định của Bộ luật Hình sự về tội này vẫn còn tồn tại một số vướng mắc, bất cập từ chính quy định của pháp luật.
Xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Bài viết làm rõ sự cần thiết của việc xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên bứt phá, phát triển mới của dân tộc, theo tinh thần Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Đại hội XIV).

Theo dõi chúng tôi trên: