Thứ bảy 14/03/2026 13:26
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong giao dịch tín dụng của công ty tài chính ở Việt Nam

Người tiêu dùng Việt Nam đã quá quen thuộc với tín dụng tín dụng của hệ thống tổ chức tín dụng trong những năm gần đây. Những hoạt động hỗ trợ trong sản xuất, kinh doanh cũng như chi tiêu hàng ngày làm cho thị trường tín dụng tiêu dùng ngày càng phổ biến và phát triển đa dạng. Tuy nhiên, đi kèm với mức độ phát triển của hệ thống tín dụng tiêu dùng đó là những nhược điểm đã bộc lộ của pháp luật Việt Nam trong việc bảo vệ người tiêu dùng trong hoạt động tín dụng của các công ty tài chính. Do đó, hoàn thiện pháp luật về giao dịch tín dụng tiêu dùng là điều cần quan tâm trong giai đoạn hiện nay.

1. Quy định về cho vay tiêu dùng của công ty tài chính

Trong hệ thống pháp luật Việt Nam có rất nhiều các văn bản điều chỉnh hoạt động tín dụng của các tổ chức tín dụng, trong đó phải kể đến Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010. Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 ra đời nhằm điều chỉnh hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực tín dụng nhằm đảm bảo tính pháp lý của giao dịch tín dụng trên thị trường. Theo đó, cấp tín dụng được hiểu là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác[1]. Như vậy, tín dụng tiêu dùng có thể được xem là một phần trong hoạt động cấp tín dụng mà các tổ chức tín dụng có thể sử dụng như một công cụ để hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực tín dụng.

Hơn thế nữa, Ngân hàng Nhà nước cũng đã ban hành bổ sung và giải thích rõ hơn về hoạt động cho vay tiêu dùng tại Thông tư số 43/2016/TT-NHNN quy định cụ thể về cho vay tiêu dùng của công ty tài chính với kỳ vọng góp phần hoàn thiện các quy định pháp luật để bảo vệ quyền lợi người tiêu dung hiệu quả, giúp người dân tiếp cận tín dụng chính thống thay vì tín dụng đen. Theo đó, hoạt động cho vay của công ty tài chính được xác định là cho vay tiêu dùng khi là việc công ty tài chính cho vay bằng đồng Việt Nam đối với khách hàng là cá nhân nhằm đáp ứng nhu cầu vốn mua, sử dụng hàng hóa, dịch vụ cho mục đích tiêu dùng của khách hàng, gia đình của khách hàng đó với tổng dư nợ cho vay tiêu dùng đối với một khách hàng tại công ty tài chính đó không vượt quá 100.000.000 đồng. Căn cứ vào quy định này, có thể thấy hoạt động cho vay là đồng Việt Nam, vay vốn này phục vụ cho mục đích tiêu dùng của khách hàng, gia đình của khách hàng đó; chi phí học tập, chữa bệnh, du lịch, văn hoá, thể dục, thể thao; chi phí sửa chữa nhà ở[2]. Tổng dư nợ cho vay tiêu dùng đối với một khách hàng tại công ty tài chính đó không vượt quá 100.000.000 đồng, trừ trường hợp cho vay tiêu dùng để mua ôtô và sử dụng ôtô đó làm tài sản bảo đảm cho chính khoản vay đó theo quy định của pháp luật.

Về hình thức của hoạt động cho vay tiêu dùng, các công ty tài chính và người tiêu dùng sẽ ký các hợp đồng mẫu để giao dịch có hiệu lực. Theo Điều 2 Quyết định số 35/2015/QĐ-TTg ngày 20/8/2015 các tổ chức tín dụng phải đăng ký hợp đồng mẫu nếu thực hiện cho vay tiêu dùng. Ngoài ra, với quy định của Bộ luật dân sự vả Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, hợp đồng mẫu sẽ có những đặc điểm cần lưu ý: Thứ nhất, sự thoả thuận giữa các bên trong hợp đồng mẫu gần như triệt tiêu vì do có sự rút ngắn quá trình đàm phán, thương lượng giữa các bên để làm phát sinh quyền và nghĩa vụ[3]; thứ hai, chủ thể tham gia hợp đồng có sự bất cân xứng về thông tin trong quan hệ hợp đồng. Theo đó, một bên là chủ thể kinh doanh hàng hoá, dịch vụ, một bên là người tiêu dùng. Người tiêu dùng trong hợp đồng này chỉ bao gồm người mua, người sử dụng hàng hoá, dịch vụ cho mục đích tiêu dùng mà không có mục đích kinh doanh[4]; thứ ba, các điều khoản trong hợp đồng sẽ được tiêu chuẩn và sẽ được soạn sẵn bởi chủ thể kinh doanh dung để ký kết với nhiều chủ thể khác nhau. Nói cách khác, trong các giao dịch mua bán, chủ thể kinh doanh sẽ không phải làm một công đoạn là soạn thảo từng hợp đồng cho từng giao dịch. Do đó, hợp đồng mẫu là hình thức phù hợp nhất cho các tổ chức tín dụng sử dụng trong hoạt động tín dụng của mình.

2. Thực trạng giao dịch tín dụng tiêu dùng tại công ty tài chính ở Việt Nam hiện nay

Hoạt động tín dụng trên thế giới từ lâu đã phát triển với tốc độ chóng mặt kèm theo là nhiều hệ quả pháp lý mà các nhà lập pháp luôn quan tâm. Theo ước tính, cứ mỗi năm lại có thêm khoảng 150 triệu người tiêu dùng mới tham gia vào các giao dịch tài chính trên toàn thế giới, điều này đã cho thấy sức phát triển lớn mạnh của hoạt động tín dụng trong đời sống con người là rất cần thiết. Tạo nên một phần đáng kể của con số này, là số lượng người tiêu dùng đến từ các nước đang phát triển, nơi công tác bảo vệ người tiêu dùng và hiểu biết về tài chính còn đang trong giai đoạn đầu của quá trình hình thành. Phân tích cơ cấu trong loại hình tổ chức cho vay thì thị phần tín dụng tiêu dùng của nhóm ngân hàng thương mại nhà nước tăng mạnh, từ 39% toàn ngành năm 2016 lên 45,7% cuối năm 2017; nhóm ngân hàng thương mại cổ phần chiếm 42,4%, giảm nhẹ từ mức 47% cuối năm 2016; nhóm công ty tài chính và cho thuê tài chính chiếm 7,6% (năm 2016 là 9,3%), còn lại là nhóm ngân hàng nước ngoài.

Cùng với sự phát triển của hoạt động tài chính cũng như pháp luật liên quan tại Việt Nam, hàng loạt các công ty tài chính xuất hiện nhằm thoả mãn các nhu cầu vay tiêu dùng của khách hàng ngày một tăng. Các công ty Home Credit, FE Credit,… là những công ty hoạt động đã đáp ứng nhu cầu vay vốn nhanh chóng hơn so với các ngân hàng thương mại khác. Tuy nhiên, cùng với sự phát triển của các công ty tài chính này là hàng loạt các vi phạm xảy ra gây bất lợi cho quyền lợi nguời tiêu dùng[5].

Mặc dù hiện nay Ngân hàng Nhà nước đã chính thức ban hành Thông tư số 43/2016/TT-NHNN quy định cho vay tiêu dùng của các công ty tài chính, tạo một khuôn khổ pháp lý tài chính tiêu dùng khá minh bạch và lành mạnh bước đầu được thiết lập sau nhiều năm bị bỏ ngỏ. Khách hàng vay tiền có cơ hội được nâng cao vị thế của mình, “cởi trói” phần lớn các “bẫy” nợ nần, những nguy cơ đe dọa từ “tín dụng đen” mà họ phải đối mặt nếu không thanh toán nợ kịp thời. Tuy nhiên, lĩnh vực tín dụng tiêu dùng đang tiềm ẩn nhiều nguy cơ xâm phạm quyền lợi người tiêu dùng. Các hành vi xâm phạm này được thực hiện rất khéo léo, thường đánh vào đặc điểm chính của loại hình tín dụng tiêu dùng là thủ tục đơn giản và thời gian giải ngân nhanh. Thực trạng trên xuất phát từ những lý do sau:

Một là, khó khăn trong việc xử lý vấn đề lãi suất. Khoản 1 Điều 13 Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định tổ chức tín dụng và khách hàng thỏa thuận về lãi suất cho vay theo cung cầu vốn thị trường, nhu cầu vay vốn và mức độ tín nhiệm của khách hàng, trừ trường hợp Ngân hàng Nhà nước Việt Nam có quy định về lãi suất cho vay tối đa. Ngoài ra, theo quy định của Điều 9 Thông tư số 43/2016/TT-NHNN quy định về lãi suất cho vay tiêu dùng của công ty tài chính thực hiện theo quy định của Ngân hàng Nhà nước về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng. Công ty tài chính chỉ có trách nhiệm công bố mức lãi suất cao nhất và mức lãi suất thấp nhất đối với từng sản phẩm cho vay tiêu dùng mà không bị bất kỳ giới hạn nào về việc ấn định mức lãi suất với khách hàng. Quy định này là mâu thuẫn với Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015, trong đó giới hạn lãi suất thỏa thuận không được vượt quá 20%/năm. Mỗi bên trong quan hệ giao dịch tài chính tiêu dùng đều có lý lẽ và căn cứ pháp luật của riêng mình. Người đi vay luôn muốn thụ hưởng mức lãi suất hợp lý, tốt nhất là không vượt quá giới hạn 20%/năm theo Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015. Tuy nhiên, theo quy định của thông tư 43 thì công ty tài chính hoàn toàn có thể thoả thuận với người tiêu dùng về lãi suất cho vay và chắc chắn lãi suất trên 20%/năm là điều hoàn toàn có thể xảy ra. Điều này tạo ra các trường hợp bất lợi cho người tiêu dùng.

Hai là, quy định về hợp đồng mẫu trong Bộ luật Dân sự không bảo vệ được người tiêu dùng một cách hiệu quả. Theo đó, khoản 2 Điều 406 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: “Trường hợp điều kiện giao dịch chung có quy định về miễn trách nhiệm của bên đưa ra điều kiện giao dịch chung, tăng trách nhiệm hoặc loại bỏ quyền lợi chính đáng của bên kia thì quy định này không có hiệu lực, trừ trường hợp có thỏa thuận khác”. Với quy định này, cho dù người tiêu dùng khi đã xác lập hợp đồng với công ty tài chính có muốn khởi kiện ra Toà cũng không thể bảo vệ được quyền lợi mình triệt để bởi Bộ luật Dân sự ưu tiên sự thoả thuận của các bên. Nghĩa là, với thoả thuận của công ty tài chính có những điều khoản gây bất hợp lý với người tiêu dùng thì các bên phải tôn trọng sự thoả thuận đã ký trong hợp đồng.

Ba là, cung cấp thông tin không chính xác, đầy đủ về hợp đồng theo mẫu, điều kiện giao dịch chung. Một số trường hợp phản ánh đến Cục Quản lý cạnh tranh và bảo vệ người tiêu dùng cho thấy, người vay bị tính lãi suất 3 - 5%/tháng (36 - 60%/năm). Trước đó, người vay lại được nhân viên tư vấn lãi suất chỉ 1-2%/tháng (khoảng 12 - 24%/năm)[6]. Theo Điều 433 Bộ luật Dân sự năm 2015, việc sử dụng tài sản cũng như cung cấp thông tin cần thiết liên quan đến hoạt động vay thuộc về nghĩa vụ của người bán. Ngoài ra, theo khoản 6 Điều 10 Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng thì nghĩa vụ của công ty tài chính là phải thông báo chính xác, đầy đủ cho người tiêu dùng về hợp đồng theo mẫu, điều kiện giao dịch chung trước khi giao dịch. Tuy nhiên, nhân viên tư vấn không thông báo đầy đủ, chính xác về mức lãi suất của hợp đồng; về cách thức tính lãi phạt; về thời hạn phải trả tiền hàng tháng và một số điều khoản đặc biệt trong hợp đồng tín dụng tiêu dùng. Việc nắm không rõ lãi suất, quyền và nghĩa vụ của mình và ký vào hợp đồng do bên công ty tài chính ban hành đồng nghĩa người tiêu dùng bị trói buộc vào các nghĩa vụ gây bất lợi cho mình. Cuối cùng khi phát sinh nghĩa vụ, công ty tài chính đẩy trách nhiệm đến người tiêu dùng và chưa có một công cụ pháp lý hiệu quả nào điều chỉnh vấn đề này.

Bốn là, việc cung cấp đầy đủ chính xác thông tin mặc dù thuộc về công ty tài chính nhưng quy định của Thông tư số 43/2016/TT-NHNN chưa thực sự rõ ràng và hiệu quả. Theo đó, khoản 4 Điều 10 Thông tư số 43/2016/TT-NHNN công ty tài chính phải giải thích chính xác, đầy đủ, trung thực các nội dung cụ thể hợp đồng cho vay tiêu dùng khi có yêu cầu của khách hàng. Thiết nghĩ, đây là quy định gây ra sự bất lợi nhất định đối với người tiêu dùng bởi nghĩa vụ của công ty tài chính là cung cấp nội dung cơ bản của hợp đồng, việc này không thuộc vào yêu cầu từ phía người tiêu dùng.

Năm là, không thông báo rõ ràng mục đích thu thập thông tin. Trong quá trình thu thập thông tin để làm hồ sơ vay tiền, người tiêu dùng không được thông báo là các số điện thoại của người thân sẽ được sử dụng trong quá trình thu hồi nợ (nếu có) phát sinh về sau. Người tiêu dùng được thông báo là việc thu thập số điện thoại của người thân nhằm mục đích xác minh khoản vay; tuy nhiên, thực tế thì nhân viên thu hồi nợ thường xuyên và liên tục liên hệ với người thân để tác động kèm theo đe dọa và quấy nhiễu nhằm thu hồi nợ của khách hàng.

Với thực tế cho vay tiêu dung hiện nay, nhiều quyền lợi của người tiêu dùng bị xâm phạm cần phải có những quy định hiệu quả hơn nhằm đảm bảo sự ổn định cho hoạt động tài chính của Việt Nam

3. Một số giải pháp bảo vệ người tiêu dùng trong các giao dịch tín dụng tiêu dùng tại công ty tài chính Thứ nhất, hoàn thiện về pháp luật liên quan đến nghĩa vụ thông tin về dịch vụ. Theo đó, việc cung cấp các thông tin quan trọng nhất về đặc tính của vay tiêu dùng giúp cho người tiêu dùng có ý nghĩa định hướng cho hoạt động vay của người tiêu dùng, giúp cho người tiêu dùng có quyết định phù hợp với điều kiện của họ. Bên cạnh đó, còn giúp cho người tiêu dùng có khả năng khai thác giá trị hoạt động vay tiêu dùng một cách tốt nhất và tránh mắc phải sự mập mờ của bên cung cấp dịch vụ. Trong giai đoạn tới, khi Việt Nam hòa nhập sâu rộng hơn với kinh tế thế giới thì việc tham khảo kinh nghiệm, hoàn thiện các quy định của pháp luật về trách nhiệm của người cung cấp dịch vụ trong việc cung cấp thông tin dịch vụ lưu thông trên thị trường Việt Nam là một trong những công cụ quan trọng để bảo vệ người tiêu dùngngười tiêu dùng Việt Nam. Đi cùng với hoạt động trên là những biện pháp xử phạt hành chính thích đáng cho những cơ quan, tổ chức nào vi phạm nghĩa vụ cung cấp thông tin.

Thứ hai, quy định về mức lãi suất. Công ty tài chính phải điều chỉnh hệ thống cho phù hợp, thông tin rõ ràng và dễ hiểu cho khách hàng các quy định về phương pháp tính lãi tiền vay quy đổi lãi suất theo năm (một năm là 365 ngày thay cho 360 ngày như trước), quy định cụ thể về việc tính lãi chậm trả hoặc lãi suất áp dụng đối với dư nợ gốc bị quá hạn.

Thứ ba, cần có quy định cụ thể thống nhất cách hiểu về lãi suất trong hợp đồng vay tài sản một cách cụ thể hơn, có như vậy mới giúp người dân hiểu được quy định nêu tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 chỉ áp dụng đối với các quan hệ vay giữa người dân với người dân. Còn các tổ chức tín dụng thì được phép thực hiện theo quy định của Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 và văn bản pháp luật có liên quan hiện hành. Cụ thể là được phép thỏa thuận mức lãi suất vay tiêu dùng, khuyến khích hoạt động cho vay tiêu dùng phát triển, phục vụ cải thiện đời sống xã hội và góp phần phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Ngoài ra, các tổ chức tài chính cần công khai rõ ràng cho người tiêu dùng trước khi tiến hành giao dịch vay tiêu dùng.

Thứ tư, nâng cao nhận thức của người tiêu dùng khi lựa chọn công ty và ký kết hợp đồng. Theo đó, người tiêu dùng chỉ ký các tài liệu khi đã nghiên cứu, tìm hiểu các nội dung và đảm bảo chắc chắn các thông tin đó được thể hiện chính xác trên tài liệu được yêu cầu ký. Đồng thời, yêu cầu bên cung cấp dịch vụ phải chuyển hợp đồng, tài liệu giao dịch có đầy đủ chữ ký, con dấu làm căn cứ giải quyết các tranh chấp nếu xảy ra. Ngoài ra, người tiêu dùng cần phải lưu giữ tất cả các tài liệu, chứng cứ hợp đồng để có thể yêu cầu trách nhiệm của tổ chức tín dụng có dấu hiệu vi phạm các điều khoản hợp đồng.

Thứ năm, trong trường hợp có tranh chấp, ngoài việc phản ánh qua điện thoại tới bộ phận có liên quan của đơn vị cung cấp dịch vụ, người tiêu dùng nên kết hợp gửi email hoặc gửi thư để đảm bảo lưu vết thông tin, tránh trường hợp các công ty cung cấp dịch vụ tài chính đưa ra lý do không tiếp nhận được khiếu nại của người tiêu dùng nên không có cơ sở giải quyết.

Nguyễn Hữu Phúc

Khoa Luật, Đại học Kinh tế Đà Nẵng


[1] Khoản 14 Điều 3 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010,.

[2] Khoản 1, 2 Điều 3 Thông tư số 43/2016/TT-NHNN.

[3]Ngô Văn Hiệp, “Sự thỏa thuận trong giao kết hợp đồng gia nhập”, Tạp chí dân chủ và pháp luật (2017), http://tcdcpl.moj.gov.vn/qt/tintuc/Pages/phap-luat-kinh-te.aspx?ItemID=137.

[4] Khoản 1 Điều 3 Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010.

[5] “Nhiều Rủi Ro Khi Giao Dịch Tín Dụng Tiêu Dùng”, Tạp chí Tài chính điện tử, http://www.taichinhdientu.vn/tai-chinh-247/nhieu-rui-ro-khi-giao-dich-tin-dung-tieu-dung-146342.html.

[6] Nguyên Hoài, “Tín Dụng Tiêu Dùng: Nhiều Rủi Ro Vẫn Bỏ Ngỏ.”

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Để bảo đảm cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân được tiến hành dân chủ, đúng pháp luật, các quy định về phiếu bầu cử cũng như nguyên tắc, trình tự bỏ phiếu đã được quy định chặt chẽ[1]. Việc nắm rõ các quy định này giúp cử tri thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ trong ngày bầu cử.
[1] Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 và Nghị quyết số 40/NQ-HĐBCQG ngày 29/9/2025 của Hội đồng bầu cử quốc gia quy định mẫu văn bản hồ sơ ứng cử và việc hồ sơ ứng cử; nội quy phòng bỏ phiếu trong công tác bầu cử ĐBQH khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031
Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Trong quá trình tổ chức bầu cử, có thể phát sinh một số tình huống đặc biệt như dịch bệnh, thiên tai, hỏa hoạn hoặc vấn đề về an ninh, trật tự. Pháp luật về bầu cử đã quy định rõ thẩm quyền và phương án xử lý nhằm bảo đảm cuộc bầu cử được tổ chức an toàn, đúng quy định và bảo đảm quyền bầu cử của cử tri.
Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Để chuẩn bị cho “Ngày hội non sông” - Ngày bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031, công tác phân chia đơn vị bầu cử cần phải được triển khai với những yêu cầu khắt khe hơn bao giờ hết với mục tiêu trọng tâm là bảo đảm cân đối, tránh chênh lệch lớn, thuận tiện cho cử tri thực hiện quyền bầu cử như: Các khu vực đô thị, khu công nghiệp có đông cử tri; các khu vực miền núi, hải đảo có ít cử tri.
Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Pháp luật quy định cụ thể về nguyên tắc bỏ phiếu, cách ghi phiếu bầu, việc viết hộ, bỏ hộ phiếu và xử lý Thẻ cử tri nhằm bảo đảm việc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân diễn ra đúng quy định.
Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Cơ chế giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân giữ vai trò quan trọng trong việc bảo đảm tính dân chủ, minh bạch và hợp pháp của quá trình bầu cử. Pháp luật Việt Nam thiết lập cơ chế này trên cơ sở kết hợp giữa các quy định đặc thù của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân với các quy định chung của pháp luật về khiếu nại, tố cáo, qua đó hình thành khung pháp lý cho việc tiếp nhận, xem xét và xử lý các khiếu nại, tố cáo phát sinh trong quá trình bầu cử.
Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Một vụ án in và phát hành sách giáo khoa giả vừa được đưa ra xét xử đã tiếp tục gióng lên hồi chuông cảnh báo về tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực xuất bản, đặc biệt là đối với sách giáo dục - mặt hàng có nhu cầu cao và ảnh hưởng trực tiếp đến hàng triệu học sinh.
Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức thống nhất vào ngày 15/3/2026 theo Nghị quyết của Quốc hội. Tuy nhiên, pháp luật cho phép tổ chức bỏ phiếu sớm trong những trường hợp đặc biệt nhằm bảo đảm quyền bầu cử của công dân không thể tham gia bỏ phiếu vào ngày chính thức. Việc tổ chức bầu cử sớm phải tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc về thẩm quyền quyết định, trình tự thủ tục, kiểm phiếu, niêm phong, bảo mật kết quả và kỷ luật thời gian bỏ phiếu theo đúng quy định của Luật Bầu cử và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Vận động bầu cử của người ứng cử là hoạt động gặp gỡ, tiếp xúc cử tri hoặc thông qua phương tiện thông tin đại chúng để người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân báo cáo với cử tri về dự kiến chương trình hành động của mình nhằm thực hiện trách nhiệm đại biểu nếu được bầu làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân và trao đổi những vấn đề mà cử tri quan tâm; tạo điều kiện để cử tri tiếp xúc với người ứng cử, hiểu rõ hơn người ứng cử; trên cơ sở đó cân nhắc, lựa chọn, bầu những người đủ tiêu chuẩn làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.
Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, yêu cầu thượng tôn Hiến pháp và pháp luật không chỉ đặt ra đối với hoạt động của bộ máy nhà nước mà trở thành chuẩn mực ứng xử phổ biến trong xã hội. Pháp luật chỉ thực sự phát huy vai trò điều chỉnh các quan hệ xã hội khi được các chủ thể tiếp nhận, tôn trọng, tuân thủ thực hiện trên tinh thần chủ động, tự giác, gắn với niềm tin vào công bằng và trật tự xã hội. Thực tiễn cho thấy, hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, nhưng tình trạng vi phạm pháp luật trong một số lĩnh vực vẫn diễn biến phức tạp; còn tồn tại khoảng trống giữa nhận thức pháp luật và hành vi tuân thủ; tâm lý tuân thủ thụ động, mang tính tình thế, phụ thuộc vào sự kiểm tra, giám sát và xử lý của cơ quan có thẩm quyền. Những biểu hiện này phản ánh việc tuân thủ pháp luật chưa thực sự trở thành chuẩn mực văn hóa trong xã hội. Vì vậy, việc nghiên cứu, nhận diện các yếu tố tác động, đánh giá đúng thực trạng, đề xuất nhiệm vụ, giải pháp xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn, góp phần thể chế hóa chủ trương của Đảng, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, mạnh, bền vững trong bối cảnh mới.
Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Tết Nguyên đán là dịp đoàn viên, nghỉ ngơi và tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí đầu năm, góp phần làm phong phú đời sống văn hóa, tinh thần của mỗi gia đình và cộng đồng. Tuy nhiên, một số hình thức vui chơi có thưởng có thể vượt ngoài khuôn khổ pháp luật nếu không được nhận diện đúng. Từ yêu cầu bảo đảm kỷ cương, pháp luật trong dịp Tết, việc làm rõ ranh giới pháp lý giữa vui xuân có thưởng và hành vi vi phạm pháp luật có ý nghĩa quan trọng.
Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết 71-NQ/TW) đặt ra những yêu cầu mang tính chiến lược đối với xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, giáo dục đại học giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành lớp trí thức mới - vừa có năng lực chuyên môn, vừa có bản lĩnh, nhân cách và tinh thần phụng sự xã hội. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật phỏng vấn Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đào Thanh Trường - Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội, xung quanh quan điểm xây dựng con người toàn diện, các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp, cũng như những định hướng tích hợp giáo dục nhân văn với khoa học, công nghệ trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Mùa xuân về không chỉ mang theo nhựa sống của thiên nhiên mà còn là thời điểm để nhìn lại những thành quả của năm qua. Xuân Bính Ngọ 2026, với Trường Cao đẳng Cơ điện Hà Nội (HCEM), là một mùa xuân đặc biệt - mùa xuân của sự cộng hưởng giữa niềm tự hào về hành trình 80 năm đất nước độc lập và quyết tâm chính trị cao để hiện thực hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị. Đây chính là “chìa khóa” để HCEM bứt phá, vươn tầm quốc tế, trở thành biểu tượng của nền giáo dục nghề nghiệp (GDNN) hiện đại trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Năm 2025 được xem là cột mốc bản lề trên hành trình đưa Việt Nam bước vào kỷ nguyên số toàn diện. Trong không khí Xuân Bính Ngọ 2026, Cục trưởng Cục Chuyển đổi số quốc gia (Bộ KH&CN) Trần Duy Ninh chia sẻ với Tạp chí Dân chủ và Pháp luật về những thành quả nổi bật, tầm nhìn, cơ hội và kỳ vọng đặt vào đội ngũ trí thức công nghệ, với khát vọng xây dựng đất nước Việt Nam hùng cường, tự chủ và thịnh vượng trên nền tảng số.
Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Nhìn lại hành trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đội ngũ doanh nhân Việt Nam tiếp tục là lực lượng năng động, sáng tạo và đóng góp quan trọng vào tăng trưởng. Tuy nhiên, bối cảnh hội nhập sâu, rộng đặt ra yêu cầu cao hơn đối với việc hoàn thiện pháp luật về kinh doanh. Nhân dịp xuân mới, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Quang Vinh - Phó Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) về kỳ vọng đổi mới và yêu cầu xây dựng hành lang pháp lý ổn định để doanh nghiệp Việt Nam tự tin phát triển trong giai đoạn mới.
Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với mục tiêu đến năm 2045 trở thành nước phát triển có thu nhập cao, đội ngũ doanh nhân Việt Nam được kỳ vọng trở thành lực lượng kiến tạo thịnh vượng quốc gia. Khát vọng ấy chỉ có thể nảy nở và lớn lên trong hệ sinh thái pháp lý minh bạch, an toàn và tạo động lực.

Theo dõi chúng tôi trên: