Thứ ba 16/06/2026 08:55
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Bảo vệ thông tin cá nhân người tiêu dùng khi giao dịch trên website thương mại điện tử

Tóm tắt: Bài viết phân tích những quy định của pháp luật hiện hành về vấn đề bảo vệ thông tin cá nhân người tiêu dùng khi giao dịch trên website thương mại điện tử, trên cơ sở đó đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về lĩnh vực nà

Tóm tắt: Bài viết phân tích những quy định của pháp luật hiện hành về vấn đề bảo vệ thông tin cá nhân người tiêu dùng khi giao dịch trên website thương mại điện tử, trên cơ sở đó đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về lĩnh vực này.

Abstract: This paper analyzes the provisions of the current legislation on the protection of personal information of consumers when transacting in Ecommerce websites; based on that, it proposes some solutions to improve those provisions.

Trong bối cảnh thương mại điện tử (TMĐT) được dự đoán sẽ bùng nổ trong thời gian tới, bảo vệ thông tin cá nhân người tiêu dùng khi giao dịch trên website TMĐT là một vấn đề rất cần được quan tâm. Pháp luật đặt ra trách nhiệm bảo vệ thông tin cá nhân của người tiêu dùng cho tất cả các chủ thể tham gia vào hoạt động TMĐT, bao gồm cả chính bản thân người tiêu dùng. Cụ thể:

1. Trách nhiệm của thương nhân, tổ chức cung cấp dịch vụ mạng

Sự phát triển và phổ cập rộng rãi của Internet đã tạo điều kiện cho sự “nở rộ” của hoạt động kinh doanh trực tuyến, song hành với nó là những giá trị kinh tế cho các chủ thể kinh doanh. Là một bên tham gia vào hoạt động TMĐT, thương nhân, tổ chức cung cấp dịch vụ mạng đương nhiên cũng phải có trách nhiệm trong việc bảo đảm cho sự vận hành ổn định của TMĐT. Theo Điều 24 Nghị định số 52/2013/NĐ-CP ngày 16/5/2013 của Chính phủ về thương mại điện tử (Nghị định số 52/2013/NĐ-CP), có thể xác định thương nhân, tổ chức cung cấp dịch vụ mạng bao gồm thương nhân, tổ chức cung cấp hạ tầng và thương nhân, tổ chức cung cấp dịch vụ TMĐT.

- Thương nhân, tổ chức cung cấp hạ tầng: Đây là những chủ thể cung cấp hạ tầng kỹ thuật cho người sở hữu website TMĐT bán hàng và thương nhân, tổ chức cung cấp dịch vụ TMĐT. Những chủ thể này tuy không tham gia trực tiếp vào giao dịch TMĐT như người bán và người mua, nhưng lại đóng vai trò rất quan trọng trong việc tạo nền móng cơ bản cho việc thiết lập và giao kết hợp đồng điện tử. Với đặc thù về lĩnh vực hoạt động các thương nhân, tổ chức cung cấp hạ tầng kỹ thuật có trách nhiệm tuân thủ các quy định của pháp luật về bảo vệ thông tin cá nhân người tiêu dùng, xây dựng và đảm bảo hệ thống hạ tầng kỹ thuật vận hành ổn định và an toàn, phù hợp với đặc thù của các giao dịch điện tử, qua đó đáp ứng được yêu cầu bảo đảm an toàn thông tin trong TMĐT.

- Thương nhân, tổ chức cung cấp dịch vụ TMĐT: Đây là các chủ thể thiết lập website TMĐT để cung cấp môi trường cho thương nhân, tổ chức, cá nhân khác tiến hành hoạt động xúc tiến thương mại, bán hàng hóa hoặc cung ứng dịch vụ. Trong vấn đề bảo vệ thông tin cá nhân của người tiêu dùng trong TMĐT, thương nhân, tổ chức cung cấp dịch vụ TMĐT có trách nhiệm: (i) Xây dựng và công bố trên website quy chế hoạt động của website TMĐT, bao gồm các quy định về an toàn thông tin, quản lý thông tin trên website TMĐT và chính sách bảo vệ thông tin cá nhân của người tiêu dùng, đồng thời phải theo dõi và bảo đảm việc thực hiện quy chế đó trên website TMĐT; (ii) Áp dụng các biện pháp để đảm bảo an toàn thông tin liên quan đến thông tin cá nhân của người tiêu dùng; (iii) Công bố công khai cơ chế giải quyết tranh chấp phát sinh trong quá trình giao dịch, tích cực hỗ trợ người tiêu dùng bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình; (iv) Chỉ được chuyển giao thông tin của người tiêu dùng cho bên thứ ba khi có sự đồng ý của người tiêu dùng, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác[1].

Về cơ bản, các quy định của pháp luật hiện hành về trách nhiệm của thương nhân, tổ chức cung cấp dịch vụ TMĐT trong việc bảo vệ thông tin cá nhân người tiêu dùng tương đối hoàn chỉnh. Trong đó, yêu cầu thương nhân, tổ chức phải chủ động công bố công khai các chính sách cụ thể liên quan đến thông tin khách hàng và cơ chế giải quyết tranh chấp phát sinh. Khi những thông tin này được công khai, đồng nghĩa với việc người tiêu dùng có thể dễ dàng hơn trong việc tiếp cận và tìm hiểu được những thông tin nào của mình đang được thu thập, thu thập để làm gì và thông tin đó sẽ được sử dụng và bảo vệ như thế nào, từ đó người tiêu dùng có thể đưa ra lựa chọn có cung cấp thông tin cá nhân của mình hay không. Ngoài ra, yêu cầu cơ chế giải quyết tranh chấp phải công khai là một trong những yếu tố tạo tâm lý an tâm cho người tiêu dùng khi thực hiện giao dịch, đồng thời cũng là cách thức hỗ trợ tốt hơn cho người tiêu dùng khi phát hiện có hành vi xâm phạm thông tin cá nhân. Tuy nhiên, vấn đề kiểm soát, giám sát thương nhân, tổ chức cung cấp dịch vụ TMĐT trong việc xây dựng quy chế cũng như chấp hành chính sách hoạt động do chính họ đưa ra còn là một lỗ hổng do chưa có cơ chế kiểm soát việc thực thi trên thực tế.

Thông tin thanh toán cũng được xem là một trong những thông tin cá nhân của người tiêu dùng. Đây là những thông tin có khả năng thanh toán trực tiếp tiền mua hàng hóa, dịch vụ; rút tiền mặt trực tiếp từ các ngân hàng hoặc qua các máy rút tiền tự động (ATM) bằng các thẻ thanh toán có chứa thông tin thanh toán. Do tính chất nhạy cảm, đồng thời đây cũng là loại thông tin có giá trị kinh tế cao, cho nên pháp luật TMĐT cũng dành những quy định riêng về trách nhiệm bảo vệ thông tin thanh toán của người tiêu dùng. Cụ thể, với các thương nhân, tổ chức, cá nhân sở hữu website TMĐT có chức năng thanh toán trực tuyến phải có các trách nhiệm như: Đảm bảo an toàn, bảo mật giao dịch thanh toán của khách hàng; công bố trên website chính sách về bảo mật thông tin thanh toán cho khách hàng...

2. Trách nhiệm của người bán

Người bán tham gia vào hoạt động TMĐT bao gồm: Các thương nhân, tổ chức, cá nhân tự thiết lập website TMĐT để phục vụ hoạt động xúc tiến thương mại, bán hàng hóa hoặc cung ứng dịch vụ của mình (người sở hữu website TMĐT bán hàng); các thương nhân, tổ chức, cá nhân sử dụng website của thương nhân, tổ chức cung cấp dịch vụ TMĐT để phục vụ hoạt động xúc tiến thương mại, bán hàng hóa hoặc cung ứng dịch vụ của mình (người bán trên website TMĐT).

Đối với người bán là người sở hữu website TMĐT bán hàng, các giao dịch được thực hiện trên website TMĐT do chính những chủ thể này tự thiết lập. Cho nên, trước hết chủ sở hữu website TMĐT bán hàng phải có trách nhiệm trong việc bảo vệ thông tin cá nhân người tiêu dùng như một thương nhân, tổ chức cung cấp dịch vụ TMĐT, đồng thời cũng có những trách nhiệm của người bán trên website TMĐT. Điều 27 Nghị định số 52/2013/NĐ-CP cũng quy định thương nhân, tổ chức, cá nhân sở hữu website TMĐT bán hàng có trách nhiệm tuân thủ các quy định về bảo vệ thông tin cá nhân của khách hàng quy định tại mục 1 Chương V của Nghị định.

Pháp luật TMĐT đã liệt kê các trách nhiệm của người bán trên website TMĐT, nhưng lại không quy định về trách nhiệm trong vấn đề bảo vệ thông tin cá nhânngười tiêu dùng. Đây là một thiếu sót của hệ thống pháp luật về TMĐT. Áp dụng quy định chung về trách nhiệm của tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ khi “thu thập, sử dụng, chuyển giao” thông tin của người tiêu dùng tại Điều 6 Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010 có thể gián tiếp xác định trách nhiệm của người bán trong vấn đề bảo vệ thông tin cá nhân của người tiêu dùng. Theo đó, người bán trên website TMĐT có trách nhiệm sử dụng thông tin phù hợp với mục đích đã thông báo với người tiêu dùng và phải được người tiêu dùng đồng ý; bảo đảm an toàn, chính xác, đầy đủ khi thu thập, sử dụng, chuyển giao thông tin của người tiêu dùng; chỉ được chuyển giao thông tin của người tiêu dùng cho bên thứ ba khi có sự đồng ý của người tiêu dùng, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

Hiện nay, hoạt động kinh doanh qua mạng xã hội cũng trở nên phổ biến. Theo chỉ số TMĐT Việt Nam năm 2018, trong số 4.147 doanh nghiệp tham gia khảo sát, có tới 32% doanh nghiệp đang tiến hành kinh doanh trên mạng xã hội[2]. Theo Điều 6 Thông tư số 47/2014/TT-BCTngày 05/12/2014 của Bộ Tài chính quy định về quản lý website thương mại điện tử, thì các mạng xã hội nếu có một trong những hình thức hoạt động quy định tại điểm a, điểm b, điểm c khoản 2 Điều 35 Nghị định số 52/2013/NĐ-CP phải tiến hành đăng ký với Bộ Công Thương dưới hình thức sàn giao dịch TMĐT. Như vậy, thương nhân, tổ chức thiết lập mạng xã hội và người bán trên mạng xã hội phải thực hiện các trách nhiệm của thương nhân, tổ chức cung cấp dịch vụ sàn giao dịch TMĐT và người bán trên sàn giao dịch TMĐT theo quy định của pháp luật.

3. Trách nhiệm của cá nhân người tiêu dùng

Trách nhiệm bảo vệ thông tin cá nhân của chính người tiêu dùng mới chỉ được ghi nhận như một nguyên tắc bảo đảm an toàn thông tin mạng tại khoản 1 Điều 16 Luật An toàn thông tin mạng năm 2015, theo đó, cá nhân cũng phải có trách nhiệm trong việc tự bảo vệ thông tin cá nhân của mình. Rõ ràng, người tiêu dùng trong TMĐT có nhiều điểm khác biệt so với người tiêu dùng trong giao dịch truyền thống, nhưng dù áp dụng phương thức giao dịch nào thì người tiêu dùng vẫn phải có ý thức trong việc tự bảo vệ mình. So với khi phát hiện bị xâm phạm mới quan tâm đến bảo vệ thông tin cá nhân thì có ý thức tự bảo vệ ngay khi bắt đầu tham gia vào giao dịch để phòng ngừa nguy cơ rủi ro là lựa chọn thông minh hơn nhiều. Có thể hiểu, trách nhiệm của người tiêu dùng trong việc bảo vệ thông tin cá nhân là dạng trách nhiệm tự thân. Trách nhiệm này không chỉ ở giai đoạn xác lập mà xuyên suốt trong cả quá trình giao dịch, kể cả khi giao dịch đã kết thúc. Cụ thể, trách nhiệm tự bảo vệ thông tin cá nhân của người tiêu dùng thể hiện ngay từ việc lựa chọn giao dịch với những website TMĐT, người bán có uy tín trên thị trường. Thận trọng trong việc cung cấp thông tin cá nhân và chọn lọc các thông tin sẽ cung cấp, có thể từ chối tiết lộ một số loại thông tin như một cách để bảo vệ mình và tiết lộ các thông tin khác để có được sản phẩm hoặc dịch vụ mong muốn[3].

Người tiêu dùng cũng cần có những nhận thức về quyền hạn đối với thông tin cá nhân của mình như: Quyền yêu cầu đơn vị thu thập thông tin thực hiện việc kiểm tra, cập nhật, điều chỉnh hoặc hủy bỏ thông tin cá nhân của mình; ngừng cung cấp thông tin cá nhân của mình cho bên thứ ba; quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại do hành vi vi phạm trong việc cung cấp thông tin cá nhân…[4] Trách nhiệm tự bảo vệ thông tin cá nhân của người tiêu dùng là một dạng trách nhiệm tự thân, đóng vai trò hết sức quan trọng trong hoạt động đảm bảo an toàn thông tin mạng nói chung, góp phần tạo ra một môi trường TMĐT phát triển ổn định và bền vững.

4. Vấn đề thu thập và sử dụng thông tin cá nhân người tiêu dùng

Trong quá trình thu thập và sử dụng thông tin cá nhân người tiêu dùng, các chủ thể thu thập thông tin phải tuân thủ các quy định pháp luật có liên quan, cụ thể:

Thứ nhất, vấn đề thu thập thông tin cá nhân người tiêu dùng

Luật Công nghệ thông tin năm 2006, Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010, Luật An toàn thông tin mạng năm 2015 và Nghị định số 52/2013/NĐ-CP đều có những quy định liên quan đến vấn đề thu thập và sử dụng thông tin cá nhân[5]. Nội dung của các quy định khá tương đồng, đều dựa trên một nguyên tắc cơ bản là phải có sự đồng ý của chủ thể thông tin về phạm vi, mục đích của việc thu thập và sử dụng thông tin trước khi tiến hành thu thập thông tin của người đó. Quy định này tương thích với nội dung của Hướng dẫn của Liên Hợp Quốc về bảo vệ người tiêu dùng; phù hợp với quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015[6]. Mặt khác, đây cũng là một quy định rất hợp lý bởi thông tin cá nhân thuộc quyền sở hữu riêng của chủ thể thông tin, nên người đó có quyền quyết định cho phép hoặc từ chối hành vi thu thập và sử dụng thông tin cá nhân của tổ chức, cá nhân khác; đồng thời cũng có quyền được thông tin về những loại thông tin nào được thu thập, phạm vi và mục đích sử dụng để từ đó đưa ra quyết định có chấp thuận việc thu thập thông tin cá nhân của mình hay không. Việc xin ý kiến đồng ý của khách hàng phải được tiến hành thông qua một bước riêng để khách hàng lựa chọn chấp nhận hoặc từ chối. Không được thiết lập cơ chế chọn đồng ý mặc định cho khách hang[7].

Trên thực tế, người tiêu dùng thường không chú ý đến các nội dung về mục đích và phạm vi thu thập thông tin cá nhân do website TMĐT công bố. Kể cả khi người tiêu dùng đã đọc trước, trong nhiều trường hợp vẫn xác nhận đồng ý cho phép thu thập và sử dụng vì chưa ý thức được giá trị thông tin cá nhân của mình. Lợi dụng điều này, chủ thể thu thập thông tin thường thu thập và lưu giữ nhiều hơn những thông tin mà mình thực sự cần, đưa ra mục đích thu thập nhưng chỉ mang tính chất đối phó. Trên thực tế, cũng tồn tại tình trạng các chủ thể thu thập tự ý thu thập thông tin mà chưa có sự đồng ý trước đó của khách hàng.

Thứ hai, vấn đề sử dụng thông tin cá nhân người tiêu dùng

Ngoài một số trường hợp ngoại lệ được quy định tại khoản 4 Điều 70 Nghị định số 52/2013/NĐ-CP, đơn vị thu thập thông tin phải sử dụng thông tin cá nhân người tiêu dùng đúng với mục đích và phạm vi đã thông báo. Nguyên tắc có sự đồng ý trước của chủ thể thông tin không chỉ được áp dụng ở giai đoạn thu thập mà còn phải được tuân thủ trong quá trình sử dụng thông tin cá nhân đó. Khi sử dụng thông tin cá nhân vào mục đích khác với mục đích ban đầu đã thỏa thuận phải có sự cho phép của người tiêu dùng, không được cung cấp, chia sẻ, phát tán thông tin cá nhân đã thu thập, tiếp cận, kiểm soát cho bên thứ ba, trừ trường hợp có sự đồng ý của người tiêu dùng hoặc theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

Trong quá trình sử dụng thông tin cá nhân, chủ thể thu thập thông tin cũng có trách nhiệm tuân thủ các quy định về đảm bảo an toàn, an ninh thông tin cá nhân như: Áp dụng biện pháp quản lý, kỹ thuật phù hợp để bảo vệ thông tin cá nhân; áp dụng các biện pháp khắc phục, ngăn chặn khi xảy ra hoặc có nguy cơ xảy ra sự cố làm mất an toàn thông tin cá nhân; kiểm tra, cập nhật, điều chỉnh, hủy bỏ thông tin cá nhân của người tiêu dùng khi có yêu cầu hoặc cung cấp cho người tiêu dùng công cụ để tự kiểm tra, cập nhật, điều chỉnh thông tin cá nhân; hủy bỏ thông tin cá nhân lưu trữ khi đã hoàn thành mục đích sử dụng hoặc hết thời hạn lưu trữ…

Thứ ba, các hành vi bị cấm trong thu thập và sử dụng thông tin cá nhân

Điều 4 Nghị định số 52/2013/NĐ-CP quy định về các hành vi bị cấm trong TMĐT, trong đó có hành vi đánh cắp, sử dụng, tiết lộ, chuyển nhượng, bán các thông tin liên quan đến thông tin cá nhân của người tiêu dùng trong TMĐT khi chưa được sự đồng ý của các bên liên quan. Điều 7 Luật An toàn thông tin mạng năm 2015 tiếp tục nhấn mạnh: Nghiêm cấm hành vi thu thập, sử dụng, phát tán, kinh doanh trái pháp luật thông tin cá nhân của người khác. Để phù hợp với phạm vi điều chỉnh, Luật An toàn thông tin mạng còn mở rộng nghiêm cấm thêm với hành vi lợi dụng sơ hở, điểm yếu của hệ thống thông tin để thu thập, khai thác thông tin cá nhân.

Về cơ bản, Luật Công nghệ thông tin năm 2006, Luật An toàn thông tin mạng năm 2015 và Nghị định số 52/2013/NĐ-CP đã có những quy định tương đối rõ ràng, hợp lý và đầy đủ để đảm bảo cho hoạt động thu thập và sử dụng thông tin cá nhân người tiêu dùng được vận hành an toàn và ổn định. Trên thực tế, thương nhân, tổ chức, cá nhân kinh doanh TMĐT có thể không trực tiếp tiến hành việc thu thập và lưu trữ thông tin cá nhân của người tiêu dùng mà ủy quyền cho một bên thứ ba thực hiện. Đối với trường hợp này, pháp luật yêu cầu hợp đồng giữa hai bên phải quy định rõ trách nhiệm của mỗi bên trong việc tuân thủ các quy định pháp luật về bảo vệ thông tin cá nhân. Nếu hợp đồng không quy định rõ thì chủ thể hoạt động kinh doanh TMĐT phải chịu trách nhiệm nếu có vi phạm.

5. Một số kiến nghị

Một là, về trách nhiệm bảo vệ thông tin cá nhân người tiêu dùng của người bán trên website TMĐT

Theo Điều 68 Nghị định số 52/2013/NĐ-CP, trong quá trình hoạt động kinh doanh TMĐT, nếu thương nhân, tổ chức, cá nhân thực hiện việc thu thập thông tin cá nhân của người tiêu dùng thì phải tuân thủ các quy định tại Nghị định này và những quy định pháp luật liên quan về bảo vệ thông tin cá nhân. Pháp luật đã đặt trách nhiệm bảo vệ thông tin cá nhân người tiêu dùng chủ yếu lên các chủ thể cung cấp dịch vụ TMĐT bởi các hoạt động thu thập, quản lý và sử dụng thông tin được diễn ra trên website TMĐT và người bán lúc này đóng vai trò như một khách hàng của thương nhân, tổ chức thiết lập website TMĐT. Tuy nhiên, dù người bán trên website TMĐT không trực tiếp thực hiện việc thu thập và xử lý thông tin cá nhân của người tiêu dùng nhưng đây vẫn là những thông tin người bán có thể tiếp cận và sử dụng.

Chính vì vậy, Nghị định số 52/2013/NĐ-CP cần bổ sung quy định về trách nhiệm của người bán trên website TMĐT trong việc tuân thủ các quy định của pháp luật về bảo vệ thông tin cá nhân người tiêu dùng. Cụ thể, cần bổ sung quy định tại khoản 1 Điều 68 Nghị định số 52/2013/NĐ-CP như sau: “Trong quá trình hoạt động kinh doanh TMĐT, nếu thương nhân, tổ chức, cá nhân thực hiện việc thu thập hoặc sử dụng thông tin cá nhân của người tiêu dùng thì phải tuân thủ các quy định tại Nghị định này và những quy định pháp luật liên quan về bảo vệ thông tin cá nhân”.

Hai là, về hành vi mua, nhận chuyển nhượng thông tin cá nhân của người tiêu dùng

Khoản 33 Điều 1 Nghị định số 124/2015/NĐ-CP ngày 19/11/2015 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 185/2013/NĐ-CP ngày 15/11/2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động thương mại, sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng cấm và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng (Nghị định số 124/2015/NĐ-CP) mới chỉ quy định xử phạt hành chính đối với hành vi đánh cắp, tiết lộ, chuyển nhượng, bán các thông tin cá nhân của người tiêu dùng trong TMĐT. Trong khi đó, theo pháp luật hiện hành, việc chuyển giao thông tin cá nhân cho một bên thứ ba bắt buộc phải có sự đồng ý của chủ thể thông tin trước đó. Vì vậy, người mua trong trường hợp chưa có sự đồng ý chuyển giao của người tiêu dùng không phải là chủ thể có quyền tiếp cận và sử dụng thông tin cá nhân của người tiêu dùng. Mặt khác, rõ ràng thông tin cá nhân của người tiêu dùng trong TMĐT không phải là một “mặt hàng” hợp pháp để đưa vào giao dịch, nên tất cả các bên tham gia vào giao dịch, không chỉ chủ thể bán thông tin cá nhân mà cả chủ thể mua thông tin cá nhân của người tiêu dùng cũng phải bị xử lý theo quy định của pháp luật. Do đó, cần phải có những quy định xử phạt đối với những chủ thể có hành vi “mua, nhận chuyển nhượng” thông tin cá nhân của người tiêu dùng. Vì vậy, điểm b khoản 5 Điều 82 Nghị định số 185/2013/NĐ-CP ngày 15/11/2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động thương mại, sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng cấm và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng cần được bổ sung thành: “Đánh cắp, tiết lộ, chuyển nhượng, bán, mua, nhận chuyển nhượng các thông tin liên quan đến bí mật kinh doanh của thương nhân, tổ chức khác hoặc thông tin cá nhân của người tiêu dùng trong TMĐT khi chưa được sự đồng ý của các bên liên quan”.

Ba là, về xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi bán, chuyển nhượng trái phép thông tin cá nhân người tiêu dùng

Chế tài hành chính áp dụng với các cá nhân, tổ chức thực hiện hành vi chuyển nhượng, bán trái phép thông tin cá nhân người tiêu dùng là một bất cập bởi vẫn chưa đủ mạnh để tạo tính răn đe, phòng ngừa các tổ chức, cá nhân vi phạm. Cụ thể, mức phạt tiền hiện tại theo quy định là từ 30.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng[8] chưa tương xứng với lợi nhuận “khủng” mà các chủ thể thực hiện hành vi vi phạm có thể thu được. Trong khi đó, các hình thức xử phạt bổ sung hay biện pháp khắc phục hậu quả về nguyên tắc là không bắt buộc áp dụng (Điều 21, Điều 28 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012), quyết định có áp dụng hay không tùy thuộc ít nhiều vào ý chí chủ quan của chủ thể có thẩm quyền đối với từng vụ việc cụ thể. Như vậy, trường hợp hành vi vi phạm chỉ bị áp dụng hình thức xử phạt chính là phạt tiền, chủ thể có thẩm quyền không áp dụng hình thức xử phạt bổ sung hay biện pháp khắc phục hậu quả, đặc biệt là biện pháp “buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện hành vi vi phạm” thì rõ ràng là mức phạt tiền nêu trên còn quá thấp và không hợp lý. Nhưng nếu tiếp tục sửa đổi theo hướng tăng mức xử phạt tiền đối với hành vi này lên cao thì lại không hợp lý đối với các trường hợp vi phạm có quy mô nhỏ lẻ, lợi nhuận thấp. Chính vì vậy, tác giả kiến nghị, thay vì căn cứ vào hành vi vi phạm để xác định mức xử phạt tiền cố định như quy định hiện hành thì Chính phủ cần xem xét sửa đổi quy định xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi bán, chuyển nhượng thông tin cá nhân người tiêu dùng khi chưa được sự đồng ý của người đó theo hướng hình phạt tiền cần được xây dựng dựa trên lợi nhuận mà thực tế tổ chức, cá nhân vi phạm thu được và mức phạt tiền cũng phải tỷ lệ thuận với số lợi bất hợp pháp có được. Tuy nhiên, vẫn giữ nguyên mức hình phạt tiền thấp nhất áp dụng đối với các chủ thể thực hiện hành vi để đảm bảo được tính răn đe, phòng ngừa vi phạm ngay cả đối với những vụ việc có quy mô nhỏ lẻ.

Nguyễn Thị Thu Hằng

Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh







[1]. Xem: Điều 36, Điều 41 Nghị định số 52/2013/NĐ-CP và Điều 4 Thông tư số 47/2014/TT-BCT ngày 05/12/2014 của Bộ Công thương quy định về quản lý website TMĐT.

[2]. Hiệp hội Thương mại điện tử Việt Nam (2018), Chỉ số thương mại điện tử Việt Nam năm 2018, tr. 30.

[3]. Miriam J. Metzger (2007), Communication Privacy Management in Electronic Commerce,Journal of Computer-Mediated Communication, International Communication Association, Vol. 12, tr. 339.

[4]. Xem thêm: Điều 18 Luật An toàn thông tin mạng năm 2015, Điều 73 Nghị định số 52/2013/NĐ-CP.

[5]. Xem: Điều 21 Luật Công nghệ thông tin năm 2006, Điều 17 Luật An toàn thông tin mạng năm 2015, Điều 6 Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010, Điều 70 Nghị định số 52/2013/NĐ-CP.

[6]. United Nations (2016), Guidelines for Consumer Protection, tr. 10: “Các doanh nghiệp cần bảo vệ quyền riêng tư của người tiêu dùng thông qua sự kết hợp giữa các cơ chế kiểm soát, bảo mật, minh bạch và có sự chấp thuận khi thu thập và sử dụng thông tin cá nhânngười tiêu dùng”.

Khoản 1 Điều 38 Bộ luật Dân sự năm 2015: “Việc thu thập, lưu giữ, sử dụng, công khai thông tin liên quan đến đời sống riêng tư, bí mật cá nhân phải được người đó đồng ý”.

[7]. Khoản 21 Mục IV Thông tư số 09/2008/TT-BCT ngày 21/7/2008 của Bộ Công thương hướng dẫn Nghị định TMĐT về cung cấp thông tin và giao kết hợp đồng trên website TMĐT.

[8]. Khoản 33 Điều 1 Nghị định số 124/2015/NĐ-CP.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Nghị quyết số 254/2025/QH15: Cơ chế trên 75% đồng thuận mở đường cho nhiều dự án vượt "điểm nghẽn" giải phóng mặt bằng

Nghị quyết số 254/2025/QH15: Cơ chế trên 75% đồng thuận mở đường cho nhiều dự án vượt "điểm nghẽn" giải phóng mặt bằng

Quy định mới tại Nghị quyết số 254/2025/QH15 và Nghị định số 49/2026/NĐ-CP với cơ chế đồng thuận trên 75% được kỳ vọng khơi thông hàng nghìn dự án, sẽ tháo gỡ một trong những vướng mắc lớn nhất trong quá trình triển khai các dự án có sử dụng đất.
Nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống tham nhũng trong tình hình mới

Nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống tham nhũng trong tình hình mới

Ngày 10/12/2025, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XV, Kỳ họp thứ 10 chính thức thông qua Luật số 132/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống tham nhũng (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026).
Luật Dân số năm 2025 chuyển trọng tâm chính sách từ kế hoạch hóa gia đình sang dân số và phát triển

Luật Dân số năm 2025 chuyển trọng tâm chính sách từ kế hoạch hóa gia đình sang dân số và phát triển

Luật Dân số được Quốc hội khóa XV, kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 10/12/2025, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026 thay thế Pháp lệnh Dân số số 06/2004/PL-UBTVQH11 (đã được sửa đổi, bổ sung theo Pháp lệnh số 07/2025/UBTVQH15). Một trong những thay đổi căn bản của Luật Dân số năm 2025 là chuyển trọng tâm chính sách dân số từ kế hoạch hóa gia đình sang dân số và phát triển. Những nội dung liên quan đến dân số và phát triển đã được thể hiện trong việc hướng tới giải quyết đồng bộ các vấn đề về quy mô dân số, cơ cấu dân số, thích ứng với già hóa dân số, nâng cao chất lượng dân số và đặt trong mối quan hệ tác động qua lại với phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, của từng địa phương, góp phần bảo đảm sự phát triển bền vững của đất nước.
Công tác kiểm tra, giám sát Đảng ủy cấp xã tại Hà Nội hiện nay

Công tác kiểm tra, giám sát Đảng ủy cấp xã tại Hà Nội hiện nay

Đổi mới công tác kiểm tra, giám sát không chỉ dừng lại ở việc xử lý vi phạm mà cốt lõi là để cảnh báo, phòng ngừa và kiến tạo sự phát triển. Trước thực trạng 70% cán bộ kiểm tra cấp xã còn lúng túng về nghiệp vụ và áp lực từ việc thiếu vắng sự giám sát của Hội đồng nhân dân tại các xã, phường, Hà Nội đang nỗ lực tìm kiếm những mô hình mới như "giám sát dữ liệu số" hay cơ chế bảo vệ cán bộ "dám nói, dám làm". Đây chính là chìa khóa để bảo đảm bộ máy chính quyền Thủ đô vận hành liêm chính và hiệu quả sau khi tinh gọn.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định và tổ chức thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Kiến nghị hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định và tổ chức thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 là đạo luật quan trọng nhằm cụ thể hóa quyền tiếp cận thông tin của công dân theo Hiến pháp năm 2013[*], góp phần nâng cao tính công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Sau 08 năm thi hành, bên cạnh những kết quả đạt được, thực tiễn cho thấy còn bộc lộ một số hạn chế, bất cập trong quy định pháp luật và tổ chức thi hành, đặc biệt, liên quan đến phạm vi thông tin, trách nhiệm cung cấp thông tin, trình tự, thủ tục và điều kiện bảo đảm thực hiện quyền. Trên cơ sở nhận diện các vướng mắc, bất cập, nghiên cứu đề xuất định hướng sửa đổi, bổ sung Luật theo hướng bảo đảm tính đồng bộ với hệ thống pháp luật hiện hành, phù hợp với yêu cầu chuyển đổi số và tổ chức bộ máy nhà nước, đồng thời kiến nghị các giải pháp nâng cao hiệu quả tổ chức thi hành, qua đó góp phần bảo đảm tốt hơn quyền tiếp cận thông tin của công dân và xây dựng nền hành chính công khai, minh bạch.
Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018) sau hơn 08 năm thi hành đã bộc lộ nhiều bất cập trước sự vận động nhanh chóng của thực tiễn, đặc biệt là sự xuất hiện của các hình thức hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng và các quan hệ tôn giáo có yếu tố nước ngoài ngày càng phức tạp. Vì vậy, việc tăng cường quản lý nhà nước đối với các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng là yêu cầu cấp thiết không chỉ bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân mà còn nhằm giữ vững an ninh, trật tự xã hội và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới.
Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Thẩm quyền ban hành VBQPPL là nội dung trọng tâm nhằm bảo đảm mỗi loại VBQPPL được ban hành bởi đúng cơ quan, đúng cấp, vừa phù hợp với phạm vi pháp lý, vừa hạn chế rủi ro và xung đột giữa các văn bản.
Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Việc ban hành Luật Ban hành VBQPPL số 64/2025/QH15 được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 87/2025/QH15 và các nghị định hướng dẫn thi hành có ý nghĩa đặc biệt trong bối cảnh đổi mới tư duy xây dựng pháp luật, gắn kết chặt chẽ giữa xây dựng và thi hành pháp luật.
Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Bài viết phân tích quy trình xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ của Quốc hội và quy trình xây dựng chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội, từ đó, đưa ra một số lưu ý nhằm nâng cao hiệu quả việc thực hiện hai quy trình này.
Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Tóm tắt: Bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra góp phần bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp cần miễm trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra để bảo vệ lợi ích hợp pháp của các nhà sản xuất kinh doanh. Bài viết nghiên cứu những trường hợp miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023, đồng thời chỉ ra ưu, nhược điểm và hạn chế của Luật, từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Trong bối cảnh nhiều thách thức, đội ngũ luật sư với kiến thức chuyên môn và kỹ năng nghề nghiệp của mình, đóng vai trò then chốt trong việc nâng cao chất lượng, hiệu quả trợ giúp pháp lý.
Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Những năm qua, công tác trợ giúp pháp lý trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận. Nhiều vụ việc được trợ giúp pháp lý kịp thời, góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người nghèo, người có công với cách mạng và các nhóm yếu thế khác.
Ứng dụng công nghệ số, nền tảng trực tuyến, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động trợ giúp pháp lý

Ứng dụng công nghệ số, nền tảng trực tuyến, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động trợ giúp pháp lý

Những nỗ lực số hóa hồ sơ, vận hành Hệ thống quản lý trợ giúp pháp lý, kết nối dữ liệu dân cư, phát triển tư vấn trực tuyến… đã mở ra hướng tiếp cận mới, góp phần nâng cao chất lượng và tính minh bạch của dịch vụ trợ giúp pháp lý.
Tăng cường hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế trong tố tụng hình sự

Tăng cường hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế trong tố tụng hình sự

Trong tiến trình cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, việc bảo đảm quyền con người luôn là sợi chỉ đỏ xuyên suốt, đặc biệt, với đối tượng yếu thế, yêu cầu này càng trở nên cấp thiết và nhân văn. Trong tố tụng hình sự (TTHS), đối tượng yếu thế với tư cách bị hại, người làm chứng hay bị can, bị cáo, đã và đang phải đối mặt với hệ thống tư pháp hình sự. Đối tượng yếu thế có được tiếp cận công lý bình đẳng hay không phụ thuộc vào sự công tâm, chuyên nghiệp và nhạy cảm của các cơ quan trong hoạt động tố tụng, trong đó có vai trò của hoạt động trợ giúp pháp lý.
Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo trong bối cảnh mới

Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo trong bối cảnh mới

Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và thúc đẩy phát triển bền vững, hoạt động trợ giúp pháp lý đóng vai trò quan trọng trong việc bảo đảm công bằng xã hội và tiếp cận công lý cho người dân, đặc biệt là người nghèo thuộc nhóm đối tượng yếu thế.

Theo dõi chúng tôi trên: