Thứ sáu 23/10/2026 16:03
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Bảo vệ thông tin cá nhân người tiêu dùng khi giao dịch trên website thương mại điện tử

Tóm tắt: Bài viết phân tích những quy định của pháp luật hiện hành về vấn đề bảo vệ thông tin cá nhân người tiêu dùng khi giao dịch trên website thương mại điện tử, trên cơ sở đó đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về lĩnh vực nà

Tóm tắt: Bài viết phân tích những quy định của pháp luật hiện hành về vấn đề bảo vệ thông tin cá nhân người tiêu dùng khi giao dịch trên website thương mại điện tử, trên cơ sở đó đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về lĩnh vực này.

Abstract: This paper analyzes the provisions of the current legislation on the protection of personal information of consumers when transacting in Ecommerce websites; based on that, it proposes some solutions to improve those provisions.

Trong bối cảnh thương mại điện tử (TMĐT) được dự đoán sẽ bùng nổ trong thời gian tới, bảo vệ thông tin cá nhân người tiêu dùng khi giao dịch trên website TMĐT là một vấn đề rất cần được quan tâm. Pháp luật đặt ra trách nhiệm bảo vệ thông tin cá nhân của người tiêu dùng cho tất cả các chủ thể tham gia vào hoạt động TMĐT, bao gồm cả chính bản thân người tiêu dùng. Cụ thể:

1. Trách nhiệm của thương nhân, tổ chức cung cấp dịch vụ mạng

Sự phát triển và phổ cập rộng rãi của Internet đã tạo điều kiện cho sự “nở rộ” của hoạt động kinh doanh trực tuyến, song hành với nó là những giá trị kinh tế cho các chủ thể kinh doanh. Là một bên tham gia vào hoạt động TMĐT, thương nhân, tổ chức cung cấp dịch vụ mạng đương nhiên cũng phải có trách nhiệm trong việc bảo đảm cho sự vận hành ổn định của TMĐT. Theo Điều 24 Nghị định số 52/2013/NĐ-CP ngày 16/5/2013 của Chính phủ về thương mại điện tử (Nghị định số 52/2013/NĐ-CP), có thể xác định thương nhân, tổ chức cung cấp dịch vụ mạng bao gồm thương nhân, tổ chức cung cấp hạ tầng và thương nhân, tổ chức cung cấp dịch vụ TMĐT.

- Thương nhân, tổ chức cung cấp hạ tầng: Đây là những chủ thể cung cấp hạ tầng kỹ thuật cho người sở hữu website TMĐT bán hàng và thương nhân, tổ chức cung cấp dịch vụ TMĐT. Những chủ thể này tuy không tham gia trực tiếp vào giao dịch TMĐT như người bán và người mua, nhưng lại đóng vai trò rất quan trọng trong việc tạo nền móng cơ bản cho việc thiết lập và giao kết hợp đồng điện tử. Với đặc thù về lĩnh vực hoạt động các thương nhân, tổ chức cung cấp hạ tầng kỹ thuật có trách nhiệm tuân thủ các quy định của pháp luật về bảo vệ thông tin cá nhân người tiêu dùng, xây dựng và đảm bảo hệ thống hạ tầng kỹ thuật vận hành ổn định và an toàn, phù hợp với đặc thù của các giao dịch điện tử, qua đó đáp ứng được yêu cầu bảo đảm an toàn thông tin trong TMĐT.

- Thương nhân, tổ chức cung cấp dịch vụ TMĐT: Đây là các chủ thể thiết lập website TMĐT để cung cấp môi trường cho thương nhân, tổ chức, cá nhân khác tiến hành hoạt động xúc tiến thương mại, bán hàng hóa hoặc cung ứng dịch vụ. Trong vấn đề bảo vệ thông tin cá nhân của người tiêu dùng trong TMĐT, thương nhân, tổ chức cung cấp dịch vụ TMĐT có trách nhiệm: (i) Xây dựng và công bố trên website quy chế hoạt động của website TMĐT, bao gồm các quy định về an toàn thông tin, quản lý thông tin trên website TMĐT và chính sách bảo vệ thông tin cá nhân của người tiêu dùng, đồng thời phải theo dõi và bảo đảm việc thực hiện quy chế đó trên website TMĐT; (ii) Áp dụng các biện pháp để đảm bảo an toàn thông tin liên quan đến thông tin cá nhân của người tiêu dùng; (iii) Công bố công khai cơ chế giải quyết tranh chấp phát sinh trong quá trình giao dịch, tích cực hỗ trợ người tiêu dùng bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình; (iv) Chỉ được chuyển giao thông tin của người tiêu dùng cho bên thứ ba khi có sự đồng ý của người tiêu dùng, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác[1].

Về cơ bản, các quy định của pháp luật hiện hành về trách nhiệm của thương nhân, tổ chức cung cấp dịch vụ TMĐT trong việc bảo vệ thông tin cá nhân người tiêu dùng tương đối hoàn chỉnh. Trong đó, yêu cầu thương nhân, tổ chức phải chủ động công bố công khai các chính sách cụ thể liên quan đến thông tin khách hàng và cơ chế giải quyết tranh chấp phát sinh. Khi những thông tin này được công khai, đồng nghĩa với việc người tiêu dùng có thể dễ dàng hơn trong việc tiếp cận và tìm hiểu được những thông tin nào của mình đang được thu thập, thu thập để làm gì và thông tin đó sẽ được sử dụng và bảo vệ như thế nào, từ đó người tiêu dùng có thể đưa ra lựa chọn có cung cấp thông tin cá nhân của mình hay không. Ngoài ra, yêu cầu cơ chế giải quyết tranh chấp phải công khai là một trong những yếu tố tạo tâm lý an tâm cho người tiêu dùng khi thực hiện giao dịch, đồng thời cũng là cách thức hỗ trợ tốt hơn cho người tiêu dùng khi phát hiện có hành vi xâm phạm thông tin cá nhân. Tuy nhiên, vấn đề kiểm soát, giám sát thương nhân, tổ chức cung cấp dịch vụ TMĐT trong việc xây dựng quy chế cũng như chấp hành chính sách hoạt động do chính họ đưa ra còn là một lỗ hổng do chưa có cơ chế kiểm soát việc thực thi trên thực tế.

Thông tin thanh toán cũng được xem là một trong những thông tin cá nhân của người tiêu dùng. Đây là những thông tin có khả năng thanh toán trực tiếp tiền mua hàng hóa, dịch vụ; rút tiền mặt trực tiếp từ các ngân hàng hoặc qua các máy rút tiền tự động (ATM) bằng các thẻ thanh toán có chứa thông tin thanh toán. Do tính chất nhạy cảm, đồng thời đây cũng là loại thông tin có giá trị kinh tế cao, cho nên pháp luật TMĐT cũng dành những quy định riêng về trách nhiệm bảo vệ thông tin thanh toán của người tiêu dùng. Cụ thể, với các thương nhân, tổ chức, cá nhân sở hữu website TMĐT có chức năng thanh toán trực tuyến phải có các trách nhiệm như: Đảm bảo an toàn, bảo mật giao dịch thanh toán của khách hàng; công bố trên website chính sách về bảo mật thông tin thanh toán cho khách hàng...

2. Trách nhiệm của người bán

Người bán tham gia vào hoạt động TMĐT bao gồm: Các thương nhân, tổ chức, cá nhân tự thiết lập website TMĐT để phục vụ hoạt động xúc tiến thương mại, bán hàng hóa hoặc cung ứng dịch vụ của mình (người sở hữu website TMĐT bán hàng); các thương nhân, tổ chức, cá nhân sử dụng website của thương nhân, tổ chức cung cấp dịch vụ TMĐT để phục vụ hoạt động xúc tiến thương mại, bán hàng hóa hoặc cung ứng dịch vụ của mình (người bán trên website TMĐT).

Đối với người bán là người sở hữu website TMĐT bán hàng, các giao dịch được thực hiện trên website TMĐT do chính những chủ thể này tự thiết lập. Cho nên, trước hết chủ sở hữu website TMĐT bán hàng phải có trách nhiệm trong việc bảo vệ thông tin cá nhân người tiêu dùng như một thương nhân, tổ chức cung cấp dịch vụ TMĐT, đồng thời cũng có những trách nhiệm của người bán trên website TMĐT. Điều 27 Nghị định số 52/2013/NĐ-CP cũng quy định thương nhân, tổ chức, cá nhân sở hữu website TMĐT bán hàng có trách nhiệm tuân thủ các quy định về bảo vệ thông tin cá nhân của khách hàng quy định tại mục 1 Chương V của Nghị định.

Pháp luật TMĐT đã liệt kê các trách nhiệm của người bán trên website TMĐT, nhưng lại không quy định về trách nhiệm trong vấn đề bảo vệ thông tin cá nhânngười tiêu dùng. Đây là một thiếu sót của hệ thống pháp luật về TMĐT. Áp dụng quy định chung về trách nhiệm của tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ khi “thu thập, sử dụng, chuyển giao” thông tin của người tiêu dùng tại Điều 6 Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010 có thể gián tiếp xác định trách nhiệm của người bán trong vấn đề bảo vệ thông tin cá nhân của người tiêu dùng. Theo đó, người bán trên website TMĐT có trách nhiệm sử dụng thông tin phù hợp với mục đích đã thông báo với người tiêu dùng và phải được người tiêu dùng đồng ý; bảo đảm an toàn, chính xác, đầy đủ khi thu thập, sử dụng, chuyển giao thông tin của người tiêu dùng; chỉ được chuyển giao thông tin của người tiêu dùng cho bên thứ ba khi có sự đồng ý của người tiêu dùng, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

Hiện nay, hoạt động kinh doanh qua mạng xã hội cũng trở nên phổ biến. Theo chỉ số TMĐT Việt Nam năm 2018, trong số 4.147 doanh nghiệp tham gia khảo sát, có tới 32% doanh nghiệp đang tiến hành kinh doanh trên mạng xã hội[2]. Theo Điều 6 Thông tư số 47/2014/TT-BCTngày 05/12/2014 của Bộ Tài chính quy định về quản lý website thương mại điện tử, thì các mạng xã hội nếu có một trong những hình thức hoạt động quy định tại điểm a, điểm b, điểm c khoản 2 Điều 35 Nghị định số 52/2013/NĐ-CP phải tiến hành đăng ký với Bộ Công Thương dưới hình thức sàn giao dịch TMĐT. Như vậy, thương nhân, tổ chức thiết lập mạng xã hội và người bán trên mạng xã hội phải thực hiện các trách nhiệm của thương nhân, tổ chức cung cấp dịch vụ sàn giao dịch TMĐT và người bán trên sàn giao dịch TMĐT theo quy định của pháp luật.

3. Trách nhiệm của cá nhân người tiêu dùng

Trách nhiệm bảo vệ thông tin cá nhân của chính người tiêu dùng mới chỉ được ghi nhận như một nguyên tắc bảo đảm an toàn thông tin mạng tại khoản 1 Điều 16 Luật An toàn thông tin mạng năm 2015, theo đó, cá nhân cũng phải có trách nhiệm trong việc tự bảo vệ thông tin cá nhân của mình. Rõ ràng, người tiêu dùng trong TMĐT có nhiều điểm khác biệt so với người tiêu dùng trong giao dịch truyền thống, nhưng dù áp dụng phương thức giao dịch nào thì người tiêu dùng vẫn phải có ý thức trong việc tự bảo vệ mình. So với khi phát hiện bị xâm phạm mới quan tâm đến bảo vệ thông tin cá nhân thì có ý thức tự bảo vệ ngay khi bắt đầu tham gia vào giao dịch để phòng ngừa nguy cơ rủi ro là lựa chọn thông minh hơn nhiều. Có thể hiểu, trách nhiệm của người tiêu dùng trong việc bảo vệ thông tin cá nhân là dạng trách nhiệm tự thân. Trách nhiệm này không chỉ ở giai đoạn xác lập mà xuyên suốt trong cả quá trình giao dịch, kể cả khi giao dịch đã kết thúc. Cụ thể, trách nhiệm tự bảo vệ thông tin cá nhân của người tiêu dùng thể hiện ngay từ việc lựa chọn giao dịch với những website TMĐT, người bán có uy tín trên thị trường. Thận trọng trong việc cung cấp thông tin cá nhân và chọn lọc các thông tin sẽ cung cấp, có thể từ chối tiết lộ một số loại thông tin như một cách để bảo vệ mình và tiết lộ các thông tin khác để có được sản phẩm hoặc dịch vụ mong muốn[3].

Người tiêu dùng cũng cần có những nhận thức về quyền hạn đối với thông tin cá nhân của mình như: Quyền yêu cầu đơn vị thu thập thông tin thực hiện việc kiểm tra, cập nhật, điều chỉnh hoặc hủy bỏ thông tin cá nhân của mình; ngừng cung cấp thông tin cá nhân của mình cho bên thứ ba; quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại do hành vi vi phạm trong việc cung cấp thông tin cá nhân…[4] Trách nhiệm tự bảo vệ thông tin cá nhân của người tiêu dùng là một dạng trách nhiệm tự thân, đóng vai trò hết sức quan trọng trong hoạt động đảm bảo an toàn thông tin mạng nói chung, góp phần tạo ra một môi trường TMĐT phát triển ổn định và bền vững.

4. Vấn đề thu thập và sử dụng thông tin cá nhân người tiêu dùng

Trong quá trình thu thập và sử dụng thông tin cá nhân người tiêu dùng, các chủ thể thu thập thông tin phải tuân thủ các quy định pháp luật có liên quan, cụ thể:

Thứ nhất, vấn đề thu thập thông tin cá nhân người tiêu dùng

Luật Công nghệ thông tin năm 2006, Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010, Luật An toàn thông tin mạng năm 2015 và Nghị định số 52/2013/NĐ-CP đều có những quy định liên quan đến vấn đề thu thập và sử dụng thông tin cá nhân[5]. Nội dung của các quy định khá tương đồng, đều dựa trên một nguyên tắc cơ bản là phải có sự đồng ý của chủ thể thông tin về phạm vi, mục đích của việc thu thập và sử dụng thông tin trước khi tiến hành thu thập thông tin của người đó. Quy định này tương thích với nội dung của Hướng dẫn của Liên Hợp Quốc về bảo vệ người tiêu dùng; phù hợp với quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015[6]. Mặt khác, đây cũng là một quy định rất hợp lý bởi thông tin cá nhân thuộc quyền sở hữu riêng của chủ thể thông tin, nên người đó có quyền quyết định cho phép hoặc từ chối hành vi thu thập và sử dụng thông tin cá nhân của tổ chức, cá nhân khác; đồng thời cũng có quyền được thông tin về những loại thông tin nào được thu thập, phạm vi và mục đích sử dụng để từ đó đưa ra quyết định có chấp thuận việc thu thập thông tin cá nhân của mình hay không. Việc xin ý kiến đồng ý của khách hàng phải được tiến hành thông qua một bước riêng để khách hàng lựa chọn chấp nhận hoặc từ chối. Không được thiết lập cơ chế chọn đồng ý mặc định cho khách hang[7].

Trên thực tế, người tiêu dùng thường không chú ý đến các nội dung về mục đích và phạm vi thu thập thông tin cá nhân do website TMĐT công bố. Kể cả khi người tiêu dùng đã đọc trước, trong nhiều trường hợp vẫn xác nhận đồng ý cho phép thu thập và sử dụng vì chưa ý thức được giá trị thông tin cá nhân của mình. Lợi dụng điều này, chủ thể thu thập thông tin thường thu thập và lưu giữ nhiều hơn những thông tin mà mình thực sự cần, đưa ra mục đích thu thập nhưng chỉ mang tính chất đối phó. Trên thực tế, cũng tồn tại tình trạng các chủ thể thu thập tự ý thu thập thông tin mà chưa có sự đồng ý trước đó của khách hàng.

Thứ hai, vấn đề sử dụng thông tin cá nhân người tiêu dùng

Ngoài một số trường hợp ngoại lệ được quy định tại khoản 4 Điều 70 Nghị định số 52/2013/NĐ-CP, đơn vị thu thập thông tin phải sử dụng thông tin cá nhân người tiêu dùng đúng với mục đích và phạm vi đã thông báo. Nguyên tắc có sự đồng ý trước của chủ thể thông tin không chỉ được áp dụng ở giai đoạn thu thập mà còn phải được tuân thủ trong quá trình sử dụng thông tin cá nhân đó. Khi sử dụng thông tin cá nhân vào mục đích khác với mục đích ban đầu đã thỏa thuận phải có sự cho phép của người tiêu dùng, không được cung cấp, chia sẻ, phát tán thông tin cá nhân đã thu thập, tiếp cận, kiểm soát cho bên thứ ba, trừ trường hợp có sự đồng ý của người tiêu dùng hoặc theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

Trong quá trình sử dụng thông tin cá nhân, chủ thể thu thập thông tin cũng có trách nhiệm tuân thủ các quy định về đảm bảo an toàn, an ninh thông tin cá nhân như: Áp dụng biện pháp quản lý, kỹ thuật phù hợp để bảo vệ thông tin cá nhân; áp dụng các biện pháp khắc phục, ngăn chặn khi xảy ra hoặc có nguy cơ xảy ra sự cố làm mất an toàn thông tin cá nhân; kiểm tra, cập nhật, điều chỉnh, hủy bỏ thông tin cá nhân của người tiêu dùng khi có yêu cầu hoặc cung cấp cho người tiêu dùng công cụ để tự kiểm tra, cập nhật, điều chỉnh thông tin cá nhân; hủy bỏ thông tin cá nhân lưu trữ khi đã hoàn thành mục đích sử dụng hoặc hết thời hạn lưu trữ…

Thứ ba, các hành vi bị cấm trong thu thập và sử dụng thông tin cá nhân

Điều 4 Nghị định số 52/2013/NĐ-CP quy định về các hành vi bị cấm trong TMĐT, trong đó có hành vi đánh cắp, sử dụng, tiết lộ, chuyển nhượng, bán các thông tin liên quan đến thông tin cá nhân của người tiêu dùng trong TMĐT khi chưa được sự đồng ý của các bên liên quan. Điều 7 Luật An toàn thông tin mạng năm 2015 tiếp tục nhấn mạnh: Nghiêm cấm hành vi thu thập, sử dụng, phát tán, kinh doanh trái pháp luật thông tin cá nhân của người khác. Để phù hợp với phạm vi điều chỉnh, Luật An toàn thông tin mạng còn mở rộng nghiêm cấm thêm với hành vi lợi dụng sơ hở, điểm yếu của hệ thống thông tin để thu thập, khai thác thông tin cá nhân.

Về cơ bản, Luật Công nghệ thông tin năm 2006, Luật An toàn thông tin mạng năm 2015 và Nghị định số 52/2013/NĐ-CP đã có những quy định tương đối rõ ràng, hợp lý và đầy đủ để đảm bảo cho hoạt động thu thập và sử dụng thông tin cá nhân người tiêu dùng được vận hành an toàn và ổn định. Trên thực tế, thương nhân, tổ chức, cá nhân kinh doanh TMĐT có thể không trực tiếp tiến hành việc thu thập và lưu trữ thông tin cá nhân của người tiêu dùng mà ủy quyền cho một bên thứ ba thực hiện. Đối với trường hợp này, pháp luật yêu cầu hợp đồng giữa hai bên phải quy định rõ trách nhiệm của mỗi bên trong việc tuân thủ các quy định pháp luật về bảo vệ thông tin cá nhân. Nếu hợp đồng không quy định rõ thì chủ thể hoạt động kinh doanh TMĐT phải chịu trách nhiệm nếu có vi phạm.

5. Một số kiến nghị

Một là, về trách nhiệm bảo vệ thông tin cá nhân người tiêu dùng của người bán trên website TMĐT

Theo Điều 68 Nghị định số 52/2013/NĐ-CP, trong quá trình hoạt động kinh doanh TMĐT, nếu thương nhân, tổ chức, cá nhân thực hiện việc thu thập thông tin cá nhân của người tiêu dùng thì phải tuân thủ các quy định tại Nghị định này và những quy định pháp luật liên quan về bảo vệ thông tin cá nhân. Pháp luật đã đặt trách nhiệm bảo vệ thông tin cá nhân người tiêu dùng chủ yếu lên các chủ thể cung cấp dịch vụ TMĐT bởi các hoạt động thu thập, quản lý và sử dụng thông tin được diễn ra trên website TMĐT và người bán lúc này đóng vai trò như một khách hàng của thương nhân, tổ chức thiết lập website TMĐT. Tuy nhiên, dù người bán trên website TMĐT không trực tiếp thực hiện việc thu thập và xử lý thông tin cá nhân của người tiêu dùng nhưng đây vẫn là những thông tin người bán có thể tiếp cận và sử dụng.

Chính vì vậy, Nghị định số 52/2013/NĐ-CP cần bổ sung quy định về trách nhiệm của người bán trên website TMĐT trong việc tuân thủ các quy định của pháp luật về bảo vệ thông tin cá nhân người tiêu dùng. Cụ thể, cần bổ sung quy định tại khoản 1 Điều 68 Nghị định số 52/2013/NĐ-CP như sau: “Trong quá trình hoạt động kinh doanh TMĐT, nếu thương nhân, tổ chức, cá nhân thực hiện việc thu thập hoặc sử dụng thông tin cá nhân của người tiêu dùng thì phải tuân thủ các quy định tại Nghị định này và những quy định pháp luật liên quan về bảo vệ thông tin cá nhân”.

Hai là, về hành vi mua, nhận chuyển nhượng thông tin cá nhân của người tiêu dùng

Khoản 33 Điều 1 Nghị định số 124/2015/NĐ-CP ngày 19/11/2015 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 185/2013/NĐ-CP ngày 15/11/2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động thương mại, sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng cấm và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng (Nghị định số 124/2015/NĐ-CP) mới chỉ quy định xử phạt hành chính đối với hành vi đánh cắp, tiết lộ, chuyển nhượng, bán các thông tin cá nhân của người tiêu dùng trong TMĐT. Trong khi đó, theo pháp luật hiện hành, việc chuyển giao thông tin cá nhân cho một bên thứ ba bắt buộc phải có sự đồng ý của chủ thể thông tin trước đó. Vì vậy, người mua trong trường hợp chưa có sự đồng ý chuyển giao của người tiêu dùng không phải là chủ thể có quyền tiếp cận và sử dụng thông tin cá nhân của người tiêu dùng. Mặt khác, rõ ràng thông tin cá nhân của người tiêu dùng trong TMĐT không phải là một “mặt hàng” hợp pháp để đưa vào giao dịch, nên tất cả các bên tham gia vào giao dịch, không chỉ chủ thể bán thông tin cá nhân mà cả chủ thể mua thông tin cá nhân của người tiêu dùng cũng phải bị xử lý theo quy định của pháp luật. Do đó, cần phải có những quy định xử phạt đối với những chủ thể có hành vi “mua, nhận chuyển nhượng” thông tin cá nhân của người tiêu dùng. Vì vậy, điểm b khoản 5 Điều 82 Nghị định số 185/2013/NĐ-CP ngày 15/11/2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động thương mại, sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng cấm và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng cần được bổ sung thành: “Đánh cắp, tiết lộ, chuyển nhượng, bán, mua, nhận chuyển nhượng các thông tin liên quan đến bí mật kinh doanh của thương nhân, tổ chức khác hoặc thông tin cá nhân của người tiêu dùng trong TMĐT khi chưa được sự đồng ý của các bên liên quan”.

Ba là, về xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi bán, chuyển nhượng trái phép thông tin cá nhân người tiêu dùng

Chế tài hành chính áp dụng với các cá nhân, tổ chức thực hiện hành vi chuyển nhượng, bán trái phép thông tin cá nhân người tiêu dùng là một bất cập bởi vẫn chưa đủ mạnh để tạo tính răn đe, phòng ngừa các tổ chức, cá nhân vi phạm. Cụ thể, mức phạt tiền hiện tại theo quy định là từ 30.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng[8] chưa tương xứng với lợi nhuận “khủng” mà các chủ thể thực hiện hành vi vi phạm có thể thu được. Trong khi đó, các hình thức xử phạt bổ sung hay biện pháp khắc phục hậu quả về nguyên tắc là không bắt buộc áp dụng (Điều 21, Điều 28 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012), quyết định có áp dụng hay không tùy thuộc ít nhiều vào ý chí chủ quan của chủ thể có thẩm quyền đối với từng vụ việc cụ thể. Như vậy, trường hợp hành vi vi phạm chỉ bị áp dụng hình thức xử phạt chính là phạt tiền, chủ thể có thẩm quyền không áp dụng hình thức xử phạt bổ sung hay biện pháp khắc phục hậu quả, đặc biệt là biện pháp “buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện hành vi vi phạm” thì rõ ràng là mức phạt tiền nêu trên còn quá thấp và không hợp lý. Nhưng nếu tiếp tục sửa đổi theo hướng tăng mức xử phạt tiền đối với hành vi này lên cao thì lại không hợp lý đối với các trường hợp vi phạm có quy mô nhỏ lẻ, lợi nhuận thấp. Chính vì vậy, tác giả kiến nghị, thay vì căn cứ vào hành vi vi phạm để xác định mức xử phạt tiền cố định như quy định hiện hành thì Chính phủ cần xem xét sửa đổi quy định xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi bán, chuyển nhượng thông tin cá nhân người tiêu dùng khi chưa được sự đồng ý của người đó theo hướng hình phạt tiền cần được xây dựng dựa trên lợi nhuận mà thực tế tổ chức, cá nhân vi phạm thu được và mức phạt tiền cũng phải tỷ lệ thuận với số lợi bất hợp pháp có được. Tuy nhiên, vẫn giữ nguyên mức hình phạt tiền thấp nhất áp dụng đối với các chủ thể thực hiện hành vi để đảm bảo được tính răn đe, phòng ngừa vi phạm ngay cả đối với những vụ việc có quy mô nhỏ lẻ.

Nguyễn Thị Thu Hằng

Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh







[1]. Xem: Điều 36, Điều 41 Nghị định số 52/2013/NĐ-CP và Điều 4 Thông tư số 47/2014/TT-BCT ngày 05/12/2014 của Bộ Công thương quy định về quản lý website TMĐT.

[2]. Hiệp hội Thương mại điện tử Việt Nam (2018), Chỉ số thương mại điện tử Việt Nam năm 2018, tr. 30.

[3]. Miriam J. Metzger (2007), Communication Privacy Management in Electronic Commerce,Journal of Computer-Mediated Communication, International Communication Association, Vol. 12, tr. 339.

[4]. Xem thêm: Điều 18 Luật An toàn thông tin mạng năm 2015, Điều 73 Nghị định số 52/2013/NĐ-CP.

[5]. Xem: Điều 21 Luật Công nghệ thông tin năm 2006, Điều 17 Luật An toàn thông tin mạng năm 2015, Điều 6 Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010, Điều 70 Nghị định số 52/2013/NĐ-CP.

[6]. United Nations (2016), Guidelines for Consumer Protection, tr. 10: “Các doanh nghiệp cần bảo vệ quyền riêng tư của người tiêu dùng thông qua sự kết hợp giữa các cơ chế kiểm soát, bảo mật, minh bạch và có sự chấp thuận khi thu thập và sử dụng thông tin cá nhânngười tiêu dùng”.

Khoản 1 Điều 38 Bộ luật Dân sự năm 2015: “Việc thu thập, lưu giữ, sử dụng, công khai thông tin liên quan đến đời sống riêng tư, bí mật cá nhân phải được người đó đồng ý”.

[7]. Khoản 21 Mục IV Thông tư số 09/2008/TT-BCT ngày 21/7/2008 của Bộ Công thương hướng dẫn Nghị định TMĐT về cung cấp thông tin và giao kết hợp đồng trên website TMĐT.

[8]. Khoản 33 Điều 1 Nghị định số 124/2015/NĐ-CP.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Định danh địa điểm: Bước chuyển quan trọng trong hiện thực hóa chủ trương quản trị hiện đại về đất đai

Định danh địa điểm: Bước chuyển quan trọng trong hiện thực hóa chủ trương quản trị hiện đại về đất đai

Ngày 19/8/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 326/2026/NĐ-CP quy định về định danh địa điểm, đánh dấu bước chuyển quan trọng trong việc thể chế hóa quan điểm, chủ trương của Đảng về chuyển đổi số quốc gia, hiện đại hóa quản lý đất đai, số hóa dữ liệu trên hệ thống quản lý của Nhà nước. Đây là bước đi mang tầm chiến lược, lấy dữ liệu làm nền tảng, người dân và doanh nghiệp làm trung tâm phục vụ. Nghị định số 326/2026/NĐ-CP gồm 04 chương với 18 điều, thiết lập một khung khổ pháp lý đồng bộ, toàn diện cho việc định danh các địa điểm cụ thể trên toàn lãnh thổ quốc gia. Nghị định đã chứa đựng nhiều điểm mới có tính đột phá về tư duy lập pháp và tư duy quản trị hiện đại.
Chăm lo sức khỏe và bảo đảm an sinh cho người dân Thủ đô

Chăm lo sức khỏe và bảo đảm an sinh cho người dân Thủ đô

Với định hướng xây dựng Thủ đô phát triển hiện đại, văn minh, có chất lượng sống ngày càng cao, Luật Thủ đô năm 2026 đã dành 01 điều riêng quy định về những cơ chế, chính sách trong lĩnh vực y tế và an sinh xã hội (Điều 17). Với các quy định tại Điều 17 của Luật đã tạo cơ sở pháp lý để Hà Nội chủ động hơn trong việc tổ chức các dịch vụ chăm sóc sức khỏe, hỗ trợ người dân và từng bước hoàn thiện mạng lưới an sinh xã hội theo hướng toàn diện, bền vững.
Cơ chế thí điểm chính sách mới: Không gian để Hà Nội kiểm nghiệm và hoàn thiện pháp luật

Cơ chế thí điểm chính sách mới: Không gian để Hà Nội kiểm nghiệm và hoàn thiện pháp luật

Luật Thủ đô năm 2026 dành một cơ chế riêng cho Hà Nội trong việc thí điểm các cơ chế, chính sách mới, qua đó tạo thêm không gian để thành phố chủ động xử lý những vấn đề phát sinh từ thực tiễn. Tuy nhiên, quyền thí điểm không phải là quyền "làm khác" không giới hạn, mà được đặt trong khuôn khổ pháp lý với những yêu cầu cụ thể về phạm vi, thời gian, đánh giá tác động, kiểm soát rủi ro và trách nhiệm của cơ quan thực hiện.
Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2026 được ban hành với nhiều điểm mới nhằm khắc phục những khó khăn, vướng mắc của Luật hiện hành; đổi mới hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật theo hướng lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm; bảo đảm quyền tiếp cận pháp luật, quyền tham gia góp ý, phản ánh, kiến nghị về chính sách, pháp luật; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo; đồng thời góp phần xây dựng văn hóa thượng tôn pháp luật và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chủ trương khởi nghiệp sáng tạo tại Việt Nam được Đảng và Nhà nước nhận thức, định hướng trong sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư khi nền sản xuất toàn cầu có sự kết hợp của các công nghệ hiện đại như trí tuệ nhân tạo, Internet of Things (IoT), robot tự động, dữ liệu lớn và nhiều công nghệ tiên tiến khác. Để thúc đẩy, tạo động lực cho cá nhân, tổ chức phát huy đam mê khởi nghiệp sáng tạo, tối đa hóa năng lực, nguồn lực, cống hiến trí tuệ cho sự phát triển chung của đất nước, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế- xã hội, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã từng bước đề ra chủ trương, chính sách pháp luật, chiến lược lâu dài nhằm kiến tạo hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo. Từ định hướng chiến lược tại Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân, đến việc thể chế hóa chủ trương của Đảng trong Luật Khoa học, Công nghệ và đổi mới sáng tạo năm 2025 và Chính phủ cụ thể hóa thông qua Nghị quyết số 86/NQ-CP ban hành Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo. Những chủ trương, chính sách đã góp phần thúc đẩy khởi nghiệp sáng tạo trong hệ thống kinh tế tư nhân trở thành một động lực phát triển quan trọng của đất nước trong kỷ nguyên số.
Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Tại Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI đã thông qua Luật Phát triển đô thị số 18/2026/QH16, Luật có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/10/2026. Luật được kết cấu gồm 05 chương, 66 điều quy định các cơ chế, chính sách nhằm tạo lập hành lang pháp lý ổn định, đồng bộ, đột phá và khả thi để thúc đẩy phát triển Thành phố Hồ Chí Minh, phát triển đô thị đặc biệt khác, thành phố khác và khu kinh tế đặc biệt; bảo đảm cơ sở pháp lý cho việc áp dụng các cơ chế, chính sách đặc thù, vượt trội phù hợp với điều kiện, yêu cầu phát triển và năng lực thực thi của từng địa phương; qua đó khai thác hiệu quả tiềm năng, lợi thế, tạo không gian phát triển mới, thu hút nguồn lực đầu tư chất lượng cao và hình thành các động lực tăng trưởng mới.
Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Trên cơ sở kế thừa những quy định của Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013 đã được thực tiễn chứng minh là phù hợp, Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026 đồng thời bổ sung nhiều quy định để tháo gỡ những vướng mắc, bất cập, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, tạo cơ sở pháp lý đầy đủ, đồng bộ cho công tác hòa giải ở cơ sở.
Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chuyển đổi số trong hoạt động ngân hàng đã làm thay đổi căn bản phương thức xác lập và thực hiện các hợp đồng, giao dịch. Nhiều giao dịch được thực hiện hoàn toàn trên môi trường điện tử thông qua Internet Banking, Mobile Banking, eKYC, chữ ký điện tử, xác thực OTP và các hệ thống ngân hàng lõi (Core Banking). Khi phát sinh tranh chấp, chứng cứ không chỉ là hồ sơ giấy mà còn là dữ liệu điện tử được lưu giữ trên các hệ thống thông tin của ngân hàng và của khách hàng. Mặc dù Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015) và Luật Giao dịch điện tử năm 2023 đã thiết lập cơ sở pháp lý quan trọng cho việc thừa nhận dữ liệu điện tử là nguồn chứng cứ. Tuy nhiên, việc xác định giá trị chứng minh của loại chứng cứ này vẫn còn nhiều khoảng trống cần tiếp tục hoàn thiện.
Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Ngày 25/6/2025, Quốc hội khóa XV đã thông qua Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 (Luật số 89/2025/QH15) đánh dấu bước quan trọng trong tư duy lập pháp, quản lý của Nhà nước đối với hệ thống ngân sách nhà nước, đáp ứng yêu cầu tổ chức mô hình chính quyền địa phương hai cấp trên phạm vi toàn quốc. Bài viết đề cập nội dung của Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 gắn với việc tổ chức mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, làm rõ những kết quả từ việc sửa đổi Luật phù hợp với thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội, tổ chức bộ máy hành chính hiện nay.
THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

Trong cấu trúc an ninh phi truyền thống hiện đại, an ninh năng lượng đóng vai trò là “mạch máu” sống còn, quyết định sức bền kinh tế và vị thế quốc gia. Bước vào giai đoạn 2026 - 2030, trước yêu cầu bứt phá tăng trưởng GDP ở mức hai con số gắn liền với cam kết lịch sử phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050, Việt Nam đứng trước bài toán vừa bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng trước biến động địa chính trị toàn cầu, vừa chủ động chuyển dịch năng lượng xanh theo chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước.
Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp, cải cách thủ tục hành chính tiếp tục được đẩy mạnh gắn với chuyển đổi số, phân cấp, phân quyền và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Kết quả thực hiện trong tháng 8/2026 cho thấy nhiều chuyển biến tích cực, đồng thời đặt ra yêu cầu tiếp tục đồng bộ dữ liệu, hoàn thiện quy trình và nâng cao hiệu quả phối hợp trong cải cách thủ tục hành chính.
Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp về tình hình, kết quả cải cách thủ tục hành chính (TTHC) tháng 8 và nhiệm vụ trọng tâm tháng 9/2026, cải cách TTHC đang chuyển sang một giai đoạn mới, trong đó dữ liệu và công nghệ số ngày càng giữ vai trò quan trọng trong quản trị và tổ chức thực hiện. Việc khai thác, kết nối, chia sẻ dữ liệu để tái cấu trúc quy trình, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục đang từng bước làm thay đổi phương thức quản lý, hướng tới nền hành chính hiện đại, hiệu quả, phục vụ tốt hơn người dân và doanh nghiệp.
Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bài viết phân tích yêu cầu tái cấu trúc phương thức bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong điều kiện tiếp tục tinh gọn tổ chức bộ máy và đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia. Từ cách tiếp cận hệ thống, bài viết làm rõ sự dịch chuyển từ bảo vệ bằng tuyên truyền tuyến tính sang bảo vệ bằng năng lực thể chế hóa, năng lực quản trị và hiệu quả tổ chức thực hiện; đồng thời phân tích vai trò của Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 66-NQ/TW) và Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 57-NQ/TW) như hai trục lớn của quá trình tái cấu trúc này. Trên cơ sở đó, bài viết khảo sát thực tiễn thi hành án dân sự, qua đó cho thấy “gọn hơn về tổ chức, mạnh hơn về quản trị” không chỉ là yêu cầu cải cách hành chính, mà còn là một phương thức củng cố niềm tin của Nhân dân vào hệ thống chính trị.
Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô số 02/2026/QH16 được Quốc hội khóa XVI thông qua ngày 23/4/2026, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026, thay thế Luật Thủ đô số 39/2024/QH15. Với 09 chương, 36 điều, Luật Thủ đô năm 2026 tiếp tục thể chế hóa chủ trương xây dựng Thủ đô Hà Nội trở thành trung tâm chính trị, hành chính quốc gia, trung tâm lớn về kinh tế, văn hóa, khoa học, giáo dục, đào tạo và đổi mới sáng tạo; đồng thời tạo dựng một không gian pháp lý mới với mức độ phân quyền, phân cấp và trao quyền mạnh mẽ hơn cho Thành phố.
THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả không chỉ là giảm bớt hóa đơn tiền điện, mà còn trở thành “chìa khóa” bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, bảo vệ môi trường và hướng tới tăng trưởng xanh. Đứng trước những biến động phức tạp của chuỗi cung ứng toàn cầu, sự ra đời của các văn bản chỉ đạo chiến lược như Chỉ thị số 09/CT-TTg, Chỉ thị số 10/CT-TTg và Công điện số 27/CĐ-TTg từ Chính phủ đang tạo ra những bước ngoặt lớn. Cuộc cách mạng này đòi hỏi sự đồng bộ từ hoàn thiện hành lang pháp lý, đổi mới công nghệ, đến sự thay đổi tư duy và hành động của mỗi người dân, doanh nghiệp.

Theo dõi chúng tôi trên: