Chủ nhật 15/03/2026 03:54
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Bảo vệ thông tin cá nhân người tiêu dùng khi giao dịch trên website thương mại điện tử

Tóm tắt: Bài viết phân tích những quy định của pháp luật hiện hành về vấn đề bảo vệ thông tin cá nhân người tiêu dùng khi giao dịch trên website thương mại điện tử, trên cơ sở đó đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về lĩnh vực nà

Tóm tắt: Bài viết phân tích những quy định của pháp luật hiện hành về vấn đề bảo vệ thông tin cá nhân người tiêu dùng khi giao dịch trên website thương mại điện tử, trên cơ sở đó đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về lĩnh vực này.

Abstract: This paper analyzes the provisions of the current legislation on the protection of personal information of consumers when transacting in Ecommerce websites; based on that, it proposes some solutions to improve those provisions.

Trong bối cảnh thương mại điện tử (TMĐT) được dự đoán sẽ bùng nổ trong thời gian tới, bảo vệ thông tin cá nhân người tiêu dùng khi giao dịch trên website TMĐT là một vấn đề rất cần được quan tâm. Pháp luật đặt ra trách nhiệm bảo vệ thông tin cá nhân của người tiêu dùng cho tất cả các chủ thể tham gia vào hoạt động TMĐT, bao gồm cả chính bản thân người tiêu dùng. Cụ thể:

1. Trách nhiệm của thương nhân, tổ chức cung cấp dịch vụ mạng

Sự phát triển và phổ cập rộng rãi của Internet đã tạo điều kiện cho sự “nở rộ” của hoạt động kinh doanh trực tuyến, song hành với nó là những giá trị kinh tế cho các chủ thể kinh doanh. Là một bên tham gia vào hoạt động TMĐT, thương nhân, tổ chức cung cấp dịch vụ mạng đương nhiên cũng phải có trách nhiệm trong việc bảo đảm cho sự vận hành ổn định của TMĐT. Theo Điều 24 Nghị định số 52/2013/NĐ-CP ngày 16/5/2013 của Chính phủ về thương mại điện tử (Nghị định số 52/2013/NĐ-CP), có thể xác định thương nhân, tổ chức cung cấp dịch vụ mạng bao gồm thương nhân, tổ chức cung cấp hạ tầng và thương nhân, tổ chức cung cấp dịch vụ TMĐT.

- Thương nhân, tổ chức cung cấp hạ tầng: Đây là những chủ thể cung cấp hạ tầng kỹ thuật cho người sở hữu website TMĐT bán hàng và thương nhân, tổ chức cung cấp dịch vụ TMĐT. Những chủ thể này tuy không tham gia trực tiếp vào giao dịch TMĐT như người bán và người mua, nhưng lại đóng vai trò rất quan trọng trong việc tạo nền móng cơ bản cho việc thiết lập và giao kết hợp đồng điện tử. Với đặc thù về lĩnh vực hoạt động các thương nhân, tổ chức cung cấp hạ tầng kỹ thuật có trách nhiệm tuân thủ các quy định của pháp luật về bảo vệ thông tin cá nhân người tiêu dùng, xây dựng và đảm bảo hệ thống hạ tầng kỹ thuật vận hành ổn định và an toàn, phù hợp với đặc thù của các giao dịch điện tử, qua đó đáp ứng được yêu cầu bảo đảm an toàn thông tin trong TMĐT.

- Thương nhân, tổ chức cung cấp dịch vụ TMĐT: Đây là các chủ thể thiết lập website TMĐT để cung cấp môi trường cho thương nhân, tổ chức, cá nhân khác tiến hành hoạt động xúc tiến thương mại, bán hàng hóa hoặc cung ứng dịch vụ. Trong vấn đề bảo vệ thông tin cá nhân của người tiêu dùng trong TMĐT, thương nhân, tổ chức cung cấp dịch vụ TMĐT có trách nhiệm: (i) Xây dựng và công bố trên website quy chế hoạt động của website TMĐT, bao gồm các quy định về an toàn thông tin, quản lý thông tin trên website TMĐT và chính sách bảo vệ thông tin cá nhân của người tiêu dùng, đồng thời phải theo dõi và bảo đảm việc thực hiện quy chế đó trên website TMĐT; (ii) Áp dụng các biện pháp để đảm bảo an toàn thông tin liên quan đến thông tin cá nhân của người tiêu dùng; (iii) Công bố công khai cơ chế giải quyết tranh chấp phát sinh trong quá trình giao dịch, tích cực hỗ trợ người tiêu dùng bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình; (iv) Chỉ được chuyển giao thông tin của người tiêu dùng cho bên thứ ba khi có sự đồng ý của người tiêu dùng, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác[1].

Về cơ bản, các quy định của pháp luật hiện hành về trách nhiệm của thương nhân, tổ chức cung cấp dịch vụ TMĐT trong việc bảo vệ thông tin cá nhân người tiêu dùng tương đối hoàn chỉnh. Trong đó, yêu cầu thương nhân, tổ chức phải chủ động công bố công khai các chính sách cụ thể liên quan đến thông tin khách hàng và cơ chế giải quyết tranh chấp phát sinh. Khi những thông tin này được công khai, đồng nghĩa với việc người tiêu dùng có thể dễ dàng hơn trong việc tiếp cận và tìm hiểu được những thông tin nào của mình đang được thu thập, thu thập để làm gì và thông tin đó sẽ được sử dụng và bảo vệ như thế nào, từ đó người tiêu dùng có thể đưa ra lựa chọn có cung cấp thông tin cá nhân của mình hay không. Ngoài ra, yêu cầu cơ chế giải quyết tranh chấp phải công khai là một trong những yếu tố tạo tâm lý an tâm cho người tiêu dùng khi thực hiện giao dịch, đồng thời cũng là cách thức hỗ trợ tốt hơn cho người tiêu dùng khi phát hiện có hành vi xâm phạm thông tin cá nhân. Tuy nhiên, vấn đề kiểm soát, giám sát thương nhân, tổ chức cung cấp dịch vụ TMĐT trong việc xây dựng quy chế cũng như chấp hành chính sách hoạt động do chính họ đưa ra còn là một lỗ hổng do chưa có cơ chế kiểm soát việc thực thi trên thực tế.

Thông tin thanh toán cũng được xem là một trong những thông tin cá nhân của người tiêu dùng. Đây là những thông tin có khả năng thanh toán trực tiếp tiền mua hàng hóa, dịch vụ; rút tiền mặt trực tiếp từ các ngân hàng hoặc qua các máy rút tiền tự động (ATM) bằng các thẻ thanh toán có chứa thông tin thanh toán. Do tính chất nhạy cảm, đồng thời đây cũng là loại thông tin có giá trị kinh tế cao, cho nên pháp luật TMĐT cũng dành những quy định riêng về trách nhiệm bảo vệ thông tin thanh toán của người tiêu dùng. Cụ thể, với các thương nhân, tổ chức, cá nhân sở hữu website TMĐT có chức năng thanh toán trực tuyến phải có các trách nhiệm như: Đảm bảo an toàn, bảo mật giao dịch thanh toán của khách hàng; công bố trên website chính sách về bảo mật thông tin thanh toán cho khách hàng...

2. Trách nhiệm của người bán

Người bán tham gia vào hoạt động TMĐT bao gồm: Các thương nhân, tổ chức, cá nhân tự thiết lập website TMĐT để phục vụ hoạt động xúc tiến thương mại, bán hàng hóa hoặc cung ứng dịch vụ của mình (người sở hữu website TMĐT bán hàng); các thương nhân, tổ chức, cá nhân sử dụng website của thương nhân, tổ chức cung cấp dịch vụ TMĐT để phục vụ hoạt động xúc tiến thương mại, bán hàng hóa hoặc cung ứng dịch vụ của mình (người bán trên website TMĐT).

Đối với người bán là người sở hữu website TMĐT bán hàng, các giao dịch được thực hiện trên website TMĐT do chính những chủ thể này tự thiết lập. Cho nên, trước hết chủ sở hữu website TMĐT bán hàng phải có trách nhiệm trong việc bảo vệ thông tin cá nhân người tiêu dùng như một thương nhân, tổ chức cung cấp dịch vụ TMĐT, đồng thời cũng có những trách nhiệm của người bán trên website TMĐT. Điều 27 Nghị định số 52/2013/NĐ-CP cũng quy định thương nhân, tổ chức, cá nhân sở hữu website TMĐT bán hàng có trách nhiệm tuân thủ các quy định về bảo vệ thông tin cá nhân của khách hàng quy định tại mục 1 Chương V của Nghị định.

Pháp luật TMĐT đã liệt kê các trách nhiệm của người bán trên website TMĐT, nhưng lại không quy định về trách nhiệm trong vấn đề bảo vệ thông tin cá nhânngười tiêu dùng. Đây là một thiếu sót của hệ thống pháp luật về TMĐT. Áp dụng quy định chung về trách nhiệm của tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ khi “thu thập, sử dụng, chuyển giao” thông tin của người tiêu dùng tại Điều 6 Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010 có thể gián tiếp xác định trách nhiệm của người bán trong vấn đề bảo vệ thông tin cá nhân của người tiêu dùng. Theo đó, người bán trên website TMĐT có trách nhiệm sử dụng thông tin phù hợp với mục đích đã thông báo với người tiêu dùng và phải được người tiêu dùng đồng ý; bảo đảm an toàn, chính xác, đầy đủ khi thu thập, sử dụng, chuyển giao thông tin của người tiêu dùng; chỉ được chuyển giao thông tin của người tiêu dùng cho bên thứ ba khi có sự đồng ý của người tiêu dùng, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

Hiện nay, hoạt động kinh doanh qua mạng xã hội cũng trở nên phổ biến. Theo chỉ số TMĐT Việt Nam năm 2018, trong số 4.147 doanh nghiệp tham gia khảo sát, có tới 32% doanh nghiệp đang tiến hành kinh doanh trên mạng xã hội[2]. Theo Điều 6 Thông tư số 47/2014/TT-BCTngày 05/12/2014 của Bộ Tài chính quy định về quản lý website thương mại điện tử, thì các mạng xã hội nếu có một trong những hình thức hoạt động quy định tại điểm a, điểm b, điểm c khoản 2 Điều 35 Nghị định số 52/2013/NĐ-CP phải tiến hành đăng ký với Bộ Công Thương dưới hình thức sàn giao dịch TMĐT. Như vậy, thương nhân, tổ chức thiết lập mạng xã hội và người bán trên mạng xã hội phải thực hiện các trách nhiệm của thương nhân, tổ chức cung cấp dịch vụ sàn giao dịch TMĐT và người bán trên sàn giao dịch TMĐT theo quy định của pháp luật.

3. Trách nhiệm của cá nhân người tiêu dùng

Trách nhiệm bảo vệ thông tin cá nhân của chính người tiêu dùng mới chỉ được ghi nhận như một nguyên tắc bảo đảm an toàn thông tin mạng tại khoản 1 Điều 16 Luật An toàn thông tin mạng năm 2015, theo đó, cá nhân cũng phải có trách nhiệm trong việc tự bảo vệ thông tin cá nhân của mình. Rõ ràng, người tiêu dùng trong TMĐT có nhiều điểm khác biệt so với người tiêu dùng trong giao dịch truyền thống, nhưng dù áp dụng phương thức giao dịch nào thì người tiêu dùng vẫn phải có ý thức trong việc tự bảo vệ mình. So với khi phát hiện bị xâm phạm mới quan tâm đến bảo vệ thông tin cá nhân thì có ý thức tự bảo vệ ngay khi bắt đầu tham gia vào giao dịch để phòng ngừa nguy cơ rủi ro là lựa chọn thông minh hơn nhiều. Có thể hiểu, trách nhiệm của người tiêu dùng trong việc bảo vệ thông tin cá nhân là dạng trách nhiệm tự thân. Trách nhiệm này không chỉ ở giai đoạn xác lập mà xuyên suốt trong cả quá trình giao dịch, kể cả khi giao dịch đã kết thúc. Cụ thể, trách nhiệm tự bảo vệ thông tin cá nhân của người tiêu dùng thể hiện ngay từ việc lựa chọn giao dịch với những website TMĐT, người bán có uy tín trên thị trường. Thận trọng trong việc cung cấp thông tin cá nhân và chọn lọc các thông tin sẽ cung cấp, có thể từ chối tiết lộ một số loại thông tin như một cách để bảo vệ mình và tiết lộ các thông tin khác để có được sản phẩm hoặc dịch vụ mong muốn[3].

Người tiêu dùng cũng cần có những nhận thức về quyền hạn đối với thông tin cá nhân của mình như: Quyền yêu cầu đơn vị thu thập thông tin thực hiện việc kiểm tra, cập nhật, điều chỉnh hoặc hủy bỏ thông tin cá nhân của mình; ngừng cung cấp thông tin cá nhân của mình cho bên thứ ba; quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại do hành vi vi phạm trong việc cung cấp thông tin cá nhân…[4] Trách nhiệm tự bảo vệ thông tin cá nhân của người tiêu dùng là một dạng trách nhiệm tự thân, đóng vai trò hết sức quan trọng trong hoạt động đảm bảo an toàn thông tin mạng nói chung, góp phần tạo ra một môi trường TMĐT phát triển ổn định và bền vững.

4. Vấn đề thu thập và sử dụng thông tin cá nhân người tiêu dùng

Trong quá trình thu thập và sử dụng thông tin cá nhân người tiêu dùng, các chủ thể thu thập thông tin phải tuân thủ các quy định pháp luật có liên quan, cụ thể:

Thứ nhất, vấn đề thu thập thông tin cá nhân người tiêu dùng

Luật Công nghệ thông tin năm 2006, Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010, Luật An toàn thông tin mạng năm 2015 và Nghị định số 52/2013/NĐ-CP đều có những quy định liên quan đến vấn đề thu thập và sử dụng thông tin cá nhân[5]. Nội dung của các quy định khá tương đồng, đều dựa trên một nguyên tắc cơ bản là phải có sự đồng ý của chủ thể thông tin về phạm vi, mục đích của việc thu thập và sử dụng thông tin trước khi tiến hành thu thập thông tin của người đó. Quy định này tương thích với nội dung của Hướng dẫn của Liên Hợp Quốc về bảo vệ người tiêu dùng; phù hợp với quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015[6]. Mặt khác, đây cũng là một quy định rất hợp lý bởi thông tin cá nhân thuộc quyền sở hữu riêng của chủ thể thông tin, nên người đó có quyền quyết định cho phép hoặc từ chối hành vi thu thập và sử dụng thông tin cá nhân của tổ chức, cá nhân khác; đồng thời cũng có quyền được thông tin về những loại thông tin nào được thu thập, phạm vi và mục đích sử dụng để từ đó đưa ra quyết định có chấp thuận việc thu thập thông tin cá nhân của mình hay không. Việc xin ý kiến đồng ý của khách hàng phải được tiến hành thông qua một bước riêng để khách hàng lựa chọn chấp nhận hoặc từ chối. Không được thiết lập cơ chế chọn đồng ý mặc định cho khách hang[7].

Trên thực tế, người tiêu dùng thường không chú ý đến các nội dung về mục đích và phạm vi thu thập thông tin cá nhân do website TMĐT công bố. Kể cả khi người tiêu dùng đã đọc trước, trong nhiều trường hợp vẫn xác nhận đồng ý cho phép thu thập và sử dụng vì chưa ý thức được giá trị thông tin cá nhân của mình. Lợi dụng điều này, chủ thể thu thập thông tin thường thu thập và lưu giữ nhiều hơn những thông tin mà mình thực sự cần, đưa ra mục đích thu thập nhưng chỉ mang tính chất đối phó. Trên thực tế, cũng tồn tại tình trạng các chủ thể thu thập tự ý thu thập thông tin mà chưa có sự đồng ý trước đó của khách hàng.

Thứ hai, vấn đề sử dụng thông tin cá nhân người tiêu dùng

Ngoài một số trường hợp ngoại lệ được quy định tại khoản 4 Điều 70 Nghị định số 52/2013/NĐ-CP, đơn vị thu thập thông tin phải sử dụng thông tin cá nhân người tiêu dùng đúng với mục đích và phạm vi đã thông báo. Nguyên tắc có sự đồng ý trước của chủ thể thông tin không chỉ được áp dụng ở giai đoạn thu thập mà còn phải được tuân thủ trong quá trình sử dụng thông tin cá nhân đó. Khi sử dụng thông tin cá nhân vào mục đích khác với mục đích ban đầu đã thỏa thuận phải có sự cho phép của người tiêu dùng, không được cung cấp, chia sẻ, phát tán thông tin cá nhân đã thu thập, tiếp cận, kiểm soát cho bên thứ ba, trừ trường hợp có sự đồng ý của người tiêu dùng hoặc theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

Trong quá trình sử dụng thông tin cá nhân, chủ thể thu thập thông tin cũng có trách nhiệm tuân thủ các quy định về đảm bảo an toàn, an ninh thông tin cá nhân như: Áp dụng biện pháp quản lý, kỹ thuật phù hợp để bảo vệ thông tin cá nhân; áp dụng các biện pháp khắc phục, ngăn chặn khi xảy ra hoặc có nguy cơ xảy ra sự cố làm mất an toàn thông tin cá nhân; kiểm tra, cập nhật, điều chỉnh, hủy bỏ thông tin cá nhân của người tiêu dùng khi có yêu cầu hoặc cung cấp cho người tiêu dùng công cụ để tự kiểm tra, cập nhật, điều chỉnh thông tin cá nhân; hủy bỏ thông tin cá nhân lưu trữ khi đã hoàn thành mục đích sử dụng hoặc hết thời hạn lưu trữ…

Thứ ba, các hành vi bị cấm trong thu thập và sử dụng thông tin cá nhân

Điều 4 Nghị định số 52/2013/NĐ-CP quy định về các hành vi bị cấm trong TMĐT, trong đó có hành vi đánh cắp, sử dụng, tiết lộ, chuyển nhượng, bán các thông tin liên quan đến thông tin cá nhân của người tiêu dùng trong TMĐT khi chưa được sự đồng ý của các bên liên quan. Điều 7 Luật An toàn thông tin mạng năm 2015 tiếp tục nhấn mạnh: Nghiêm cấm hành vi thu thập, sử dụng, phát tán, kinh doanh trái pháp luật thông tin cá nhân của người khác. Để phù hợp với phạm vi điều chỉnh, Luật An toàn thông tin mạng còn mở rộng nghiêm cấm thêm với hành vi lợi dụng sơ hở, điểm yếu của hệ thống thông tin để thu thập, khai thác thông tin cá nhân.

Về cơ bản, Luật Công nghệ thông tin năm 2006, Luật An toàn thông tin mạng năm 2015 và Nghị định số 52/2013/NĐ-CP đã có những quy định tương đối rõ ràng, hợp lý và đầy đủ để đảm bảo cho hoạt động thu thập và sử dụng thông tin cá nhân người tiêu dùng được vận hành an toàn và ổn định. Trên thực tế, thương nhân, tổ chức, cá nhân kinh doanh TMĐT có thể không trực tiếp tiến hành việc thu thập và lưu trữ thông tin cá nhân của người tiêu dùng mà ủy quyền cho một bên thứ ba thực hiện. Đối với trường hợp này, pháp luật yêu cầu hợp đồng giữa hai bên phải quy định rõ trách nhiệm của mỗi bên trong việc tuân thủ các quy định pháp luật về bảo vệ thông tin cá nhân. Nếu hợp đồng không quy định rõ thì chủ thể hoạt động kinh doanh TMĐT phải chịu trách nhiệm nếu có vi phạm.

5. Một số kiến nghị

Một là, về trách nhiệm bảo vệ thông tin cá nhân người tiêu dùng của người bán trên website TMĐT

Theo Điều 68 Nghị định số 52/2013/NĐ-CP, trong quá trình hoạt động kinh doanh TMĐT, nếu thương nhân, tổ chức, cá nhân thực hiện việc thu thập thông tin cá nhân của người tiêu dùng thì phải tuân thủ các quy định tại Nghị định này và những quy định pháp luật liên quan về bảo vệ thông tin cá nhân. Pháp luật đã đặt trách nhiệm bảo vệ thông tin cá nhân người tiêu dùng chủ yếu lên các chủ thể cung cấp dịch vụ TMĐT bởi các hoạt động thu thập, quản lý và sử dụng thông tin được diễn ra trên website TMĐT và người bán lúc này đóng vai trò như một khách hàng của thương nhân, tổ chức thiết lập website TMĐT. Tuy nhiên, dù người bán trên website TMĐT không trực tiếp thực hiện việc thu thập và xử lý thông tin cá nhân của người tiêu dùng nhưng đây vẫn là những thông tin người bán có thể tiếp cận và sử dụng.

Chính vì vậy, Nghị định số 52/2013/NĐ-CP cần bổ sung quy định về trách nhiệm của người bán trên website TMĐT trong việc tuân thủ các quy định của pháp luật về bảo vệ thông tin cá nhân người tiêu dùng. Cụ thể, cần bổ sung quy định tại khoản 1 Điều 68 Nghị định số 52/2013/NĐ-CP như sau: “Trong quá trình hoạt động kinh doanh TMĐT, nếu thương nhân, tổ chức, cá nhân thực hiện việc thu thập hoặc sử dụng thông tin cá nhân của người tiêu dùng thì phải tuân thủ các quy định tại Nghị định này và những quy định pháp luật liên quan về bảo vệ thông tin cá nhân”.

Hai là, về hành vi mua, nhận chuyển nhượng thông tin cá nhân của người tiêu dùng

Khoản 33 Điều 1 Nghị định số 124/2015/NĐ-CP ngày 19/11/2015 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 185/2013/NĐ-CP ngày 15/11/2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động thương mại, sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng cấm và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng (Nghị định số 124/2015/NĐ-CP) mới chỉ quy định xử phạt hành chính đối với hành vi đánh cắp, tiết lộ, chuyển nhượng, bán các thông tin cá nhân của người tiêu dùng trong TMĐT. Trong khi đó, theo pháp luật hiện hành, việc chuyển giao thông tin cá nhân cho một bên thứ ba bắt buộc phải có sự đồng ý của chủ thể thông tin trước đó. Vì vậy, người mua trong trường hợp chưa có sự đồng ý chuyển giao của người tiêu dùng không phải là chủ thể có quyền tiếp cận và sử dụng thông tin cá nhân của người tiêu dùng. Mặt khác, rõ ràng thông tin cá nhân của người tiêu dùng trong TMĐT không phải là một “mặt hàng” hợp pháp để đưa vào giao dịch, nên tất cả các bên tham gia vào giao dịch, không chỉ chủ thể bán thông tin cá nhân mà cả chủ thể mua thông tin cá nhân của người tiêu dùng cũng phải bị xử lý theo quy định của pháp luật. Do đó, cần phải có những quy định xử phạt đối với những chủ thể có hành vi “mua, nhận chuyển nhượng” thông tin cá nhân của người tiêu dùng. Vì vậy, điểm b khoản 5 Điều 82 Nghị định số 185/2013/NĐ-CP ngày 15/11/2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động thương mại, sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng cấm và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng cần được bổ sung thành: “Đánh cắp, tiết lộ, chuyển nhượng, bán, mua, nhận chuyển nhượng các thông tin liên quan đến bí mật kinh doanh của thương nhân, tổ chức khác hoặc thông tin cá nhân của người tiêu dùng trong TMĐT khi chưa được sự đồng ý của các bên liên quan”.

Ba là, về xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi bán, chuyển nhượng trái phép thông tin cá nhân người tiêu dùng

Chế tài hành chính áp dụng với các cá nhân, tổ chức thực hiện hành vi chuyển nhượng, bán trái phép thông tin cá nhân người tiêu dùng là một bất cập bởi vẫn chưa đủ mạnh để tạo tính răn đe, phòng ngừa các tổ chức, cá nhân vi phạm. Cụ thể, mức phạt tiền hiện tại theo quy định là từ 30.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng[8] chưa tương xứng với lợi nhuận “khủng” mà các chủ thể thực hiện hành vi vi phạm có thể thu được. Trong khi đó, các hình thức xử phạt bổ sung hay biện pháp khắc phục hậu quả về nguyên tắc là không bắt buộc áp dụng (Điều 21, Điều 28 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012), quyết định có áp dụng hay không tùy thuộc ít nhiều vào ý chí chủ quan của chủ thể có thẩm quyền đối với từng vụ việc cụ thể. Như vậy, trường hợp hành vi vi phạm chỉ bị áp dụng hình thức xử phạt chính là phạt tiền, chủ thể có thẩm quyền không áp dụng hình thức xử phạt bổ sung hay biện pháp khắc phục hậu quả, đặc biệt là biện pháp “buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện hành vi vi phạm” thì rõ ràng là mức phạt tiền nêu trên còn quá thấp và không hợp lý. Nhưng nếu tiếp tục sửa đổi theo hướng tăng mức xử phạt tiền đối với hành vi này lên cao thì lại không hợp lý đối với các trường hợp vi phạm có quy mô nhỏ lẻ, lợi nhuận thấp. Chính vì vậy, tác giả kiến nghị, thay vì căn cứ vào hành vi vi phạm để xác định mức xử phạt tiền cố định như quy định hiện hành thì Chính phủ cần xem xét sửa đổi quy định xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi bán, chuyển nhượng thông tin cá nhân người tiêu dùng khi chưa được sự đồng ý của người đó theo hướng hình phạt tiền cần được xây dựng dựa trên lợi nhuận mà thực tế tổ chức, cá nhân vi phạm thu được và mức phạt tiền cũng phải tỷ lệ thuận với số lợi bất hợp pháp có được. Tuy nhiên, vẫn giữ nguyên mức hình phạt tiền thấp nhất áp dụng đối với các chủ thể thực hiện hành vi để đảm bảo được tính răn đe, phòng ngừa vi phạm ngay cả đối với những vụ việc có quy mô nhỏ lẻ.

Nguyễn Thị Thu Hằng

Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh







[1]. Xem: Điều 36, Điều 41 Nghị định số 52/2013/NĐ-CP và Điều 4 Thông tư số 47/2014/TT-BCT ngày 05/12/2014 của Bộ Công thương quy định về quản lý website TMĐT.

[2]. Hiệp hội Thương mại điện tử Việt Nam (2018), Chỉ số thương mại điện tử Việt Nam năm 2018, tr. 30.

[3]. Miriam J. Metzger (2007), Communication Privacy Management in Electronic Commerce,Journal of Computer-Mediated Communication, International Communication Association, Vol. 12, tr. 339.

[4]. Xem thêm: Điều 18 Luật An toàn thông tin mạng năm 2015, Điều 73 Nghị định số 52/2013/NĐ-CP.

[5]. Xem: Điều 21 Luật Công nghệ thông tin năm 2006, Điều 17 Luật An toàn thông tin mạng năm 2015, Điều 6 Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010, Điều 70 Nghị định số 52/2013/NĐ-CP.

[6]. United Nations (2016), Guidelines for Consumer Protection, tr. 10: “Các doanh nghiệp cần bảo vệ quyền riêng tư của người tiêu dùng thông qua sự kết hợp giữa các cơ chế kiểm soát, bảo mật, minh bạch và có sự chấp thuận khi thu thập và sử dụng thông tin cá nhânngười tiêu dùng”.

Khoản 1 Điều 38 Bộ luật Dân sự năm 2015: “Việc thu thập, lưu giữ, sử dụng, công khai thông tin liên quan đến đời sống riêng tư, bí mật cá nhân phải được người đó đồng ý”.

[7]. Khoản 21 Mục IV Thông tư số 09/2008/TT-BCT ngày 21/7/2008 của Bộ Công thương hướng dẫn Nghị định TMĐT về cung cấp thông tin và giao kết hợp đồng trên website TMĐT.

[8]. Khoản 33 Điều 1 Nghị định số 124/2015/NĐ-CP.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Để bảo đảm cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân được tiến hành dân chủ, đúng pháp luật, các quy định về phiếu bầu cử cũng như nguyên tắc, trình tự bỏ phiếu đã được quy định chặt chẽ[1]. Việc nắm rõ các quy định này giúp cử tri thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ trong ngày bầu cử.
[1] Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 và Nghị quyết số 40/NQ-HĐBCQG ngày 29/9/2025 của Hội đồng bầu cử quốc gia quy định mẫu văn bản hồ sơ ứng cử và việc hồ sơ ứng cử; nội quy phòng bỏ phiếu trong công tác bầu cử ĐBQH khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031
Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Trong quá trình tổ chức bầu cử, có thể phát sinh một số tình huống đặc biệt như dịch bệnh, thiên tai, hỏa hoạn hoặc vấn đề về an ninh, trật tự. Pháp luật về bầu cử đã quy định rõ thẩm quyền và phương án xử lý nhằm bảo đảm cuộc bầu cử được tổ chức an toàn, đúng quy định và bảo đảm quyền bầu cử của cử tri.
Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Để chuẩn bị cho “Ngày hội non sông” - Ngày bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031, công tác phân chia đơn vị bầu cử cần phải được triển khai với những yêu cầu khắt khe hơn bao giờ hết với mục tiêu trọng tâm là bảo đảm cân đối, tránh chênh lệch lớn, thuận tiện cho cử tri thực hiện quyền bầu cử như: Các khu vực đô thị, khu công nghiệp có đông cử tri; các khu vực miền núi, hải đảo có ít cử tri.
Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Pháp luật quy định cụ thể về nguyên tắc bỏ phiếu, cách ghi phiếu bầu, việc viết hộ, bỏ hộ phiếu và xử lý Thẻ cử tri nhằm bảo đảm việc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân diễn ra đúng quy định.
Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Cơ chế giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân giữ vai trò quan trọng trong việc bảo đảm tính dân chủ, minh bạch và hợp pháp của quá trình bầu cử. Pháp luật Việt Nam thiết lập cơ chế này trên cơ sở kết hợp giữa các quy định đặc thù của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân với các quy định chung của pháp luật về khiếu nại, tố cáo, qua đó hình thành khung pháp lý cho việc tiếp nhận, xem xét và xử lý các khiếu nại, tố cáo phát sinh trong quá trình bầu cử.
Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Một vụ án in và phát hành sách giáo khoa giả vừa được đưa ra xét xử đã tiếp tục gióng lên hồi chuông cảnh báo về tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực xuất bản, đặc biệt là đối với sách giáo dục - mặt hàng có nhu cầu cao và ảnh hưởng trực tiếp đến hàng triệu học sinh.
Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức thống nhất vào ngày 15/3/2026 theo Nghị quyết của Quốc hội. Tuy nhiên, pháp luật cho phép tổ chức bỏ phiếu sớm trong những trường hợp đặc biệt nhằm bảo đảm quyền bầu cử của công dân không thể tham gia bỏ phiếu vào ngày chính thức. Việc tổ chức bầu cử sớm phải tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc về thẩm quyền quyết định, trình tự thủ tục, kiểm phiếu, niêm phong, bảo mật kết quả và kỷ luật thời gian bỏ phiếu theo đúng quy định của Luật Bầu cử và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Vận động bầu cử của người ứng cử là hoạt động gặp gỡ, tiếp xúc cử tri hoặc thông qua phương tiện thông tin đại chúng để người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân báo cáo với cử tri về dự kiến chương trình hành động của mình nhằm thực hiện trách nhiệm đại biểu nếu được bầu làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân và trao đổi những vấn đề mà cử tri quan tâm; tạo điều kiện để cử tri tiếp xúc với người ứng cử, hiểu rõ hơn người ứng cử; trên cơ sở đó cân nhắc, lựa chọn, bầu những người đủ tiêu chuẩn làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.
Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, yêu cầu thượng tôn Hiến pháp và pháp luật không chỉ đặt ra đối với hoạt động của bộ máy nhà nước mà trở thành chuẩn mực ứng xử phổ biến trong xã hội. Pháp luật chỉ thực sự phát huy vai trò điều chỉnh các quan hệ xã hội khi được các chủ thể tiếp nhận, tôn trọng, tuân thủ thực hiện trên tinh thần chủ động, tự giác, gắn với niềm tin vào công bằng và trật tự xã hội. Thực tiễn cho thấy, hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, nhưng tình trạng vi phạm pháp luật trong một số lĩnh vực vẫn diễn biến phức tạp; còn tồn tại khoảng trống giữa nhận thức pháp luật và hành vi tuân thủ; tâm lý tuân thủ thụ động, mang tính tình thế, phụ thuộc vào sự kiểm tra, giám sát và xử lý của cơ quan có thẩm quyền. Những biểu hiện này phản ánh việc tuân thủ pháp luật chưa thực sự trở thành chuẩn mực văn hóa trong xã hội. Vì vậy, việc nghiên cứu, nhận diện các yếu tố tác động, đánh giá đúng thực trạng, đề xuất nhiệm vụ, giải pháp xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn, góp phần thể chế hóa chủ trương của Đảng, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, mạnh, bền vững trong bối cảnh mới.
Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Tết Nguyên đán là dịp đoàn viên, nghỉ ngơi và tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí đầu năm, góp phần làm phong phú đời sống văn hóa, tinh thần của mỗi gia đình và cộng đồng. Tuy nhiên, một số hình thức vui chơi có thưởng có thể vượt ngoài khuôn khổ pháp luật nếu không được nhận diện đúng. Từ yêu cầu bảo đảm kỷ cương, pháp luật trong dịp Tết, việc làm rõ ranh giới pháp lý giữa vui xuân có thưởng và hành vi vi phạm pháp luật có ý nghĩa quan trọng.
Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết 71-NQ/TW) đặt ra những yêu cầu mang tính chiến lược đối với xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, giáo dục đại học giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành lớp trí thức mới - vừa có năng lực chuyên môn, vừa có bản lĩnh, nhân cách và tinh thần phụng sự xã hội. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật phỏng vấn Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đào Thanh Trường - Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội, xung quanh quan điểm xây dựng con người toàn diện, các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp, cũng như những định hướng tích hợp giáo dục nhân văn với khoa học, công nghệ trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Mùa xuân về không chỉ mang theo nhựa sống của thiên nhiên mà còn là thời điểm để nhìn lại những thành quả của năm qua. Xuân Bính Ngọ 2026, với Trường Cao đẳng Cơ điện Hà Nội (HCEM), là một mùa xuân đặc biệt - mùa xuân của sự cộng hưởng giữa niềm tự hào về hành trình 80 năm đất nước độc lập và quyết tâm chính trị cao để hiện thực hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị. Đây chính là “chìa khóa” để HCEM bứt phá, vươn tầm quốc tế, trở thành biểu tượng của nền giáo dục nghề nghiệp (GDNN) hiện đại trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Năm 2025 được xem là cột mốc bản lề trên hành trình đưa Việt Nam bước vào kỷ nguyên số toàn diện. Trong không khí Xuân Bính Ngọ 2026, Cục trưởng Cục Chuyển đổi số quốc gia (Bộ KH&CN) Trần Duy Ninh chia sẻ với Tạp chí Dân chủ và Pháp luật về những thành quả nổi bật, tầm nhìn, cơ hội và kỳ vọng đặt vào đội ngũ trí thức công nghệ, với khát vọng xây dựng đất nước Việt Nam hùng cường, tự chủ và thịnh vượng trên nền tảng số.
Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Nhìn lại hành trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đội ngũ doanh nhân Việt Nam tiếp tục là lực lượng năng động, sáng tạo và đóng góp quan trọng vào tăng trưởng. Tuy nhiên, bối cảnh hội nhập sâu, rộng đặt ra yêu cầu cao hơn đối với việc hoàn thiện pháp luật về kinh doanh. Nhân dịp xuân mới, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Quang Vinh - Phó Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) về kỳ vọng đổi mới và yêu cầu xây dựng hành lang pháp lý ổn định để doanh nghiệp Việt Nam tự tin phát triển trong giai đoạn mới.
Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với mục tiêu đến năm 2045 trở thành nước phát triển có thu nhập cao, đội ngũ doanh nhân Việt Nam được kỳ vọng trở thành lực lượng kiến tạo thịnh vượng quốc gia. Khát vọng ấy chỉ có thể nảy nở và lớn lên trong hệ sinh thái pháp lý minh bạch, an toàn và tạo động lực.

Theo dõi chúng tôi trên: