Thứ sáu 16/01/2026 17:02
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Bảo vệ và thúc đẩy quyền của nhóm người dễ bị tổn thương theo Hiến pháp năm 2013

Bài viết khái quát thành tựu và đề xuất một số giải pháp nhằm bảo vệ và thúc đẩy quyền của nhóm người yếu thế, dễ bị tổn thương trong giai đoạn mới, đáp ứng yêu cầu bảo đảm quyền con người trong xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Quyền con người được biết đến là những giá trị của toàn nhân loại, xuất phát từ phẩm giá của con người và dành cho tất cả mọi người. Tuy nhiên, trong xã hội, tồn tại một số nhóm người có những yếu tố đặc biệt về các khía cạnh khác nhau, khiến họ có nguy cơ bị bỏ quên và bị vi phạm quyền cao hơn những người khác, đòi hỏi Nhà nước và xã hội phải có những quy định để bảo vệ, khuyến khích và thúc đẩy quyền của họ, những nhóm người này được gọi chung là các nhóm người dễ bị tổn thương (vulnerable groups). Cũng như quyền con người nói chung, quyền của các nhóm người dễ bị tổn thương được ghi nhận trong hệ thống pháp luật, đặc biệt là Hiến pháp. Với tính chất là văn bản pháp lý có hiệu lực tối cao, Hiến pháp ngăn ngừa những hành vi lạm dụng quyền lực nhà nước, xâm phạm quyền của nhóm người dễ bị tổn thương, đồng thời, xác lập trách nhiệm của Nhà nước trong bảo đảm và thúc đẩy những quyền này. Ở Việt Nam, Đảng và Nhà nước luôn quan tâm, chú trọng bảo đảm và khuyến khích phát triển các quyền của nhóm người dễ bị tổn thương. Đặc biệt, với sự ra đời của Hiến pháp năm 2013 - bản Hiến pháp được coi là vì quyền con người với những ghi nhận tiến bộ về quyền con người nói chung, quyền của nhóm người dễ bị tổn thương trong xã hội lại càng được bảo đảm và thúc đẩy.

1. Khái quát về bảo vệ và thúc đẩy quyền của nhóm người dễ bị tổn thương theo Hiến pháp năm 2013

Bên cạnh bảo đảm quyền con người nói chung, bảo đảm và thúc đẩy quyền của nhóm người dễ bị tổn thương là yêu cầu khách quan và cần thiết để xây dựng một xã hội văn minh, nhân văn và phát triển. Bắt nguồn từ sự khác biệt về chính trị, điều kiện kinh tế - xã hội và truyền thống, văn hóa, việc xác định các nhóm người dễ bị tổn thương ở mỗi quốc gia sẽ khác nhau. Tuy nhiên, nhìn chung, trên thế giới, hiện nay, các nhóm người dễ bị tổn thương gồm: Trẻ em, phụ nữ, người cao tuổi, người khuyết tật, người lao động di trú, người không quốc tịch, người dân tộc thiểu số…

Đối với quyền con người nói chung, Hiến pháp năm 2013 khẳng định: “Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật” (Điều 14) và “không ai bị phân biệt đối xử trong đời sống chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội” (khoản 2 Điều 16).

Như vậy, Hiến pháp năm 2013 đã quy định tất cả mọi người, trong đó có nhóm người dễ bị tổn thương, được hưởng tất cả các quyền về dân sự, chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội như mọi người, cụ thể:

- Đối với phụ nữ, trên cơ sở kế thừa các bản Hiến pháp trước, Hiến pháp năm 2013 nhấn mạnh: “Công dân nam, nữ bình đẳng về mọi mặt. Nhà nước có chính sách bảo đảm quyền và cơ hội bình đẳng giới. Nhà nước, xã hội và gia đình tạo điều kiện để phụ nữ phát triển toàn diện, phát huy vai trò của mình trong xã hội. Nghiêm cấm phân biệt đối xử về giới” (Điều 26); “Nam, nữ có quyền kết hôn, ly hôn. Hôn nhân theo nguyên tắc tự nguyện, tiến bộ, một vợ một chồng, vợ chồng bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau. Nhà nước bảo hộ hôn nhân và gia đình, bảo hộ quyền lợi của người mẹ và trẻ em” (Điều 36).

- Đối với trẻ em, khoản 1 Điều 37 Hiến pháp năm 2013 ghi nhận: “Trẻ em được Nhà nước, gia đình và xã hội bảo vệ, chăm sóc và giáo dục; được tham gia vào các vấn đề về trẻ em. Nghiêm cấm xâm hại, hành hạ, ngược đãi, bỏ mặc, lạm dụng, bóc lột sức lao động và những hành vi khác vi phạm quyền trẻ em”.

- Đối với người cao tuổi, khoản 3 Điều 37 Hiến pháp năm 2013 xác định trách nhiệm của Nhà nước, gia đình và xã hội phải tôn trọng, chăm sóc và phát huy vai trò của họ trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

- Đối với người khuyết tật, hiện nay, Việt Nam có khoảng 07 triệu người khuyết tật, chiếm 7,06% dân số từ 02 tuổi trở lên, trong đó có 58% là nữ, 28,3% là trẻ em; hơn 01 triệu người khuyết tật nặng và đặc biệt nặng[1]. Ngoài những quyền con người đã được ghi nhận chung, Hiến pháp năm 2013 đặc biệt nhấn mạnh, Nhà nước có trách nhiệm tạo bình đẳng về cơ hội để công dân thụ hưởng phúc lợi xã hội, phát triển hệ thống an sinh xã hội, có chính sách trợ giúp họ, đồng thời, tạo điều kiện để người khuyết tật và người nghèo được học văn hóa và học nghề (Điều 59, Điều 61).

- Đối với người dân tộc thiểu số, với đặc điểm là một quốc gia có nhiều dân tộc cùng sinh sống, Hiến pháp năm 2013 tiếp tục khẳng định: “Các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển; nghiêm cấm mọi hành vi kỳ thị, chia rẽ dân tộc” (khoản 1 Điều 5); “Các dân tộc có quyền dùng tiếng nói, chữ viết, giữ gìn bản sắc dân tộc, phát huy phong tục, tập quán, truyền thống và văn hóa tốt đẹp của mình. Nhà nước thực hiện chính sách phát triển toàn diện và tạo điều kiện để các dân tộc thiểu số phát huy nội lực, cùng phát triển với đất nước” (các khoản 2, 3, 4 Điều 5). Người dân tộc thiểu số ở Việt Nam được hưởng đầy đủ các quyền con người, quyền công dân như quyền bầu cử, ứng cử; quyền tham gia quản lý nhà nước (Điều 27, Điều 29), ngoài ra, còn được hưởng những quyền ưu tiên theo quy định của pháp luật, đặc biệt là quyền xác định dân tộc của mình, được sử dụng ngôn ngữ mẹ đẻ, lựa chọn ngôn ngữ giao tiếp (Điều 42); quyền bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống, giữ gìn tiếng nói, chữ viết và phong tục, tập quán của các dân tộc thiểu số; “Nhà nước có chính sách ưu tiên chăm sóc sức khỏe cho đồng bào dân tộc thiểu số, đồng bào ở miền núi, hải đảo và vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn…” (Điều 58); “Nhà nước ưu tiên phát triển giáo dục ở miền núi, hải đảo, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn; ưu tiên sử dụng, phát triển nhân tài” (Điều 61).

2. Kết quả đạt được trong bảo vệ và thúc đẩy quyền của nhóm người dễ bị tổn thương sau 10 năm thi hành Hiến pháp năm 2013

2.1. Một số thành tựu về pháp lý

Trên cơ sở quy định của Hiến pháp năm 2013, quyền của các nhóm người dễ bị tổn thương được cụ thể hóa trong nhiều văn bản của hệ thống pháp luật Việt Nam và ngày càng được hoàn thiện hơn theo hướng bảo đảm sự tương đồng với các điều ước quốc tế về quyền con người mà Việt Nam đã ký kết, tham gia như Luật Người cao tuổi năm 2009, Luật Trẻ em năm 2006, Luật Người khuyết tật năm 2010, Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017, Luật Phòng, chống bạo lực gia đình năm 2022, Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2021), Bộ luật Dân sự năm 2015, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 (sửa đổi, bổ sung năm 2020)… và nhiều văn bản quy phạm pháp luật khác tạo khuôn khổ pháp luật trong nước, thể hiện quan điểm nhất quán của Việt Nam trong thúc đẩy và bảo vệ quyền con người nói chung và quyền, lợi ích của các nhóm người yếu thế trong xã hội nói riêng. Mỗi văn bản đều có những quy định liên quan đến bảo vệ và bảo đảm quyền của một nhóm người yếu thế cụ thể trong xã hội.

Đối với quyền của phụ nữ, Luật Bình đẳng giới năm 2006, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 đã tạo cơ sở pháp lý cho cả nam và nữ bình đẳng với nhau; có quyền, nghĩa vụ ngang nhau về mọi mặt trong gia đình; bình đẳng về cơ hội trong phát triển kinh tế - xã hội và phát triển nguồn nhân lực, tiến tới bình đẳng giới thực chất giữa nam, nữ, từ đó, bình đẳng thụ hưởng thành quả của sự phát triển; nam, nữ đều có thể thành lập doanh nghiệp, tiến hành hoạt động sản xuất, kinh doanh, quản lý doanh nghiệp, bình đẳng trong việc tiếp cận thông tin, nguồn vốn, thị trường và nguồn lao động. Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015 cũng tạo điều kiện để phụ nữ tham gia vào hệ thống chính trị khi quy định: “Số lượng phụ nữ được giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội do Ủy ban Thường vụ Quốc hội dự kiến trên cơ sở đề nghị của Đoàn Chủ tịch Ban Chấp hành Trung ương Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam, bảo đảm có ít nhất ba mươi lăm phần trăm tổng số người trong danh sách chính thức những người ứng cử đại biểu Quốc hội là phụ nữ” (khoản 3 Điều 8). Đặc biệt, Bộ luật Lao động năm 2019 đã dành một chương (Chương X) quy định riêng đối với lao động nữ và bảo đảm bình đẳng giới. Theo đó, Nhà nước có chính sách bảo đảm quyền làm việc bình đẳng của lao động nữ; khuyến khích người sử dụng lao động tạo điều kiện để lao động nữ có việc làm thường xuyên, áp dụng rộng rãi chế độ làm việc theo thời gian biểu linh hoạt, làm việc không trọn thời gian, giao việc làm tại nhà; có biện pháp tạo việc làm, cải thiện điều kiện lao động, nâng cao trình độ nghề nghiệp, chăm sóc sức khỏe, tăng cường phúc lợi về vật chất và tinh thần của lao động nữ, nhằm giúp lao động nữ phát huy có hiệu quả năng lực nghề nghiệp, kết hợp hài hòa cuộc sống lao động và cuộc sống gia đình. Luật quy định, nghiêm cấm người sử dụng lao động có hành vi phân biệt đối xử với phụ nữ, thực hiện nguyên tắc bình đẳng nam, nữ về tuyển dụng, sử dụng, nâng bậc lương và trả công lao động; lao động nữ được dành thời gian trong thời gian lao động để cho con bú, làm vệ sinh phụ nữ; không được sa thải hoặc đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động đối với lao động nữ vì kết hôn, có thai, nuôi con nhỏ dưới 12 tháng tuổi. Cùng với đó, Việt Nam cũng xây dựng các quy định để bảo đảm quyền được hưởng an sinh xã hội của phụ nữ. Theo Luật Bảo hiểm xã hội năm 2024, phụ nữ được hưởng các chế độ bảo hiểm xã hội như: Chế độ ốm đau, thai sản, tai nạn lao động - bệnh nghề nghiệp, hưu trí, tử tuất, thất nghiệp… Bên cạnh đó, Luật còn quy định quyền lợi mang tính đặc thù đối với người phụ nữ và các đối tượng xã hội là phụ nữ cũng được hưởng trợ giúp vật chất với tư cách đối tượng cứu trợ xã hội. Có thể thấy, quyền của phụ nữ trong hệ thống pháp luật Việt Nam đều thể hiện rõ 02 yếu tố căn bản là “bình đẳng” và “ưu tiên”. Điều này giúp xóa bỏ sự bất bình đẳng giữa nam và nữ, sự phân biệt đối xử nữ giới trong công việc, đời sống kinh tế, chính trị, xã hội và vai trò, vị thế của phụ nữ đối với sự phát triển của xã hội ngày càng được phát huy.

Đối với quyền của người khuyết tật, sau Hiến pháp năm 2013, ngoài Luật Người khuyết tật năm 2010 đã ban hành, Việt Nam đã tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật và chính sách về người khuyết tật, bảo đảm đầy đủ quyền con người, quyền công dân của người khuyết tật trong mọi lĩnh vực như Luật Việc làm năm 2013, Bộ luật Lao động năm 2019, Luật Giáo dục năm 2019, Luật Khám bệnh, chữa bệnh năm 2023, Luật Trật tự, an toàn giao thông đường bộ năm 2024, Luật Thể dục, thể thao năm 2006 (sửa đổi, bổ sung năm 2018), Luật Xây dựng năm 2014 (sửa đổi, bổ sung năm 2020)… cùng các văn bản dưới luật là nghị định, thông tư quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Người khuyết tật năm 2010. Hiện nay, Ủy ban Quốc gia về người khuyết tật Việt Nam đang trong quá trình xây dựng Luật Người khuyết tật sửa đổi. Nhiều chính sách mới đã được ban hành để kịp thời đáp ứng nhu cầu, lợi ích và bảo đảm quyền của người khuyết tật.

Bộ luật Lao động năm 2019 cũng như các văn bản hướng dẫn thi hành, trong đó có Nghị định số 145/2020/NĐ-CP ngày 14/12/2020 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật Lao động về điều kiện lao động và quan hệ lao động đã bổ sung, hoàn thiện các quy định nhằm bảo đảm nguyên tắc bình đẳng, không phân biệt đối xử trong lao động như quy định về lao động nữ, bảo đảm bình đẳng giới, phòng, chống quấy rối tình dục, tuổi nghỉ hưu, lao động là người khuyết tật… (phù hợp với quy định của Công ước của Liên Hợp quốc về xóa bỏ tất cả các hình thức phân biệt đối xử chống lại phụ nữ - CEDAW và các Công ước 100, 111 của Tổ chức Lao động Quốc tế - ILO).

Đối với quyền của người dân tộc thiểu số, theo rà soát của Ủy ban Dân tộc, hiện nay, có nhiều văn bản pháp luật quy định về công tác dân tộc, chính sách dân tộc[2]. Đến nay, hệ thống chính sách, pháp luật đã bao phủ khá toàn diện các lĩnh vực và phù hợp hơn với thực tế, góp phần quan trọng thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, giảm nghèo bền vững, phát triển giáo dục và đào tạo, y tế, dân số, văn hóa, thể dục, thể thao, du lịch, xây dựng hệ thống chính trị ở cơ sở vững mạnh, bảo đảm quốc phòng, an ninh vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.

Bên cạnh đó, Việt Nam cũng ban hành những chiến lược, chính sách mới tập trung vào an sinh xã hội và bảo vệ các nhóm dễ bị tổn thương, như Chương trình nâng cao chất lượng bảo vệ, chăm sóc sức khỏe người có công với cách mạng, người cao tuổi, trẻ em, người khuyết tật và các đối tượng cần trợ giúp xã hội giai đoạn 2021 - 2030 theo Quyết định số 1942/QĐ-TTg ngày 18/11/2021 của Thủ tướng Chính phủ.

Việt Nam cũng đã tham gia Công ước số 105 của ILO về xóa bỏ lao động cưỡng bức (năm 2020), Hiệp ước Marrakesh về tạo điều kiện cho người khiếm thị, người khuyết tật về thị giác và người khuyết tật khác không có khả năng đọc, tiếp cận với các tác phẩm đã công bố (năm 2023) và tham gia Thỏa thuận Toàn cầu về di cư hợp pháp, an toàn và trật tự (GCM, năm 2020). Năm 2019, Việt Nam đã ban hành Bộ luật Lao động mới với nhiều quy định mới bảo đảm tốt hơn quyền của người lao động thuộc nhóm đối tượng dễ bị tổn thương.

2.2. Một số thành tựu trên thực tế

Có thể nói, những thành tựu trong bảo đảm và thúc đẩy quyền của nhóm người dễ bị tổn thương ở Việt Nam thời gian qua là không thể phủ nhận. Việt Nam được cộng đồng quốc tế tín nhiệm bầu là thành viên Hội đồng Nhân quyền Liên Hợp quốc nhiệm kỳ 2023 - 2025 với 08 ưu tiên lớn, trong đó có lĩnh vực chống bạo lực và phân biệt đối xử, tăng cường bảo vệ các nhóm người dễ bị tổn thương, thúc đẩy bình đẳng giới. Đồng thời, Việt Nam tăng cường và đẩy mạnh triển khai thực hiện hiệu quả các chương trình, chiến lược cấp quốc gia, trong đó, lồng ghép các nội dung nhằm ưu tiên giải quyết tình trạng dễ bị tổn thương và nhu cầu của phụ nữ, trẻ em, các nhóm người dễ bị tổn thương; tích cực nghiên cứu xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật về các vấn đề này.

Công tác trợ giúp pháp lý cho người dân, trong đó có những nhóm người dễ bị tổn thương cũng được tăng cường. Từ năm 2019 đến nay, các Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước đã hoàn thành hơn 61.000 vụ việc cho hơn 61.000 lượt người, trong đó có 18.000 người dân tộc thiểu số, 10.000 người nghèo, 600 người thuộc hộ nghèo, 21.000 phụ nữ, hơn 6.000 trẻ em, hơn 4.000 người khuyết tật, 3.000 người cao tuổi và nhiều nạn nhân mua bán người[3].

Bên cạnh đó, các nhóm người dễ bị tổn thương ở Việt Nam được hưởng các chính sách an sinh xã hội ngày một cao hơn, được trợ giúp giáo dục nghề nghiệp, tạo việc làm và hỗ trợ sinh kế, hỗ trợ học nghề, việc làm. Theo Báo cáo quốc gia về bảo vệ và thúc đẩy quyền con người ở Việt Nam theo cơ chế rà soát định kỳ phổ quát (UPR) chu kỳ IV, hiện nay, cả nước có 1.130 cơ sở dạy nghề có tổ chức dạy nghề cho người khuyết tật, trong đó có 225 cơ sở dạy nghề chuyên biệt. Hàng năm, có từ 17.000 - 20.000 người khuyết tật, phụ nữ khuyết tật được đào tạo nghề. Các trung tâm dịch vụ việc làm bình quân mỗi năm tư vấn học nghề, giới thiệu việc làm cho khoảng 20.000 lượt người khuyết tật, phụ nữ khuyết tật với tỷ lệ thành công đạt trên 50%[4]. Việt Nam cũng đẩy mạnh các hoạt động hợp tác quốc tế về chăm sóc sức khỏe cho người khuyết tật, như hợp tác với Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) để phát triển mô hình lồng ghép sức khỏe tâm thần vào sức khỏe nói chung tập trung vào tuyến chăm sóc sức khỏe ban đầu. Hiện nay, nhiều công trình xây mới, cải tạo đã bảo đảm cho người khuyết tật tiếp cận, trong đó, khoảng 95% các công trình nhà chung cư; 80% các công trình công cộng như giáo dục, y tế, thể thao, văn hóa, thương mại dịch vụ; 80% công trình văn phòng, trụ sở cơ quan, thương mại dịch vụ đã được đơn vị thẩm tra đánh giá bảo đảm cho người khuyết tật tiếp cận sử dụng[5]. Việt Nam bảo đảm triển khai các chương trình giáo dục hòa nhập ở tất cả các cấp mầm non, phổ thông trong cả nước đối với trẻ em khuyết tật; ứng dụng công nghệ thông tin trong giáo dục học sinh khuyết tật; phát triển các mô hình chăm sóc trẻ em khuyết tật dựa vào cộng đồng.

Công tác bảo vệ và chăm sóc trẻ em được đẩy mạnh. Các dịch vụ trợ giúp xã hội được duy trì để kịp thời phát hiện, giải quyết, thông tin về các vấn đề, vụ việc bạo lực, xâm hại trẻ em. Việt Nam hiện là một trong số các quốc gia tiên phong trong Liên minh toàn cầu nhằm xóa bỏ lao động cưỡng bức, nô lệ thời hiện đại, buôn bán người và lao động trẻ em (Liên minh 8.7), được khởi động từ năm 2016 với mục đích hỗ trợ các quốc gia hoàn thành Mục tiêu 8.7[6]. Công tác thanh tra, giám sát, kiểm tra bảo vệ quyền trẻ em được tăng cường. Hiện nay, có 04 cơ quan giám sát quyền trẻ em là Chính phủ (có Ủy ban Quốc gia về trẻ em do Thủ tướng Chính phủ làm Chủ tịch); Ủy ban Văn hóa, giáo dục, thanh niên, thiếu niên và nhi đồng của Quốc hội, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh và Hội Bảo vệ quyền trẻ em.

Trong thời gian qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước ta, công tác bình đẳng giới đã đạt được nhiều thành tựu nổi bật, trong đó, có việc thúc đẩy sự tham gia vào chính trị của phụ nữ. Trong cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV năm 2021, tỷ lệ đại biểu nữ trong Quốc hội đã tăng lên 30%, cao nhất kể từ năm 1976, cao hơn cả trung bình toàn cầu (25%)[7].

Công tác bảo tồn tiếng nói, chữ viết cho các dân tộc thiểu số là vấn đề được ưu tiên trong chính sách giáo dục của Nhà nước. Việc giữ gìn tiếng nói, chữ viết của đồng bào các dân tộc thiểu số được thực hiện thông qua tổ chức dạy và học chính thức 06 tiếng dân tộc thiểu số (Ba Na, Chăm, Ê Đê, Gia Rai, Khmer, Mông) trong trường phổ thông; thông qua các hình thức tổ chức ngày hội, giao lưu văn hóa cấp vùng, miền, khu vực, từng dân tộc và các lớp truyền dạy văn hóa phi vật thể; các thư viện địa phương với những bộ tài liệu phù hợp với đặc điểm dân cư, phong tục, tập quán của các dân tộc trên địa bàn; các xuất bản sản phẩm phục vụ trẻ em dân tộc thiểu số được khuyến khích, hỗ trợ đầu tư; tủ sách cho các thư viện công cộng và các tủ sách văn hóa dân tộc ở cơ sở được tăng cường các ấn phẩm song ngữ bằng tiếng dân tộc - tiếng phổ thông.

3. Một số giải pháp bảo đảm và thúc đẩy quyền của nhóm người dễ bị tổn thương trong bối cảnh mới

Bên cạnh những kết quả đạt được, có thể thấy, trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay, Việt Nam gặp không ít khó khăn trong bảo đảm và thúc đẩy quyền của nhóm người dễ bị tổn thương. Do là nước đang phát triển với nguồn lực tương đối hạn hẹp, việc triển khai các chính sách bảo trợ và an sinh xã hội còn khiêm tốn, nhất là với người nghèo và các nhóm người dễ bị tổn thương còn chưa đáp ứng nhu cầu. Toàn cầu hóa, nền kinh tế thị trường, sự phát triển vượt bậc và ứng dụng rộng rãi khoa học, công nghệ, một mặt tạo ra nhiều cơ hội tăng trưởng kinh tế, song cũng làm sâu sắc thêm sự phân cấp, sự bất bình đẳng và điều kiện tiếp cận các dịch vụ xã hội giữa các khu vực địa lý và các nhóm dân cư, trong đó, các nhóm người dễ bị tổn thương luôn bị tác động mạnh nhất và ít khả năng thích ứng nhất. Cùng với đó, khuôn khổ pháp lý và hệ thống chính sách về quyền của nhóm người dễ bị tổn thương vẫn còn một số điểm chưa đáp ứng yêu cầu thực tiễn đặt ra; nhận thức của người dân, đội ngũ cán bộ các cấp về bảo vệ và thúc đẩy quyền của nhóm người dễ bị tổn thương còn hạn chế, thiếu đồng bộ, ảnh hưởng đến kết quả triển khai hệ thống chính sách, pháp luật của Nhà nước trong lĩnh vực này.

Để tiếp tục bảo đảm và thúc đẩy quyền của nhóm người dễ bị tổn thương trong giai đoạn mới, cần thực hiện một số giải pháp sau:

Thứ nhất, tăng cường nhận thức đúng và đầy đủ về bảo đảm quyền của nhóm người dễ bị tổn thương trong xã hội, trước hết là đối với cán bộ, công chức, những người áp dụng pháp luật. Chỉ khi nhận thức đúng, đầy đủ về việc bảo đảm và thúc đẩy quyền của nhóm người dễ bị tổn thương thì các chủ thể có trách nhiệm mới vận dụng pháp luật một cách chính xác, qua đó, bảo đảm một xã hội công bằng, dân chủ, mọi người (trong đó, có những người thuộc nhóm người dễ bị tổn thương) được sống trong môi trường an toàn, hạnh phúc, có điều kiện phát huy tốt nhất giá trị của mình. Bên cạnh đó, cần chú trọng nâng cao nhận thức của chính những nhóm người dễ bị tổn thương để họ nhận thức đúng, đầy đủ về quyền của mình, tự bảo vệ quyền của mình và người khác; đồng thời, tin tưởng vào các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước trong bảo vệ và thúc đẩy quyền, lợi ích chính đáng của nhóm người dễ bị tổn thương.

Thứ hai, hoàn thiện các quy định pháp luật về quyền của nhóm người dễ bị tổn thương theo hướng: (i) Pháp luật bảo đảm quyền của nhóm người dễ bị tổn thương cần đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững, cụ thể: Chính sách, pháp luật phát triển kinh tế, xóa đói giảm nghèo, tạo công ăn việc làm, tăng thu nhập cho người lao động thuộc nhóm người dễ bị tổn thương phải đi đôi với bảo đảm công bằng xã hội, tiếp cận với dịch vụ cơ bản, đồng thời, không được phương hại đến môi trường, bảo vệ môi trường sinh thái, tài nguyên thiên nhiên; (ii) Pháp luật về quyền của nhóm người dễ bị tổn thương cần đề cao tinh thần sáng tạo, chủ động vươn lên, tham gia các hoạt động phát triển cộng đồng, khắc phục khó khăn về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của họ, nhằm khắc phục tư tưởng trông chờ, ỷ lại, chưa có ý thức tự vươn lên, không muốn thoát nghèo để được nhận tiền trợ cấp… vẫn còn tồn tại ở nước ta; (iii) Hoàn thiện pháp luật về quyền của nhóm người dễ bị tổn thương ở Việt Nam cần tiệm cận hơn với các công ước quốc tế về quyền của nhóm người dễ bị tổn thương nói riêng, quyền con người nói chung. Đồng thời, cần xây dựng chính sách phát huy quyền phù hợp với đặc điểm, nhu cầu của từng nhóm người dễ bị tổn thương. Ví dụ, đối với phụ nữ, cần có chính sách hỗ trợ để người phụ nữ hiểu và nắm được quyền của mình, đặc biệt là phụ nữ có hoàn cảnh khó khăn; lựa chọn những chương trình ưu tiên, loại bỏ sự phân biệt về giới khi đánh giá về vai trò, năng lực của phụ nữ. Đối với trẻ em, cần sớm xem xét, điều chỉnh độ tuổi pháp lý của trẻ em Việt Nam bảo đảm tương thích với quy định tại Công ước quốc tế về quyền trẻ em; rà soát sửa đổi các văn bản pháp luật có liên quan để tương thích với độ tuổi pháp lý mới nâng lên của trẻ em, như các văn bản dưới luật hướng dẫn thực hiện Luật Trẻ em. Đối với người khuyết tật, trước hết, cần có sự điều chỉnh khái niệm “người khuyết tật” phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh mới (hiện nay, Điều 2 Luật Người khuyết tật năm 2010 chỉ dừng ở các khiếm khuyết trên góc độ y tế mà không đề cập các khó khăn mà người khuyết tật gặp phải khi tiếp cận các dịch vụ công hay khi tham gia các hoạt động xã hội). Đồng thời, cần quy định rõ về các chế tài xử phạt đối với các hành vi ngược đãi, phân biệt đối xử, kì thị với người khuyết tật hoặc không thực hiện những quy định trong luật liên quan đến nhu cầu và quyền hợp pháp, chính đáng của người khuyết tật.

Thứ ba, tiếp tục phát triển kinh tế - xã hội, thực hiện tốt các chính sách an sinh xã hội và huy động các nguồn lực để hỗ trợ, trợ giúp những nhóm người dễ bị tổn thương trong khắc phục những bất lợi trong cuộc sống của họ. Hoàn thiện hệ thống bảo hiểm (bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp) và khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi để nhóm người dễ bị tổn thương có thể dễ dàng tiếp cận, tham gia. Nghiên cứu nâng mức hưởng bảo hiểm xã hội, mở rộng các hình thức cứu trợ xã hội cho nhóm người dễ bị tổn thương. Tiến tới bảo đảm cung ứng với chất lượng ngày càng cao hơn một số dịch vụ xã hội cơ bản cho nhóm người dễ bị tổn thương như các nhu cầu tối thiểu về giáo dục, y tế, nhà ở, nước sạch, thông tin.

4. Kết luận

Cũng như các nước trên thế giới, hiện nay, Việt Nam đang phải đối mặt với những thách thức về bảo đảm quyền của nhóm người dễ bị tổn thương. Với sự ra đời của Hiến pháp năm 2013, quyền con người nói chung, quyền của các nhóm người dễ bị tổn thương ở Việt Nam ngày càng được bảo đảm tốt hơn trên thực tế và đạt được nhiều thành tựu đáng ghi nhận. Với mục tiêu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân, bảo đảm sự phát triển toàn diện của Nhân dân cả về vật chất và tinh thần thì việc gia tăng sự quan tâm, bảo vệ và thúc đẩy các quyền hợp pháp, chính đáng của nhóm người dễ bị tổn thương là một yêu cầu cấp thiết hiện nay./.

ThS. Nguyễn Việt Hà

Học viện Chính trị khu vực I

[1]. Báo cáo quốc gia về bảo vệ và thúc đẩy quyền con người ở Việt Nam theo cơ chế rà soát định kỳ phổ quát (UPR) chu kỳ IV.

[2]. “Rà soát hệ thống pháp luật trong quản lý nhà nước về công tác dân tộc và chính sách dân tộc”, https://quochoi.vn/hoatdongcuaquochoi/cackyhopquochoi/quochoikhoaXIII/Pages/danh-sach-ky-hop.aspx?ItemID=66832&CategoryId=0, truy cập ngày 19/8/2024.

[3]. Báo cáo quốc gia về bảo vệ và thúc đẩy quyền con người ở Việt Nam theo cơ chế rà soát định kỳ phổ quát (UPR) chu kỳ IV.

[4]. Báo cáo số 185/BC-LĐTBXH ngày 07/12/2022 của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội đánh giá tình hình thực hiện các mục tiêu phát triển bền vững và Kế hoạch hành động quốc gia thực hiện Chương trình nghị sự 2030 vì sự phát triển bền vững năm 2022.

[5]. “Người khuyết tật vẫn khó tiếp cận công trình công cộng”, https://vov2.vov.vn/doi-song-xa-hoi/nguoi-khuyet-tat-van-kho-tiep-can-cong-trinh-cong-cong-25523.vov2#:~:text=%2D80%25%20c%C3%A1c%20c%C3%B4ng%20tr%C3%ACnh%20c%C3%B4ng,t%E1%BA%ADt%20ti%E1%BA%BFp%20c%E1%BA%ADn%20s%E1%BB%AD%20d%E1%BB%A5ng, truy cập ngày 19/8/2024.

[6]. “Phòng chống lao động trẻ em ở Việt Nam: Cam kết đi cùng hành động, vững tin vượt chướng ngại Covid-19”, https://baoquocte.vn/phong-chong-lao-dong-tre-em-o-viet-nam-cam-ket-di-cung-hanh-dong-vung-tin-vuot-chuong-ngai-covid-19-117347.html, truy cập ngày 19/8/2024.

[7]. “Đầu tư cho “một nửa yêu thương” vì một thế giới bình đẳng, công bằng”, https://www.vietnamplus.vn/dau-tu-cho-mot-nua-yeu-thuong-vi-mot-the-gioi-binh-dang-cong-bang-post933473.vnp, truy cập ngày 19/8/2024.

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 2 (Số 411), tháng 8/2024)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Việc điều chỉnh cơ cấu và phân bổ giới thiệu người ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) được thực hiện trên cơ sở điều chỉnh lần thứ nhất của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về cơ cấu, thành phần và số lượng được phân bổ cho từng cơ quan, tổ chức, đơn vị. Trên cơ sở đó, Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tổ chức hội nghị hiệp thương có trách nhiệm thông báo phân bổ và hướng dẫn nội dung, trình tự, thủ tục giới thiệu người ứng cử, bảo đảm việc lập hồ sơ ứng cử được thực hiện theo quy định pháp luật.
Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Từ năm 2026, các quy định liên quan đến thu nhập từ kinh doanh, từ tiền lương, tiền công của cá nhân cư trú tại Luật Thuế thu nhập cá nhân số 109/2025/QH15 có hiệu lực, với nhiều chính sách mới như tăng mức giảm trừ gia cảnh lên 15,5 triệu đồng, nâng ngưỡng doanh thu chịu thuế của hộ, cá nhân kinh doanh lên 500 triệu đồng/năm giúp giảm gánh nặng đối với người nộp thuế.
Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Luật Thương mại điện tử số 122/2025/QH15 được Quốc hội thông qua ngày 10/12/2025, gồm 07 chương, 41 điều, được xây dựng theo định hướng kiến tạo phát triển, tăng cường hiệu quả quản lý và bảo vệ lợi ích chính đáng của doanh nghiệp, người tiêu dùng với nhiều nội dung mới, nổi bật. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2026.
Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Hội đồng nhân dân (HĐND) cấp tỉnh, cấp xã và bố trí đại biểu HĐND hoạt động chuyên trách nhiệm kỳ 2026 - 2031 là nội dung quan trọng nhằm bảo đảm tổ chức bộ máy HĐND các cấp tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu sắp xếp đơn vị hành chính và định hướng cải cách của Đảng và Nhà nước. Những quy định này được thực hiện thống nhất theo Nghị quyết số 106/2025/UBTVQH15 ngày 16/10/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) và các văn bản có liên quan.
Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là một trong những quyền chính trị cơ bản của công dân, đồng thời là khâu có ý nghĩa quyết định đối với chất lượng hoạt động của cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Pháp luật về bầu cử không chỉ bảo đảm quyền ứng cử của công dân mà còn đặt ra những tiêu chuẩn, điều kiện, giới hạn và cơ chế sàng lọc chặt chẽ nhằm lựa chọn được những người đủ đức, đủ tài, xứng đáng đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân.
Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức theo các quy định chặt chẽ của Hiến pháp và pháp luật về bầu cử, trong đó xác định rõ tổng số đại biểu được bầu, cơ cấu, thành phần người ứng cử cũng như nguyên tắc phân bổ đại biểu ở từng địa phương. Bài viết làm rõ số lượng ĐBQH khóa XVI dự kiến được bầu, các yêu cầu về tỷ lệ đại diện của phụ nữ, người dân tộc thiểu số và những nguyên tắc cụ thể để xác định số lượng đại biểu HĐND các cấp, qua đó giúp cử tri hiểu rõ hơn cơ sở pháp lý và ý nghĩa của việc bảo đảm tính đại diện, dân chủ trong bầu cử.
Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Theo quy định tại Điều 7 Hiến pháp năm 2013 và Điều 1 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015, việc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tiến hành theo các nguyên tắc bầu cử phổ thông; nguyên tắc bình đẳng trong bầu cử; nguyên tắc bầu cử trực tiếp; nguyên tắc bỏ phiếu kín. Việc quán triệt và thực hiện nghiêm các nguyên tắc này không chỉ bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân, mà còn là thước đo quan trọng để đánh giá một cuộc bầu cử dân chủ, đúng pháp luật.
Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là những người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân trong bộ máy quyền lực nhà nước. Trên cơ sở Hiến pháp năm 2013, được sửa đổi, bổ sung năm 2025, Luật Tổ chức Quốc hội và Luật Tổ chức chính quyền địa phương quy định rõ hệ thống quyền hạn, trách nhiệm cũng như cơ chế miễn trừ đối với đại biểu nhằm bảo đảm thực hiện đầy đủ chức năng lập pháp, giám sát, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và địa phương, đồng thời tăng cường trách nhiệm của đại biểu dân cử trước cử tri và xã hội.
Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số là yêu cầu cấp thiết trong tiến trình xây dựng xã hội phát triển toàn diện và bền vững ở Việt Nam hiện nay. Trên cơ sở phân tích lý luận và khảo sát thực tiễn tại tỉnh Gia Lai, nơi có 24,76% dân số là người dân tộc thiểu số thuộc 44 thành phần, bài viết đánh giá việc thực hiện quyền này theo khung phân tích của Bình luận chung số 21 của Liên hợp quốc, gồm ba tiêu chí: tính sẵn có, khả năng tiếp cận và tính chấp nhận được. Kết quả cho thấy, còn tồn tại hạn chế về thiết chế văn hóa cơ sở, chênh lệch vùng miền và mức độ tham gia còn hình thức. Từ đó, bài viết đề xuất giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả, bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số tại tỉnh Gia Lai.
Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu cải cách toàn diện, đẩy mạnh hội nhập quốc tế và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, việc nâng cao vai trò lãnh đạo toàn diện, trực tiếp của Đảng đối với hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp có ý nghĩa chiến lược và cấp thiết.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bài viết nêu lên vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước và đề xuất một số giải pháp nâng cao vai trò của Bộ Tư pháp trong giai đoạn mới.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Trong quá trình phát triển của đất nước, đặc biệt, trong 10 năm gần đây, với sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế - xã hội Việt Nam, việc xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật là công tác đặc biệt quan trọng. Với sự nỗ lực không ngừng, Bộ Tư pháp đã cùng các bộ, ngành làm tốt công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và đưa pháp luật vào cuộc sống, góp phần quan trọng trong thực hiện thành công công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế, giữ vững chủ quyền quốc gia, an ninh, trật tự xã hội, nâng cao đời sống vật chất và văn hóa, tinh thần của Nhân dân, bảo đảm công bằng xã hội, xây dựng xã hội dân chủ, văn minh theo đường lối của Đảng và Nhà nước. Để đạt được những thành tựu đó, nhiều hoạt động đã được triển khai đồng bộ, từ công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL); đặc biệt, đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực làm công tác xây dựng, thi hành pháp luật. Bộ Tư pháp đã chủ động, tích cực phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, trong đó có Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trong công tác xây dựng thể chế, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác pháp chế.
Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Với chức năng là cơ quan của Chính phủ, thực hiện quản lý nhà nước về xây dựng và thi hành pháp luật, Bộ Tư pháp đã và đang đóng góp, góp phần quan trọng trong kiến tạo nền tảng pháp lý vững chắc, phục vụ mục tiêu phát triển đất nước; đồng thời, đóng vai trò chủ đạo trong xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ pháp luật, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và thúc đẩy tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Những kết quả đạt được thể hiện qua các nội dung chính sau:
Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Ngày 01/01/2004, tỉnh Lai Châu chính thức được chia tách thành tỉnh Điện Biên và Lai Châu. Đây cũng là thời điểm Sở Tư pháp tỉnh Lai Châu (mới) được thành lập và đi vào hoạt động. Trải qua hơn 21 năm xây dựng và phát triển, ngành Tư pháp tỉnh Lai Châu đã vượt qua khó khăn, thử thách, ngày càng lớn mạnh và khẳng định được vai trò, vị thế của mình.
Công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế - Những khó khăn, vướng mắc và kiến nghị hoàn thiện thể chế từ góc nhìn của luật sư

Công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế - Những khó khăn, vướng mắc và kiến nghị hoàn thiện thể chế từ góc nhìn của luật sư

Trợ giúp pháp lý (TGPL) là một trong những chính sách xã hội có ý nghĩa nhân văn sâu sắc của Đảng và Nhà nước ta trong việc bảo đảm quyền được tiếp cận công lý bình đẳng của mọi tầng lớp Nhân dân, đặc biệt là nhóm những người yếu thế trong xã hội. Thông qua các hoạt động TGPL, người yếu thế trong xã hội được cung cấp, sử dụng dịch vụ pháp lý miễn phí khi có tranh chấp, góp phần nâng cao ý thức pháp luật và phòng ngừa vi phạm pháp luật. Trong hoạt động TGPL, đội ngũ luật sư đóng vai trò then chốt, là lực lượng trực tiếp thực hiện việc tư vấn, đại diện và bào chữa cho các đối tượng yếu thế. Tuy nhiên, thực tế cho thấy công tác TGPL còn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc, cả về cơ chế, nguồn lực và phương thức triển khai.

Theo dõi chúng tôi trên: