Thứ sáu 23/01/2026 11:16
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Bất cập của pháp luật về quản lý tài sản của doanh nghiệp mất khả năng thanh toán và giải pháp hoàn thiện

Việc xác định khối tài sản của doanh nghiệp mất khả năng thanh toán là một trong số những vấn đề mấu chốt của Luật Phá sản. Ở Việt Nam, Luật Phá sản qua các thời kỳ đều không đưa ra khái niệm “tài sản của doanh nghiệp mất khả năng thanh toán” mà chỉ liệt kê các loại tài sản của doanh nghiệp ra.

1. Một số hạn chế, vướng mắc trong quy định về quản lý tài sản của doanh nghiệp mất khả năng thanh toán

Mặc dù các quy định về quản lý tài sản của doanh nghiệp mất khả năng thanh toán trong Luật Phá sản năm 2014 có nhiều ưu điểm, tiến bộ hơn so với trước đây và đạt được nhiều kết quả đáng kể trong quá trình thực thi. Tuy nhiên, sau gần sáu năm thi hành, pháp luật phá sản nói chung, quy định về quản lý tài sản của doanh nghiệp mất khả năng thanh toán nói riêng đang dần bộc lộ những hạn chế, bất cập cần sửa đổi, bổ sung để pháp luật về quản lý tài sản của doanh nghiệp mất khả năng thanh toán được hoàn thiện hơn, cụ thể:

Thứ nhất, về tài sản của doanh nghiệp mất khả năng thanh toán

Việc xác định khối tài sản của doanh nghiệp mất khả năng thanh toán là một trong số những vấn đề mấu chốt của Luật Phá sản. Ở Việt Nam, Luật Phá sản qua các thời kỳ đều không đưa ra khái niệm “tài sản của doanh nghiệp mất khả năng thanh toán” mà chỉ liệt kê các loại tài sản của doanh nghiệp ra. Cụ thể, Điều 64 Luật Phá sản năm 2014 đã quy định tài sản của doanh nghiệp mất khả năng thanh toán gồm: Tài sản và quyền tài sản mà doanh nghiệp có tại thời điểm Tòa án nhân dân quyết định mở thủ tục phá sản; tài sản và quyền tài sản có được sau ngày Tòa án nhân dân ra quyết định mở thủ tục phá sản; giá trị của tài sản bảo đảm vượt quá khoản nợ có bảo đảm mà doanh nghiệp phải thanh toán cho chủ nợ có bảo đảm…

Luật Phá sản năm 2014 sử dụng phương pháp liệt kê các loại tài sản của doanh nghiệp mất khả năng thanh toán như trên giúp cơ quan tố tụng cũng như các bên liên quan có thể định hình, đánh giá và kiểm kê dễ dàng, đầy đủ hơn khối tài sản của doanh nghiệp. Tuy nhiên, việc liệt kê các tài sản của doanh nghiệp ra như trên chưa mang tính khái quát cao và có thể dẫn tới việc liệt kê thiếu các loại tài sản phát sinh của doanh nghiệp mất khả năng thanh toán. Bên cạnh đó, Luật Phá sản năm 2014 không có quy định về tài sản thuộc diện loại trừ khỏi khối tài sản phá sản, điều này chưa thể hiện được sự nhân đạo của Nhà nước cũng như các chủ nợ đối với con nợ, đặc biệt là đối với doanh nghiệp tư nhân và công ty hợp danh vì chủ doanh nghiệp tư nhân và thành viên hợp danh phải chịu trách nhiệm vô hạn về tài sản. Thông thường, pháp luật một số nước trên thế giới sẽ liệt kê danh mục tài sản được miễn trừ bao gồm: Các đồ vật phục vụ cho sinh hoạt hàng ngày mang tính chất tối thiểu của con nợ và các khoản trợ cấp cho con nợ do không còn khả năng lao động, do bệnh tật, do mất việc làm...[1].

Thứ hai, về thông báo mất khả năng thanh toán

Khoản 1 Điều 6 Luật Phá sản năm 2014 quy định: “Cá nhân, cơ quan, tổ chức khi phát hiện doanh nghiệp, mất khả năng thanh toán có trách nhiệm thông báo bằng văn bản cho những người có quyền, nghĩa vụ nộp đơn yêu cầu thủ tục phá sản quy định tại Điều 5 của Luật này”.

Quy định về mọi cá nhân, cơ quan, tổ chức là chưa hoàn toàn phù hợp, bởi nếu áp dụng với các tổ chức tín dụng là không hợp lý, vì theo quy định tại khoản 3 Điều 14 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010, các tổ chức tín dụng không được cung cấp thông tin liên quan đến tài khoản, tiền gửi, tài sản gửi, các giao dịch của khách hàng tại tổ chức tín dụng, trừ trường hợp có yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định của pháp luật hoặc được sự chấp thuận của khách hàng. Như vậy, các tổ chức tín dụng nếu biết được tình trạng mất khả năng thanh toán của khách hàng cũng không thể thông báo cho những người có quyền, nghĩa vụ nộp đơn yêu cầu thủ tục phá sản.

Thứ ba, về tiêu chí để xác định doanh nghiệp mất khả năng thanh toán

Luật Phá sản năm 2014 quy định doanh nghiệp mất khả năng thanh toán là doanh nghiệp không thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản nợ trong thời hạn 03 tháng kể từ ngày đến hạn thanh toán. Tuy nhiên, trên thực tế có không ít những doanh nghiệp lại là chủ nợ với số tiền lớn hơn số nợ phải thanh toán cho các chủ nợ yêu cầu tuyên bố phá sản, các doanh nghiệp này hoàn toàn có thiện chí trả nợ cho các chủ nợ yêu cầu tuyên bố phá sản nhưng vì lý do chưa thu hồi được tiền trong kinh doanh nên không có khả năng trả nợ và các chủ nợ yêu cầu tuyên bố phá sản không đồng ý thương lượng gia hạn, theo đó đề nghị Tòa án tuyên bố phá sản đối với doanh nghiệp. Điều này vô hình chung làm ảnh hưởng rất lớn đến uy tín và hoạt động kinh doanh của là doanh nghiệp, thậm chí lại là nguyên nhân chính dẫn đến làm ăn thua lỗ sau đó và phải phá sản “thật”.

Thứ tư, về chủ thể quản lý tài sản của doanh nghiệp mất khả năng thanh toán

- Hạn chế trong việc chỉ định quản tài viên: Pháp luật chưa có quy định bắt buộc các quản tài viên phải tham gia vụ phá sản khi được chỉ định. Cụ thể, theo khoản 1 Điều 45 Luật Phá sản năm 2014, trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày ra quyết định mở thủ tục phá sản, thẩm phán có trách nhiệm chỉ định quản tài viên. Thực tiễn áp dụng quy định này lại phát sinh vướng mắc cần được hướng dẫn cụ thể. Ví dụ: Sau khi ra quyết định mở thủ tục phá sản thì thẩm phán giải quyết vụ phá sản đó đã ra văn bản chỉ định một quản tài viên và văn bản này được tống đạt ngay đến quản tài viên được chỉ định đó. Tuy nhiên, đến ngày thứ ba kể từ ngày ra quyết định mở thủ tục phá sản thì quản tài viên được chỉ định lại có văn bản từ chối tham gia vụ phá sản đó vì cho rằng, vụ phá sản này quá phức tạp hoặc do quản tài viên không có điều kiện tham gia… Vấn đề này xảy ra trong thực tiễn làm cho các thẩm phán lúng túng trong xử lý tình huống, đồng thời, việc trì hoãn này sẽ khiến cho một số trường hợp giải quyết phá sản trở lên rắc rối hơn vì doanh nghiệp bị yêu cầu tuyên bố phá sản sẽ nhân cơ hội đó để tẩu tán tài sản… Tuy nhiên, Luật Phá sản năm 2014 và các văn bản hướng dẫn thi hành có liên quan không có quy định nào bắt buộc các quản tài viên phải tham gia vụ phá sản khi được chỉ định, nên họ hoàn toàn có quyền từ chối trong trường hợp này.

Bên cạnh đó, Luật Phá sản năm 2014 không quy định rõ số lượng quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản hay thứ tự ưu tiên có thể được chỉ định trong quá trình giải quyết vụ việc phá sản dẫn đến việc thực thi gặp nhiều khó khăn. Ví dụ, trong trường hợp nhiều người cùng có đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản, mỗi người chỉ định một hoặc nhiều quản tài viên, doanh nghiệp mất khả năng thanh toán cùng lúc thì sẽ ưu tiên chọn ai. Hoặc có trường hợp chỉ có một người có đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản và chỉ định một quản tài viên nhưng quản tài viên đó bị thay đổi theo quy định tại khoản 1 Điều 46 thì trong trường hợp người nộp đơn yêu cầu không đề nghị quản tài viên mới thì chủ thể nào có quyền đề xuất quản tài viên mới.

- Hạn chế trong việc tính thù lao, chi phí cho quản tài viên: Theo khoản 1 Điều 24 Luật Phá sản năm 2014 và Nghị định số 22/2015/NĐ-CP ngày 16/02/2015 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Phá sản về quản tài viên và hành nghề quản lý, thanh lý tài sản (Nghị định số 22/2015/NĐ-CP), việc tính thù lao cho quản tài viên như sau: Giờ làm việc của quản tài viên, mức thù lao trọn gói, mức thù lao tính theo tỷ lệ phần trăm tổng giá trị tài sản doanh nghiệp bị tuyên bố phá sản thu được sau khi thanh lý. Với cách tính thù lao theo giờ làm việc, pháp luật chưa quy định rõ ràng về cách tính giờ làm việc của quản tài viên cho hợp lý, công bằng cho cả bên quản tài viên và bên doanh nghiệp bị phá sản. Khối lượng công việc mà các quản tài viên làm là rất lớn, nhưng quy định thù lao lại chưa tương xứng. Trong trường hợp doanh nghiệp phá sản, tài sản doanh nghiệp không còn thì chi phí quản tài viên cũng không được bảo đảm, nhiều khi quản tài viên phải tự bỏ tiền túi ra, mà khả năng được bồi hoàn thấp.

Thứ năm, về phương thức quản lý tài sản của doanh nghiệp mất khả năng thanh toán

- Kiểm kê, xác định giá trị tài sản của doanh nghiệp mất khả năng thanh toán: Theo quy định của pháp luật, doanh nghiệp mất khả năng thanh toán phải tiến hành kiểm kê tài sản và xác định giá trị tài sản đó sau khi nhận được quyết định mở thủ tục phá sản. Trường hợp người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp vắng mặt thì người được quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản chỉ định làm đại diện của doanh nghiệp thực hiện công việc kiểm kê và xác định giá trị tài sản của doanh nghiệp (khoản 2 Điều 65 Luật Phá sản năm 2014). Trên thực tế, việc kiểm kê tài sản gặp rất nhiều khó khăn vì người đại diện của doanh nghiệp vắng mặt, người được quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản chỉ định thường là không chịu làm, hoặc không biết về tình hình công ty nên thực hiện việc này rất khó khăn. Mặc dù, pháp luật có quy định về chế tài xử lý đối với việc không hợp tác về việc kiểm kê tài sản (xử phạt vi phạm hành chính), tuy nhiên chế tài này cũng không hiệu quả và khả thi.

Trong đó, việc lập bảng kê tài sản là khó khăn và trở ngại nhất trong vụ việc phá sản đối với trường hợp doanh nghiệp bị chủ nợ nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản. Theo quy định của Luật Phá sản năm 2014, doanh nghiệp bị mở thủ tục phá sản phải tiến hành kiểm kê tài sản và xác định giá trị tài sản trong thời hạn không quá 90 ngày kể từ ngày nhận được quyết định mở thủ tục phá sản (khoản 1 Điều 65), thế nhưng trên thực tế thực hiện rất khó khăn do doanh nghiệp không còn ai làm việc.

Trong trường hợp trên, mặc dù khoản 5 Điều 65 Luật Phá sản năm 2014 quy định trường hợp đại diện doanh nghiệp và những người khác không hợp tác về việc kiểm kê tài sản hoặc cố tình làm sai lệch việc kiểm kê tài sản thì bị xử lý theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, việc áp dụng quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực phá sản doanh nghiệp tại Mục 37 của Nghị định số 67/2015/NĐ-CP ngày 14/8/2015 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 110/2013/NĐ-CP ngày 24/9/2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp, hành chính tư pháp, hôn nhân và gia đình, thi hành án dân sự, phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã cũng bất khả thi (vì doanh nghiệp không còn ai để xử lý).

Ngoài ra, kể cả những trường hợp người nộp đơn yêu cầu mở thủ tục là chính doanh nghiệp và doanh nghiệp có nghĩa vụ nộp báo cáo tài chính thì tình trạng thực tế là doanh nghiệp làm sổ sách kế toán rất sơ sài, có doanh nghiệp còn không có sổ sách kế toán, hoặc làm chứng từ kế toán giả dẫn đến sự không rõ ràng, minh bạch về công nợ. Sự không minh bạch về tài chính khiến cho việc xác định phạm vi cũng như tình trạng tài sản của doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn.

- Quy định thu hồi tài sản của doanh nghiệp mất khả năng thanh toán: Khoản 1 Điều 125 Luật Phá sản năm 2014 quy định, quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản, chấp hành viên đề nghị Tòa án nhân dân ra quyết định thu hồi lại tài sản của doanh nghiệp do thực hiện giao dịch dân sự vô hiệu theo quy định tại Điều 59 của Luật này. Việc thu hồi tài sản được thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự.

Theo quy định trên, thì trong trường hợp có vi phạm chỉ đề cập đến thu hồi tài sản từ giao dịch vô hiệu, mà không đề cập đến thu hồi tài sản từ hành vi cất giấu, tẩu tán tài sản của doanh nghiệptrong khi tài sản này cũng thuộc phạm vi tài sản của doanh nghiệp mất khả năng thanh toán được quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 64 Luật Phá sản năm 2014.

2. Giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật về quản lý tài sản của doanh nghiệp mất khả năng thanh toán

Thứ nhất, hoàn thiện quy định về tài sản của doanh nghiệp mất khả năng thanh toán

Tài sản của doanh nghiệp mất khả năng thanh toán theo quy định tại Điều 64 Luật Phá sản năm 2014 về tài sản của doanh nghiệp mất khả năng thanh toán đã có sự sửa đổi, bổ sung so với Luật Phá sản năm 2004. Tuy nhiên, cần bổ sung quy định về các loại tài sản được miễn trừ khỏi tài sản phá sản.

Hiện nay, Luật Phá sản năm 2014 lại không đưa ra danh mục các tài sản thuộc diện loại trừ khỏi khối tài sản phá sản. Trong khi đó, theo quan điểm nhân đạo, nhiều nước trên thế giới đã cho phép con nợ là cá nhân (chủ doanh nghiệp tư nhân hoặc thành viên hợp danh của công ty hợp danh) được giữ lại một số tài sản, chủ yếu là những đồ dùng sinh hoạt thiết yếu hàng ngày và các khoản trợ cấp cho con nợ do không còn khả năng lao động, do bệnh tật, do mất việc làm; tiền lương hưu, các khoản nhận được từ hợp đồng bảo hiểm nhân thọ,… nếu họ không có hành vi vi phạm pháp luật hoặc không có hành vi gian lận trong quá trình quản lý, điều hành doanh nghiệp. Chính vì thế, pháp luật phá sản nước ta nên bổ sung quy định về các loại tài sản miễn trừ khỏi khối tài sản phá sản để đảm bảo lợi ích của doanh nghiệp mất khả năng thanh toán đồng thời thể hiện được sự nhân đạo của Nhà nước.

Thứ hai, hoàn thiện quy định về phương thức quản lý tài sản của doanh nghiệp mất khả năng thanh toán

- Kiểm kê, xác định tài sản của doanh nghiệp mất khả năng thanh toán

Khoản 4 Điều 65 Luật Phá sản năm 2014 quy định về việc kiểm kê, xác định tài sản của doanh nghiệp mất khả năng thanh toán nhưng không quy định chi tiết thế nào kiểm kê là “không chính xác” và không chính xác ở mức độ nào thì phải tiến hành kiểm kê lại vì có việc sai số kỹ thuật không đáng kể. Đặc biệt, việc định giá trị tài sản cần phải có những quy định, tiêu chí hướng dẫn cụ thể, chi tiết hơn nữa, không nên quy định chung chung là theo giá thị trường tại thời điểm kiểm kê. Bên cạnh đó, theo quy định trên của pháp luật thì chưa có quy định về thời hạn cụ thể thực hiện việc kiểm kê, xác định lại tài sản trước đó, dẫn đến khó khăn trong việc tổ chức hội nghị chủ nợ và các hoạt động khác trong quá trình quản lý tài sản của doanh nghiệp mất khả năng thanh toán. Do hội nghị chủ nợ được thẩm phán triệu tập trong thời hạn 20 ngày kể từ ngày kết thúc việc kiểm kê tài sản... (khoản 1 Điều 75 Luật Phá sản năm 2014). Vì vậy, để hội nghị chủ nợ được tổ chức nhanh chóng, kịp thời tránh tình trạng kéo dài nhiều ngày, nhiều tháng ảnh hưởng đến việc tổ chức hội nghị chủ nợ thì phải quy định thời hạn kiểm kê, xác định lại tài sản của doanh nghiệp để các chủ nợ có thể yên tâm.

Bên cạnh đó, bản kiểm kê tài sản nhằm xác định số lượng, giá trị tài sản của doanh nghiệp mắc nợ. Theo quy định, bản kiểm kê tài sản đã được xác định giá trị phải “gửi ngay” cho Tòa án nhân dân tiến hành thủ tục phá sản. Tuy nhiên, Luật Phá sản năm 2014 không quy định rõ thời hạn gửi bản kiểm kê tài sản là trong phạm vi bao ngày. Điều này gây nên sự lúng túng trong lúc áp dụng, vì vậy, cần thiết phải ban hành văn bản hướng dẫn làm rõ quy định của pháp luật về thời hạn gửi bản kiểm kê tài sản, cụ thể cần quy định rõ ràng bản kiểm kê tài sản phải gửi đi trong vòng bao nhiêu ngày kể từ khi bản kiểm kê tài sản hoàn thành.

- Vấn đề thu hồi nợ của doanh nghiệp mất khả năng thanh toán

Luật Phá sản năm 2014 chưa có quy định rõ ràng về việc trả nợ cho chủ nợ chính là doanh nghiệp mất khả năng thanh toán, điều này gây nên sự chậm trễ trong việc thu hồi tài sản của doanh nghiệp mất khả năng thanh toán đối với những khoản nợ khó đòi. Vì vậy, pháp luật cần quy định rõ thời gian trả nợ của con nợ đối với chủ nợ là doanh nghiệp mất khả năng thanh toán và hậu quả pháp lý đối với việc trả nợ. Quá thời hạn quy định, nếu con nợ không trả nợ được thì cần tách ra để giải quyết bằng vụ án dân sự khác theo quy định của pháp luật. Cần có phương án giải quyết thống nhất đối với doanh nghiệp sau khi bán hết tài sản mà vẫn còn một số nợ chưa đòi được, cơ quan thi hành án tiếp tục việc thu hồi nợ theo quy định và sẽ phân chia cho các chủ nợ theo tỷ lệ đã có tại quyết định phân chia tài sản ban đầu.

Thứ ba, hoàn thiện quy định về quản tài viên

- Về chỉ định quản tài viên và doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản. Hiện nay, việc chỉ định quản tài viên vẫn còn gặp nhiều lúng túng, như trường hợp quản tài viên được chỉ định nhưng quản tài viên đó lại có văn bản từ chối tham gia vụ phá sản, hay căn cứ bắt buộc để thẩm phán chỉ định quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản là khi có đề xuất của người nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản (điểm b khoản 2 Điều 45 Luật Phá sản năm 2014) nhưng không quy định hạn chế số lượng; không quy định rõ số lượng quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản hay thứ tự ưu tiên có thể được chỉ định trong quá trình giải quyết vụ việc phá sản dẫn đến việc thực thi gặp nhiều khó khăn. Do đó, trong thời gian tới, Tòa án nhân dân tối cao phối hợp với các cơ quan có liên quan cần ban hành hướng dẫn về việc chỉ định quản tài viên theo hướng chỉ có những quản tài viên có tên trong danh sách do Sở Tư pháp cung cấp để bảo đảm tính pháp lý, tiêu chuẩn, năng lực của quản tài viên và ưu tiên những quản tài viên đã được chỉ định theo yêu cầu của người nộp đơn đề nghị mở thủ tục phá sản hoặc của chủ nợ trong vụ án phá sản.

- Về thanh toán thù lao, chi phí cho quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản. Mục đích cuối cùng của bất cứ công việc nào đó là thù lao. Căn cứ theo quy định tại các điểm a, c, d khoản 4 Điều 21 Nghị định số 22/2015/NĐ-CP đều quy định về mức thù lao do thẩm phán tiến hành thủ tục phá sản và quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản thỏa thuận. Tuy nhiên, nếu rơi vào trường hợp thẩm phán và quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản không thỏa thuận được thì giải quyết như thế nào? Ngoài ra, đối với trường hợp thỏa thuận được nhưng doanh nghiệp mất khả năng thanh toán và các chủ nợ (chủ thể có quyền và lợi ích liên quan) không đồng ý với mức thù lao đó thì giải quyết như thế nào? Do đó, cần xem xét bổ sung những căn cứ pháp lý cụ thể để tính mức thù lao của quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản trong trường hợp các bên không thỏa thuận được hoặc thỏa thuận được nhưng không được doanh nghiệp và chủ nợ đồng ý.

Nghiên cứu xây dựng Bộ quy tắc ứng xử của quản tài viên ở Việt Nam nhằm nâng cao năng lực, phẩm chất của quản tài viên, đáp ứng yêu cầu đặc thù của hoạt động quản lý tài sản. Điều đó sẽ giúp chủ thể này chủ động hơn trong công việc, góp phần giúp hoạt động quản lý tài sản trở thành một hoạt động có tính chuyên nghiệp, đảm bảo nhanh nhất về thời gian, đầy đủ nhất về tài sản[2].

Thứ tư, cần rà soát các đạo luật có quy định liên quan đến thanh lý tài sản của doanh nghiệp mất khả năng thanh toán để sửa đổi, bổ sung một cách đồng bộ, thống nhất

Ngoài Luật Phá sản thì việc xử lý tài sản phá sản của doanh nghiệp mất khả năng thanh toán còn được quy định trong các văn bản khác như: Bộ luật Dân sự, Luật Doanh nghiệp, Luật Đất đai, Luật Thi hành án dân sự và các văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn thi hành. Tuy nhiên, trong thực tế việc áp dụng các quy định của pháp luật về phá sản để giải quyết các trường hợp phá sản cụ thể vẫn còn bị hạn chế, chồng chéo, mâu thuẫn giữa các văn bản pháp luật. Để đảm bảo tính thống nhất, đồng bộ trong hệ thống pháp luật thì thời gian tới cần phải rà soát để sửa đổi, bổ sung các đạo luật có liên quan trong vấn đề này, phù hợp với Hiến pháp năm 2013 và tình hình kinh tế - xã hội của nước ta. Cụ thể:

- Đối với Luật Doanh nghiệp: Đây là đạo luật có vai trò mật thiết đối với Luật Phá sản. Đối với việc xử lý tài sản phá sản của doanh nghiệp trong Luật Doanh nghiệp hiện nay vẫn còn có quy định chưa tương thích với Luật Phá sản. Theo quy định của Luật Phá sản, tất cả các cổ đông đều thuộc cùng một thứ tự ưu tiên thanh toán. Do vậy, tất cả các cổ đông đều được nhận giá trị tài sản còn lại của công ty cùng lúc và theo tỷ lệ sở hữu cổ phần. Trong khi đó theo quy định của Luật Doanh nghiệp, cổ đông sở hữu cổ phần ưu đãi lại có cơ sở pháp lý tương đối rõ ràng để được nhận thanh toán trước các cổ đông khác. Vì vậy trong thời gian tới, cần phải có sự thống nhất về vấn đề này để giải quyết tài sản khi doanh nghiệp phá sản một cách hợp lý.

- Đối với Luật Thi hành án dân sự: Cơ quan thi hành án dân sự có vai trò quan trọng trong quá trình tiến hành thủ tục phá sản và thi hành các quyết định của Tòa án giải quyết phá sản. Tuy nhiên, hiện nay vẫn còn những hạn chế liên quan đến thẩm quyền thi hành quyết định tuyên bố phá sản; về thời hạn ra quyết định thi hành án; về quyền của người thi hành án; về định giá, định giá lại; về bán đấu giá tài sản; về trình tự thủ tục khi chấp hành viên tiến hành việc thanh lý tài sản; về chi phí phá sản. Từ những hạn chế, bất cập đó, các cơ quan có thẩm quyền trong thời gian tới cần rà soát, sửa đổi Luật Phá sản và Luật Thi hành án dân sự và các văn bản hướng dẫn thi hành để đảm bảo việc áp dụng pháp luật được hiệu quả hơn.

- Đối với Luật Đất đai: Về việc xử lý tài sản phá sản của doanh nghiệp liên quan đến quyền sử dụng đất, Luật Đất đai và Luật Phá sản vẫn còn có những quy định chưa đồng bộ. Trong trường hợp giao đất không thu tiền sử dụng đất, giao đất có thu tiền sử dụng đất, cho doanh nghiệp thuê đất hàng năm, các thu hồi đất liên quan đến quan đến những trường hợp này để giải tỏa vướng mắc cho trường hợp xử lý tài sản có liên quan đến quyền sử dụng đất, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp cho các bên, nhất là đối với các doanh nghiệp mất khả năng thanh toán có vốn nhà nước.

ThS. Hoàng Thị Kim Nhung

Viện Khoa học pháp lý, Bộ Tư pháp


[1] Hà Thị Khánh Huyền (2015), Xử lý tài sản của doanh nghiệp mất khả năng thanh toán nợ đến hạn theo Luật Phá sản năm 2014, Luận văn thạc sĩ Luật học, Hà Nội, tr. 38.

[2] Đặng Văn Huy (2012), Hoàn thiện chế định Quản tài viên trong Luật Phá sản, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 20/2018.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Việc lập và nộp hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH), đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là thủ tục bắt buộc, bảo đảm tính chặt chẽ, minh bạch và khách quan trong quá trình lựa chọn những người tiêu biểu tham gia cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Căn cứ Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND, Hội đồng bầu cử quốc gia đã ban hành mẫu biểu, hướng dẫn và quy trình tiếp nhận hồ sơ, tạo điều kiện để người được giới thiệu ứng cử và người tự ứng cử thực hiện quyền chính trị - pháp lý đúng quy định.
Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Việc điều chỉnh cơ cấu và phân bổ giới thiệu người ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) được thực hiện trên cơ sở điều chỉnh lần thứ nhất của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về cơ cấu, thành phần và số lượng được phân bổ cho từng cơ quan, tổ chức, đơn vị. Trên cơ sở đó, Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tổ chức hội nghị hiệp thương có trách nhiệm thông báo phân bổ và hướng dẫn nội dung, trình tự, thủ tục giới thiệu người ứng cử, bảo đảm việc lập hồ sơ ứng cử được thực hiện theo quy định pháp luật.
Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Từ năm 2026, các quy định liên quan đến thu nhập từ kinh doanh, từ tiền lương, tiền công của cá nhân cư trú tại Luật Thuế thu nhập cá nhân số 109/2025/QH15 có hiệu lực, với nhiều chính sách mới như tăng mức giảm trừ gia cảnh lên 15,5 triệu đồng, nâng ngưỡng doanh thu chịu thuế của hộ, cá nhân kinh doanh lên 500 triệu đồng/năm giúp giảm gánh nặng đối với người nộp thuế.
Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Luật Thương mại điện tử số 122/2025/QH15 được Quốc hội thông qua ngày 10/12/2025, gồm 07 chương, 41 điều, được xây dựng theo định hướng kiến tạo phát triển, tăng cường hiệu quả quản lý và bảo vệ lợi ích chính đáng của doanh nghiệp, người tiêu dùng với nhiều nội dung mới, nổi bật. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2026.
Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Hội đồng nhân dân (HĐND) cấp tỉnh, cấp xã và bố trí đại biểu HĐND hoạt động chuyên trách nhiệm kỳ 2026 - 2031 là nội dung quan trọng nhằm bảo đảm tổ chức bộ máy HĐND các cấp tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu sắp xếp đơn vị hành chính và định hướng cải cách của Đảng và Nhà nước. Những quy định này được thực hiện thống nhất theo Nghị quyết số 106/2025/UBTVQH15 ngày 16/10/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) và các văn bản có liên quan.
Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là một trong những quyền chính trị cơ bản của công dân, đồng thời là khâu có ý nghĩa quyết định đối với chất lượng hoạt động của cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Pháp luật về bầu cử không chỉ bảo đảm quyền ứng cử của công dân mà còn đặt ra những tiêu chuẩn, điều kiện, giới hạn và cơ chế sàng lọc chặt chẽ nhằm lựa chọn được những người đủ đức, đủ tài, xứng đáng đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân.
Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức theo các quy định chặt chẽ của Hiến pháp và pháp luật về bầu cử, trong đó xác định rõ tổng số đại biểu được bầu, cơ cấu, thành phần người ứng cử cũng như nguyên tắc phân bổ đại biểu ở từng địa phương. Bài viết làm rõ số lượng ĐBQH khóa XVI dự kiến được bầu, các yêu cầu về tỷ lệ đại diện của phụ nữ, người dân tộc thiểu số và những nguyên tắc cụ thể để xác định số lượng đại biểu HĐND các cấp, qua đó giúp cử tri hiểu rõ hơn cơ sở pháp lý và ý nghĩa của việc bảo đảm tính đại diện, dân chủ trong bầu cử.
Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Theo quy định tại Điều 7 Hiến pháp năm 2013 và Điều 1 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015, việc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tiến hành theo các nguyên tắc bầu cử phổ thông; nguyên tắc bình đẳng trong bầu cử; nguyên tắc bầu cử trực tiếp; nguyên tắc bỏ phiếu kín. Việc quán triệt và thực hiện nghiêm các nguyên tắc này không chỉ bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân, mà còn là thước đo quan trọng để đánh giá một cuộc bầu cử dân chủ, đúng pháp luật.
Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là những người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân trong bộ máy quyền lực nhà nước. Trên cơ sở Hiến pháp năm 2013, được sửa đổi, bổ sung năm 2025, Luật Tổ chức Quốc hội và Luật Tổ chức chính quyền địa phương quy định rõ hệ thống quyền hạn, trách nhiệm cũng như cơ chế miễn trừ đối với đại biểu nhằm bảo đảm thực hiện đầy đủ chức năng lập pháp, giám sát, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và địa phương, đồng thời tăng cường trách nhiệm của đại biểu dân cử trước cử tri và xã hội.
Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số là yêu cầu cấp thiết trong tiến trình xây dựng xã hội phát triển toàn diện và bền vững ở Việt Nam hiện nay. Trên cơ sở phân tích lý luận và khảo sát thực tiễn tại tỉnh Gia Lai, nơi có 24,76% dân số là người dân tộc thiểu số thuộc 44 thành phần, bài viết đánh giá việc thực hiện quyền này theo khung phân tích của Bình luận chung số 21 của Liên hợp quốc, gồm ba tiêu chí: tính sẵn có, khả năng tiếp cận và tính chấp nhận được. Kết quả cho thấy, còn tồn tại hạn chế về thiết chế văn hóa cơ sở, chênh lệch vùng miền và mức độ tham gia còn hình thức. Từ đó, bài viết đề xuất giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả, bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số tại tỉnh Gia Lai.
Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu cải cách toàn diện, đẩy mạnh hội nhập quốc tế và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, việc nâng cao vai trò lãnh đạo toàn diện, trực tiếp của Đảng đối với hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp có ý nghĩa chiến lược và cấp thiết.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bài viết nêu lên vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước và đề xuất một số giải pháp nâng cao vai trò của Bộ Tư pháp trong giai đoạn mới.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Trong quá trình phát triển của đất nước, đặc biệt, trong 10 năm gần đây, với sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế - xã hội Việt Nam, việc xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật là công tác đặc biệt quan trọng. Với sự nỗ lực không ngừng, Bộ Tư pháp đã cùng các bộ, ngành làm tốt công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và đưa pháp luật vào cuộc sống, góp phần quan trọng trong thực hiện thành công công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế, giữ vững chủ quyền quốc gia, an ninh, trật tự xã hội, nâng cao đời sống vật chất và văn hóa, tinh thần của Nhân dân, bảo đảm công bằng xã hội, xây dựng xã hội dân chủ, văn minh theo đường lối của Đảng và Nhà nước. Để đạt được những thành tựu đó, nhiều hoạt động đã được triển khai đồng bộ, từ công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL); đặc biệt, đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực làm công tác xây dựng, thi hành pháp luật. Bộ Tư pháp đã chủ động, tích cực phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, trong đó có Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trong công tác xây dựng thể chế, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác pháp chế.
Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Với chức năng là cơ quan của Chính phủ, thực hiện quản lý nhà nước về xây dựng và thi hành pháp luật, Bộ Tư pháp đã và đang đóng góp, góp phần quan trọng trong kiến tạo nền tảng pháp lý vững chắc, phục vụ mục tiêu phát triển đất nước; đồng thời, đóng vai trò chủ đạo trong xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ pháp luật, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và thúc đẩy tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Những kết quả đạt được thể hiện qua các nội dung chính sau:
Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Ngày 01/01/2004, tỉnh Lai Châu chính thức được chia tách thành tỉnh Điện Biên và Lai Châu. Đây cũng là thời điểm Sở Tư pháp tỉnh Lai Châu (mới) được thành lập và đi vào hoạt động. Trải qua hơn 21 năm xây dựng và phát triển, ngành Tư pháp tỉnh Lai Châu đã vượt qua khó khăn, thử thách, ngày càng lớn mạnh và khẳng định được vai trò, vị thế của mình.

Theo dõi chúng tôi trên: