Thứ sáu 16/01/2026 21:48
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Bất cập khi áp dụng quy định về quyền ưu tiên mua cổ phần trong Luật Doanh nghiệp năm 2014

Tóm tắt: Bài viết phân tích những khía cạnh pháp lý của quyền ưu tiên mua cổ phần của cổ đông công ty cổ phần và việc chuyển quyền ưu tiên mua đó cho người khác theo quy định của Luật Doanh nghiệp năm 2014. Từ đó, đưa ra những vướng mắc cần khắc phục để các quy định của pháp luật

Tóm tắt: Bài viết phân tích những khía cạnh pháp lý của quyền ưu tiên mua cổ phần của cổ đông công ty cổ phần và việc chuyển quyền ưu tiên mua đó cho người khác theo quy định của Luật Doanh nghiệp năm 2014. Từ đó, đưa ra những vướng mắc cần khắc phục để các quy định của pháp luật về quyền ưu tiên mua cổ phần được áp dụng thống nhất, có hiệu quả trong thực tiễn.

Abstract: The paper analyzes the legal aspects of priority right of shareholders in joint stock companies to buy shares and the transfer of such purchase rights to others in accordance with the Enterprise Law of 2014, there from, raises entanglements that need to be overcome so that the legal provisions of on the priority right to buy shares are uniformly and effectively applied in practice.

1. Khái niệm quyền ưu tiên mua cổ phần

Trong quá trình hoạt động, công ty cổ phần có thể tăng vốn điều lệ thông qua việc chào bán cổ phần mới theo một trong các hình thức như: Chào bán cho các cổ đông hiện hữu, chào bán ra công chúng, chào bán cổ phần riêng lẻ. Trong đó, nếu tăng vốn điều lệ của công ty bằng hình thức chào bán cho các cổ đông hiện hữu, thì các cổ đông có quyền ưu tiên mua thêm cổ phần.

Quyền được ưu tiên mua cổ phần khi công ty phát hành để tăng vốn điều lệ là một quyền tài sản cơ bản của cổ đông trong công ty cổ phần. Quyền ưu tiên mua cổ phần là quyền được xác định trên cơ sở tỷ lệ sở hữu cổ phần của cổ đông trong công ty, theo đó, cổ đông có tỷ lệ sở hữu cổ phần càng lớn thì càng có quyền ưu tiên mua cổ phần lớn hơn các cổ đông khác. Mặc khác, cổ đông có thể chuyển nhượng quyền ưu tiên cổ phần của mình cho người khác. Luật Doanh nghiệp năm 2014 đã có những quy định tạo cơ sở pháp lý cho việc thực hiện quyền ưu tiên mua cổ phần và việc chuyển nhượng quyền này cho người khác.

Việc chuyển nhượng quyền ưu tiên mua cổ phần của cổ đông không đồng nghĩa với việc chuyển nhượng cổ phần mà cổ đông đó đang nắm giữ trong công ty. Nghĩa vụ của người nhận chuyển nhượng quyền ưu tiên mua cổ phần là phải thanh toán đầy đủ và thực hiện các thủ tục để công ty thừa nhận tư cách cổ đông của người nhận chuyển nhượng.

Dựa trên những lập luận trên có thể thấy rằng, quyền ưu tiên mua cổ phần là một quyền tài sản, theo đó, cổ đông có quyền được ưu tiên mua trước theo tỷ lệ sở hữu cổ phần của mình khi công ty phát hành cổ phần mới để tăng vốn điều lệ.

2. Đặc điểm cơ bản của quyền ưu tiên mua cổ phần

Quyền ưu tiên mua cổ phần của cổ đông trong công ty cổ phần có những đặc điểm cơ bản như:

Thứ nhất, quyền ưu tiên mua cổ phần là quyền tài sản của cổ đông. Quyền tài sản là quyền trị giá được bằng tiền và là một loại tài sản của cổ đông[1]. Về nguyên tắc, cổ đông có thể giao dịch bằng cách chuyển nhượng, cầm cố, thế chấp quyền ưu tiên mua cổ phần. Việc giao dịch quyền mua cổ phần không đồng nhất với việc định đoạt số cổ phần mà cổ đông đó đang sở hữu trong công ty.

Một trong những đặc thù của chuyển nhượng quyền mua cổ phần là ngoài việc bên nhận chuyển nhượng phải thanh toán cho bên chuyển nhượng một khoản tiền theo thỏa thuận, thì bên nhận chuyển nhượng còn phải có nghĩa vụ thanh toán đầy đủ, đúng hạn cho công ty đối với số cổ phần được quyền ưu tiên mua đã nhận chuyển nhượng. Khi bên mua cổ phần thanh toán đầy đủ, đúng hạn thì công ty có nghĩa vụ ghi đầy đủ thông tin của người mua vào sổ đăng ký cổ đông. Kể từ thời điểm đó, người mua cổ phần trở thành cổ đông của công ty. Như vậy, việc chuyển nhượng quyền ưu tiên mua cổ phần chỉ được thực hiện trong khoảng thời gian được xác định trước theo quy định của cơ quan quản lý công ty khi thực hiện phương án phát hành cổ phần mới để tăng vốn điều lệ.

Thứ hai, quyền ưu tiên mua cổ phần mới chào bán của công ty chỉ đặt ra khi công ty cổ phần kinh doanh có lợi nhuận và phát hành thêm cổ phần mới để gọi thêm vốn, khi đó, cổ đông của công ty sẽ được ưu tiên mua số cổ phần công ty mới chào bán này. Quyền ưu tiên mua cổ phần mới được đặt ra để bảo vệ quyền lợi cho các cổ đông hiện hữu của công ty. Ngoài ra, cổ đông hiệu hữu được ưu tiên về thứ tự mua cổ phần so với những chủ thể khác. Theo đó, công ty phải chào bán cho những cổ đông hiện hữu trước, cổ đông được ưu tiên mua trước, nếu cổ đông không mua hoặc không mua hết, thì công ty mới có thể chào bán rộng rãi cho các nhà đầu tư khác.

Thứ ba, với quyền được ưu tiên mua cổ phần khi công ty phát hành sẽ giúp cổ đông hiện hữu của công ty duy trì tỷ lệ sở hữu cổ phần trong công ty, góp phần bảo đảm cho công ty không bị xáo trộn hoặc bị thôn tính, mất quyền kiểm soát trong việc quản lý công ty khi tăng vốn điều lệ bằng việc phát hành cổ phần mới.

Thứ tư, quyền ưu tiên mua cổ phần phụ thuộc vào tỷ lệ cổ phần sở hữu. Các cổ đông phổ thông được ưu tiên mua cổ phần mới chào bán tương ứng với tỷ lệ cổ phần phổ thông của từng cổ đông trong công ty (điểm c khoản 1 Điều 114 Luật Doanh nghiệp năm 2014). Việc chào mua tương ứng với tỷ lệ cổ phần của cổ đông đang sở hữu của cổ đông trong công ty giúp tỷ lệ cổ phần của các cổ đông sau khi công ty tăng vốn ổn định và mỗi cổ đông đều tăng tương ứng với tỷ lệ cổ phần trong công ty, góp phần bảo đảm cho công ty không bị xáo trộn hoặc bị thôn tính, mất quyền kiểm soát trong việc quản lý công ty khi tăng vốn điều lệ bằng việc phát hành cổ phần mới; giúp đảm bảo bình đẳng giữa các cổ đông công ty (dù là cổ đông lớn hoặc cổ đông thiểu số).

3. Vướng mắc khi áp dụng quy định về quyền ưu tiên mua cổ phần

Trong quá trình áp dụng những quy định của Luật Doanh nghiệp năm 2014 về quyền ưu tiên mua cổ phần và chuyển nhượng quyền này của cổ đông trong công ty khi chào bán cổ phần để tăng vốn điều lệ đã phát sinh nhiều vướng mắc, khó khăn, cụ thể như:

Một là, về tỷ lệ số cổ phần được quyền ưu tiên mua: Theo quy định tại khoản 1 Điều 124 Luật Doanh nghiệp năm 2014, thì quyền ưu tiên mua cổ phần của cổ đông theo tỷ lệ cổ phần hiện có của họ tại công ty. Theo đó, khi công ty chào bán cổ phần mới, các cổ đông có quyền mua tương ứng với tỷ lệ cổ phần họ đang sở hữu. Tuy nhiên, theo quy định của Điều lệ mẫu ban hành kèm theo Thông tư số 95/2017/TT-BTC ngày 22/9/2017 của Bộ Tài chính hướng dẫn một số điều của Nghị định số 71/2017/NĐ-CP ngày 06/6/2017 của Chính phủ về quản trị công ty áp dụng đối với công ty đại chúng, thì cổ phần phổ thông phải được ưu tiên chào bán cho các cổ đông hiện hữu theo tỷ lệ tương ứng với tỷ lệ sở hữu cổ phần phổ thông của họ trong công ty, trừ trường hợp đại hội đồng cổ đông quyết định khác. Như vậy, căn cứ vào điều lệ mẫu, trong trường hợp phát hành cổ phiếu của các công ty niêm yết, đại hội đồng cổ đông có toàn quyền quyết định việc bán cổ phiếu cho từng cổ đông với tỷ lệ khác nhau mà không nhất thiết phải tuân theo tỷ lệ sở hữu cổ phần của họ tại công ty[2]. Trong thực tế phát sinh trường hợp công ty cổ phần đại chúng thực hiện việc phát hành cổ phần mới cho cổ đông hiện hữu với tỷ lệ khác nhau theo quyết định của đại hội đồng cổ đông. Theo đó, các cổ đông lớn và cổ đông chiến lược của công ty được quyền mua theo tỷ lệ cao hơn so với các cổ đông nhỏ, thiểu số. Có thể thấy rằng, việc công ty có quyền quy định tỷ lệ giữa các cổ đông khác nhau sẽ không đảm bảo quyền bình đẳng giữa các cổ đông, không bảo vệ được cổ đông thiểu số trong công ty. Luật Doanh nghiệp hiện hành không có bất cứ một quy định nào hạn chế quyền ưu tiên mua cổ phần mới chào bán của cổ đông hiện hữu. Vì vậy, quyền ưu tiên mua cổ phần của cổ đông hiện hữu sẽ không bị hạn chế vì bất cứ điều kiện nào. Công ty đưa ra phương án phát hành cổ phần mới bằng hình thức chào bán cho cổ đông hiện hữu để tăng vốn điều lệ mà không dựa trên tỷ lệ sở hữu cổ phần là trái với quy định của Luật Doanh nghiệp năm 2014.

Hai là, về chủ thể nhận chuyển nhượng quyền ưu tiên mua cổ phần. Khi công ty cổ phần chào bán cổ phần mới cho cổ đông hiện hữu, các cổ đông có quyền ưu tiên mua cổ phần theo tỷ lệ cổ phần đang sở hữu. Khi cổ đông không có điều kiện tài chính hoặc không có nhu cầu mua cổ phần, thì cổ đông đó có quyền chuyển nhượng cho người khác. Người nhận chuyển nhượng có thể là cổ đông khác hoặc người không phải là cổ đông.

- Trường hợp chuyển nhượng quyền ưu tiên mua cổ phần cho cổ đông khác trong công ty, người nhận chuyển nhượng là cổ đông hiện hữu, qua việc nhận chuyển nhượng sẽ làm tăng tỷ lệ sở hữu của cổ đông đó trong công ty. Việc chuyển nhượng này phù hợp với phương án phát hành cho cổ đông hiện hữu của công ty. Cổ đông nhận chuyển nhượng quyền ưu tiên mua cổ phần có nghĩa vụ thực hiện việc thanh toán đầy đủ, đúng hạn số cổ phần đã nhận chuyển nhượng quyền mua cho công ty và cổ đông đó sẽ tăng tỷ lệ cổ phần sở hữu của mình trong công ty.

- Trường hợp chuyển nhượng quyền ưu tiên mua cổ phần cho người không phải cổ đông, thì người nhận chuyển nhượng không phải cổ đông hiện hữu của công ty. Vậy sau khi nhận chuyển nhượng, họ có thể trở thành cổ đông công ty hay không? Vấn đề này hiện nay chưa đề cập trong Luật Doanh nghiệp năm 2014 và trên thực tiễn có nhiều quan điểm khác nhau về hệ quả của giao dịch này:

+ Quan điểm thứ nhất cho rằng, việc cổ đông hiện hữu chuyển nhượng quyền ưu tiên mua cổ phần của mình cho người không phải cổ đông không vi phạm phương án tăng vốn bằng hình thức chào bán cho cổ đông hiện hữu của công ty, bởi quyền chuyển nhượng quyền ưu tiên mua cổ phần đã được quy định tại điểm c khoản 2 Điều 124 Luật Doanh nghiệp năm 2014. Vì vậy, cổ đông có quyền chuyển nhượng cho bất kỳ ai. Người nhận chuyển nhượng hoặc cổ đông đã chuyển nhượng thực hiện thanh toán đủ và các thủ tục để được ghi đầy đủ vào sổ đăng ký cổ đông. Kể từ thời điểm đó, người mua cổ phần trở thành cổ đông của công ty.

+ Quan điểm thứ hai cho rằng, việc chuyển nhượng quyền ưu tiên mua cổ phần của cổ đông hiện hữu cho người không phải cổ đông công ty là vi phạm phương án phát hành cổ phần của công ty, vì thế giao dịch trên không có hiệu lực. Hay nói cách khác, số cổ phần tương ứng với số chuyển nhượng quyền mua của cổ đông hiện hữu cho những người mới không phải là cổ đông công ty không được xem xét vì không đúng quy định. Nếu công ty muốn tăng đủ vốn điều lệ theo phương án phát hành, thì công ty phải thực hiện chào bán cổ phần riêng lẻ (đối với công ty chưa niêm yết) theo quy định tại Điều 123 Luật Doanh nghiệp năm 2014 để bán cho người chưa phải là cổ đông công ty trước khi thực hiện thủ tục tăng vốn điều lệ tại phòng đăng ký kinh doanh. Hoặc công ty chỉ được đăng ký các thủ tục để thay đổi vốn điều lệ tăng lên tương ứng với số tiền thu được từ việc bán cổ phần cho các cổ đông hiện hữu của công ty.

Có thể thấy rằng, quyền ưu tiên mua cổ phần là một quyền tài sản của cổ đông, vì thế cổ đông có quyền chuyển nhượng quyền này cho bất kỳ ai (là cổ đông hoặc chưa là cổ đông của công ty). Khi công ty có phương án phát hành cổ phần để tăng vốn điều lệ cho các cổ đông hiện hữu, công ty phải thông báo đến cổ đông về số cổ phần và tỷ lệ cổ phần hiện có của cổ đông tại công ty; tổng số cổ phần dự kiến chào bán và số cổ phần cổ đông được quyền mua; giá chào bán cổ phần; thời hạn đăng ký mua; họ, tên, chữ ký của người đại diện theo pháp luật của công ty. Kèm theo thông báo phải có mẫu phiếu đăng ký mua cổ phần do công ty phát hành. Trường hợp phiếu đăng ký mua cổ phần không được gửi về công ty đúng hạn như thông báo thì cổ đông có liên quan coi như đã không nhận quyền ưu tiên mua (điểm b khoản 2 Điều 124 Luật Doanh nghiệp năm 2014). Những quy định trên là sự gợi mở cho việc hoàn thiện hơn nữa các quy định pháp luật nhằm phản ánh và ghi nhận đúng bản chất của quyền ưu tiên mua cổ phần từ khía cạnh quyền tài sản của cổ đông trong loại hình công ty cổ phần.

Trong thực tiễn, vừa qua có Tòa án nhân dân thụ lý giải quyết yêu cầu của người không phải là cổ đông công ty nhận chuyển nhượng quyền ưu tiên mua cổ phần của cổ đông, nhưng không được công ty thừa nhận và ghi vào sổ đăng ký cổ đông để trở thành cổ đông công ty[3]. Cũng trong nội dung vụ việc cho thấy, chính cơ quan nhà nước có thẩm quyền có những lý giải không thống nhất với nhau, dẫn đến doanh nghiệp gặp khó khăn trong quá trình xử lý vụ việc. Việc doanh nghiệp, cơ quan quản lý nhà nước chưa có cơ sở pháp lý rõ ràng, đầy đủ đã dẫn đến quá trình thực hiện pháp luật và áp dụng pháp luật của các chủ thể gặp nhiều khó khăn, mất thời gian, tài chính và tổn hại đến các quan hệ giữa các chủ thể kinh doanh trong nền kinh tế.

Tác giả cho rằng, cần xem xét quyền ưu tiên mua cổ phần dựa vào bản chất của quyền tài sản, chủ sở hữu quyền tài sản có các quyền được pháp luật dân sự quy định. Trong đó có quyền định đoạt quyền ưu tiên đó bằng cách chuyển nhượng cho cổ đông hoặc người không phải là cổ đông. Giao dịch chuyển nhượng quyền mua phải được thực hiện theo trình tự, thủ tục được cơ quan quản lý công ty quyết định dựa trên quy định của điều lệ công ty. Tuy nhiên, những vấn đề pháp lý liên quan đến quyền ưu tiên mua cổ phần và chuyển nhượng quyền này cần phải được luật hóa để tạo ra cơ sở pháp lý minh bạch và thống nhất cho các chủ thể áp dụng.

Ba là, về vấn đề từ bỏ quyền ưu tiên mua cổ phần của cổ đông. Về cơ bản, cổ đông có thể tự mình hoặc thông qua quyết định của cơ quan quản lý trong công ty để không thực hiện hoặc từ bỏ quyền ưu tiên mua cổ phần của mình. Tuy nhiên, từ bỏ quyền mua cổ phần của cổ đông sẽ được thực hiện như thế nào và cơ quan nào trong công ty có thể ra quyết định về việc từ bỏ quyền cổ phần của cổ đông, thì quy định của Luật Doanh nghiệp hiện hành chưa điều chỉnh, mà mới chỉ dự liệu trường hợp số lượng cổ phần dự kiến chào bán không được cổ đông và người nhận chuyển quyền ưu tiên mua đăng ký mua hết (khoản 3 Điều 124 Luật Doanh nghiệp năm 2014). Vì chưa có cơ sở pháp lý cụ thể cho vấn đề này, nên mỗi công ty cổ phần lại có cách làm khác nhau.

Bốn là, thời hạn thực hiện chuyển quyền ưu tiên mua cổ phần. Về nguyên tắc, việc chuyển nhượng quyền ưu tiên mua cổ phần phải được thực hiện trong thời hạn theo quyết định của công ty. Tuy nhiên, Luật Doanh nghiệp hiện hành chưa có quy định rõ ràng về việc người được chuyển nhượng có cần phải đăng ký với công ty để mua cổ phần hay cổ đông phải đăng ký mua cổ phần thay cho người nhận chuyển nhượng. Nếu hết thời hạn, mà cổ đông không mua và không chuyển nhượng quyền ưu tiên của mình, thì hội đồng quản trị của công ty có quyền huy động cổ đông khác hoặc người khác mua cổ phần.

Ngoài ra, vẫn còn tồn tại những vấn đề như Luật Doanh nghiệp năm 2014 quy định cho phép cổ đông hiện hữu có quyền ưu tiên mua cổ phần mới do công ty chào bán để tăng vốn điều lệ, không có quy định quyền ưu tiên mua các loại chứng khoán khác. Vấn đề đặt ra là công ty có thể quy định trong điều lệ về quyền ưu tiên mua các loại chứng khoán như trái phiếu hoặc trái phiếu chuyển đổi được không? Về nguyên tắc, nếu pháp luật không cấm, thì công ty có quyền quy định trong điều lệ. Tuy nhiên, cần phải có quy định pháp luật để tạo cơ sở pháp lý cho quyền ưu tiên mua các loại chứng khoán khác mà công ty cổ phần phát hành.

Quyền ưu tiên mua cổ phần nằm trong nhóm những quyền cơ bản của cổ đông phổ thông được dựa trên tỷ lệ cổ phần sở hữu trong công ty cổ phần. Hiện nay, pháp luật các nước trên thế giới đều có những quy định về quyền ưu tiên mua cổ phần của cổ đông hiện hữu được thể hiện dưới hình thức một giấy bảo đảm quyền mua cổ phần mà công ty cổ phần cấp cho cổ đông. Trong giấy này có ghi rõ số lượng cổ phần được quyền ưu tiên mua. Nếu cổ đông không muốn hưởng quyền ưu tiên này, thì họ sẽ bán giấy đó đi. Giấy bảo đảm này được mua bán trên thị trường chứng khoán như là một loại chứng khoán[4]. Có thể thấy, rằng, việc điều chỉnh những vấn đề của quyền ưu tiên mua cổ phần là một nhu cầu đặt ra cho Luật Doanh nghiệp hiện nay ở Việt Nam. Do đó, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền, nhà làm chính sách cần phải xem xét, nghiên cứu để đưa ra các kiến nghị, đề xuất nhằm đưa ra những quy định để hoàn thiện pháp luật về quyền ưu tiên mua cổ phần của cổ đông trong công ty cổ phần.

TS. Vũ Quang

ThS. Nguyễn Văn Lâm

Viện Kinh tế và Quản lý - Đại học Bách khoa Hà Nội







[1]. Theo khoản 1 Điều 105 và Điều 115 Bộ luật Dân sự năm 2015.

[2]. Lê Hồng Phúc và Vũ Thị Huệ, Góc nhìn khác về quyền ưu tiên của cổ đông lớn, theo http://cafef.vn/thi-truong-chung-khoan/goc-nhin-khac-ve-quyen-uu-tien-cua-co-dong-lon-2008110907575633.chn

[3]. Tòa án nhân dân TP. Đà Nẵng, Bản án số 04/2019/KDTM-ST ngày 06/6/2019 về việc “Tranh chấp giữa người chưa phải là thành viên công ty nhưng có giao dịch về chuyển nhượng phần vốn góp với công ty”.

[4]. Từ Thảo (2010), Bàn thêm về quyền ưu tiên mua cổ phần, theo https://thongtinphapluatdansu.edu.vn/2010/10/26/ ba%CC%80n-thm-v%CC%80-quy%CC%80n-%C6%B0u-tin-mua-c%CC%89-ph%CC%80n/.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Việc lập và nộp hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH), đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là thủ tục bắt buộc, bảo đảm tính chặt chẽ, minh bạch và khách quan trong quá trình lựa chọn những người tiêu biểu tham gia cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Căn cứ Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND, Hội đồng bầu cử quốc gia đã ban hành mẫu biểu, hướng dẫn và quy trình tiếp nhận hồ sơ, tạo điều kiện để người được giới thiệu ứng cử và người tự ứng cử thực hiện quyền chính trị - pháp lý đúng quy định.
Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Việc điều chỉnh cơ cấu và phân bổ giới thiệu người ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) được thực hiện trên cơ sở điều chỉnh lần thứ nhất của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về cơ cấu, thành phần và số lượng được phân bổ cho từng cơ quan, tổ chức, đơn vị. Trên cơ sở đó, Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tổ chức hội nghị hiệp thương có trách nhiệm thông báo phân bổ và hướng dẫn nội dung, trình tự, thủ tục giới thiệu người ứng cử, bảo đảm việc lập hồ sơ ứng cử được thực hiện theo quy định pháp luật.
Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Từ năm 2026, các quy định liên quan đến thu nhập từ kinh doanh, từ tiền lương, tiền công của cá nhân cư trú tại Luật Thuế thu nhập cá nhân số 109/2025/QH15 có hiệu lực, với nhiều chính sách mới như tăng mức giảm trừ gia cảnh lên 15,5 triệu đồng, nâng ngưỡng doanh thu chịu thuế của hộ, cá nhân kinh doanh lên 500 triệu đồng/năm giúp giảm gánh nặng đối với người nộp thuế.
Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Luật Thương mại điện tử số 122/2025/QH15 được Quốc hội thông qua ngày 10/12/2025, gồm 07 chương, 41 điều, được xây dựng theo định hướng kiến tạo phát triển, tăng cường hiệu quả quản lý và bảo vệ lợi ích chính đáng của doanh nghiệp, người tiêu dùng với nhiều nội dung mới, nổi bật. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2026.
Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Hội đồng nhân dân (HĐND) cấp tỉnh, cấp xã và bố trí đại biểu HĐND hoạt động chuyên trách nhiệm kỳ 2026 - 2031 là nội dung quan trọng nhằm bảo đảm tổ chức bộ máy HĐND các cấp tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu sắp xếp đơn vị hành chính và định hướng cải cách của Đảng và Nhà nước. Những quy định này được thực hiện thống nhất theo Nghị quyết số 106/2025/UBTVQH15 ngày 16/10/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) và các văn bản có liên quan.
Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là một trong những quyền chính trị cơ bản của công dân, đồng thời là khâu có ý nghĩa quyết định đối với chất lượng hoạt động của cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Pháp luật về bầu cử không chỉ bảo đảm quyền ứng cử của công dân mà còn đặt ra những tiêu chuẩn, điều kiện, giới hạn và cơ chế sàng lọc chặt chẽ nhằm lựa chọn được những người đủ đức, đủ tài, xứng đáng đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân.
Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức theo các quy định chặt chẽ của Hiến pháp và pháp luật về bầu cử, trong đó xác định rõ tổng số đại biểu được bầu, cơ cấu, thành phần người ứng cử cũng như nguyên tắc phân bổ đại biểu ở từng địa phương. Bài viết làm rõ số lượng ĐBQH khóa XVI dự kiến được bầu, các yêu cầu về tỷ lệ đại diện của phụ nữ, người dân tộc thiểu số và những nguyên tắc cụ thể để xác định số lượng đại biểu HĐND các cấp, qua đó giúp cử tri hiểu rõ hơn cơ sở pháp lý và ý nghĩa của việc bảo đảm tính đại diện, dân chủ trong bầu cử.
Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Theo quy định tại Điều 7 Hiến pháp năm 2013 và Điều 1 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015, việc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tiến hành theo các nguyên tắc bầu cử phổ thông; nguyên tắc bình đẳng trong bầu cử; nguyên tắc bầu cử trực tiếp; nguyên tắc bỏ phiếu kín. Việc quán triệt và thực hiện nghiêm các nguyên tắc này không chỉ bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân, mà còn là thước đo quan trọng để đánh giá một cuộc bầu cử dân chủ, đúng pháp luật.
Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là những người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân trong bộ máy quyền lực nhà nước. Trên cơ sở Hiến pháp năm 2013, được sửa đổi, bổ sung năm 2025, Luật Tổ chức Quốc hội và Luật Tổ chức chính quyền địa phương quy định rõ hệ thống quyền hạn, trách nhiệm cũng như cơ chế miễn trừ đối với đại biểu nhằm bảo đảm thực hiện đầy đủ chức năng lập pháp, giám sát, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và địa phương, đồng thời tăng cường trách nhiệm của đại biểu dân cử trước cử tri và xã hội.
Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số là yêu cầu cấp thiết trong tiến trình xây dựng xã hội phát triển toàn diện và bền vững ở Việt Nam hiện nay. Trên cơ sở phân tích lý luận và khảo sát thực tiễn tại tỉnh Gia Lai, nơi có 24,76% dân số là người dân tộc thiểu số thuộc 44 thành phần, bài viết đánh giá việc thực hiện quyền này theo khung phân tích của Bình luận chung số 21 của Liên hợp quốc, gồm ba tiêu chí: tính sẵn có, khả năng tiếp cận và tính chấp nhận được. Kết quả cho thấy, còn tồn tại hạn chế về thiết chế văn hóa cơ sở, chênh lệch vùng miền và mức độ tham gia còn hình thức. Từ đó, bài viết đề xuất giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả, bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số tại tỉnh Gia Lai.
Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu cải cách toàn diện, đẩy mạnh hội nhập quốc tế và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, việc nâng cao vai trò lãnh đạo toàn diện, trực tiếp của Đảng đối với hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp có ý nghĩa chiến lược và cấp thiết.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bài viết nêu lên vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước và đề xuất một số giải pháp nâng cao vai trò của Bộ Tư pháp trong giai đoạn mới.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Trong quá trình phát triển của đất nước, đặc biệt, trong 10 năm gần đây, với sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế - xã hội Việt Nam, việc xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật là công tác đặc biệt quan trọng. Với sự nỗ lực không ngừng, Bộ Tư pháp đã cùng các bộ, ngành làm tốt công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và đưa pháp luật vào cuộc sống, góp phần quan trọng trong thực hiện thành công công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế, giữ vững chủ quyền quốc gia, an ninh, trật tự xã hội, nâng cao đời sống vật chất và văn hóa, tinh thần của Nhân dân, bảo đảm công bằng xã hội, xây dựng xã hội dân chủ, văn minh theo đường lối của Đảng và Nhà nước. Để đạt được những thành tựu đó, nhiều hoạt động đã được triển khai đồng bộ, từ công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL); đặc biệt, đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực làm công tác xây dựng, thi hành pháp luật. Bộ Tư pháp đã chủ động, tích cực phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, trong đó có Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trong công tác xây dựng thể chế, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác pháp chế.
Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Với chức năng là cơ quan của Chính phủ, thực hiện quản lý nhà nước về xây dựng và thi hành pháp luật, Bộ Tư pháp đã và đang đóng góp, góp phần quan trọng trong kiến tạo nền tảng pháp lý vững chắc, phục vụ mục tiêu phát triển đất nước; đồng thời, đóng vai trò chủ đạo trong xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ pháp luật, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và thúc đẩy tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Những kết quả đạt được thể hiện qua các nội dung chính sau:
Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Ngày 01/01/2004, tỉnh Lai Châu chính thức được chia tách thành tỉnh Điện Biên và Lai Châu. Đây cũng là thời điểm Sở Tư pháp tỉnh Lai Châu (mới) được thành lập và đi vào hoạt động. Trải qua hơn 21 năm xây dựng và phát triển, ngành Tư pháp tỉnh Lai Châu đã vượt qua khó khăn, thử thách, ngày càng lớn mạnh và khẳng định được vai trò, vị thế của mình.

Theo dõi chúng tôi trên: