Chủ nhật 25/10/2026 15:10
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Bất cập trong các quy định pháp luật về ban hành văn bản quy phạm pháp luật và kiến nghị hoàn thiện

Bài viết phân tích một số bất cập trong quy định của pháp luật về ban hành văn bản quy phạm pháp luật. Trên cơ sở đó, bài viết đưa ra một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về ban hành văn bản quy phạm pháp luật ở Việt Nam hiện nay.

1. Đặt vấn đề

Hoàn thiện pháp luật là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của Đảng và Nhà nước trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa theo tinh thần Nghị quyết số 27- NQ/TW ngày 09/11/2022 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới. Trong tiến trình hoàn thiện pháp luật, với sự hoàn thiện về cơ sở pháp lý tại Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2020 (Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015); Nghị định số 34/2016/NĐ-CP ngày 14/5/2016 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật (Nghị định số 34/2016/NĐ-CP); Nghị định số 154/2020/NĐ-CP ngày 31/12/2020 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 34/2016/NĐ-CP (Nghị định số 154/2020/NĐ-CP), lĩnh vực ban hành văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL) đã đạt nhiều thành tựu, các VBQPPL đã thể chế hóa đầy đủ, kịp thời các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật trên nhiều lĩnh vực, góp phần điều chỉnh hầu hết các quan hệ xã hội phát sinh, nhất là những vấn đề mang tính thời sự, cấp bách cần phải được giải quyết kịp thời, hiệu quả. Bên cạnh đó, công tác ban hành VBQPPL vẫn còn một số tồn tại, hạn chế, đặc biệt là thực trạng ban hành VBQPPL có dấu hiệu trái pháp luật, trái thẩm quyền, vi phạm về thể thức, trình tự, thủ tục ban hành. Trong năm 2022, đã phát hiện và kết luận đối với 477 văn bản, gồm 376 VBQPPL có quy định trái pháp luật về nội dung, thẩm quyền ban hành (trong đó có 135 văn bản ban hành trong năm 2022) và 101 văn bản không phải là VBQPPL nhưng có chứa quy phạm pháp luật. Số văn bản trái pháp luật được phát hiện, kết luận tăng 172 văn bản so với năm 2021[1]. Một trong những nguyên nhân chủ yếu dẫn đến thực trạng trên xuất phát từ những bất cập trong các quy định về ban hành VBQPPL.

2. Một số bất cập trong hoạt động ban hành văn bản quy phạm pháp luật ở Việt Nam hiện nay

Thứ nhất, về khái niệm quy phạm pháp luật: Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 đã có định nghĩa cụ thể về khái niệm quy phạm pháp luật, theo đó: Quy phạm pháp luật là quy tắc xử sự chung, có hiệu lực bắt buộc chung, được áp dụng lặp đi lặp lại nhiều lần đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân trong phạm vi cả nước hoặc đơn vị hành chính nhất định, do cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền quy định trong Luật này ban hành và được Nhà nước bảo đảm thực hiện.

Điều 2 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 định nghĩa: VBQPPL là văn bản có chứa quy phạm pháp luật, được ban hành theo thẩm quyền, hình thức, trình tự, thủ tục quy định trong Luật này. Như vậy, một văn bản được xem là VBQPPL phải chứa đựng các đặc điểm cơ bản sau: Chứa đựng các quy tắc xử sự chung; có hiệu lực bắt buộc chung; được áp dụng lặp đi, lặp lại nhiều lần; được Nhà nước bảo đảm thực hiện; được ban hành theo thẩm quyền, hình thức, trình tự, thủ tục theo luật định. Như vậy, một văn bản chỉ cần thiếu một trong các đặc điểm nêu trên thì không xác định là VBQPPL. Quy định này dẫn đến một thực tiễn có những văn bản được ban hành thỏa mãn tất cả các yếu tố nhưng không được ban hành đúng về mặt hình thức hoặc không theo trình tự, thủ tục luật định thì không phải là quy phạm pháp luật; có những văn bản có chứa đựng quy tắc xử sự chung và chứa chế tài xử lý hành chính nhưng được ban hành với hình thức không phải là VBQPPL thì cũng không được ghi nhận. Từ định nghĩa, có thể thấy, luật thực định chưa xác định đúng bản chất của quy phạm pháp luật là chứa quy tắc xử sự chung, do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành và được bảo đảm thực hiện bằng Nhà nước, khái niệm quy phạm pháp luật phải được làm rõ thông qua khái niệm xử sự chung, đây cũng là điều kiện cơ bản để xác định một quy phạm pháp luật.

Khi bàn đến khái niệm quy phạm pháp luật, đa số các nhà khoa học bắt đầu từ việc giải thích từ “quy phạm”. Quy phạm trong tiếng Latinh là “khuôn mẫu”, “mực thước” hay “quy tắc”[2], Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 cũng định nghĩa quy phạm pháp luật chính là “quy tắc xử sự chung”. Tuy nhiên, nội hàm quy định “quy tắc xử sự chung” nên được hiểu và áp dụng như thế nào trong ban hành VBQPPL đang là vấn đề khó khăn đối với người làm công tác soạn thảo VBQPPL. Bởi vì, có thể hiểu, quy tắc xử sự chung là các quy định, chuẩn mực hoặc các công thức, kết luận tổng quát buộc mọi người phải tuân theo trong một hoạt động chung hoặc trong một công việc chung nào đó[3]; cũng có thể hiểu, quy tắc xử sự chung là quy tắc hành vi, có tính bắt buộc chung, được biểu thị bằng hình thức nhất định, do Nhà nước đặt ra hoặc thừa nhận và bảo đảm thực hiện nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội[4]. Vì chưa hiểu rõ về quy tắc xử sự chung nên một số cán bộ còn lúng túng trong xây dựng nội dung văn bản pháp luật với thẩm quyền, trình tự, thủ tục tương ứng dẫn đến tình trạng ban hành văn bản trái luật hoặc ban hành văn bản không đúng về mặt thẩm quyền và hình thức. Đây cũng là nguyên nhân dẫn đến tình trạng ban hành VBQPPL có dấu hiệu trái pháp luật trong thời gian qua, trong năm 2022, cả nước có 376 VBQPPL có quy định trái pháp luật về nội dung, 101 văn bản không phải là VBQPPL nhưng có chứa quy phạm pháp luật, số văn bản trái pháp luật được phát hiện, kết luận tăng 172 văn bản so với năm 2021[5].

Bên cạnh vấn đề về khái niệm, việc ban hành quyết định gián tiếp (như quyết định ban hành quy chế) còn một số vướng mắc. Theo quy định tại Điều 7 Nghị định số 30/2020/NĐ-CP ngày 05/3/2020 của Chính phủ về công tác văn thư thì quy chế là văn bản hành chính. Rà soát các quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 và các văn bản hướng dẫn, theo đó, tại Điều 4 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 quy định quy chế không được ghi nhận là VBQPPL, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh chỉ được quyền ban hành hình thức VBQPPL là quyết định. Tuy nhiên, tại các luật chuyên ngành như Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở năm 2022 quy định: “Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm phối hợp cùng Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã, căn cứ vào yêu cầu, đặc điểm và điều kiện thực tế của địa phương, xây dựng và ban hành quy chế thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn để quy định cụ thể hơn nội dung, cách thức thực hiện dân chủ trên địa bàn cấp xã làm cơ sở để công dân kiểm tra, giám sát việc thực hiện. Nội dung của quy chế thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn có thể mở rộng hơn phạm vi thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn nhưng không được trái hoặc hạn chế việc thực hiện các nội dung đã được quy định trong Luật này” (Điều 35). Với quy định này, nhà làm luật đã khẳng định, quy chế là VBQPPL. Trong thực tiễn áp dụng pháp luật, các quy chế chứa đựng nội dung là các quy tắc xử sự nội bộ được ban hành đính kèm với quyết định của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh hoặc cấp huyện mặc nhiên được xem là VBQPPL và ban hành dưới hình thức là VBQPPL, ví dụ, Quyết định số 06/2022/QĐ-UBND ngày 07/7/2022 của Ủy ban nhân dân huyện Cái Bè ban hành Quy chế làm việc của Ủy ban nhân dân huyện Cái Bè nhiệm kỳ 2021 - 2026; Quyết định số 01/2021/QĐ-UBND ngày 05/10/2021 của Ủy ban nhân dân huyện Yên Mô ban hành Quy chế làm việc của Ủy ban nhân dân huyện Yên Mô, giai đoạn 2021 - 2026. Điều này dẫn đến thực trạng ban hành văn bản trái pháp luật hoặc ban hành văn bản không đúng về thể thức và nội dung diễn ra tại một số địa phương. Vì vậy, cần có quy định cụ thể về quy chế, trường hợp nào ban hành quy chế chứa đựng quy phạm pháp luật; trường hợp nào ban hành quy chế hành chính nhằm bảo đảm sự thống nhất và đồng bộ trong ban hành VBQPPL tại các địa phương.

Thứ hai, Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 đưa ra các quy định về đánh giá tác động của chính sách trong đề nghị xây dựng luật, pháp luật (Điều 35), xây dựng nội dung của chính sách trong đề nghị xây dựng nghị định, đánh giá tác động chính sách sau khi Chính phủ thông qua (khoản 3 Điều 85); trong đó, tại Điều 27 quy định: “Hội đồng nhân dân cấp tỉnh ban hành nghị quyết để quy định: 1. Chi tiết điều, khoản, điểm được giao trong văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên; 2. Chính sách, biện pháp nhằm bảo đảm thi hành Hiến pháp, luật, văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên; 3. Biện pháp nhằm phát triển kinh tế - xã hội, ngân sách, quốc phòng, an ninh ở địa phương; 4. Biện pháp có tính chất đặc thù phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế - xã hội của địa phương”.

Như vậy, Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 quy định Hội đồng nhân dân cấp tỉnh có quyền ban hành nghị quyết dưới hình thức là VBQPPL để quy định chính sách, biện pháp nhằm bảo đảm thi hành Hiến pháp, luật, VBQPPL của cơ quan nhà nước cấp trên, đồng thời, Hội đồng nhân dân cấp tỉnh có quyền ban hành nghị quyết dưới hình thức là VBQPPL để quy định biện pháp có tính chất đặc thù phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế - xã hội của địa phương. Tuy nhiên, việc không quy định khái niệm như thế nào là “chính sách”, “biện pháp có tính chất đặc thù” trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 và chưa có văn bản hướng dẫn của cơ quan có thẩm quyền, chưa có cơ chế để kiểm soát khi xây dựng văn bản liên quan đến chính sách, biện pháp có tính chất đặc thù, do đó, đã phát sinh rất nhiều cách hiểu về “chính sách”, “biện pháp có tính chất đặc thù” dẫn đến cơ quan soạn thảo văn bản tại địa phương gặp rất nhiều khó khăn trong việc xác định nội dung và thẩm quyền ban hành VBQPPL ở địa phương, mà cụ thể là hình thức nghị quyết quy phạm pháp luật. Về mặt ngữ nghĩa, đặc thù là nét riêng biệt làm cho sự vật này khác với sự vật cùng loại khác; tính chất đặc thù là những đặc tính, đặc điểm nổi bật của sự vật, hiện tượng dùng để phân biệt giữa sự vật, hiện tượng này với sự vật, hiện tượng khác. Chính sách đặc thù của địa phương phải được ban hành dựa trên những những đặc điểm riêng, khác biệt về điều kiện tự nhiên, kinh tế, văn hóa, xã hội của từng địa phương nhằm phát huy thế mạnh của địa phương, phát triển kinh tế - xã hội. Nếu chỉ dựa trên lý thuyết này thì mỗi tỉnh, thành đều có thể ban hành chính sách đặc thù vì xét về yếu tố tự nhiên, văn hóa, xã hội, con người, các địa phương đều có những điểm riêng biệt nhất định.

Ngày 11/01/2022, Quốc hội đã ban hành Nghị quyết số 45/2022/QH15 về thí điểm một số cơ chế, chính sách đặc thù phát triển thành phố Cần Thơ. Trước đó, theo các nghị quyết của Quốc hội, các tỉnh, thành bao gồm: Thành phố Hồ Chí Minh, thành phố Đà Nẵng, thành phố Hải Phòng, Thanh Hóa, Nghệ An, Thừa Thiên Huế, Cần Thơ đã áp dụng cơ chế chính sách đặc thù được phân cấp, phân quyền mạnh mẽ hơn, chủ động và linh hoạt quyết định một số vấn đề liên quan về nguồn lực đất đai, tài chính, con người... Tuy nhiên, đứng ở góc độ pháp lý, “chính sách đặc thù” là yếu tố khiến hệ thống quy định pháp luật thêm phức tạp, thậm chí, ở góc độ nào đó xung đột với nguyên tắc pháp luật phải thống nhất, như một đại biểu Quốc hội đã nhận xét: “Về lâu dài cơ chế đặc thù không phải để giải quyết vấn đề vì Việt Nam có 63 tỉnh, thành thì có từng ấy đặc điểm không giống nhau. Luật pháp không thể chạy theo các đặc điểm này mà phải xuất phát từ lợi ích tối ưu của toàn xã hội và định hướng cho tương lai”[6].

Thứ ba, các yếu tố về hình thức trong ban hành VBQPPL như thể thức và kỹ thuật trình bày của VBQPPL được quy định cụ thể trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015, Nghị định số 34/2016/NĐ-CP, Nghị định số 154/2020/NĐ-CP còn chưa thống nhất với nhau, đặc biệt là cách đánh số văn bản (như quy chế quy định tại Mẫu số 17, 19, 21, 23, 25, 27 Phụ lục I ban hành kèm theo Nghị định số 154/2020/NĐ-CP; phần ký của người có thẩm quyền đối với các văn bản được ban hành kèm theo; quy tắc viết hoa…).

3. Kiến nghị hoàn thiện pháp luật về ban hành văn bản quy phạm pháp luật ở Việt Nam

Thứ nhất, trong ban hành VBQPPL, vấn đề hiểu rõ bản chất các khái niệm là điều hết sức quan trọng, có tác động mạnh mẽ tới chất lượng ban hành VBQPPL ở các cơ quan hiện nay. Vì vậy, cần làm rõ nội hàm các định nghĩa quy phạm pháp luật, các dấu hiệu nhận diện quy chế được ban hành dưới hình thức VBQPPL trong các văn bản hướng dẫn, có thể xem xét quy định quy chế là văn bản pháp luật nào trong trường hợp có chứa đựng quy phạm pháp luật. Từ đó, cần xác định rõ loại VBQPPL cụ thể đối với dạng văn bản ban hành kèm theo văn bản được quy định là VBQPPL để tránh hiện tượng “núp bóng” văn bản chính thức đã được quy định trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 và cũng là biện pháp thừa nhận tính quy phạm chung hay chỉ là những quy phạm nội bộ trong những dạng văn bản pháp luật này.

Nhằm bảo đảm thực hiện phân cấp, phân quyền trong quản lý nhà nước, đồng thời phát huy tính chủ động, sáng tạo của các cấp chính quyền địa phương, Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 cần làm rõ khái niệm chính sách có tính chất đặc thù tại Điều 27, để các địa phương có cơ sở pháp lý rõ ràng trong xây dựng và ban hành VBQPPL. Ở đây, nhà làm luật cần đưa ra các tiêu chí để xác định tính chất nào là tính chất đặc thù.

Thứ hai, ở góc độ hoàn thiện kỹ thuật soạn thảo quy phạm pháp luật, cần quy định thống nhất hình thức trong ban hành VBQPPL tại Mẫu số 36 Phụ lục I ban hành kèm theo Nghị định số 154/2020/NĐ-CP; quy định cụ thể cách đánh số trang đối với quy định/quy chế là văn bản được ban hành kèm theo quyết định; hướng dẫn thống nhất quy tắc viết hoa trong ban hành VBQPPL.

Thứ ba, ở góc độ tổ chức thực hiện, cần kiện toàn đội ngũ làm công tác ban hành VBQPPL theo hướng chuyên nghiệp tại các tổ chức pháp chế, các cơ quan chuyên môn phụ trách ban hành VBQPPL tại các cơ quan nhà nước có thẩm quyền; các bộ, ngành kịp thời có văn bản hướng dẫn đối với những khó khăn, vướng mắc của địa phương trong quá trình thực hiện các nhiệm vụ liên quan đến công tác ban hành VBQPPL. Bộ Tư pháp thường xuyên hướng dẫn nghiệp vụ chuyên sâu về công tác ban hành văn bản; kiểm tra, rà soát và hệ thống hóa VBQPPL cho các địa phương./.

ThS. Đặng Thị Hà

Trường Đại học Luật, Đại học Huế

[1]. Báo cáo số 20/BC-TCT ngày 28/01/2022 của Bộ Tư pháp gửi Thủ tướng Chính phủ về kết quả hoạt động năm 2021; Báo cáo số 132/BC-BTP ngày 16/5/2023 của Bộ Tư pháp về công tác kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa VBQPPL năm 2022 và phương hướng, nhiệm vụ năm 2023 (Báo cáo số 132/BC-BTP).

[2]. Nguyễn Văn Động (2014), Giáo trình Lý luận chung về Nhà nước và pháp luật, Nxb. Chính trị quốc gia.

[3]. Từ điển Luật học (2011), Nxb. Từ điển Bách khoa, Hà Nội.

[4]. Phạm Hồng Thái và Đinh Văn Mậu (2009), Giáo trình lý luận Nhà nước và Pháp luật, Nxb. Giao thông vận tải, Hà Nội.

[5]. Báo cáo số 132/BC-BTP.

[6]. Minh Khang (2022), Hậu “chính sách đặc thù”, https://baophapluat.vn/hau-chinh-sach-dac-thu-post430398.html, truy cập ngày 13/01/2022.

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 2 (Số 407), tháng 6/2024)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Định danh địa điểm: Bước chuyển quan trọng trong hiện thực hóa chủ trương quản trị hiện đại về đất đai

Định danh địa điểm: Bước chuyển quan trọng trong hiện thực hóa chủ trương quản trị hiện đại về đất đai

Ngày 19/8/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 326/2026/NĐ-CP quy định về định danh địa điểm, đánh dấu bước chuyển quan trọng trong việc thể chế hóa quan điểm, chủ trương của Đảng về chuyển đổi số quốc gia, hiện đại hóa quản lý đất đai, số hóa dữ liệu trên hệ thống quản lý của Nhà nước. Đây là bước đi mang tầm chiến lược, lấy dữ liệu làm nền tảng, người dân và doanh nghiệp làm trung tâm phục vụ. Nghị định số 326/2026/NĐ-CP gồm 04 chương với 18 điều, thiết lập một khung khổ pháp lý đồng bộ, toàn diện cho việc định danh các địa điểm cụ thể trên toàn lãnh thổ quốc gia. Nghị định đã chứa đựng nhiều điểm mới có tính đột phá về tư duy lập pháp và tư duy quản trị hiện đại.
Chăm lo sức khỏe và bảo đảm an sinh cho người dân Thủ đô

Chăm lo sức khỏe và bảo đảm an sinh cho người dân Thủ đô

Với định hướng xây dựng Thủ đô phát triển hiện đại, văn minh, có chất lượng sống ngày càng cao, Luật Thủ đô năm 2026 đã dành 01 điều riêng quy định về những cơ chế, chính sách trong lĩnh vực y tế và an sinh xã hội (Điều 17). Với các quy định tại Điều 17 của Luật đã tạo cơ sở pháp lý để Hà Nội chủ động hơn trong việc tổ chức các dịch vụ chăm sóc sức khỏe, hỗ trợ người dân và từng bước hoàn thiện mạng lưới an sinh xã hội theo hướng toàn diện, bền vững.
Cơ chế thí điểm chính sách mới: Không gian để Hà Nội kiểm nghiệm và hoàn thiện pháp luật

Cơ chế thí điểm chính sách mới: Không gian để Hà Nội kiểm nghiệm và hoàn thiện pháp luật

Luật Thủ đô năm 2026 dành một cơ chế riêng cho Hà Nội trong việc thí điểm các cơ chế, chính sách mới, qua đó tạo thêm không gian để thành phố chủ động xử lý những vấn đề phát sinh từ thực tiễn. Tuy nhiên, quyền thí điểm không phải là quyền "làm khác" không giới hạn, mà được đặt trong khuôn khổ pháp lý với những yêu cầu cụ thể về phạm vi, thời gian, đánh giá tác động, kiểm soát rủi ro và trách nhiệm của cơ quan thực hiện.
Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2026 được ban hành với nhiều điểm mới nhằm khắc phục những khó khăn, vướng mắc của Luật hiện hành; đổi mới hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật theo hướng lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm; bảo đảm quyền tiếp cận pháp luật, quyền tham gia góp ý, phản ánh, kiến nghị về chính sách, pháp luật; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo; đồng thời góp phần xây dựng văn hóa thượng tôn pháp luật và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chủ trương khởi nghiệp sáng tạo tại Việt Nam được Đảng và Nhà nước nhận thức, định hướng trong sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư khi nền sản xuất toàn cầu có sự kết hợp của các công nghệ hiện đại như trí tuệ nhân tạo, Internet of Things (IoT), robot tự động, dữ liệu lớn và nhiều công nghệ tiên tiến khác. Để thúc đẩy, tạo động lực cho cá nhân, tổ chức phát huy đam mê khởi nghiệp sáng tạo, tối đa hóa năng lực, nguồn lực, cống hiến trí tuệ cho sự phát triển chung của đất nước, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế- xã hội, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã từng bước đề ra chủ trương, chính sách pháp luật, chiến lược lâu dài nhằm kiến tạo hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo. Từ định hướng chiến lược tại Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân, đến việc thể chế hóa chủ trương của Đảng trong Luật Khoa học, Công nghệ và đổi mới sáng tạo năm 2025 và Chính phủ cụ thể hóa thông qua Nghị quyết số 86/NQ-CP ban hành Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo. Những chủ trương, chính sách đã góp phần thúc đẩy khởi nghiệp sáng tạo trong hệ thống kinh tế tư nhân trở thành một động lực phát triển quan trọng của đất nước trong kỷ nguyên số.
Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Tại Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI đã thông qua Luật Phát triển đô thị số 18/2026/QH16, Luật có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/10/2026. Luật được kết cấu gồm 05 chương, 66 điều quy định các cơ chế, chính sách nhằm tạo lập hành lang pháp lý ổn định, đồng bộ, đột phá và khả thi để thúc đẩy phát triển Thành phố Hồ Chí Minh, phát triển đô thị đặc biệt khác, thành phố khác và khu kinh tế đặc biệt; bảo đảm cơ sở pháp lý cho việc áp dụng các cơ chế, chính sách đặc thù, vượt trội phù hợp với điều kiện, yêu cầu phát triển và năng lực thực thi của từng địa phương; qua đó khai thác hiệu quả tiềm năng, lợi thế, tạo không gian phát triển mới, thu hút nguồn lực đầu tư chất lượng cao và hình thành các động lực tăng trưởng mới.
Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Trên cơ sở kế thừa những quy định của Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013 đã được thực tiễn chứng minh là phù hợp, Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026 đồng thời bổ sung nhiều quy định để tháo gỡ những vướng mắc, bất cập, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, tạo cơ sở pháp lý đầy đủ, đồng bộ cho công tác hòa giải ở cơ sở.
Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chuyển đổi số trong hoạt động ngân hàng đã làm thay đổi căn bản phương thức xác lập và thực hiện các hợp đồng, giao dịch. Nhiều giao dịch được thực hiện hoàn toàn trên môi trường điện tử thông qua Internet Banking, Mobile Banking, eKYC, chữ ký điện tử, xác thực OTP và các hệ thống ngân hàng lõi (Core Banking). Khi phát sinh tranh chấp, chứng cứ không chỉ là hồ sơ giấy mà còn là dữ liệu điện tử được lưu giữ trên các hệ thống thông tin của ngân hàng và của khách hàng. Mặc dù Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015) và Luật Giao dịch điện tử năm 2023 đã thiết lập cơ sở pháp lý quan trọng cho việc thừa nhận dữ liệu điện tử là nguồn chứng cứ. Tuy nhiên, việc xác định giá trị chứng minh của loại chứng cứ này vẫn còn nhiều khoảng trống cần tiếp tục hoàn thiện.
Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Ngày 25/6/2025, Quốc hội khóa XV đã thông qua Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 (Luật số 89/2025/QH15) đánh dấu bước quan trọng trong tư duy lập pháp, quản lý của Nhà nước đối với hệ thống ngân sách nhà nước, đáp ứng yêu cầu tổ chức mô hình chính quyền địa phương hai cấp trên phạm vi toàn quốc. Bài viết đề cập nội dung của Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 gắn với việc tổ chức mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, làm rõ những kết quả từ việc sửa đổi Luật phù hợp với thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội, tổ chức bộ máy hành chính hiện nay.
THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

Trong cấu trúc an ninh phi truyền thống hiện đại, an ninh năng lượng đóng vai trò là “mạch máu” sống còn, quyết định sức bền kinh tế và vị thế quốc gia. Bước vào giai đoạn 2026 - 2030, trước yêu cầu bứt phá tăng trưởng GDP ở mức hai con số gắn liền với cam kết lịch sử phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050, Việt Nam đứng trước bài toán vừa bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng trước biến động địa chính trị toàn cầu, vừa chủ động chuyển dịch năng lượng xanh theo chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước.
Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp, cải cách thủ tục hành chính tiếp tục được đẩy mạnh gắn với chuyển đổi số, phân cấp, phân quyền và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Kết quả thực hiện trong tháng 8/2026 cho thấy nhiều chuyển biến tích cực, đồng thời đặt ra yêu cầu tiếp tục đồng bộ dữ liệu, hoàn thiện quy trình và nâng cao hiệu quả phối hợp trong cải cách thủ tục hành chính.
Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp về tình hình, kết quả cải cách thủ tục hành chính (TTHC) tháng 8 và nhiệm vụ trọng tâm tháng 9/2026, cải cách TTHC đang chuyển sang một giai đoạn mới, trong đó dữ liệu và công nghệ số ngày càng giữ vai trò quan trọng trong quản trị và tổ chức thực hiện. Việc khai thác, kết nối, chia sẻ dữ liệu để tái cấu trúc quy trình, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục đang từng bước làm thay đổi phương thức quản lý, hướng tới nền hành chính hiện đại, hiệu quả, phục vụ tốt hơn người dân và doanh nghiệp.
Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bài viết phân tích yêu cầu tái cấu trúc phương thức bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong điều kiện tiếp tục tinh gọn tổ chức bộ máy và đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia. Từ cách tiếp cận hệ thống, bài viết làm rõ sự dịch chuyển từ bảo vệ bằng tuyên truyền tuyến tính sang bảo vệ bằng năng lực thể chế hóa, năng lực quản trị và hiệu quả tổ chức thực hiện; đồng thời phân tích vai trò của Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 66-NQ/TW) và Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 57-NQ/TW) như hai trục lớn của quá trình tái cấu trúc này. Trên cơ sở đó, bài viết khảo sát thực tiễn thi hành án dân sự, qua đó cho thấy “gọn hơn về tổ chức, mạnh hơn về quản trị” không chỉ là yêu cầu cải cách hành chính, mà còn là một phương thức củng cố niềm tin của Nhân dân vào hệ thống chính trị.
Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô số 02/2026/QH16 được Quốc hội khóa XVI thông qua ngày 23/4/2026, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026, thay thế Luật Thủ đô số 39/2024/QH15. Với 09 chương, 36 điều, Luật Thủ đô năm 2026 tiếp tục thể chế hóa chủ trương xây dựng Thủ đô Hà Nội trở thành trung tâm chính trị, hành chính quốc gia, trung tâm lớn về kinh tế, văn hóa, khoa học, giáo dục, đào tạo và đổi mới sáng tạo; đồng thời tạo dựng một không gian pháp lý mới với mức độ phân quyền, phân cấp và trao quyền mạnh mẽ hơn cho Thành phố.
THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả không chỉ là giảm bớt hóa đơn tiền điện, mà còn trở thành “chìa khóa” bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, bảo vệ môi trường và hướng tới tăng trưởng xanh. Đứng trước những biến động phức tạp của chuỗi cung ứng toàn cầu, sự ra đời của các văn bản chỉ đạo chiến lược như Chỉ thị số 09/CT-TTg, Chỉ thị số 10/CT-TTg và Công điện số 27/CĐ-TTg từ Chính phủ đang tạo ra những bước ngoặt lớn. Cuộc cách mạng này đòi hỏi sự đồng bộ từ hoàn thiện hành lang pháp lý, đổi mới công nghệ, đến sự thay đổi tư duy và hành động của mỗi người dân, doanh nghiệp.

Theo dõi chúng tôi trên: