Chủ nhật 20/09/2026 23:55
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Bất cập trong quy định của Luật Tố tụng hành chính năm 2015 về khiếu nại và một số kiến nghị hoàn thiện

Bài viết phân tích một số hạn chế, bất cập trong quy định của Luật Tố tụng hành chính năm 2015 về khiếu nại, giải quyết khiếu nại, từ đó, tác giả có một số đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật.

1. Khái quát quy định của Luật Tố tụng hành chính năm 2015 về khiếu nại, giải quyết khiếu nại

Thứ nhất, về đối tượng khiếu nại trong tố tụng hành chính: Theo Điều 28, Điều 327 Luật Tố tụng hành chính năm 2015, đối tượng khiếu nại bao gồm các quyết định, hành vi trong tố tụng hành chính (TTHC) của cơ quan, người tiến hành TTHC[1]. Các quyết định, hành vi tố tụng là đối tượng khiếu nại trong TTHC phải là các quyết định, hành vi được ban hành, thực hiện trong TTHC và cá nhân, cơ quan, tổ chức có căn cứ cho rằng chúng trái pháp luật, xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức.

Thứ hai, thời hiệu khiếu nại trong tố tụng hành chính: Điều 330 Luật Tố tụng hành chính năm 2015 quy định về thời hiệu khiếu nại lần đầu và Điều 335 quy định về thời hiệu khiếu nại lần hai. Thời hiệu khiếu nại lần đầu là 10 ngày kể từ ngày người khiếu nại nhận được hoặc biết được quyết định, hành vi tố tụng mà người đó cho rằng có vi phạm pháp luật. Thời hiệu khiếu nại lần hai là 05 ngày làm việc kể từ ngày người khiếu nại nhận được quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu hoặc kể từ ngày quá thời hạn giải quyết khiếu nại lần đầu mà khiếu nại không được giải quyết. Trường hợp có sự kiện bất khả kháng, trở ngại khách quan mà người khiếu nại không thực hiện được quyền khiếu nại theo đúng thời hạn quy định thì thời gian có sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan sẽ không tính vào thời hiệu khiếu nại.

Thứ ba, hình thức khiếu nại trong tố tụng hành chính: Theo Điều 331 Luật Tố tụng hành chính năm 2015, việc khiếu nại trong TTHC phải được thực hiện bằng văn bản với tên gọi là đơn khiếu nại. Đơn khiếu nại phải có các nội dung như sau: Ngày, tháng, năm khiếu nại; họ, tên, địa chỉ của người khiếu nại; nội dung, lý do khiếu nại, yêu cầu của người khiếu nại, có chữ ký hoặc điểm chỉ của người khiếu nại.

Thứ tư, thẩm quyền giải quyết khiếu nại, thời hạn giải quyết khiếu nại: Thẩm quyền giải quyết khiếu nại đối với quyết định, hành vi của người tiến hành tố tụng được quy định tại Điều 332 Luật Tố tụng hành chính năm 2015. Ví dụ: Đối với khiếu nại về quyết định tố tụng của thẩm phán Tòa án nhân dân cấp huyện thì sẽ do Chánh án Tòa án nhân dân cấp huyện có thẩm quyền giải quyết. Khiếu nại hành vi tố tụng của Chánh án Tòa án nhân dân cấp huyện sẽ do Chánh án Tòa án nhân dân cấp tỉnh giải quyết. Thời hạn giải quyết khiếu nại trong TTHC được quy định tại Điều 333 Luật Tố tụng hành chính năm 2015. Theo đó, thời hạn giải quyết khiếu nại là một khoảng thời gian cần thiết do Luật Tố tụng hành chính năm 2015 quy định đủ để các chủ thể có thẩm quyền giải quyết khiếu nại khi có các khiếu nại. Theo đó, thời hạn giải quyết khiếu nại lần đầu là 15 ngày kể từ ngày Tòa án, Viện kiểm sát nhận được khiếu nại. Trường hợp cần thiết, đối với vụ việc có tính chất phức tạp thì thời hạn giải quyết khiếu nại có thể được kéo dài nhưng không quá 15 ngày kể từ ngày hết thời hạn giải quyết khiếu nại.

Thứ năm, thủ tục giải quyết khiếu nại lần hai: Công tác giải quyết khiếu nại lần hai trong TTHC chỉ phát sinh khi có khiếu nại lần hai của người khiếu nại. Khi thực hiện khiếu nại lần hai, người khiếu nại phải tuân thủ về thủ tục, hình thức khiếu nại theo khoản 2 Điều 335 Luật Tố tụng hành chính năm 2015. Khi nhận được khiếu nại lần hai, các chủ thể có thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần hai phải có trách nhiệm tiếp nhận giải quyết. Quyết định giải quyết khiếu nại lần hai phải được gửi cho người khiếu nại, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan. Quyết định này có hiệu lực thi hành.

2. Một số hạn chế, bất cập trong quy định của Luật Tố tụng hành chính năm 2015 về khiếu nại, giải quyết khiếu nại và kiến nghị hoàn thiện

Theo báo cáo tổng kết của Tòa án nhân dân tối cao những năm gần đây, tình hình khiếu nại trong tư pháp nói chung và trong TTHC nói riêng có xu hướng ngày càng nhiều, thậm chí, có những khiếu nại mang tính phức tạp, kéo dài. Cụ thể, tổng số đơn khiếu nại trong tư pháp trên cả nước trong năm 2020 là 5.576 đơn khiếu nại, năm 2021 là 5.211 đơn khiếu nại, năm 2022 là 4.146 đơn khiếu nại, năm 2023 là 5.674 đơn khiếu nại[2]. Thực tế này cho thấy, việc khiếu nại, giải quyết khiếu nại trong tư pháp có tính thời sự rất cao, cần có sự chú trọng bảo đảm từ cả khía cạnh pháp luật lẫn thực tiễn áp dụng pháp luật. Nhìn chung, tình hình tiếp nhận, thụ lý giải quyết các khiếu nại trong tố tụng tại Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân trên cả nước đều bảo đảm được chất lượng, giải quyết kịp thời, đúng tiến độ, đáp ứng được kỳ vọng của nhân dân[3]. Tuy nhiên, dưới góc độ Luật Tố tụng hành chính năm 2015, một số quy định của đạo luật này về khiếu nại vẫn còn tồn tại hạn chế, bất cập, gây khó khăn, lúng túng cho các chủ thể thực thi và áp dụng pháp luật, cụ thể:

Thứ nhất, Luật Tố tụng hành chính năm 2015 và các văn bản pháp luật có liên quan chưa có điều khoản độc lập quy định rõ ràng về đối tượng khiếu nại.

Việc quy định rõ ràng, cụ thể về đối tượng được khiếu nại là nội dung cần được thể hiện trong chế định khiếu nại, tố cáo của Luật Tố tụng hành chính năm 2015 nhằm bảo đảm việc thực hiện quyền khiếu nại được đúng đắn, chính xác, hạn chế các trường hợp khiếu nại tràn lan, ảnh hưởng đến hoạt động giải quyết vụ án hành chính. Về phía người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại, việc minh định các đối tượng được khiếu nại trong TTHC cũng là cơ sở để họ tiến hành thụ lý và giải quyết khiếu nại được thống nhất, đúng luật, có hiệu quả. Tuy nhiên, Luật Tố tụng hành chính năm 2015 lại quy định về đối tượng khiếu nại ở mức chung chung, thiếu rõ ràng, gây khó khăn cho công tác thụ lý, giải quyết các khiếu nại. Bởi lẽ, Điều 327 Luật Tố tụng hành chính năm 2015 có mục đích quy định về đối tượng khiếu nại với tiêu đề “Quyết định, hành vi trong TTHC có thể bị khiếu nại” nhưng nội dung của điều khoản lại thiên về việc quy định quyền khiếu nại của cơ quan, tổ chức, cá nhân. Nghĩa là, tiêu đề và nội dung thể hiện tại Điều 327 Luật Tố tụng hành chính năm 2015 không tương thích với nhau. Mặt khác, cách thể hiện về đối tượng khiếu nại tại Luật Tố tụng hành chính năm 2015 là “cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng hành chính của cơ quan, người tiến hành tố tụng hành chính” cũng chưa rõ ràng. Theo đó, quyết định TTHC là quyết định bằng văn bản hay quyết định bằng miệng? Hành vi TTHC là hành vi hành động hay không hành động, được thực hiện trong phạm vi như thế nào? Các vấn đề này chưa được lý giải nên cũng gây khó khăn cho các chủ thể trong việc tiếp cận và áp dụng pháp luật vào những tình huống cụ thể, ở các khiếu nại cụ thể trong TTHC. Trong khi đó, cùng là đạo luật thủ tục, Bộ luật Tố tụng hình sự hiện hành lại có lối quy định khá tư duy mạch lạc về các đối tượng khiếu nại tại Điều 470[4].

Từ các phân tích trên đây và trên cơ sở tham chiếu quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2021 (Bộ luật Hình sự năm 2015) về đối tượng khiếu nại, tác giả đề xuất như sau:

- Cần thiết kế lại tiêu đề Điều 327 Luật Tố tụng hành chính năm 2015 để tương thích với nội dung của điều khoản là: “Người có quyền khiếu nại trong TTHC”. Đề xuất này bảo đảm sự logic trong tư duy lập pháp, góp phần minh thị quy định của pháp luật, bảo đảm tính khả thi, đồng bộ, khoa học trong việc thực thi và áp dụng pháp luật.

- Nối tiếp điều khoản quy định về người có quyền khiếu nại trong TTHC, Luật Tố tụng hành chính năm 2015 cần bổ sung điều luật trực tiếp quy định về đối tượng khiếu nại tương tự như Điều 470 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Theo đó, tiêu đề điều khoản này được thiết lập như sau: “Các quyết định, hành vi tố tụng có thể bị khiếu nại:

1. Quyết định tố tụng có thể bị khiếu nại là quyết định bằng văn bản của Chánh án, Phó Chánh án Tòa án nhân dân; thẩm phán; thẩm tra viên; Hội thẩm nhân dân; Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân; kiểm sát viên; kiểm tra viên theo quy định của Luật Tố tụng hành chính.

2. Hành vi tố tụng có thể bị khiếu nại là hành vi hành động hoặc không hành động trong hoạt động tố tụng của Chánh án, Phó Chánh án Tòa án nhân dân; thẩm phán; thẩm tra viên; Hội thẩm nhân dân; Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân; kiểm sát viên; kiểm tra viên theo quy định của Luật Tố tụng hành chính”.

Thứ hai, Luật Tố tụng hành chính hiện hành chưa có điều khoản đề cập về thời hạn giải quyết khiếu nại lần hai.

Bên cạnh những thành công nhất định, pháp luật TTHC lại chưa có điều khoản quy định về thời hạn giải quyết khiếu nại lần hai, trong khi thực tế, Luật Tố tụng hành chính năm 2015 lại có điều khoản quy định về thời hạn giải quyết khiếu nại lần đầu tại Điều 333 và quy định về trình tự, thủ tục giải quyết khiếu nại lần hai tại Điều 335. Hạn chế này có thể dẫn đến tình trạng kéo dài thời gian giải quyết khiếu nại lần hai theo ý muốn chủ quan của người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại, không bảo đảm đúng tiến độ của công tác giải quyết khiếu nại. Luật Tố tụng hành chính năm 2010 lại đề cập trực tiếp về thời hạn giải quyết khiếu nại lần hai là 15 ngày, kể từ ngày nhận được khiếu nại lần hai. Do vậy, việc Luật Tố tụng hành chính năm 2015 không đề cập đến thời hạn giải quyết khiếu nại lần hai là thiếu sót cần lưu ý. Hệ quả của hạn chế này không chỉ ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của người khiếu nại mà còn tạo lỗ hổng không đủ chặt chẽ để giám sát công tác giải quyết khiếu nại trên thực tế.

Về giải pháp khắc phục, tác giả cho rằng, Luật Tố tụng hành chính năm 2015 khi được sửa đổi trong thời gian tới cần bổ sung quy định về thời hạn giải quyết khiếu nại lần hai. Theo đó, khi xác định thời hạn giải quyết khiếu nại lần hai, các nhà làm luật cần phải suy xét đến nhiều yếu tố để quy định thời hạn giải quyết khiếu nại lần hai không được ngắn quá và cũng không dài quá, quan trọng nhất phải bảo đảm được tiến độ giải quyết VAHC, chất lượng của việc giải quyết khiếu nại lần hai và đặc biệt bảo đảm được quyền và lợi ích của người khiếu nại, người bị khiếu nại trong TTHC. Trên tinh thần này, có quan điểm cho rằng, nên quy định thời hạn giải quyết khiếu nại lần hai là 10 ngày kể từ ngày nhận được khiếu nại lần hai[5]. Tuy nhiên, tác giả cho rằng, cần kế thừa lại tinh thần của Luật Tố tụng hành chính năm 2010, quy định thời hạn giải quyết khiếu nại lần hai trong TTHC là 15 ngày nhận được khiếu nại lần hai, thời gian này là cần thiết, giúp người giải quyết khiếu nại có đủ thời gian để thẩm định, xem xét nội dung khiếu nại cho chính xác và chất lượng, đồng thời ở mặt lập pháp cũng có sự tương thích với quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Theo đó, điều khoản quy định như sau: “Thời hạn giải quyết khiếu nại lần hai là 15 ngày kể từ ngày Tòa án, Viện kiểm sát nhận được đơn khiếu nại lần hai. Trường hợp cần thiết, đối với vụ việc có tính chất phức tạp thì thời hạn giải quyết khiếu nại có thể kéo dài nhưng không quá 15 ngày kể từ ngày hết thời hạn giải quyết khiếu nại lần hai”.

Thứ ba, Luật Tố tụng hành chính năm 2015 quy định về thẩm quyền giải quyết khiếu nại trong tố tụng hành chính chưa toàn diện.

Điều 332 Luật Tố tụng hành chính năm 2015 quy định về thẩm quyền giải quyết khiếu nại theo sự phân định nhân sự của Tòa án và Viện kiểm sát. Trong đó, đối với khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của Chánh án Tòa án thì do Chánh án Tòa án trên một cấp trực tiếp giải quyết, của Viện trưởng Viện kiểm sát do Viện trưởng Viện kiểm sát trên một cấp trực tiếp giải quyết. Khiếu nại về quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu của Chánh án, Viện trưởng Viện kiểm sát do Chánh án Tòa án nhân dân, Viện trưởng Viện kiểm sát trên một cấp trực tiếp giải quyết. Về cơ bản, cách quy định này khá phù hợp với cơ cấu tổ chức, quản lý lãnh đạo của Tòa án, Viện kiểm sát, bảo đảm sự phối hợp giám sát chặt chẽ giữa cấp trên và cấp dưới, nâng cao được tính khách quan, minh bạch trong quá trình xem xét khiếu nại. Tuy nhiên, quan sát kỹ quy định trên, tác giả nhận thấy, điều khoản còn chưa rõ ràng.

Theo quy định của Luật Tố tụng hành chính năm 2015, các khiếu nại về quyết định, hành vi tố tụng của Chánh án, Viện trưởng Viện kiểm sát sẽ do Chánh án, Viện trưởng trên một cấp trực tiếp giải quyết. Vậy, trong trường hợp các cá nhân, cơ quan, tổ chức khiếu nại lần đầu về quyết định, hành vi tố tụng của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao sẽ do chủ thể nào có thẩm quyền giải quyết? Bởi vì, trong hệ thống Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao là chủ thể nắm giữ vị trí cao nhất nên nếu vận dụng quy định trên tại Điều 332 Luật Tố tụng hành chính năm 2015 thì các khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao sẽ không xác định được chủ thể có thẩm quyền giải quyết khiếu nại. Tương tự như vậy, khoản 3 Điều 332 Luật Tố tụng hành chính năm 2015 cũng không thể được áp dụng để xác định chủ thể có thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần hai đối với các khiếu nại về quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao. Do đó, vì không có luật điều chỉnh nên trên thực tế hiện nay, tất cả các khiếu nại về quyết định, hành vi tố tụng của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao do chính Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao trực tiếp giải quyết. Cách xử lý này, thực tế không trái luật song chỉ mang tính chất tạm thời, chưa bảo đảm được tính khách quan, minh bạch, công bằng trong quá trình tiếp nhận giải quyết các khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cán bộ chủ chốt, quyền lực nhất trong hệ thống Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân. Thiết nghĩ cần phải có một quy định mang tính đột phá, khả thi hơn từ pháp luật TTHC.

Về giải pháp hoàn thiện, tác giả cho rằng, Luật Tố tụng hành chính năm 2015 cần bổ sung quy định về thẩm quyền giải quyết khiếu nại đối với quyết định, hành vi tố tụng của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao như sau:

“1. Khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao do Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao giải quyết.

2. Khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao do Ủy ban kiểm sát Viện kiểm sát nhân dân tối cao giải quyết”.

Thứ tư, Luật Tố tụng hành chính năm 2015 chưa quy định về cách thức xử lý khi người khiếu nại rút khiếu nại trong tố tụng hành chính.

Theo quy định tại Điều 327 Luật Tố tụng hành chính năm 2015, khi nhận thấy các quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người tiến hành TTHC có dấu hiệu trái pháp luật, xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của mình, cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền khiếu nại các quyết định, hành vi tố tụng đó. Do vậy, việc khiếu nại thường xuất phát từ nhận thức chủ quan của người khiếu nại, nội dung khiếu nại có thể chính xác hoặc chưa chính xác. Nếu người khiếu nại nhận thấy khiếu nại của mình là chưa chính xác, thiếu căn cứ hoặc quyền và lợi ích của mình không bị xâm phạm đáng kể thì người khiếu nại có quyền “rút khiếu nại trong bất kỳ giai đoạn nào của quá trình giải quyết khiếu nại”. Đây là quy định rất quan trọng, không những bảo đảm ý chí tự định đoạt của người khiếu nại mà còn tạo điều kiện để tranh chấp được giải quyết nhanh chóng. Tuy nhiên, hiện nay, Luật Tố tụng hành chính năm 2015 lại không quy định cơ chế để các chủ thể có thẩm quyền giải quyết khiếu nại xử lý trong trường hợp người khiếu nại rút khiếu nại. Do vậy, trên thực tiễn giải quyết khiếu nại tại các Tòa án, khi người khiếu nại rút khiếu nại, các chủ thể có thẩm quyền giải quyết khiếu nại thường xử lý theo ba hướng: (i) Người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại sẽ ra quyết định đình chỉ giải quyết khiếu nại; (ii) Người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại sẽ trả lại đơn khiếu nại và chấm dứt không giải quyết khiếu nại; (iii) Người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại sẽ ra quyết định với tiêu đề không xem xét, giải quyết khiếu nại.

Như vậy, về cùng một tình huống người khiếu nại rút khiếu nại mà thực tiễn tồn tại ba cách xử lý không thống nhất với nhau. Để làm rõ nội dung này, tác giả dẫn chứng hai vụ việc khiếu nại tại Tòa án nhân dân TP. HCM như sau:

Vụ việc thứ nhất: Ngày 14/4/2021, bà Hoàng Thị Hải L, địa chỉ tổ 10, khu phố 4, phường TCH, quận 12, TP. HCM có đơn khiếu nại đến Tòa án nhân dân TP. HCM về việc thẩm phán không khách quan trong quá trình giải quyết vụ án số 33/TB-TLVA ngày 22/01/2018. Tuy nhiên, đến ngày 21/4/2021, bà L đã rút đơn khiếu nại. Ngày 26/4/2021, Chánh án Tòa án nhân dân TP. HCM ra quyết định không xem xét, giải quyết yêu cầu khiếu nại của bà L[6].

Vụ việc thứ hai: Ngày 27/5/2021, ông Lê Doãn T, địa chỉ số 451/1A, phường 2, quận BT, TP. HCM có đơn khiếu nại lần 2 đến Tòa án nhân dân TP. HCM về việc chậm giải quyết vụ án hành chính theo Thông báo số 170/TB-TLVA ngày 26/5/2020. Tuy nhiên, đến ngày 25/6/2021, ông T đã rút đơn khiếu nại. Ngày 05/7/2021, Chánh án Tòa án nhân dân TP. HCM ra thông báo trả lại đơn khiếu nại của ông T[7].

Từ các phân tích, minh chứng nêu trên cho thấy tính chưa toàn diện của pháp luật TTHC, chưa bảo đảm được sự thống nhất, đồng bộ khi xử lý trường hợp người khiếu nại rút khiếu nại. Hạn chế này cần thiết được nghiên cứu và bổ sung.

Theo nghiên cứu của tác giả, hầu như các chuyên ngành luật khác đã có quy định về hướng giải quyết khi người khiếu nại rút đơn khiếu nại. Chẳng hạn[8]:

Trong pháp luật tố tụng hình sự, tại điểm g khoản 1 Điều 7 Thông tư liên tịch số 02/2018/TTLT-VKSTC-TATC-BCA-BQP-BTC-BNN&PTNT ngày 05/9/2018 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao, Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Bộ Tài chính, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn quy định việc phối hợp thi hành một số quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự về khiếu nại, tố cáo đề cập: “... Trường hợp người khiếu nại rút khiếu nại thì ban hành quyết định đình chỉ việc giải quyết khiếu nại”.

Trong pháp luật tố tụng dân sự, tại khoản 1 Điều 10 Thông tư số 13/2021/TT-BTP ngày 30/12/2021 của Bộ Tư pháp quy định quy trình xử lý, giải quyết đơn khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh trong thi hành án dân sự quy định quy trình xử lý, giải quyết đơn khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh trong thi hành án dân sự đề cập: “Trường hợp người khiếu nại rút một phần hoặc toàn bộ khiếu nại thì trong thời hạn 05 ngày kể từ ngày nhận được yêu cầu rút khiếu nại, người giải quyết khiếu nại đình chỉ giải quyết đối với nội dung khiếu nại đã rút và thông báo cho người khiếu nại biết. Việc rút khiếu nại phải được thể hiện bằng văn bản. Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày có thông báo đình chỉ mà người khiếu nại có đơn khiếu nại trở lại thì người có thẩm quyền thụ lý và giải quyết khiếu nại theo quy định. Trường hợp người khiếu nại rút khiếu nại mà khiếu nại chưa được thụ lý giải quyết thì người có thẩm quyền không xem xét giải quyết nội dung khiếu nại đã rút, thông báo cho người khiếu nại biết và lưu đơn”.

Nhìn chung, pháp luật các chuyên ngành luật khác đã dự liệu về trường hợp người khiếu nại rút đơn khiếu nại và từ đó, đưa ra hướng giải quyết khá chi tiết, cụ thể. Trên cơ sở tham chiếu các quy định trên và dựa vào thực tiễn thực thi pháp luật, tác giả đề xuất hướng giải quyết khi người khiếu nại rút đơn khiếu nại trong tố tụng hành chính như sau:

“Trường hợp người khiếu nại rút một phần hoặc toàn bộ khiếu nại thì trong thời hạn 05 ngày kể từ ngày nhận được yêu cầu rút khiếu nại, người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại đình chỉ giải quyết đối với nội dung khiếu nại đã rút và thông báo cho người khiếu nại biết.

Trường hợp người khiếu nại rút khiếu nại mà khiếu nại chưa được thụ lý giải quyết thì người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại ra thông báo trả lại đơn khiếu nại”./.

ThS. Lê Thị Mơ

Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh

[1]. Theo quy định tại Điều 36 Luật Tố tụng hành chính năm 2015, Cơ quan tiến hành TTHC là Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân; người tiến hành TTHC là Chánh án, thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, thẩm tra viên, Thư ký Tòa án, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân, kiểm sát viên, kiểm tra viên.

[2]. Báo cáo tổng kết của Tòa án nhân dân tối cao các năm 2020, 2021, 2022, 2023.

[3]. Báo cáo tóm tắt thẩm tra các báo cáo công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo của Ngành Tòa án nhân dân, Ngành Kiểm sát nhân dân năm 2022, tr. 6 - 7.

[4]. Điều 470 Bộ Luật Tố tụng hình sự quy định về các quyết định, hành vi tố tụng có thể bị khiếu nại. Trong đó, quyết định tố tụng có thể bị khiếu nại là các quyết định của Thủ trưởng, Phó Thủ Trưởng cơ quan điều tra, điều tra viên, Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân, kiểm sát viên, Chánh án, Phó Chánh án Tòa án, thẩm phán, người có thẩm quyền tiến hành một số hoạt động điều tra được ban hành theo quy định của Bộ Luật này...

[5]. Nguyễn Thị Hồng Hương (2023), Khiếu nại trong tố tụng hành chính ở Việt Nam, Luận văn tốt nghiệp, Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh, tr. 66.

[6]. Tòa án nhân dân TP. Hồ Chí Minh (2021), Thống kê số lượng văn thư khiếu nại của Tòa Hành chính.

[7]. Tòa án nhân dân TP. Hồ Chí Minh (2021), Thống kê số lượng văn thư khiếu nại của Tòa Hành chính.

[8]. Nguyễn Thị Hồng Hương (2023), Khiếu nại trong tố tụng hành chính Việt Nam, Luận văn tốt nghiệp, Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh, tr. 70.

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 1 (Số 404), tháng 5/2024)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2026 được ban hành với nhiều điểm mới nhằm khắc phục những khó khăn, vướng mắc của Luật hiện hành; đổi mới hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật theo hướng lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm; bảo đảm quyền tiếp cận pháp luật, quyền tham gia góp ý, phản ánh, kiến nghị về chính sách, pháp luật; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo; đồng thời góp phần xây dựng văn hóa thượng tôn pháp luật và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chủ trương khởi nghiệp sáng tạo tại Việt Nam được Đảng và Nhà nước nhận thức, định hướng trong sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư khi nền sản xuất toàn cầu có sự kết hợp của các công nghệ hiện đại như trí tuệ nhân tạo, Internet of Things (IoT), robot tự động, dữ liệu lớn và nhiều công nghệ tiên tiến khác. Để thúc đẩy, tạo động lực cho cá nhân, tổ chức phát huy đam mê khởi nghiệp sáng tạo, tối đa hóa năng lực, nguồn lực, cống hiến trí tuệ cho sự phát triển chung của đất nước, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế- xã hội, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã từng bước đề ra chủ trương, chính sách pháp luật, chiến lược lâu dài nhằm kiến tạo hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo. Từ định hướng chiến lược tại Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân, đến việc thể chế hóa chủ trương của Đảng trong Luật Khoa học, Công nghệ và đổi mới sáng tạo năm 2025 và Chính phủ cụ thể hóa thông qua Nghị quyết số 86/NQ-CP ban hành Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo. Những chủ trương, chính sách đã góp phần thúc đẩy khởi nghiệp sáng tạo trong hệ thống kinh tế tư nhân trở thành một động lực phát triển quan trọng của đất nước trong kỷ nguyên số.
Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô số 02/2026/QH16 được Quốc hội khóa XVI thông qua ngày 23/4/2026, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026, thay thế Luật Thủ đô số 39/2024/QH15. Với 09 chương, 36 điều, Luật Thủ đô năm 2026 tiếp tục thể chế hóa chủ trương xây dựng Thủ đô Hà Nội trở thành trung tâm chính trị, hành chính quốc gia, trung tâm lớn về kinh tế, văn hóa, khoa học, giáo dục, đào tạo và đổi mới sáng tạo; đồng thời tạo dựng một không gian pháp lý mới với mức độ phân quyền, phân cấp và trao quyền mạnh mẽ hơn cho Thành phố.
Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Tại Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI đã thông qua Luật Phát triển đô thị số 18/2026/QH16, Luật có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/10/2026. Luật được kết cấu gồm 05 chương, 66 điều quy định các cơ chế, chính sách nhằm tạo lập hành lang pháp lý ổn định, đồng bộ, đột phá và khả thi để thúc đẩy phát triển Thành phố Hồ Chí Minh, phát triển đô thị đặc biệt khác, thành phố khác và khu kinh tế đặc biệt; bảo đảm cơ sở pháp lý cho việc áp dụng các cơ chế, chính sách đặc thù, vượt trội phù hợp với điều kiện, yêu cầu phát triển và năng lực thực thi của từng địa phương; qua đó khai thác hiệu quả tiềm năng, lợi thế, tạo không gian phát triển mới, thu hút nguồn lực đầu tư chất lượng cao và hình thành các động lực tăng trưởng mới.
Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Trên cơ sở kế thừa những quy định của Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013 đã được thực tiễn chứng minh là phù hợp, Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026 đồng thời bổ sung nhiều quy định để tháo gỡ những vướng mắc, bất cập, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, tạo cơ sở pháp lý đầy đủ, đồng bộ cho công tác hòa giải ở cơ sở.
Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chuyển đổi số trong hoạt động ngân hàng đã làm thay đổi căn bản phương thức xác lập và thực hiện các hợp đồng, giao dịch. Nhiều giao dịch được thực hiện hoàn toàn trên môi trường điện tử thông qua Internet Banking, Mobile Banking, eKYC, chữ ký điện tử, xác thực OTP và các hệ thống ngân hàng lõi (Core Banking). Khi phát sinh tranh chấp, chứng cứ không chỉ là hồ sơ giấy mà còn là dữ liệu điện tử được lưu giữ trên các hệ thống thông tin của ngân hàng và của khách hàng. Mặc dù Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015) và Luật Giao dịch điện tử năm 2023 đã thiết lập cơ sở pháp lý quan trọng cho việc thừa nhận dữ liệu điện tử là nguồn chứng cứ. Tuy nhiên, việc xác định giá trị chứng minh của loại chứng cứ này vẫn còn nhiều khoảng trống cần tiếp tục hoàn thiện.
Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Ngày 25/6/2025, Quốc hội khóa XV đã thông qua Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 (Luật số 89/2025/QH15) đánh dấu bước quan trọng trong tư duy lập pháp, quản lý của Nhà nước đối với hệ thống ngân sách nhà nước, đáp ứng yêu cầu tổ chức mô hình chính quyền địa phương hai cấp trên phạm vi toàn quốc. Bài viết đề cập nội dung của Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 gắn với việc tổ chức mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, làm rõ những kết quả từ việc sửa đổi Luật phù hợp với thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội, tổ chức bộ máy hành chính hiện nay.
THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

Trong cấu trúc an ninh phi truyền thống hiện đại, an ninh năng lượng đóng vai trò là “mạch máu” sống còn, quyết định sức bền kinh tế và vị thế quốc gia. Bước vào giai đoạn 2026 - 2030, trước yêu cầu bứt phá tăng trưởng GDP ở mức hai con số gắn liền với cam kết lịch sử phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050, Việt Nam đứng trước bài toán vừa bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng trước biến động địa chính trị toàn cầu, vừa chủ động chuyển dịch năng lượng xanh theo chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước.
Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp, cải cách thủ tục hành chính tiếp tục được đẩy mạnh gắn với chuyển đổi số, phân cấp, phân quyền và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Kết quả thực hiện trong tháng 8/2026 cho thấy nhiều chuyển biến tích cực, đồng thời đặt ra yêu cầu tiếp tục đồng bộ dữ liệu, hoàn thiện quy trình và nâng cao hiệu quả phối hợp trong cải cách thủ tục hành chính.
Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp về tình hình, kết quả cải cách thủ tục hành chính (TTHC) tháng 8 và nhiệm vụ trọng tâm tháng 9/2026, cải cách TTHC đang chuyển sang một giai đoạn mới, trong đó dữ liệu và công nghệ số ngày càng giữ vai trò quan trọng trong quản trị và tổ chức thực hiện. Việc khai thác, kết nối, chia sẻ dữ liệu để tái cấu trúc quy trình, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục đang từng bước làm thay đổi phương thức quản lý, hướng tới nền hành chính hiện đại, hiệu quả, phục vụ tốt hơn người dân và doanh nghiệp.
Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bài viết phân tích yêu cầu tái cấu trúc phương thức bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong điều kiện tiếp tục tinh gọn tổ chức bộ máy và đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia. Từ cách tiếp cận hệ thống, bài viết làm rõ sự dịch chuyển từ bảo vệ bằng tuyên truyền tuyến tính sang bảo vệ bằng năng lực thể chế hóa, năng lực quản trị và hiệu quả tổ chức thực hiện; đồng thời phân tích vai trò của Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 66-NQ/TW) và Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 57-NQ/TW) như hai trục lớn của quá trình tái cấu trúc này. Trên cơ sở đó, bài viết khảo sát thực tiễn thi hành án dân sự, qua đó cho thấy “gọn hơn về tổ chức, mạnh hơn về quản trị” không chỉ là yêu cầu cải cách hành chính, mà còn là một phương thức củng cố niềm tin của Nhân dân vào hệ thống chính trị.
THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả không chỉ là giảm bớt hóa đơn tiền điện, mà còn trở thành “chìa khóa” bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, bảo vệ môi trường và hướng tới tăng trưởng xanh. Đứng trước những biến động phức tạp của chuỗi cung ứng toàn cầu, sự ra đời của các văn bản chỉ đạo chiến lược như Chỉ thị số 09/CT-TTg, Chỉ thị số 10/CT-TTg và Công điện số 27/CĐ-TTg từ Chính phủ đang tạo ra những bước ngoặt lớn. Cuộc cách mạng này đòi hỏi sự đồng bộ từ hoàn thiện hành lang pháp lý, đổi mới công nghệ, đến sự thay đổi tư duy và hành động của mỗi người dân, doanh nghiệp.
“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 2)

“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 2)

Du lịch xanh, du lịch bền vững đã trở thành xu hướng phổ biến tại Việt Nam, nhưng để tiến tới mục tiêu "du lịch Net Zero", ngành Du lịch cần có nhiều thay đổi theo chiều sâu: từ việc xây dựng những sản phẩm xanh sang xây dựng những doanh nghiệp lữ hành thực sự bền vững. Đây là cả một quá trình bởi phát triển "du lịch Net Zero" không chỉ liên quan đến môi trường mà còn đòi hỏi sự thay đổi đồng bộ về mô hình kinh doanh, sản phẩm, công nghệ, nhân lực, quan hệ với cộng đồng và cách thức ứng xử với các giá trị văn hóa.
“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 1)

“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 1)

Du lịch Việt Nam đang đứng trước một giai đoạn phát triển mới, trong đó yêu cầu tăng trưởng không thể tách rời nhiệm vụ bảo tồn và phát huy những giá trị làm nên bản sắc dân tộc. Nếu thiên nhiên tạo nên diện mạo của đất nước thì văn hóa chính là chiều sâu, là ký ức, là “hồn cốt” để Việt Nam trở thành một điểm đến khác biệt trong mắt du khách trong nước và quốc tế. Bởi vậy, phát triển du lịch hôm nay không chỉ là câu chuyện về lượng khách, doanh thu hay số lượng cơ sở lưu trú, mà còn là câu chuyện về cách gìn giữ di sản, bảo vệ cảnh quan, duy trì lối sống cộng đồng và trao truyền những giá trị văn hóa Việt Nam cho các thế hệ mai sau. Trong câu chuyện đó, doanh nghiệp lữ hành đóng vai trò trung tâm, là “cầu nối” đưa văn hoá Việt Nam đến với du khách.
Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Trong bối cảnh tai nạn lao động vẫn diễn biến phức tạp, chuyển đổi số đang mở ra khả năng thay đổi căn bản phương thức quản trị an toàn, vệ sinh lao động (ATVSLĐ) tại doanh nghiệp. Từ số hóa hoạt động huấn luyện, cấp chứng nhận điện tử đến ứng dụng trí tuệ nhân tạo, cảm biến và robot để nhận diện, cảnh báo sớm nguy cơ, vấn đề đặt ra hiện nay là cần tiếp tục hoàn thiện hành lang pháp lý để chuyển từ quản lý mang tính thủ tục, hậu kiểm sang quản trị chủ động, lấy phòng ngừa rủi ro làm trọng tâm.

Theo dõi chúng tôi trên: