Thứ năm 11/12/2025 13:04
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Bất cập trong quy định của Luật Tố tụng hành chính năm 2015 về khiếu nại và một số kiến nghị hoàn thiện

Bài viết phân tích một số hạn chế, bất cập trong quy định của Luật Tố tụng hành chính năm 2015 về khiếu nại, giải quyết khiếu nại, từ đó, tác giả có một số đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật.

1. Khái quát quy định của Luật Tố tụng hành chính năm 2015 về khiếu nại, giải quyết khiếu nại

Thứ nhất, về đối tượng khiếu nại trong tố tụng hành chính: Theo Điều 28, Điều 327 Luật Tố tụng hành chính năm 2015, đối tượng khiếu nại bao gồm các quyết định, hành vi trong tố tụng hành chính (TTHC) của cơ quan, người tiến hành TTHC[1]. Các quyết định, hành vi tố tụng là đối tượng khiếu nại trong TTHC phải là các quyết định, hành vi được ban hành, thực hiện trong TTHC và cá nhân, cơ quan, tổ chức có căn cứ cho rằng chúng trái pháp luật, xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức.

Thứ hai, thời hiệu khiếu nại trong tố tụng hành chính: Điều 330 Luật Tố tụng hành chính năm 2015 quy định về thời hiệu khiếu nại lần đầu và Điều 335 quy định về thời hiệu khiếu nại lần hai. Thời hiệu khiếu nại lần đầu là 10 ngày kể từ ngày người khiếu nại nhận được hoặc biết được quyết định, hành vi tố tụng mà người đó cho rằng có vi phạm pháp luật. Thời hiệu khiếu nại lần hai là 05 ngày làm việc kể từ ngày người khiếu nại nhận được quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu hoặc kể từ ngày quá thời hạn giải quyết khiếu nại lần đầu mà khiếu nại không được giải quyết. Trường hợp có sự kiện bất khả kháng, trở ngại khách quan mà người khiếu nại không thực hiện được quyền khiếu nại theo đúng thời hạn quy định thì thời gian có sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan sẽ không tính vào thời hiệu khiếu nại.

Thứ ba, hình thức khiếu nại trong tố tụng hành chính: Theo Điều 331 Luật Tố tụng hành chính năm 2015, việc khiếu nại trong TTHC phải được thực hiện bằng văn bản với tên gọi là đơn khiếu nại. Đơn khiếu nại phải có các nội dung như sau: Ngày, tháng, năm khiếu nại; họ, tên, địa chỉ của người khiếu nại; nội dung, lý do khiếu nại, yêu cầu của người khiếu nại, có chữ ký hoặc điểm chỉ của người khiếu nại.

Thứ tư, thẩm quyền giải quyết khiếu nại, thời hạn giải quyết khiếu nại: Thẩm quyền giải quyết khiếu nại đối với quyết định, hành vi của người tiến hành tố tụng được quy định tại Điều 332 Luật Tố tụng hành chính năm 2015. Ví dụ: Đối với khiếu nại về quyết định tố tụng của thẩm phán Tòa án nhân dân cấp huyện thì sẽ do Chánh án Tòa án nhân dân cấp huyện có thẩm quyền giải quyết. Khiếu nại hành vi tố tụng của Chánh án Tòa án nhân dân cấp huyện sẽ do Chánh án Tòa án nhân dân cấp tỉnh giải quyết. Thời hạn giải quyết khiếu nại trong TTHC được quy định tại Điều 333 Luật Tố tụng hành chính năm 2015. Theo đó, thời hạn giải quyết khiếu nại là một khoảng thời gian cần thiết do Luật Tố tụng hành chính năm 2015 quy định đủ để các chủ thể có thẩm quyền giải quyết khiếu nại khi có các khiếu nại. Theo đó, thời hạn giải quyết khiếu nại lần đầu là 15 ngày kể từ ngày Tòa án, Viện kiểm sát nhận được khiếu nại. Trường hợp cần thiết, đối với vụ việc có tính chất phức tạp thì thời hạn giải quyết khiếu nại có thể được kéo dài nhưng không quá 15 ngày kể từ ngày hết thời hạn giải quyết khiếu nại.

Thứ năm, thủ tục giải quyết khiếu nại lần hai: Công tác giải quyết khiếu nại lần hai trong TTHC chỉ phát sinh khi có khiếu nại lần hai của người khiếu nại. Khi thực hiện khiếu nại lần hai, người khiếu nại phải tuân thủ về thủ tục, hình thức khiếu nại theo khoản 2 Điều 335 Luật Tố tụng hành chính năm 2015. Khi nhận được khiếu nại lần hai, các chủ thể có thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần hai phải có trách nhiệm tiếp nhận giải quyết. Quyết định giải quyết khiếu nại lần hai phải được gửi cho người khiếu nại, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan. Quyết định này có hiệu lực thi hành.

2. Một số hạn chế, bất cập trong quy định của Luật Tố tụng hành chính năm 2015 về khiếu nại, giải quyết khiếu nại và kiến nghị hoàn thiện

Theo báo cáo tổng kết của Tòa án nhân dân tối cao những năm gần đây, tình hình khiếu nại trong tư pháp nói chung và trong TTHC nói riêng có xu hướng ngày càng nhiều, thậm chí, có những khiếu nại mang tính phức tạp, kéo dài. Cụ thể, tổng số đơn khiếu nại trong tư pháp trên cả nước trong năm 2020 là 5.576 đơn khiếu nại, năm 2021 là 5.211 đơn khiếu nại, năm 2022 là 4.146 đơn khiếu nại, năm 2023 là 5.674 đơn khiếu nại[2]. Thực tế này cho thấy, việc khiếu nại, giải quyết khiếu nại trong tư pháp có tính thời sự rất cao, cần có sự chú trọng bảo đảm từ cả khía cạnh pháp luật lẫn thực tiễn áp dụng pháp luật. Nhìn chung, tình hình tiếp nhận, thụ lý giải quyết các khiếu nại trong tố tụng tại Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân trên cả nước đều bảo đảm được chất lượng, giải quyết kịp thời, đúng tiến độ, đáp ứng được kỳ vọng của nhân dân[3]. Tuy nhiên, dưới góc độ Luật Tố tụng hành chính năm 2015, một số quy định của đạo luật này về khiếu nại vẫn còn tồn tại hạn chế, bất cập, gây khó khăn, lúng túng cho các chủ thể thực thi và áp dụng pháp luật, cụ thể:

Thứ nhất, Luật Tố tụng hành chính năm 2015 và các văn bản pháp luật có liên quan chưa có điều khoản độc lập quy định rõ ràng về đối tượng khiếu nại.

Việc quy định rõ ràng, cụ thể về đối tượng được khiếu nại là nội dung cần được thể hiện trong chế định khiếu nại, tố cáo của Luật Tố tụng hành chính năm 2015 nhằm bảo đảm việc thực hiện quyền khiếu nại được đúng đắn, chính xác, hạn chế các trường hợp khiếu nại tràn lan, ảnh hưởng đến hoạt động giải quyết vụ án hành chính. Về phía người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại, việc minh định các đối tượng được khiếu nại trong TTHC cũng là cơ sở để họ tiến hành thụ lý và giải quyết khiếu nại được thống nhất, đúng luật, có hiệu quả. Tuy nhiên, Luật Tố tụng hành chính năm 2015 lại quy định về đối tượng khiếu nại ở mức chung chung, thiếu rõ ràng, gây khó khăn cho công tác thụ lý, giải quyết các khiếu nại. Bởi lẽ, Điều 327 Luật Tố tụng hành chính năm 2015 có mục đích quy định về đối tượng khiếu nại với tiêu đề “Quyết định, hành vi trong TTHC có thể bị khiếu nại” nhưng nội dung của điều khoản lại thiên về việc quy định quyền khiếu nại của cơ quan, tổ chức, cá nhân. Nghĩa là, tiêu đề và nội dung thể hiện tại Điều 327 Luật Tố tụng hành chính năm 2015 không tương thích với nhau. Mặt khác, cách thể hiện về đối tượng khiếu nại tại Luật Tố tụng hành chính năm 2015 là “cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng hành chính của cơ quan, người tiến hành tố tụng hành chính” cũng chưa rõ ràng. Theo đó, quyết định TTHC là quyết định bằng văn bản hay quyết định bằng miệng? Hành vi TTHC là hành vi hành động hay không hành động, được thực hiện trong phạm vi như thế nào? Các vấn đề này chưa được lý giải nên cũng gây khó khăn cho các chủ thể trong việc tiếp cận và áp dụng pháp luật vào những tình huống cụ thể, ở các khiếu nại cụ thể trong TTHC. Trong khi đó, cùng là đạo luật thủ tục, Bộ luật Tố tụng hình sự hiện hành lại có lối quy định khá tư duy mạch lạc về các đối tượng khiếu nại tại Điều 470[4].

Từ các phân tích trên đây và trên cơ sở tham chiếu quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2021 (Bộ luật Hình sự năm 2015) về đối tượng khiếu nại, tác giả đề xuất như sau:

- Cần thiết kế lại tiêu đề Điều 327 Luật Tố tụng hành chính năm 2015 để tương thích với nội dung của điều khoản là: “Người có quyền khiếu nại trong TTHC”. Đề xuất này bảo đảm sự logic trong tư duy lập pháp, góp phần minh thị quy định của pháp luật, bảo đảm tính khả thi, đồng bộ, khoa học trong việc thực thi và áp dụng pháp luật.

- Nối tiếp điều khoản quy định về người có quyền khiếu nại trong TTHC, Luật Tố tụng hành chính năm 2015 cần bổ sung điều luật trực tiếp quy định về đối tượng khiếu nại tương tự như Điều 470 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Theo đó, tiêu đề điều khoản này được thiết lập như sau: “Các quyết định, hành vi tố tụng có thể bị khiếu nại:

1. Quyết định tố tụng có thể bị khiếu nại là quyết định bằng văn bản của Chánh án, Phó Chánh án Tòa án nhân dân; thẩm phán; thẩm tra viên; Hội thẩm nhân dân; Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân; kiểm sát viên; kiểm tra viên theo quy định của Luật Tố tụng hành chính.

2. Hành vi tố tụng có thể bị khiếu nại là hành vi hành động hoặc không hành động trong hoạt động tố tụng của Chánh án, Phó Chánh án Tòa án nhân dân; thẩm phán; thẩm tra viên; Hội thẩm nhân dân; Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân; kiểm sát viên; kiểm tra viên theo quy định của Luật Tố tụng hành chính”.

Thứ hai, Luật Tố tụng hành chính hiện hành chưa có điều khoản đề cập về thời hạn giải quyết khiếu nại lần hai.

Bên cạnh những thành công nhất định, pháp luật TTHC lại chưa có điều khoản quy định về thời hạn giải quyết khiếu nại lần hai, trong khi thực tế, Luật Tố tụng hành chính năm 2015 lại có điều khoản quy định về thời hạn giải quyết khiếu nại lần đầu tại Điều 333 và quy định về trình tự, thủ tục giải quyết khiếu nại lần hai tại Điều 335. Hạn chế này có thể dẫn đến tình trạng kéo dài thời gian giải quyết khiếu nại lần hai theo ý muốn chủ quan của người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại, không bảo đảm đúng tiến độ của công tác giải quyết khiếu nại. Luật Tố tụng hành chính năm 2010 lại đề cập trực tiếp về thời hạn giải quyết khiếu nại lần hai là 15 ngày, kể từ ngày nhận được khiếu nại lần hai. Do vậy, việc Luật Tố tụng hành chính năm 2015 không đề cập đến thời hạn giải quyết khiếu nại lần hai là thiếu sót cần lưu ý. Hệ quả của hạn chế này không chỉ ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của người khiếu nại mà còn tạo lỗ hổng không đủ chặt chẽ để giám sát công tác giải quyết khiếu nại trên thực tế.

Về giải pháp khắc phục, tác giả cho rằng, Luật Tố tụng hành chính năm 2015 khi được sửa đổi trong thời gian tới cần bổ sung quy định về thời hạn giải quyết khiếu nại lần hai. Theo đó, khi xác định thời hạn giải quyết khiếu nại lần hai, các nhà làm luật cần phải suy xét đến nhiều yếu tố để quy định thời hạn giải quyết khiếu nại lần hai không được ngắn quá và cũng không dài quá, quan trọng nhất phải bảo đảm được tiến độ giải quyết VAHC, chất lượng của việc giải quyết khiếu nại lần hai và đặc biệt bảo đảm được quyền và lợi ích của người khiếu nại, người bị khiếu nại trong TTHC. Trên tinh thần này, có quan điểm cho rằng, nên quy định thời hạn giải quyết khiếu nại lần hai là 10 ngày kể từ ngày nhận được khiếu nại lần hai[5]. Tuy nhiên, tác giả cho rằng, cần kế thừa lại tinh thần của Luật Tố tụng hành chính năm 2010, quy định thời hạn giải quyết khiếu nại lần hai trong TTHC là 15 ngày nhận được khiếu nại lần hai, thời gian này là cần thiết, giúp người giải quyết khiếu nại có đủ thời gian để thẩm định, xem xét nội dung khiếu nại cho chính xác và chất lượng, đồng thời ở mặt lập pháp cũng có sự tương thích với quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Theo đó, điều khoản quy định như sau: “Thời hạn giải quyết khiếu nại lần hai là 15 ngày kể từ ngày Tòa án, Viện kiểm sát nhận được đơn khiếu nại lần hai. Trường hợp cần thiết, đối với vụ việc có tính chất phức tạp thì thời hạn giải quyết khiếu nại có thể kéo dài nhưng không quá 15 ngày kể từ ngày hết thời hạn giải quyết khiếu nại lần hai”.

Thứ ba, Luật Tố tụng hành chính năm 2015 quy định về thẩm quyền giải quyết khiếu nại trong tố tụng hành chính chưa toàn diện.

Điều 332 Luật Tố tụng hành chính năm 2015 quy định về thẩm quyền giải quyết khiếu nại theo sự phân định nhân sự của Tòa án và Viện kiểm sát. Trong đó, đối với khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của Chánh án Tòa án thì do Chánh án Tòa án trên một cấp trực tiếp giải quyết, của Viện trưởng Viện kiểm sát do Viện trưởng Viện kiểm sát trên một cấp trực tiếp giải quyết. Khiếu nại về quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu của Chánh án, Viện trưởng Viện kiểm sát do Chánh án Tòa án nhân dân, Viện trưởng Viện kiểm sát trên một cấp trực tiếp giải quyết. Về cơ bản, cách quy định này khá phù hợp với cơ cấu tổ chức, quản lý lãnh đạo của Tòa án, Viện kiểm sát, bảo đảm sự phối hợp giám sát chặt chẽ giữa cấp trên và cấp dưới, nâng cao được tính khách quan, minh bạch trong quá trình xem xét khiếu nại. Tuy nhiên, quan sát kỹ quy định trên, tác giả nhận thấy, điều khoản còn chưa rõ ràng.

Theo quy định của Luật Tố tụng hành chính năm 2015, các khiếu nại về quyết định, hành vi tố tụng của Chánh án, Viện trưởng Viện kiểm sát sẽ do Chánh án, Viện trưởng trên một cấp trực tiếp giải quyết. Vậy, trong trường hợp các cá nhân, cơ quan, tổ chức khiếu nại lần đầu về quyết định, hành vi tố tụng của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao sẽ do chủ thể nào có thẩm quyền giải quyết? Bởi vì, trong hệ thống Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao là chủ thể nắm giữ vị trí cao nhất nên nếu vận dụng quy định trên tại Điều 332 Luật Tố tụng hành chính năm 2015 thì các khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao sẽ không xác định được chủ thể có thẩm quyền giải quyết khiếu nại. Tương tự như vậy, khoản 3 Điều 332 Luật Tố tụng hành chính năm 2015 cũng không thể được áp dụng để xác định chủ thể có thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần hai đối với các khiếu nại về quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao. Do đó, vì không có luật điều chỉnh nên trên thực tế hiện nay, tất cả các khiếu nại về quyết định, hành vi tố tụng của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao do chính Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao trực tiếp giải quyết. Cách xử lý này, thực tế không trái luật song chỉ mang tính chất tạm thời, chưa bảo đảm được tính khách quan, minh bạch, công bằng trong quá trình tiếp nhận giải quyết các khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cán bộ chủ chốt, quyền lực nhất trong hệ thống Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân. Thiết nghĩ cần phải có một quy định mang tính đột phá, khả thi hơn từ pháp luật TTHC.

Về giải pháp hoàn thiện, tác giả cho rằng, Luật Tố tụng hành chính năm 2015 cần bổ sung quy định về thẩm quyền giải quyết khiếu nại đối với quyết định, hành vi tố tụng của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao như sau:

“1. Khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao do Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao giải quyết.

2. Khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao do Ủy ban kiểm sát Viện kiểm sát nhân dân tối cao giải quyết”.

Thứ tư, Luật Tố tụng hành chính năm 2015 chưa quy định về cách thức xử lý khi người khiếu nại rút khiếu nại trong tố tụng hành chính.

Theo quy định tại Điều 327 Luật Tố tụng hành chính năm 2015, khi nhận thấy các quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người tiến hành TTHC có dấu hiệu trái pháp luật, xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của mình, cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền khiếu nại các quyết định, hành vi tố tụng đó. Do vậy, việc khiếu nại thường xuất phát từ nhận thức chủ quan của người khiếu nại, nội dung khiếu nại có thể chính xác hoặc chưa chính xác. Nếu người khiếu nại nhận thấy khiếu nại của mình là chưa chính xác, thiếu căn cứ hoặc quyền và lợi ích của mình không bị xâm phạm đáng kể thì người khiếu nại có quyền “rút khiếu nại trong bất kỳ giai đoạn nào của quá trình giải quyết khiếu nại”. Đây là quy định rất quan trọng, không những bảo đảm ý chí tự định đoạt của người khiếu nại mà còn tạo điều kiện để tranh chấp được giải quyết nhanh chóng. Tuy nhiên, hiện nay, Luật Tố tụng hành chính năm 2015 lại không quy định cơ chế để các chủ thể có thẩm quyền giải quyết khiếu nại xử lý trong trường hợp người khiếu nại rút khiếu nại. Do vậy, trên thực tiễn giải quyết khiếu nại tại các Tòa án, khi người khiếu nại rút khiếu nại, các chủ thể có thẩm quyền giải quyết khiếu nại thường xử lý theo ba hướng: (i) Người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại sẽ ra quyết định đình chỉ giải quyết khiếu nại; (ii) Người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại sẽ trả lại đơn khiếu nại và chấm dứt không giải quyết khiếu nại; (iii) Người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại sẽ ra quyết định với tiêu đề không xem xét, giải quyết khiếu nại.

Như vậy, về cùng một tình huống người khiếu nại rút khiếu nại mà thực tiễn tồn tại ba cách xử lý không thống nhất với nhau. Để làm rõ nội dung này, tác giả dẫn chứng hai vụ việc khiếu nại tại Tòa án nhân dân TP. HCM như sau:

Vụ việc thứ nhất: Ngày 14/4/2021, bà Hoàng Thị Hải L, địa chỉ tổ 10, khu phố 4, phường TCH, quận 12, TP. HCM có đơn khiếu nại đến Tòa án nhân dân TP. HCM về việc thẩm phán không khách quan trong quá trình giải quyết vụ án số 33/TB-TLVA ngày 22/01/2018. Tuy nhiên, đến ngày 21/4/2021, bà L đã rút đơn khiếu nại. Ngày 26/4/2021, Chánh án Tòa án nhân dân TP. HCM ra quyết định không xem xét, giải quyết yêu cầu khiếu nại của bà L[6].

Vụ việc thứ hai: Ngày 27/5/2021, ông Lê Doãn T, địa chỉ số 451/1A, phường 2, quận BT, TP. HCM có đơn khiếu nại lần 2 đến Tòa án nhân dân TP. HCM về việc chậm giải quyết vụ án hành chính theo Thông báo số 170/TB-TLVA ngày 26/5/2020. Tuy nhiên, đến ngày 25/6/2021, ông T đã rút đơn khiếu nại. Ngày 05/7/2021, Chánh án Tòa án nhân dân TP. HCM ra thông báo trả lại đơn khiếu nại của ông T[7].

Từ các phân tích, minh chứng nêu trên cho thấy tính chưa toàn diện của pháp luật TTHC, chưa bảo đảm được sự thống nhất, đồng bộ khi xử lý trường hợp người khiếu nại rút khiếu nại. Hạn chế này cần thiết được nghiên cứu và bổ sung.

Theo nghiên cứu của tác giả, hầu như các chuyên ngành luật khác đã có quy định về hướng giải quyết khi người khiếu nại rút đơn khiếu nại. Chẳng hạn[8]:

Trong pháp luật tố tụng hình sự, tại điểm g khoản 1 Điều 7 Thông tư liên tịch số 02/2018/TTLT-VKSTC-TATC-BCA-BQP-BTC-BNN&PTNT ngày 05/9/2018 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao, Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Bộ Tài chính, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn quy định việc phối hợp thi hành một số quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự về khiếu nại, tố cáo đề cập: “... Trường hợp người khiếu nại rút khiếu nại thì ban hành quyết định đình chỉ việc giải quyết khiếu nại”.

Trong pháp luật tố tụng dân sự, tại khoản 1 Điều 10 Thông tư số 13/2021/TT-BTP ngày 30/12/2021 của Bộ Tư pháp quy định quy trình xử lý, giải quyết đơn khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh trong thi hành án dân sự quy định quy trình xử lý, giải quyết đơn khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh trong thi hành án dân sự đề cập: “Trường hợp người khiếu nại rút một phần hoặc toàn bộ khiếu nại thì trong thời hạn 05 ngày kể từ ngày nhận được yêu cầu rút khiếu nại, người giải quyết khiếu nại đình chỉ giải quyết đối với nội dung khiếu nại đã rút và thông báo cho người khiếu nại biết. Việc rút khiếu nại phải được thể hiện bằng văn bản. Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày có thông báo đình chỉ mà người khiếu nại có đơn khiếu nại trở lại thì người có thẩm quyền thụ lý và giải quyết khiếu nại theo quy định. Trường hợp người khiếu nại rút khiếu nại mà khiếu nại chưa được thụ lý giải quyết thì người có thẩm quyền không xem xét giải quyết nội dung khiếu nại đã rút, thông báo cho người khiếu nại biết và lưu đơn”.

Nhìn chung, pháp luật các chuyên ngành luật khác đã dự liệu về trường hợp người khiếu nại rút đơn khiếu nại và từ đó, đưa ra hướng giải quyết khá chi tiết, cụ thể. Trên cơ sở tham chiếu các quy định trên và dựa vào thực tiễn thực thi pháp luật, tác giả đề xuất hướng giải quyết khi người khiếu nại rút đơn khiếu nại trong tố tụng hành chính như sau:

“Trường hợp người khiếu nại rút một phần hoặc toàn bộ khiếu nại thì trong thời hạn 05 ngày kể từ ngày nhận được yêu cầu rút khiếu nại, người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại đình chỉ giải quyết đối với nội dung khiếu nại đã rút và thông báo cho người khiếu nại biết.

Trường hợp người khiếu nại rút khiếu nại mà khiếu nại chưa được thụ lý giải quyết thì người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại ra thông báo trả lại đơn khiếu nại”./.

ThS. Lê Thị Mơ

Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh

[1]. Theo quy định tại Điều 36 Luật Tố tụng hành chính năm 2015, Cơ quan tiến hành TTHC là Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân; người tiến hành TTHC là Chánh án, thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, thẩm tra viên, Thư ký Tòa án, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân, kiểm sát viên, kiểm tra viên.

[2]. Báo cáo tổng kết của Tòa án nhân dân tối cao các năm 2020, 2021, 2022, 2023.

[3]. Báo cáo tóm tắt thẩm tra các báo cáo công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo của Ngành Tòa án nhân dân, Ngành Kiểm sát nhân dân năm 2022, tr. 6 - 7.

[4]. Điều 470 Bộ Luật Tố tụng hình sự quy định về các quyết định, hành vi tố tụng có thể bị khiếu nại. Trong đó, quyết định tố tụng có thể bị khiếu nại là các quyết định của Thủ trưởng, Phó Thủ Trưởng cơ quan điều tra, điều tra viên, Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân, kiểm sát viên, Chánh án, Phó Chánh án Tòa án, thẩm phán, người có thẩm quyền tiến hành một số hoạt động điều tra được ban hành theo quy định của Bộ Luật này...

[5]. Nguyễn Thị Hồng Hương (2023), Khiếu nại trong tố tụng hành chính ở Việt Nam, Luận văn tốt nghiệp, Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh, tr. 66.

[6]. Tòa án nhân dân TP. Hồ Chí Minh (2021), Thống kê số lượng văn thư khiếu nại của Tòa Hành chính.

[7]. Tòa án nhân dân TP. Hồ Chí Minh (2021), Thống kê số lượng văn thư khiếu nại của Tòa Hành chính.

[8]. Nguyễn Thị Hồng Hương (2023), Khiếu nại trong tố tụng hành chính Việt Nam, Luận văn tốt nghiệp, Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh, tr. 70.

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 1 (Số 404), tháng 5/2024)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bài viết nêu lên vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước và đề xuất một số giải pháp nâng cao vai trò của Bộ Tư pháp trong giai đoạn mới.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Trong quá trình phát triển của đất nước, đặc biệt, trong 10 năm gần đây, với sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế - xã hội Việt Nam, việc xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật là công tác đặc biệt quan trọng. Với sự nỗ lực không ngừng, Bộ Tư pháp đã cùng các bộ, ngành làm tốt công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và đưa pháp luật vào cuộc sống, góp phần quan trọng trong thực hiện thành công công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế, giữ vững chủ quyền quốc gia, an ninh, trật tự xã hội, nâng cao đời sống vật chất và văn hóa, tinh thần của Nhân dân, bảo đảm công bằng xã hội, xây dựng xã hội dân chủ, văn minh theo đường lối của Đảng và Nhà nước. Để đạt được những thành tựu đó, nhiều hoạt động đã được triển khai đồng bộ, từ công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL); đặc biệt, đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực làm công tác xây dựng, thi hành pháp luật. Bộ Tư pháp đã chủ động, tích cực phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, trong đó có Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trong công tác xây dựng thể chế, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác pháp chế.
Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Với chức năng là cơ quan của Chính phủ, thực hiện quản lý nhà nước về xây dựng và thi hành pháp luật, Bộ Tư pháp đã và đang đóng góp, góp phần quan trọng trong kiến tạo nền tảng pháp lý vững chắc, phục vụ mục tiêu phát triển đất nước; đồng thời, đóng vai trò chủ đạo trong xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ pháp luật, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và thúc đẩy tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Những kết quả đạt được thể hiện qua các nội dung chính sau:
Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Ngày 01/01/2004, tỉnh Lai Châu chính thức được chia tách thành tỉnh Điện Biên và Lai Châu. Đây cũng là thời điểm Sở Tư pháp tỉnh Lai Châu (mới) được thành lập và đi vào hoạt động. Trải qua hơn 21 năm xây dựng và phát triển, ngành Tư pháp tỉnh Lai Châu đã vượt qua khó khăn, thử thách, ngày càng lớn mạnh và khẳng định được vai trò, vị thế của mình.
Công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế - Những khó khăn, vướng mắc và kiến nghị hoàn thiện thể chế từ góc nhìn của luật sư

Công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế - Những khó khăn, vướng mắc và kiến nghị hoàn thiện thể chế từ góc nhìn của luật sư

Trợ giúp pháp lý (TGPL) là một trong những chính sách xã hội có ý nghĩa nhân văn sâu sắc của Đảng và Nhà nước ta trong việc bảo đảm quyền được tiếp cận công lý bình đẳng của mọi tầng lớp Nhân dân, đặc biệt là nhóm những người yếu thế trong xã hội. Thông qua các hoạt động TGPL, người yếu thế trong xã hội được cung cấp, sử dụng dịch vụ pháp lý miễn phí khi có tranh chấp, góp phần nâng cao ý thức pháp luật và phòng ngừa vi phạm pháp luật. Trong hoạt động TGPL, đội ngũ luật sư đóng vai trò then chốt, là lực lượng trực tiếp thực hiện việc tư vấn, đại diện và bào chữa cho các đối tượng yếu thế. Tuy nhiên, thực tế cho thấy công tác TGPL còn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc, cả về cơ chế, nguồn lực và phương thức triển khai.
Nâng cao hiệu quả tích hợp nội dung bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong học phần “Thực tiễn và kinh nghiệm xây dựng, phát triển địa phương – ngành – đoàn thể” thuộc chương trình Trung cấp lý luận chính trị

Nâng cao hiệu quả tích hợp nội dung bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong học phần “Thực tiễn và kinh nghiệm xây dựng, phát triển địa phương – ngành – đoàn thể” thuộc chương trình Trung cấp lý luận chính trị

Việc tích hợp nội dung bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong giảng dạy chương trình Trung cấp lý luận chính trị là yêu cầu tất yếu, góp phần trực tiếp vào việc xây dựng bản lĩnh chính trị, củng cố niềm tin và năng lực tư duy lý luận cho đội ngũ cán bộ đương chức và dự nguồn cấp cơ sở. Trên cơ sở thực tiễn công tác giảng dạy và yêu cầu đổi mới giáo dục lý luận chính trị, cần đề ra giải pháp nâng cao hiệu quả tích hợp nội dung bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong học phần “Thực tiễn và kinh nghiệm xây dựng, phát triển địa phương – ngành – đoàn thể” thuộc chương trình Trung cấp lý luận chính trị (Học phần) tại Trường Chính trị tỉnh Phú Thọ.
Thực tiễn thi hành Luật Tương trợ tư pháp phần về dân sự

Thực tiễn thi hành Luật Tương trợ tư pháp phần về dân sự

Sau hơn 17 năm thi hành, Luật Tương trợ tư pháp năm 2007, thực tiễn đời sống xã hội đang đặt ra nhiều yêu cầu mới đối với hoạt động TTTP về dân sự. Do đó, việc tổng kết thực tiễn thực hiện Luật Tương trợ tư pháp năm 2007 là cần thiết, từ đó, đánh giá những điểm còn hạn chế so với yêu cầu thực tiễn, làm cơ sở đề xuất hoàn thiện pháp luật TTTP về dân sự trong bối cảnh mới.
Đào tạo pháp luật vì cộng đồng và định hướng phát triển trong giai đoạn mới

Đào tạo pháp luật vì cộng đồng và định hướng phát triển trong giai đoạn mới

Trường Cao đẳng Luật miền Bắc được nâng cấp từ Trường Trung cấp Luật Thái Nguyên theo Quyết định số 869/QĐ-LĐTBXH ngày 10/7/2020 của Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội (nay là Bộ Nội vụ), đã kế thừa hơn một thập kỷ kinh nghiệm đào tạo và bồi dưỡng cán bộ pháp lý cấp cơ sở, đặc biệt, tại khu vực trung du và miền núi phía Bắc.
Hoạt động ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số tại Bộ, ngành Tư pháp - Thực trạng và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Hoạt động ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số tại Bộ, ngành Tư pháp - Thực trạng và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Bộ Tư pháp đã trang bị, bổ sung, ứng dụng các công nghệ mới như máy chủ ảo hóa, lưu trữ SAN; máy chủ ứng dụng, máy chủ cơ sở dữ liệu cho Trung tâm dữ liệu điện tử để đáp ứng yêu cầu quản lý, vận hành và hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp.
Công tác hành chính tư pháp - Thành tựu và định hướng phát triển trong thời gian tới

Công tác hành chính tư pháp - Thành tựu và định hướng phát triển trong thời gian tới

Bài viết về những thành tựu nổi bật và định hướng phát triển công tác hành chính tư pháp trong thời gian tới.
Phát huy vai trò là diễn đàn khoa học trong xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong kỷ nguyên mới

Phát huy vai trò là diễn đàn khoa học trong xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong kỷ nguyên mới

Tạp chí Dân chủ và Pháp luật (Tạp chí) là cơ quan ngôn luận của Bộ Tư pháp, có chức năng thông tin về khoa học pháp lý, thông tin lý luận, nghiệp vụ và thực tiễn trong xây dựng, thi hành pháp luật và công tác tư pháp của Bộ, ngành Tư pháp; tuyên truyền, phổ biến chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước theo quy định pháp luật; đồng thời, là diễn đàn trao đổi học thuật, thực tiễn và chính sách trong lĩnh vực pháp luật[1].
Báo Pháp luật Việt Nam với sứ mệnh truyền thông tư pháp, pháp luật, vì Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Báo Pháp luật Việt Nam với sứ mệnh truyền thông tư pháp, pháp luật, vì Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Báo Pháp luật Việt Nam là cơ quan ngôn luận của Bộ Tư pháp, thực hiện chức năng thông tin về các hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp và các vấn đề chính trị, kinh tế, văn hoá xã hội trong nước và quốc tế; truyền thông, phổ biến chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, hoạt động xây dựng, thi hành pháp luật và công tác tư pháp phục vụ yêu cầu quản lý của Bộ Tư pháp, đáp ứng nhu cầu của xã hội về thông tin, nghiên cứu, tìm hiểu pháp luật và hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp, góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý nhà nước bằng pháp luật, phát huy dân chủ, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam; tham gia định hướng tư tưởng, phản biện xã hội, khơi dậy lòng yêu nước, tinh thần đoàn kết và tự lực, tự cường của Nhân dân, đồng hành với an sinh xã hội.
Cơ cấu tổ chức và chức năng, nhiệm vụ của Hội đồng bầu cử quốc gia

Cơ cấu tổ chức và chức năng, nhiệm vụ của Hội đồng bầu cử quốc gia

Để bảo đảm cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân nhiệm kỳ 2026-2031 được tiến hành dân chủ, đúng pháp luật và thống nhất trên phạm vi cả nước, Hội đồng bầu cử quốc gia (HĐBCQG) được thành lập, giữ vai trò tổ chức bầu cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH); chỉ đạo và hướng dẫn công tác bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND). Việc tìm hiểu cơ cấu tổ chức, chức năng, nhiệm vụ của HĐBCQG có ý nghĩa quan trọng, góp phần nâng cao nhận thức, trách nhiệm của cán bộ, đảng viên và cử tri thực hiện quyền làm chủ của mình, đồng thời giúp cơ quan, tổ chức và cá nhân có liên quan thực hiện tốt nhiệm vụ trong công tác bầu cử.
Thành tựu và định hướng phát triển công tác kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật, pháp điển hệ thống quy phạm pháp luật, xử lý vi phạm hành chính và tổ chức thi hành pháp luật trong kỷ nguyên mới

Thành tựu và định hướng phát triển công tác kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật, pháp điển hệ thống quy phạm pháp luật, xử lý vi phạm hành chính và tổ chức thi hành pháp luật trong kỷ nguyên mới

Bài viết phân tích một số thành tựu và định hướng phát triển công tác kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật, pháp điển hệ thống quy phạm pháp luật, xử lý vi phạm hành chính và tổ chức thi hành pháp luật trong kỷ nguyên mới của Cục Kiểm tra văn bản và Quản lý xử lý vi phạm hành chính, Bộ Tư pháp.
Công tác nghiên cứu khoa học pháp lý của Bộ, ngành Tư pháp - Thành tựu đạt được và những yêu cầu trong kỷ nguyên vươn mình của đất nước

Công tác nghiên cứu khoa học pháp lý của Bộ, ngành Tư pháp - Thành tựu đạt được và những yêu cầu trong kỷ nguyên vươn mình của đất nước

Trong những năm qua, hoạt động nghiên cứu khoa học của Bộ Tư pháp đã khẳng định được vai trò cung cấp cơ sở lý luận và thực tiễn, giúp Lãnh đạo Bộ tham mưu với các cấp có thẩm quyền xây dựng các chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước về công tác pháp luật, tư pháp, về xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của Nhân dân, do Nhân dân và vì Nhân dân, dưới sự lãnh đạo của Đảng.

Theo dõi chúng tôi trên: