Thứ hai 25/05/2026 10:12
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Bất cập trong quy định pháp luật về ký quỹ, ký cược

Ký quỹ, ký cược là hai trong chín biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự. So với các biện pháp bảo đảm khác thì ký quỹ, ký cược nhìn chung còn khá xa lạ với nhiều người tham gia giao dịch và cũng có ít văn bản hướng dẫn chi tiết về hai biện pháp bảo đảm này. Trong bài viết, nhóm tác giả nêu lên một số bất cập, đồng thời đưa ra kiến nghị hoàn thiện quy định pháp luật về ký quỹ, ký cược trong quan hệ pháp luật dân sự.


Khoản 1 Điều 330 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: “Ký quỹ là việc bên có nghĩa vụ gửi một khoản tiền hoặc kim khí quý, đá quý hoặc giấy tờ có giá vào tài khoản phong tỏa tại một tổ chức tín dụng để bảo đảm việc thực hiện nghĩa vụ”. Theo tìm hiểu của nhóm tác giả, tính đến thời điểm hiện tại, trong hệ thống pháp luật Việt Nam, ngoài điều khoản này thì không còn quy định nào định nghĩa trực tiếp ký quỹ là gì.

Theo quy định tại khoản 1 Điều 329 thì: “Ký cược là việc bên thuê tài sản là động sản giao cho bên cho thuê một khoản tiền hoặc kim khí quý, đá quý hoặc các vật có giá trị khác (sau đây gọi chung là tài sản ký cược) trong một thời hạn để bảo đảm việc trả lại tài sản thuê”. Dưới góc độ pháp lý, từ định nghĩa về ký cược, dễ dàng nhận thấy, quan hệ ký cược đi liền với hợp đồng thuê tài sản bao gồm hai bên tham gia là bên ký cược (bên thuê) và bên nhận ký cược (bên cho thuê). Việc ký cược chỉ được xác lập nhằm bảo đảm nghĩa vụ trả lại tài sản thuê trong hợp đồng thuê, trong đó, tài sản ký cược được dịch chuyển sang cho bên nhận ký cược. Tài sản ký cược có thể là tiền hoặc kim khí quý, đá quý hoặc vật có giá trị khác. Như vậy, biện pháp ký cược chỉ được sử dụng để bảo đảm duy nhất cho nghĩa vụ trả lại tài sản thuê là động sản. Điều đó có nghĩa là không được ký cược để bảo đảm nghĩa vụ đối với bất kỳ loại hợp đồng nào khác, kể cả hợp đồng thuê bất động sản (trước đây, ký cược đã từng được quy định nhằm bảo đảm việc khách du lịch nước ngoài thông qua các doanh nghiệp du lịch trở về nước[1]).

Trong phạm vi bài viết này, tác giả đưa ra quan điểm về một số bất cập và kiến nghị hoàn thiện hơn quy định về các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ ký quỹ, ký cược, cụ thể:

1. Quy định giới hạn về đối tượng được phép giao dịch ký quỹ, ký cược

Về loại tài sản được phép lưu thông, trao đổi trong giao dịch dân sự, theo khoản 1 Điều 105 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì tài sản gồm có bốn loại là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản. Ký quỹ, ký cược là hai trong chín biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự, có đối tượng là tài sản gồm những loại như sau: (i) Đối tượng trong giao dịch ký quỹ bao gồm tiền hoặc kim khí quý, đá quý hoặc giấy tờ có giá (thiếu một loại tài sản là quyền tài sản); (ii) Đối tượng trong giao dịch ký cược bao gồm tiền hoặc kim khí quý, đá quý hoặc vật có giá trị khác (thiếu hai loại tài sản là giấy tờ có giá và quyền tài sản). Như vậy, quy định về đối tượng của ký quỹ, ký cược theo Bộ luật Dân sự năm 2015 đều không bao gồm quyền tài sản, trong khi đó, các loại tài sản có thể giao dịch dân sự có quyền tài sản. Điều này sẽ làm giới hạn quyền giao dịch dân sự của các chủ thể. Bên cạnh đó, đối với các biện pháp cầm cố, thế chấp, bảo lãnh, ngoài những tài sản được liệt kê tại Điều 329, Điều 330 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì quyền tài sản cũng là đối tượng của các biện pháp bảo đảm này. Điều này cho thấy, so với các biện pháp bảo đảm khác, tài sản bảo đảm trong ký quỹ, ký cược còn bị hạn chế và giới hạn. Quy định của pháp luật đã tạo ra sự phân biệt giữa các biện pháp bảo đảm. Hơn nữa, trong quá trình hội nhập xu thế toàn cầu hóa quốc tế hiện nay, tài sản giao lưu dân sự là quyền tài sản ngày càng phổ biến. Chính vì vậy, việc mở rộng phạm vi đối tượng bảo đảm của ký quỹ, ký cược là cần thiết. Tác giả đề xuất sửa đổi điều luật về đối tượng ký quỹ, ký cược như sau:

Thứ nhất, đối với ký quỹ, cần sửa đổi, bổ sung khoản 1 Điều 330 Bộ luật Dân sự năm 2015 như sau: Ký quỹ là việc bên có nghĩa vụ gửi một khoản tiền hoặc kim khí quý, đá quý hoặc giấy tờ có giá “hoặc quyền tài sản” vào tài khoản phong tỏa tại một tổ chức tín dụng để bảo đảm việc thực hiện nghĩa vụ.

Thứ hai, đối với ký cược, đối tượng là quyền tài sản cần được quy định cụ thể trong những trường hợp tài sản thuê có giá trị lớn, vì ký cược phải có sự chuyển giao tài sản nên đối với những giao dịch nhỏ thì đối tượng là quyền tài sản sẽ làm giao dịch này trở nên phức tạp, khó khăn trong việc chuyển giao quyền sở hữu giữa các bên. Bên cạnh việc bổ sung về đối tượng là quyền tài sản, tác giả đề xuất bỏ quy định “kim khí quý, đá quý” bên cạnh “vật có giá trị” vì vật có giá trị đã bao gồm kim khí quý, đá quý. Do đó, cần sửa đổi, bổ sung quy định tại khoản 1 Điều 329 Bộ luật Dân sự năm 2015 như sau: Ký cược là việc bên thuê tài sản là động sản giao cho bên cho thuê một khoản tiền hoặc vật có giá trị hoặc quyền tài sản (sau đây gọi chung là tài sản ký cược) trong một thời hạn để bảo đảm việc trả lại tài sản thuê.

Ở đây, đối với tài sản là giấy tờ có giá, tác giả không đề xuất bổ sung thành đối tượng của ký cược vì đối với ký cược, khi các bên xác lập giao dịch với nhau cần phải có sự chuyển giao tài sản nên đối với các loại giấy tờ có giá, khi chuyển giao thì phải thực hiện thủ tục chuyển giao tài sản theo quy định của pháp luật mà việc thực hiện thủ tục chuyển giao này làm mất nhiều thời gian và gây khó khăn cho cả hai bên; bên cạnh đó, giấy tờ có giá khi có sự chuyển giao cho bên kia thì cần phải thực hiện theo đúng quy định pháp luật để có thể xử lý được khi xảy ra tranh chấp.

2. Việc xác định chủ thể của giao dịch ký quỹ

Theo quy định tại Điều 330 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì chủ thể tham gia giao dịch ký quỹ phải có ba bên, đó là bên có nghĩa vụ (bên ký quỹ), bên có quyền (bên nhận ký quỹ) và tổ chức tín dụng.

Tuy nhiên, trong thực tiễn, đối với lĩnh vực ngân hàng, việc ký quỹ có thể chỉ có sự tham gia của hai bên là bên ký quỹ và bên tổ chức tín dụng (cũng đồng thời là bên có quyền và bên nhận ký quỹ, thay vì lại phải ký quỹ ở một tổ chức tín dụng khác)[2]. Bên cạnh đó, theo một số quy định khác, giao dịch ký quỹ lại không nhất thiết phải có sự tham gia của tổ chức tín dụng, chẳng hạn như các công ty chứng khoán cũng thực hiện việc ký quỹ. Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 cũng quy định: “Nghiêm cấm cá nhân, tổ chức không phải là tổ chức tín dụng thực hiện hoạt động ngân hàng, trừ giao dịch ký quỹ, giao dịch mua, bán lại chứng khoán của công ty chứng khoán” (khoản 2 Điều 8).

Như vậy, Bộ luật Dân sự năm 2015 đã không bao quát được các trường hợp theo quy định của pháp luật ngân hàng và trên thực tế là ngoài trường hợp ký quỹ ba bên thì đang thừa nhận quan hệ ký quỹ chỉ có hai bên. Điều này dẫn đến việc thiếu thống nhất và đồng bộ giữa các văn bản pháp luật.

Vì vậy, tác giả đề xuất bổ sung cụm từ “trừ trường hợp luật có quy định khác” vào định nghĩa ký quỹ tại khoản 1 Điều 330 Bộ luật Dân sự năm 2015, theo đó: Ký quỹ là việc bên có nghĩa vụ gửi một khoản tiền hoặc kim khí quý, đá quý hoặc giấy tờ có giá hoặc quyền tài sản vào tài khoản phong tỏa tại một tổ chức tín dụng để bảo đảm việc thực hiện nghĩa vụ, “trừ trường hợp luật có quy định khác”. Phương án khác là có thể ban hành một văn bản quy định cụ thể, điều này sẽ phần nào hạn chế được tình trạng vi phạm pháp luật và góp phần tạo nên một hệ thống pháp luật hoàn chỉnh hơn; việc quy định cụ thể cũng tránh gây nhầm lẫn, khó hiểu cho các bên, tạo điều kiện thuận lợi, dễ dàng hơn cho các chủ thể khi tham gia vào giao dịch ký quỹ.

3. Hình thức xác lập giao dịch ký cược

Đối với ký cược, pháp luật không quy định bắt buộc các chủ thể phải xác lập bằng hình thức văn bản. Tuy nhiên, theo tác giả, pháp luật cần sửa đổi theo hướng quy định các bên phải thỏa thuận ký cược bằng văn bản, bởi lẽ:

- Văn bản này là cơ sở pháp lý để các bên tham gia giao dịch phân định được đúng, sai, bảo vệ quyền lợi cho mình, bảo đảm cho việc thực hiện nghĩa vụ, từ đó cũng hạn chế xảy ra tranh chấp, mâu thuẫn giữa các bên.

- Ký cược bằng văn bản giúp nâng cao giá trị pháp lý của ký cược, tạo lòng tin để các chủ thể lựa chọn áp dụng trong các hợp đồng có giá trị lớn.

- Trong trường hợp tài sản ký cược là động sản có đăng ký quyền sở hữu thì thỏa thuận bằng văn bản là bằng chứng để bên cho thuê thực hiện việc đăng ký chuyển quyền sở hữu tài sản ký cược từ bên thuê sang cho mình[3].

- Văn bản ký cược là bằng chứng để cơ quan chức năng có thể thuận tiện cho việc kiểm tra, quản lý việc kinh doanh của các cơ sở kinh doanh; là bằng chứng pháp lý quan trọng để giải quyết tranh chấp liên quan đến ký cược.

- Sự tồn tại của ký cược là vì một giao dịch dân sự khác được xác lập trước đó, nếu ký cược không được thể hiện rõ bằng văn bản thì nó không thể thực hiện tốt vai trò là biện pháp bảo đảm của mình.

- Pháp luật không quy định cụ thể ký cược bằng miệng thế nào được coi là hợp pháp, chỉ cần có hai bên chủ thể hay phải có người làm chứng khi xác lập giao dịch.

- Mặc dù pháp luật không bắt buộc nhưng trên thực tế, nếu tài sản ký cược có giá trị lớn, các bên cũng thường lựa chọn hình thức xác lập giao dịch ký cược bằng văn bản.

4. Xử lý tài sản ký cược trong trường hợp bên cho thuê không trả lại tài sản ký cược

Về xử lý tài sản ký cược, Bộ luật Dân sự năm 2015 chỉ quy định về trường hợp tài sản thuê được trả lại cho bên cho thuê và tài sản thuê không được trả lại cho bên cho thuê, mà chưa có quy định về trường hợp bên cho thuê không trả lại tài sản ký cược. Tức là pháp luật mới chỉ quy định được việc xử lý hậu quả khi một bên vi phạm (bên thuê), còn bên kia thì bỏ ngỏ (bên cho thuê). Điều này ảnh hưởng đến quyền lợi của bên thuê và làm mất đi sự bình đẳng của các bên khi tham gia giao dịch. Như vậy, khi có tranh chấp xảy ra, trường hợp bên cho thuê không trả lại tài sản ký cược thì xử lý như thế nào? Bên cạnh đó, luật cũng chưa quy định việc xử lý tài sản trong trường hợp tài sản ký cược có giá trị lớn hơn tài sản thuê hoặc nhỏ hơn tài sản thuê, khi xảy ra tranh chấp, các bên có phải trả phần thừa, bù phần thiếu hay không?

Theo tác giả, trong trường hợp bên cho thuê không trả lại tài sản ký cược thì xử lý theo hướng: (i) Nếu việc người cho thuê không trả lại tài sản ký cược là do không còn khả năng thanh toán thì người thuê được giữ tài sản thuê làm tài sản của mình; (ii) Nếu việc người cho thuê không trả lại tài sản ký cược không phải do mất khả năng thanh toán thì người thuê được giao trả tài sản thuê cho chính người cho thuê, sau đó có quyền lựa chọn có thể khởi kiện yêu cầu đòi lại tài sản ký cược hoặc yêu cầu bên cho thuê thanh toán giá trị tài sản ký cược cho mình. Đồng thời, luật cần bổ sung quy định về việc xử lý tài sản đối với trường hợp tài sản ký cược có giá trị lớn hơn tài sản thuê mà bên thuê muốn sở hữu tài sản ký cược thì sẽ phải hoàn trả số tiền chênh lệch của tài sản ký cược so với giá trị của tài sản thuê; ngược lại, nếu giá trị tài sản ký cược nhỏ hơn giá trị tài sản thuê thì bên cho thuê có quyền yêu cầu bên thuê bù thêm phần chênh lệch giá trị tài sản cho mình.

Vì vậy, tác giả đề xuất sửa đổi, bổ sung khoản 2 Điều 329 Bộ luật Dân sự năm 2015 như sau:

“2. Trường hợp tài sản thuê được trả lại thì bên thuê được nhận lại tài sản ký cược sau khi trả tiền thuê; nếu bên thuê không trả lại tài sản thuê thì bên cho thuê có quyền đòi lại tài sản thuê; nếu tài sản thuê không còn để trả lại thì tài sản ký cược thuộc về bên cho thuê và các bên phải thanh toán phần giá trị tài sản chênh lệch (nếu có) cho bên kia.

Trường hợp nếu bên cho thuê không còn tài sản ký cược để trả lại cho bên thuê thì bên thuê có quyền trả lại tài sản thuê cho bên cho thuê và yêu cầu bên cho thuê bồi thường giá trị tài sản ký cược, nếu bên cho thuê cố tình không muốn trả lại tài sản ký cược cho bên thuê thì bên thuê có quyền trả lại tài sản thuê cho chính người cho thuê và có thể khởi kiện đòi lại tài sản ký cược hoặc yêu cầu thanh toán giá trị tài sản ký cược nếu không muốn nhận lại tài sản ký cược”.

Trong trường hợp không sửa đổi, bổ sung điều khoản trong Bộ luật Dân sự thì tác giả đề xuất phương án khác là ban hành một số văn bản hướng dẫn chi tiết quy định áp dụng các trường hợp xử lý tài sản ký cược.

ThS. Nguyễn Thị Anh Thư
Đại học Trà Vinh
Đoàn Mỹ Xuyên
Sinh viên Đại học Trà Vinh


[1] Thông tư số 75-BTC/TCTN ngày 30/11/1992 của Bộ Tài Chính hướng dẫn việc nộp tiền ký cược của khách du lịch.

[2] Kỷ yếu Tọa đàm “Hoàn thiện pháp luật về giao dịch bảo đảm” do Cục Đăng ký quốc gia giao dịch bảo đảm và Dự án JICA tổ chức ngày 09/7/2019 tại TP. Hồ Chí Minh.

[3] Hoàng Thế Liên và các tác giả khác (2013), Bình luận Bộ luật Dân sự 2005, Nxb. Chính trị Quốc gia, tr. 156.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Công tác kiểm tra, giám sát Đảng ủy cấp xã tại Hà Nội hiện nay

Công tác kiểm tra, giám sát Đảng ủy cấp xã tại Hà Nội hiện nay

Đổi mới công tác kiểm tra, giám sát không chỉ dừng lại ở việc xử lý vi phạm mà cốt lõi là để cảnh báo, phòng ngừa và kiến tạo sự phát triển. Trước thực trạng 70% cán bộ kiểm tra cấp xã còn lúng túng về nghiệp vụ và áp lực từ việc thiếu vắng sự giám sát của Hội đồng nhân dân tại các xã, phường, Hà Nội đang nỗ lực tìm kiếm những mô hình mới như "giám sát dữ liệu số" hay cơ chế bảo vệ cán bộ "dám nói, dám làm". Đây chính là chìa khóa để bảo đảm bộ máy chính quyền Thủ đô vận hành liêm chính và hiệu quả sau khi tinh gọn.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định và tổ chức thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Kiến nghị hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định và tổ chức thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 là đạo luật quan trọng nhằm cụ thể hóa quyền tiếp cận thông tin của công dân theo Hiến pháp năm 2013[*], góp phần nâng cao tính công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Sau 08 năm thi hành, bên cạnh những kết quả đạt được, thực tiễn cho thấy còn bộc lộ một số hạn chế, bất cập trong quy định pháp luật và tổ chức thi hành, đặc biệt, liên quan đến phạm vi thông tin, trách nhiệm cung cấp thông tin, trình tự, thủ tục và điều kiện bảo đảm thực hiện quyền. Trên cơ sở nhận diện các vướng mắc, bất cập, nghiên cứu đề xuất định hướng sửa đổi, bổ sung Luật theo hướng bảo đảm tính đồng bộ với hệ thống pháp luật hiện hành, phù hợp với yêu cầu chuyển đổi số và tổ chức bộ máy nhà nước, đồng thời kiến nghị các giải pháp nâng cao hiệu quả tổ chức thi hành, qua đó góp phần bảo đảm tốt hơn quyền tiếp cận thông tin của công dân và xây dựng nền hành chính công khai, minh bạch.
Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018) sau hơn 08 năm thi hành đã bộc lộ nhiều bất cập trước sự vận động nhanh chóng của thực tiễn, đặc biệt là sự xuất hiện của các hình thức hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng và các quan hệ tôn giáo có yếu tố nước ngoài ngày càng phức tạp. Vì vậy, việc tăng cường quản lý nhà nước đối với các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng là yêu cầu cấp thiết không chỉ bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân mà còn nhằm giữ vững an ninh, trật tự xã hội và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới.
Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Thẩm quyền ban hành VBQPPL là nội dung trọng tâm nhằm bảo đảm mỗi loại VBQPPL được ban hành bởi đúng cơ quan, đúng cấp, vừa phù hợp với phạm vi pháp lý, vừa hạn chế rủi ro và xung đột giữa các văn bản.
Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Việc ban hành Luật Ban hành VBQPPL số 64/2025/QH15 được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 87/2025/QH15 và các nghị định hướng dẫn thi hành có ý nghĩa đặc biệt trong bối cảnh đổi mới tư duy xây dựng pháp luật, gắn kết chặt chẽ giữa xây dựng và thi hành pháp luật.
Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Bài viết phân tích quy trình xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ của Quốc hội và quy trình xây dựng chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội, từ đó, đưa ra một số lưu ý nhằm nâng cao hiệu quả việc thực hiện hai quy trình này.
Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Tóm tắt: Bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra góp phần bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp cần miễm trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra để bảo vệ lợi ích hợp pháp của các nhà sản xuất kinh doanh. Bài viết nghiên cứu những trường hợp miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023, đồng thời chỉ ra ưu, nhược điểm và hạn chế của Luật, từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Trong bối cảnh nhiều thách thức, đội ngũ luật sư với kiến thức chuyên môn và kỹ năng nghề nghiệp của mình, đóng vai trò then chốt trong việc nâng cao chất lượng, hiệu quả trợ giúp pháp lý.
Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Những năm qua, công tác trợ giúp pháp lý trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận. Nhiều vụ việc được trợ giúp pháp lý kịp thời, góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người nghèo, người có công với cách mạng và các nhóm yếu thế khác.
Ứng dụng công nghệ số, nền tảng trực tuyến, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động trợ giúp pháp lý

Ứng dụng công nghệ số, nền tảng trực tuyến, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động trợ giúp pháp lý

Những nỗ lực số hóa hồ sơ, vận hành Hệ thống quản lý trợ giúp pháp lý, kết nối dữ liệu dân cư, phát triển tư vấn trực tuyến… đã mở ra hướng tiếp cận mới, góp phần nâng cao chất lượng và tính minh bạch của dịch vụ trợ giúp pháp lý.
Tăng cường hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế trong tố tụng hình sự

Tăng cường hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế trong tố tụng hình sự

Trong tiến trình cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, việc bảo đảm quyền con người luôn là sợi chỉ đỏ xuyên suốt, đặc biệt, với đối tượng yếu thế, yêu cầu này càng trở nên cấp thiết và nhân văn. Trong tố tụng hình sự (TTHS), đối tượng yếu thế với tư cách bị hại, người làm chứng hay bị can, bị cáo, đã và đang phải đối mặt với hệ thống tư pháp hình sự. Đối tượng yếu thế có được tiếp cận công lý bình đẳng hay không phụ thuộc vào sự công tâm, chuyên nghiệp và nhạy cảm của các cơ quan trong hoạt động tố tụng, trong đó có vai trò của hoạt động trợ giúp pháp lý.
Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo trong bối cảnh mới

Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo trong bối cảnh mới

Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và thúc đẩy phát triển bền vững, hoạt động trợ giúp pháp lý đóng vai trò quan trọng trong việc bảo đảm công bằng xã hội và tiếp cận công lý cho người dân, đặc biệt là người nghèo thuộc nhóm đối tượng yếu thế.
Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Đây là giải pháp quan trọng nhằm khắc phục khó khăn, vướng mắc, nâng cao chất lượng tổ chức thi hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo.
Ưu điểm, hạn chế và một số vấn đề chính cần rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Ưu điểm, hạn chế và một số vấn đề chính cần rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 đã góp phần quan trọng trong việc bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của cá nhân, tổ chức, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đối với lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo. Tuy nhiên, thực tiễn triển khai Luật cũng bộc lộ những bất cập, hạn chế cần sửa đổi, hoàn thiện nhằm đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới.
Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là một trong những loại tội phạm có diễn biến ngày càng phức tạp, đa dạng và tinh vi. Phương thức thực hiện tội phạm không ngừng biến đổi, đặc biệt là việc sử dụng công nghệ cao để phạm tội, gây thiệt hại lớn đối với tài sản và tâm lý hoang mang cho người dân, ảnh hưởng đến trật tự, an toàn xã hội. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng các quy định của Bộ luật Hình sự về tội này vẫn còn tồn tại một số vướng mắc, bất cập từ chính quy định của pháp luật.

Theo dõi chúng tôi trên: