Thứ năm 12/03/2026 13:11
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Bất cập trong quy định pháp luật về ký quỹ, ký cược

Ký quỹ, ký cược là hai trong chín biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự. So với các biện pháp bảo đảm khác thì ký quỹ, ký cược nhìn chung còn khá xa lạ với nhiều người tham gia giao dịch và cũng có ít văn bản hướng dẫn chi tiết về hai biện pháp bảo đảm này. Trong bài viết, nhóm tác giả nêu lên một số bất cập, đồng thời đưa ra kiến nghị hoàn thiện quy định pháp luật về ký quỹ, ký cược trong quan hệ pháp luật dân sự.


Khoản 1 Điều 330 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: “Ký quỹ là việc bên có nghĩa vụ gửi một khoản tiền hoặc kim khí quý, đá quý hoặc giấy tờ có giá vào tài khoản phong tỏa tại một tổ chức tín dụng để bảo đảm việc thực hiện nghĩa vụ”. Theo tìm hiểu của nhóm tác giả, tính đến thời điểm hiện tại, trong hệ thống pháp luật Việt Nam, ngoài điều khoản này thì không còn quy định nào định nghĩa trực tiếp ký quỹ là gì.

Theo quy định tại khoản 1 Điều 329 thì: “Ký cược là việc bên thuê tài sản là động sản giao cho bên cho thuê một khoản tiền hoặc kim khí quý, đá quý hoặc các vật có giá trị khác (sau đây gọi chung là tài sản ký cược) trong một thời hạn để bảo đảm việc trả lại tài sản thuê”. Dưới góc độ pháp lý, từ định nghĩa về ký cược, dễ dàng nhận thấy, quan hệ ký cược đi liền với hợp đồng thuê tài sản bao gồm hai bên tham gia là bên ký cược (bên thuê) và bên nhận ký cược (bên cho thuê). Việc ký cược chỉ được xác lập nhằm bảo đảm nghĩa vụ trả lại tài sản thuê trong hợp đồng thuê, trong đó, tài sản ký cược được dịch chuyển sang cho bên nhận ký cược. Tài sản ký cược có thể là tiền hoặc kim khí quý, đá quý hoặc vật có giá trị khác. Như vậy, biện pháp ký cược chỉ được sử dụng để bảo đảm duy nhất cho nghĩa vụ trả lại tài sản thuê là động sản. Điều đó có nghĩa là không được ký cược để bảo đảm nghĩa vụ đối với bất kỳ loại hợp đồng nào khác, kể cả hợp đồng thuê bất động sản (trước đây, ký cược đã từng được quy định nhằm bảo đảm việc khách du lịch nước ngoài thông qua các doanh nghiệp du lịch trở về nước[1]).

Trong phạm vi bài viết này, tác giả đưa ra quan điểm về một số bất cập và kiến nghị hoàn thiện hơn quy định về các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ ký quỹ, ký cược, cụ thể:

1. Quy định giới hạn về đối tượng được phép giao dịch ký quỹ, ký cược

Về loại tài sản được phép lưu thông, trao đổi trong giao dịch dân sự, theo khoản 1 Điều 105 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì tài sản gồm có bốn loại là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản. Ký quỹ, ký cược là hai trong chín biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự, có đối tượng là tài sản gồm những loại như sau: (i) Đối tượng trong giao dịch ký quỹ bao gồm tiền hoặc kim khí quý, đá quý hoặc giấy tờ có giá (thiếu một loại tài sản là quyền tài sản); (ii) Đối tượng trong giao dịch ký cược bao gồm tiền hoặc kim khí quý, đá quý hoặc vật có giá trị khác (thiếu hai loại tài sản là giấy tờ có giá và quyền tài sản). Như vậy, quy định về đối tượng của ký quỹ, ký cược theo Bộ luật Dân sự năm 2015 đều không bao gồm quyền tài sản, trong khi đó, các loại tài sản có thể giao dịch dân sự có quyền tài sản. Điều này sẽ làm giới hạn quyền giao dịch dân sự của các chủ thể. Bên cạnh đó, đối với các biện pháp cầm cố, thế chấp, bảo lãnh, ngoài những tài sản được liệt kê tại Điều 329, Điều 330 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì quyền tài sản cũng là đối tượng của các biện pháp bảo đảm này. Điều này cho thấy, so với các biện pháp bảo đảm khác, tài sản bảo đảm trong ký quỹ, ký cược còn bị hạn chế và giới hạn. Quy định của pháp luật đã tạo ra sự phân biệt giữa các biện pháp bảo đảm. Hơn nữa, trong quá trình hội nhập xu thế toàn cầu hóa quốc tế hiện nay, tài sản giao lưu dân sự là quyền tài sản ngày càng phổ biến. Chính vì vậy, việc mở rộng phạm vi đối tượng bảo đảm của ký quỹ, ký cược là cần thiết. Tác giả đề xuất sửa đổi điều luật về đối tượng ký quỹ, ký cược như sau:

Thứ nhất, đối với ký quỹ, cần sửa đổi, bổ sung khoản 1 Điều 330 Bộ luật Dân sự năm 2015 như sau: Ký quỹ là việc bên có nghĩa vụ gửi một khoản tiền hoặc kim khí quý, đá quý hoặc giấy tờ có giá “hoặc quyền tài sản” vào tài khoản phong tỏa tại một tổ chức tín dụng để bảo đảm việc thực hiện nghĩa vụ.

Thứ hai, đối với ký cược, đối tượng là quyền tài sản cần được quy định cụ thể trong những trường hợp tài sản thuê có giá trị lớn, vì ký cược phải có sự chuyển giao tài sản nên đối với những giao dịch nhỏ thì đối tượng là quyền tài sản sẽ làm giao dịch này trở nên phức tạp, khó khăn trong việc chuyển giao quyền sở hữu giữa các bên. Bên cạnh việc bổ sung về đối tượng là quyền tài sản, tác giả đề xuất bỏ quy định “kim khí quý, đá quý” bên cạnh “vật có giá trị” vì vật có giá trị đã bao gồm kim khí quý, đá quý. Do đó, cần sửa đổi, bổ sung quy định tại khoản 1 Điều 329 Bộ luật Dân sự năm 2015 như sau: Ký cược là việc bên thuê tài sản là động sản giao cho bên cho thuê một khoản tiền hoặc vật có giá trị hoặc quyền tài sản (sau đây gọi chung là tài sản ký cược) trong một thời hạn để bảo đảm việc trả lại tài sản thuê.

Ở đây, đối với tài sản là giấy tờ có giá, tác giả không đề xuất bổ sung thành đối tượng của ký cược vì đối với ký cược, khi các bên xác lập giao dịch với nhau cần phải có sự chuyển giao tài sản nên đối với các loại giấy tờ có giá, khi chuyển giao thì phải thực hiện thủ tục chuyển giao tài sản theo quy định của pháp luật mà việc thực hiện thủ tục chuyển giao này làm mất nhiều thời gian và gây khó khăn cho cả hai bên; bên cạnh đó, giấy tờ có giá khi có sự chuyển giao cho bên kia thì cần phải thực hiện theo đúng quy định pháp luật để có thể xử lý được khi xảy ra tranh chấp.

2. Việc xác định chủ thể của giao dịch ký quỹ

Theo quy định tại Điều 330 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì chủ thể tham gia giao dịch ký quỹ phải có ba bên, đó là bên có nghĩa vụ (bên ký quỹ), bên có quyền (bên nhận ký quỹ) và tổ chức tín dụng.

Tuy nhiên, trong thực tiễn, đối với lĩnh vực ngân hàng, việc ký quỹ có thể chỉ có sự tham gia của hai bên là bên ký quỹ và bên tổ chức tín dụng (cũng đồng thời là bên có quyền và bên nhận ký quỹ, thay vì lại phải ký quỹ ở một tổ chức tín dụng khác)[2]. Bên cạnh đó, theo một số quy định khác, giao dịch ký quỹ lại không nhất thiết phải có sự tham gia của tổ chức tín dụng, chẳng hạn như các công ty chứng khoán cũng thực hiện việc ký quỹ. Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 cũng quy định: “Nghiêm cấm cá nhân, tổ chức không phải là tổ chức tín dụng thực hiện hoạt động ngân hàng, trừ giao dịch ký quỹ, giao dịch mua, bán lại chứng khoán của công ty chứng khoán” (khoản 2 Điều 8).

Như vậy, Bộ luật Dân sự năm 2015 đã không bao quát được các trường hợp theo quy định của pháp luật ngân hàng và trên thực tế là ngoài trường hợp ký quỹ ba bên thì đang thừa nhận quan hệ ký quỹ chỉ có hai bên. Điều này dẫn đến việc thiếu thống nhất và đồng bộ giữa các văn bản pháp luật.

Vì vậy, tác giả đề xuất bổ sung cụm từ “trừ trường hợp luật có quy định khác” vào định nghĩa ký quỹ tại khoản 1 Điều 330 Bộ luật Dân sự năm 2015, theo đó: Ký quỹ là việc bên có nghĩa vụ gửi một khoản tiền hoặc kim khí quý, đá quý hoặc giấy tờ có giá hoặc quyền tài sản vào tài khoản phong tỏa tại một tổ chức tín dụng để bảo đảm việc thực hiện nghĩa vụ, “trừ trường hợp luật có quy định khác”. Phương án khác là có thể ban hành một văn bản quy định cụ thể, điều này sẽ phần nào hạn chế được tình trạng vi phạm pháp luật và góp phần tạo nên một hệ thống pháp luật hoàn chỉnh hơn; việc quy định cụ thể cũng tránh gây nhầm lẫn, khó hiểu cho các bên, tạo điều kiện thuận lợi, dễ dàng hơn cho các chủ thể khi tham gia vào giao dịch ký quỹ.

3. Hình thức xác lập giao dịch ký cược

Đối với ký cược, pháp luật không quy định bắt buộc các chủ thể phải xác lập bằng hình thức văn bản. Tuy nhiên, theo tác giả, pháp luật cần sửa đổi theo hướng quy định các bên phải thỏa thuận ký cược bằng văn bản, bởi lẽ:

- Văn bản này là cơ sở pháp lý để các bên tham gia giao dịch phân định được đúng, sai, bảo vệ quyền lợi cho mình, bảo đảm cho việc thực hiện nghĩa vụ, từ đó cũng hạn chế xảy ra tranh chấp, mâu thuẫn giữa các bên.

- Ký cược bằng văn bản giúp nâng cao giá trị pháp lý của ký cược, tạo lòng tin để các chủ thể lựa chọn áp dụng trong các hợp đồng có giá trị lớn.

- Trong trường hợp tài sản ký cược là động sản có đăng ký quyền sở hữu thì thỏa thuận bằng văn bản là bằng chứng để bên cho thuê thực hiện việc đăng ký chuyển quyền sở hữu tài sản ký cược từ bên thuê sang cho mình[3].

- Văn bản ký cược là bằng chứng để cơ quan chức năng có thể thuận tiện cho việc kiểm tra, quản lý việc kinh doanh của các cơ sở kinh doanh; là bằng chứng pháp lý quan trọng để giải quyết tranh chấp liên quan đến ký cược.

- Sự tồn tại của ký cược là vì một giao dịch dân sự khác được xác lập trước đó, nếu ký cược không được thể hiện rõ bằng văn bản thì nó không thể thực hiện tốt vai trò là biện pháp bảo đảm của mình.

- Pháp luật không quy định cụ thể ký cược bằng miệng thế nào được coi là hợp pháp, chỉ cần có hai bên chủ thể hay phải có người làm chứng khi xác lập giao dịch.

- Mặc dù pháp luật không bắt buộc nhưng trên thực tế, nếu tài sản ký cược có giá trị lớn, các bên cũng thường lựa chọn hình thức xác lập giao dịch ký cược bằng văn bản.

4. Xử lý tài sản ký cược trong trường hợp bên cho thuê không trả lại tài sản ký cược

Về xử lý tài sản ký cược, Bộ luật Dân sự năm 2015 chỉ quy định về trường hợp tài sản thuê được trả lại cho bên cho thuê và tài sản thuê không được trả lại cho bên cho thuê, mà chưa có quy định về trường hợp bên cho thuê không trả lại tài sản ký cược. Tức là pháp luật mới chỉ quy định được việc xử lý hậu quả khi một bên vi phạm (bên thuê), còn bên kia thì bỏ ngỏ (bên cho thuê). Điều này ảnh hưởng đến quyền lợi của bên thuê và làm mất đi sự bình đẳng của các bên khi tham gia giao dịch. Như vậy, khi có tranh chấp xảy ra, trường hợp bên cho thuê không trả lại tài sản ký cược thì xử lý như thế nào? Bên cạnh đó, luật cũng chưa quy định việc xử lý tài sản trong trường hợp tài sản ký cược có giá trị lớn hơn tài sản thuê hoặc nhỏ hơn tài sản thuê, khi xảy ra tranh chấp, các bên có phải trả phần thừa, bù phần thiếu hay không?

Theo tác giả, trong trường hợp bên cho thuê không trả lại tài sản ký cược thì xử lý theo hướng: (i) Nếu việc người cho thuê không trả lại tài sản ký cược là do không còn khả năng thanh toán thì người thuê được giữ tài sản thuê làm tài sản của mình; (ii) Nếu việc người cho thuê không trả lại tài sản ký cược không phải do mất khả năng thanh toán thì người thuê được giao trả tài sản thuê cho chính người cho thuê, sau đó có quyền lựa chọn có thể khởi kiện yêu cầu đòi lại tài sản ký cược hoặc yêu cầu bên cho thuê thanh toán giá trị tài sản ký cược cho mình. Đồng thời, luật cần bổ sung quy định về việc xử lý tài sản đối với trường hợp tài sản ký cược có giá trị lớn hơn tài sản thuê mà bên thuê muốn sở hữu tài sản ký cược thì sẽ phải hoàn trả số tiền chênh lệch của tài sản ký cược so với giá trị của tài sản thuê; ngược lại, nếu giá trị tài sản ký cược nhỏ hơn giá trị tài sản thuê thì bên cho thuê có quyền yêu cầu bên thuê bù thêm phần chênh lệch giá trị tài sản cho mình.

Vì vậy, tác giả đề xuất sửa đổi, bổ sung khoản 2 Điều 329 Bộ luật Dân sự năm 2015 như sau:

“2. Trường hợp tài sản thuê được trả lại thì bên thuê được nhận lại tài sản ký cược sau khi trả tiền thuê; nếu bên thuê không trả lại tài sản thuê thì bên cho thuê có quyền đòi lại tài sản thuê; nếu tài sản thuê không còn để trả lại thì tài sản ký cược thuộc về bên cho thuê và các bên phải thanh toán phần giá trị tài sản chênh lệch (nếu có) cho bên kia.

Trường hợp nếu bên cho thuê không còn tài sản ký cược để trả lại cho bên thuê thì bên thuê có quyền trả lại tài sản thuê cho bên cho thuê và yêu cầu bên cho thuê bồi thường giá trị tài sản ký cược, nếu bên cho thuê cố tình không muốn trả lại tài sản ký cược cho bên thuê thì bên thuê có quyền trả lại tài sản thuê cho chính người cho thuê và có thể khởi kiện đòi lại tài sản ký cược hoặc yêu cầu thanh toán giá trị tài sản ký cược nếu không muốn nhận lại tài sản ký cược”.

Trong trường hợp không sửa đổi, bổ sung điều khoản trong Bộ luật Dân sự thì tác giả đề xuất phương án khác là ban hành một số văn bản hướng dẫn chi tiết quy định áp dụng các trường hợp xử lý tài sản ký cược.

ThS. Nguyễn Thị Anh Thư
Đại học Trà Vinh
Đoàn Mỹ Xuyên
Sinh viên Đại học Trà Vinh


[1] Thông tư số 75-BTC/TCTN ngày 30/11/1992 của Bộ Tài Chính hướng dẫn việc nộp tiền ký cược của khách du lịch.

[2] Kỷ yếu Tọa đàm “Hoàn thiện pháp luật về giao dịch bảo đảm” do Cục Đăng ký quốc gia giao dịch bảo đảm và Dự án JICA tổ chức ngày 09/7/2019 tại TP. Hồ Chí Minh.

[3] Hoàng Thế Liên và các tác giả khác (2013), Bình luận Bộ luật Dân sự 2005, Nxb. Chính trị Quốc gia, tr. 156.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Để bảo đảm cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân được tiến hành dân chủ, đúng pháp luật, các quy định về phiếu bầu cử cũng như nguyên tắc, trình tự bỏ phiếu đã được quy định chặt chẽ[1]. Việc nắm rõ các quy định này giúp cử tri thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ trong ngày bầu cử.
[1] Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 và Nghị quyết số 40/NQ-HĐBCQG ngày 29/9/2025 của Hội đồng bầu cử quốc gia quy định mẫu văn bản hồ sơ ứng cử và việc hồ sơ ứng cử; nội quy phòng bỏ phiếu trong công tác bầu cử ĐBQH khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031
Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Trong quá trình tổ chức bầu cử, có thể phát sinh một số tình huống đặc biệt như dịch bệnh, thiên tai, hỏa hoạn hoặc vấn đề về an ninh, trật tự. Pháp luật về bầu cử đã quy định rõ thẩm quyền và phương án xử lý nhằm bảo đảm cuộc bầu cử được tổ chức an toàn, đúng quy định và bảo đảm quyền bầu cử của cử tri.
Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Để chuẩn bị cho “Ngày hội non sông” - Ngày bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031, công tác phân chia đơn vị bầu cử cần phải được triển khai với những yêu cầu khắt khe hơn bao giờ hết với mục tiêu trọng tâm là bảo đảm cân đối, tránh chênh lệch lớn, thuận tiện cho cử tri thực hiện quyền bầu cử như: Các khu vực đô thị, khu công nghiệp có đông cử tri; các khu vực miền núi, hải đảo có ít cử tri.
Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Pháp luật quy định cụ thể về nguyên tắc bỏ phiếu, cách ghi phiếu bầu, việc viết hộ, bỏ hộ phiếu và xử lý Thẻ cử tri nhằm bảo đảm việc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân diễn ra đúng quy định.
Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Cơ chế giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân giữ vai trò quan trọng trong việc bảo đảm tính dân chủ, minh bạch và hợp pháp của quá trình bầu cử. Pháp luật Việt Nam thiết lập cơ chế này trên cơ sở kết hợp giữa các quy định đặc thù của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân với các quy định chung của pháp luật về khiếu nại, tố cáo, qua đó hình thành khung pháp lý cho việc tiếp nhận, xem xét và xử lý các khiếu nại, tố cáo phát sinh trong quá trình bầu cử.
Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Một vụ án in và phát hành sách giáo khoa giả vừa được đưa ra xét xử đã tiếp tục gióng lên hồi chuông cảnh báo về tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực xuất bản, đặc biệt là đối với sách giáo dục - mặt hàng có nhu cầu cao và ảnh hưởng trực tiếp đến hàng triệu học sinh.
Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức thống nhất vào ngày 15/3/2026 theo Nghị quyết của Quốc hội. Tuy nhiên, pháp luật cho phép tổ chức bỏ phiếu sớm trong những trường hợp đặc biệt nhằm bảo đảm quyền bầu cử của công dân không thể tham gia bỏ phiếu vào ngày chính thức. Việc tổ chức bầu cử sớm phải tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc về thẩm quyền quyết định, trình tự thủ tục, kiểm phiếu, niêm phong, bảo mật kết quả và kỷ luật thời gian bỏ phiếu theo đúng quy định của Luật Bầu cử và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Vận động bầu cử của người ứng cử là hoạt động gặp gỡ, tiếp xúc cử tri hoặc thông qua phương tiện thông tin đại chúng để người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân báo cáo với cử tri về dự kiến chương trình hành động của mình nhằm thực hiện trách nhiệm đại biểu nếu được bầu làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân và trao đổi những vấn đề mà cử tri quan tâm; tạo điều kiện để cử tri tiếp xúc với người ứng cử, hiểu rõ hơn người ứng cử; trên cơ sở đó cân nhắc, lựa chọn, bầu những người đủ tiêu chuẩn làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.
Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, yêu cầu thượng tôn Hiến pháp và pháp luật không chỉ đặt ra đối với hoạt động của bộ máy nhà nước mà trở thành chuẩn mực ứng xử phổ biến trong xã hội. Pháp luật chỉ thực sự phát huy vai trò điều chỉnh các quan hệ xã hội khi được các chủ thể tiếp nhận, tôn trọng, tuân thủ thực hiện trên tinh thần chủ động, tự giác, gắn với niềm tin vào công bằng và trật tự xã hội. Thực tiễn cho thấy, hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, nhưng tình trạng vi phạm pháp luật trong một số lĩnh vực vẫn diễn biến phức tạp; còn tồn tại khoảng trống giữa nhận thức pháp luật và hành vi tuân thủ; tâm lý tuân thủ thụ động, mang tính tình thế, phụ thuộc vào sự kiểm tra, giám sát và xử lý của cơ quan có thẩm quyền. Những biểu hiện này phản ánh việc tuân thủ pháp luật chưa thực sự trở thành chuẩn mực văn hóa trong xã hội. Vì vậy, việc nghiên cứu, nhận diện các yếu tố tác động, đánh giá đúng thực trạng, đề xuất nhiệm vụ, giải pháp xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn, góp phần thể chế hóa chủ trương của Đảng, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, mạnh, bền vững trong bối cảnh mới.
Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Tết Nguyên đán là dịp đoàn viên, nghỉ ngơi và tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí đầu năm, góp phần làm phong phú đời sống văn hóa, tinh thần của mỗi gia đình và cộng đồng. Tuy nhiên, một số hình thức vui chơi có thưởng có thể vượt ngoài khuôn khổ pháp luật nếu không được nhận diện đúng. Từ yêu cầu bảo đảm kỷ cương, pháp luật trong dịp Tết, việc làm rõ ranh giới pháp lý giữa vui xuân có thưởng và hành vi vi phạm pháp luật có ý nghĩa quan trọng.
Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết 71-NQ/TW) đặt ra những yêu cầu mang tính chiến lược đối với xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, giáo dục đại học giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành lớp trí thức mới - vừa có năng lực chuyên môn, vừa có bản lĩnh, nhân cách và tinh thần phụng sự xã hội. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật phỏng vấn Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đào Thanh Trường - Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội, xung quanh quan điểm xây dựng con người toàn diện, các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp, cũng như những định hướng tích hợp giáo dục nhân văn với khoa học, công nghệ trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Mùa xuân về không chỉ mang theo nhựa sống của thiên nhiên mà còn là thời điểm để nhìn lại những thành quả của năm qua. Xuân Bính Ngọ 2026, với Trường Cao đẳng Cơ điện Hà Nội (HCEM), là một mùa xuân đặc biệt - mùa xuân của sự cộng hưởng giữa niềm tự hào về hành trình 80 năm đất nước độc lập và quyết tâm chính trị cao để hiện thực hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị. Đây chính là “chìa khóa” để HCEM bứt phá, vươn tầm quốc tế, trở thành biểu tượng của nền giáo dục nghề nghiệp (GDNN) hiện đại trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Năm 2025 được xem là cột mốc bản lề trên hành trình đưa Việt Nam bước vào kỷ nguyên số toàn diện. Trong không khí Xuân Bính Ngọ 2026, Cục trưởng Cục Chuyển đổi số quốc gia (Bộ KH&CN) Trần Duy Ninh chia sẻ với Tạp chí Dân chủ và Pháp luật về những thành quả nổi bật, tầm nhìn, cơ hội và kỳ vọng đặt vào đội ngũ trí thức công nghệ, với khát vọng xây dựng đất nước Việt Nam hùng cường, tự chủ và thịnh vượng trên nền tảng số.
Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Nhìn lại hành trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đội ngũ doanh nhân Việt Nam tiếp tục là lực lượng năng động, sáng tạo và đóng góp quan trọng vào tăng trưởng. Tuy nhiên, bối cảnh hội nhập sâu, rộng đặt ra yêu cầu cao hơn đối với việc hoàn thiện pháp luật về kinh doanh. Nhân dịp xuân mới, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Quang Vinh - Phó Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) về kỳ vọng đổi mới và yêu cầu xây dựng hành lang pháp lý ổn định để doanh nghiệp Việt Nam tự tin phát triển trong giai đoạn mới.
Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với mục tiêu đến năm 2045 trở thành nước phát triển có thu nhập cao, đội ngũ doanh nhân Việt Nam được kỳ vọng trở thành lực lượng kiến tạo thịnh vượng quốc gia. Khát vọng ấy chỉ có thể nảy nở và lớn lên trong hệ sinh thái pháp lý minh bạch, an toàn và tạo động lực.

Theo dõi chúng tôi trên: