Thứ hai 21/09/2026 06:55
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Bất cập trong quy định pháp luật về ký quỹ, ký cược

Ký quỹ, ký cược là hai trong chín biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự. So với các biện pháp bảo đảm khác thì ký quỹ, ký cược nhìn chung còn khá xa lạ với nhiều người tham gia giao dịch và cũng có ít văn bản hướng dẫn chi tiết về hai biện pháp bảo đảm này. Trong bài viết, nhóm tác giả nêu lên một số bất cập, đồng thời đưa ra kiến nghị hoàn thiện quy định pháp luật về ký quỹ, ký cược trong quan hệ pháp luật dân sự.


Khoản 1 Điều 330 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: “Ký quỹ là việc bên có nghĩa vụ gửi một khoản tiền hoặc kim khí quý, đá quý hoặc giấy tờ có giá vào tài khoản phong tỏa tại một tổ chức tín dụng để bảo đảm việc thực hiện nghĩa vụ”. Theo tìm hiểu của nhóm tác giả, tính đến thời điểm hiện tại, trong hệ thống pháp luật Việt Nam, ngoài điều khoản này thì không còn quy định nào định nghĩa trực tiếp ký quỹ là gì.

Theo quy định tại khoản 1 Điều 329 thì: “Ký cược là việc bên thuê tài sản là động sản giao cho bên cho thuê một khoản tiền hoặc kim khí quý, đá quý hoặc các vật có giá trị khác (sau đây gọi chung là tài sản ký cược) trong một thời hạn để bảo đảm việc trả lại tài sản thuê”. Dưới góc độ pháp lý, từ định nghĩa về ký cược, dễ dàng nhận thấy, quan hệ ký cược đi liền với hợp đồng thuê tài sản bao gồm hai bên tham gia là bên ký cược (bên thuê) và bên nhận ký cược (bên cho thuê). Việc ký cược chỉ được xác lập nhằm bảo đảm nghĩa vụ trả lại tài sản thuê trong hợp đồng thuê, trong đó, tài sản ký cược được dịch chuyển sang cho bên nhận ký cược. Tài sản ký cược có thể là tiền hoặc kim khí quý, đá quý hoặc vật có giá trị khác. Như vậy, biện pháp ký cược chỉ được sử dụng để bảo đảm duy nhất cho nghĩa vụ trả lại tài sản thuê là động sản. Điều đó có nghĩa là không được ký cược để bảo đảm nghĩa vụ đối với bất kỳ loại hợp đồng nào khác, kể cả hợp đồng thuê bất động sản (trước đây, ký cược đã từng được quy định nhằm bảo đảm việc khách du lịch nước ngoài thông qua các doanh nghiệp du lịch trở về nước[1]).

Trong phạm vi bài viết này, tác giả đưa ra quan điểm về một số bất cập và kiến nghị hoàn thiện hơn quy định về các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ ký quỹ, ký cược, cụ thể:

1. Quy định giới hạn về đối tượng được phép giao dịch ký quỹ, ký cược

Về loại tài sản được phép lưu thông, trao đổi trong giao dịch dân sự, theo khoản 1 Điều 105 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì tài sản gồm có bốn loại là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản. Ký quỹ, ký cược là hai trong chín biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự, có đối tượng là tài sản gồm những loại như sau: (i) Đối tượng trong giao dịch ký quỹ bao gồm tiền hoặc kim khí quý, đá quý hoặc giấy tờ có giá (thiếu một loại tài sản là quyền tài sản); (ii) Đối tượng trong giao dịch ký cược bao gồm tiền hoặc kim khí quý, đá quý hoặc vật có giá trị khác (thiếu hai loại tài sản là giấy tờ có giá và quyền tài sản). Như vậy, quy định về đối tượng của ký quỹ, ký cược theo Bộ luật Dân sự năm 2015 đều không bao gồm quyền tài sản, trong khi đó, các loại tài sản có thể giao dịch dân sự có quyền tài sản. Điều này sẽ làm giới hạn quyền giao dịch dân sự của các chủ thể. Bên cạnh đó, đối với các biện pháp cầm cố, thế chấp, bảo lãnh, ngoài những tài sản được liệt kê tại Điều 329, Điều 330 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì quyền tài sản cũng là đối tượng của các biện pháp bảo đảm này. Điều này cho thấy, so với các biện pháp bảo đảm khác, tài sản bảo đảm trong ký quỹ, ký cược còn bị hạn chế và giới hạn. Quy định của pháp luật đã tạo ra sự phân biệt giữa các biện pháp bảo đảm. Hơn nữa, trong quá trình hội nhập xu thế toàn cầu hóa quốc tế hiện nay, tài sản giao lưu dân sự là quyền tài sản ngày càng phổ biến. Chính vì vậy, việc mở rộng phạm vi đối tượng bảo đảm của ký quỹ, ký cược là cần thiết. Tác giả đề xuất sửa đổi điều luật về đối tượng ký quỹ, ký cược như sau:

Thứ nhất, đối với ký quỹ, cần sửa đổi, bổ sung khoản 1 Điều 330 Bộ luật Dân sự năm 2015 như sau: Ký quỹ là việc bên có nghĩa vụ gửi một khoản tiền hoặc kim khí quý, đá quý hoặc giấy tờ có giá “hoặc quyền tài sản” vào tài khoản phong tỏa tại một tổ chức tín dụng để bảo đảm việc thực hiện nghĩa vụ.

Thứ hai, đối với ký cược, đối tượng là quyền tài sản cần được quy định cụ thể trong những trường hợp tài sản thuê có giá trị lớn, vì ký cược phải có sự chuyển giao tài sản nên đối với những giao dịch nhỏ thì đối tượng là quyền tài sản sẽ làm giao dịch này trở nên phức tạp, khó khăn trong việc chuyển giao quyền sở hữu giữa các bên. Bên cạnh việc bổ sung về đối tượng là quyền tài sản, tác giả đề xuất bỏ quy định “kim khí quý, đá quý” bên cạnh “vật có giá trị” vì vật có giá trị đã bao gồm kim khí quý, đá quý. Do đó, cần sửa đổi, bổ sung quy định tại khoản 1 Điều 329 Bộ luật Dân sự năm 2015 như sau: Ký cược là việc bên thuê tài sản là động sản giao cho bên cho thuê một khoản tiền hoặc vật có giá trị hoặc quyền tài sản (sau đây gọi chung là tài sản ký cược) trong một thời hạn để bảo đảm việc trả lại tài sản thuê.

Ở đây, đối với tài sản là giấy tờ có giá, tác giả không đề xuất bổ sung thành đối tượng của ký cược vì đối với ký cược, khi các bên xác lập giao dịch với nhau cần phải có sự chuyển giao tài sản nên đối với các loại giấy tờ có giá, khi chuyển giao thì phải thực hiện thủ tục chuyển giao tài sản theo quy định của pháp luật mà việc thực hiện thủ tục chuyển giao này làm mất nhiều thời gian và gây khó khăn cho cả hai bên; bên cạnh đó, giấy tờ có giá khi có sự chuyển giao cho bên kia thì cần phải thực hiện theo đúng quy định pháp luật để có thể xử lý được khi xảy ra tranh chấp.

2. Việc xác định chủ thể của giao dịch ký quỹ

Theo quy định tại Điều 330 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì chủ thể tham gia giao dịch ký quỹ phải có ba bên, đó là bên có nghĩa vụ (bên ký quỹ), bên có quyền (bên nhận ký quỹ) và tổ chức tín dụng.

Tuy nhiên, trong thực tiễn, đối với lĩnh vực ngân hàng, việc ký quỹ có thể chỉ có sự tham gia của hai bên là bên ký quỹ và bên tổ chức tín dụng (cũng đồng thời là bên có quyền và bên nhận ký quỹ, thay vì lại phải ký quỹ ở một tổ chức tín dụng khác)[2]. Bên cạnh đó, theo một số quy định khác, giao dịch ký quỹ lại không nhất thiết phải có sự tham gia của tổ chức tín dụng, chẳng hạn như các công ty chứng khoán cũng thực hiện việc ký quỹ. Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 cũng quy định: “Nghiêm cấm cá nhân, tổ chức không phải là tổ chức tín dụng thực hiện hoạt động ngân hàng, trừ giao dịch ký quỹ, giao dịch mua, bán lại chứng khoán của công ty chứng khoán” (khoản 2 Điều 8).

Như vậy, Bộ luật Dân sự năm 2015 đã không bao quát được các trường hợp theo quy định của pháp luật ngân hàng và trên thực tế là ngoài trường hợp ký quỹ ba bên thì đang thừa nhận quan hệ ký quỹ chỉ có hai bên. Điều này dẫn đến việc thiếu thống nhất và đồng bộ giữa các văn bản pháp luật.

Vì vậy, tác giả đề xuất bổ sung cụm từ “trừ trường hợp luật có quy định khác” vào định nghĩa ký quỹ tại khoản 1 Điều 330 Bộ luật Dân sự năm 2015, theo đó: Ký quỹ là việc bên có nghĩa vụ gửi một khoản tiền hoặc kim khí quý, đá quý hoặc giấy tờ có giá hoặc quyền tài sản vào tài khoản phong tỏa tại một tổ chức tín dụng để bảo đảm việc thực hiện nghĩa vụ, “trừ trường hợp luật có quy định khác”. Phương án khác là có thể ban hành một văn bản quy định cụ thể, điều này sẽ phần nào hạn chế được tình trạng vi phạm pháp luật và góp phần tạo nên một hệ thống pháp luật hoàn chỉnh hơn; việc quy định cụ thể cũng tránh gây nhầm lẫn, khó hiểu cho các bên, tạo điều kiện thuận lợi, dễ dàng hơn cho các chủ thể khi tham gia vào giao dịch ký quỹ.

3. Hình thức xác lập giao dịch ký cược

Đối với ký cược, pháp luật không quy định bắt buộc các chủ thể phải xác lập bằng hình thức văn bản. Tuy nhiên, theo tác giả, pháp luật cần sửa đổi theo hướng quy định các bên phải thỏa thuận ký cược bằng văn bản, bởi lẽ:

- Văn bản này là cơ sở pháp lý để các bên tham gia giao dịch phân định được đúng, sai, bảo vệ quyền lợi cho mình, bảo đảm cho việc thực hiện nghĩa vụ, từ đó cũng hạn chế xảy ra tranh chấp, mâu thuẫn giữa các bên.

- Ký cược bằng văn bản giúp nâng cao giá trị pháp lý của ký cược, tạo lòng tin để các chủ thể lựa chọn áp dụng trong các hợp đồng có giá trị lớn.

- Trong trường hợp tài sản ký cược là động sản có đăng ký quyền sở hữu thì thỏa thuận bằng văn bản là bằng chứng để bên cho thuê thực hiện việc đăng ký chuyển quyền sở hữu tài sản ký cược từ bên thuê sang cho mình[3].

- Văn bản ký cược là bằng chứng để cơ quan chức năng có thể thuận tiện cho việc kiểm tra, quản lý việc kinh doanh của các cơ sở kinh doanh; là bằng chứng pháp lý quan trọng để giải quyết tranh chấp liên quan đến ký cược.

- Sự tồn tại của ký cược là vì một giao dịch dân sự khác được xác lập trước đó, nếu ký cược không được thể hiện rõ bằng văn bản thì nó không thể thực hiện tốt vai trò là biện pháp bảo đảm của mình.

- Pháp luật không quy định cụ thể ký cược bằng miệng thế nào được coi là hợp pháp, chỉ cần có hai bên chủ thể hay phải có người làm chứng khi xác lập giao dịch.

- Mặc dù pháp luật không bắt buộc nhưng trên thực tế, nếu tài sản ký cược có giá trị lớn, các bên cũng thường lựa chọn hình thức xác lập giao dịch ký cược bằng văn bản.

4. Xử lý tài sản ký cược trong trường hợp bên cho thuê không trả lại tài sản ký cược

Về xử lý tài sản ký cược, Bộ luật Dân sự năm 2015 chỉ quy định về trường hợp tài sản thuê được trả lại cho bên cho thuê và tài sản thuê không được trả lại cho bên cho thuê, mà chưa có quy định về trường hợp bên cho thuê không trả lại tài sản ký cược. Tức là pháp luật mới chỉ quy định được việc xử lý hậu quả khi một bên vi phạm (bên thuê), còn bên kia thì bỏ ngỏ (bên cho thuê). Điều này ảnh hưởng đến quyền lợi của bên thuê và làm mất đi sự bình đẳng của các bên khi tham gia giao dịch. Như vậy, khi có tranh chấp xảy ra, trường hợp bên cho thuê không trả lại tài sản ký cược thì xử lý như thế nào? Bên cạnh đó, luật cũng chưa quy định việc xử lý tài sản trong trường hợp tài sản ký cược có giá trị lớn hơn tài sản thuê hoặc nhỏ hơn tài sản thuê, khi xảy ra tranh chấp, các bên có phải trả phần thừa, bù phần thiếu hay không?

Theo tác giả, trong trường hợp bên cho thuê không trả lại tài sản ký cược thì xử lý theo hướng: (i) Nếu việc người cho thuê không trả lại tài sản ký cược là do không còn khả năng thanh toán thì người thuê được giữ tài sản thuê làm tài sản của mình; (ii) Nếu việc người cho thuê không trả lại tài sản ký cược không phải do mất khả năng thanh toán thì người thuê được giao trả tài sản thuê cho chính người cho thuê, sau đó có quyền lựa chọn có thể khởi kiện yêu cầu đòi lại tài sản ký cược hoặc yêu cầu bên cho thuê thanh toán giá trị tài sản ký cược cho mình. Đồng thời, luật cần bổ sung quy định về việc xử lý tài sản đối với trường hợp tài sản ký cược có giá trị lớn hơn tài sản thuê mà bên thuê muốn sở hữu tài sản ký cược thì sẽ phải hoàn trả số tiền chênh lệch của tài sản ký cược so với giá trị của tài sản thuê; ngược lại, nếu giá trị tài sản ký cược nhỏ hơn giá trị tài sản thuê thì bên cho thuê có quyền yêu cầu bên thuê bù thêm phần chênh lệch giá trị tài sản cho mình.

Vì vậy, tác giả đề xuất sửa đổi, bổ sung khoản 2 Điều 329 Bộ luật Dân sự năm 2015 như sau:

“2. Trường hợp tài sản thuê được trả lại thì bên thuê được nhận lại tài sản ký cược sau khi trả tiền thuê; nếu bên thuê không trả lại tài sản thuê thì bên cho thuê có quyền đòi lại tài sản thuê; nếu tài sản thuê không còn để trả lại thì tài sản ký cược thuộc về bên cho thuê và các bên phải thanh toán phần giá trị tài sản chênh lệch (nếu có) cho bên kia.

Trường hợp nếu bên cho thuê không còn tài sản ký cược để trả lại cho bên thuê thì bên thuê có quyền trả lại tài sản thuê cho bên cho thuê và yêu cầu bên cho thuê bồi thường giá trị tài sản ký cược, nếu bên cho thuê cố tình không muốn trả lại tài sản ký cược cho bên thuê thì bên thuê có quyền trả lại tài sản thuê cho chính người cho thuê và có thể khởi kiện đòi lại tài sản ký cược hoặc yêu cầu thanh toán giá trị tài sản ký cược nếu không muốn nhận lại tài sản ký cược”.

Trong trường hợp không sửa đổi, bổ sung điều khoản trong Bộ luật Dân sự thì tác giả đề xuất phương án khác là ban hành một số văn bản hướng dẫn chi tiết quy định áp dụng các trường hợp xử lý tài sản ký cược.

ThS. Nguyễn Thị Anh Thư
Đại học Trà Vinh
Đoàn Mỹ Xuyên
Sinh viên Đại học Trà Vinh


[1] Thông tư số 75-BTC/TCTN ngày 30/11/1992 của Bộ Tài Chính hướng dẫn việc nộp tiền ký cược của khách du lịch.

[2] Kỷ yếu Tọa đàm “Hoàn thiện pháp luật về giao dịch bảo đảm” do Cục Đăng ký quốc gia giao dịch bảo đảm và Dự án JICA tổ chức ngày 09/7/2019 tại TP. Hồ Chí Minh.

[3] Hoàng Thế Liên và các tác giả khác (2013), Bình luận Bộ luật Dân sự 2005, Nxb. Chính trị Quốc gia, tr. 156.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2026 được ban hành với nhiều điểm mới nhằm khắc phục những khó khăn, vướng mắc của Luật hiện hành; đổi mới hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật theo hướng lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm; bảo đảm quyền tiếp cận pháp luật, quyền tham gia góp ý, phản ánh, kiến nghị về chính sách, pháp luật; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo; đồng thời góp phần xây dựng văn hóa thượng tôn pháp luật và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chủ trương khởi nghiệp sáng tạo tại Việt Nam được Đảng và Nhà nước nhận thức, định hướng trong sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư khi nền sản xuất toàn cầu có sự kết hợp của các công nghệ hiện đại như trí tuệ nhân tạo, Internet of Things (IoT), robot tự động, dữ liệu lớn và nhiều công nghệ tiên tiến khác. Để thúc đẩy, tạo động lực cho cá nhân, tổ chức phát huy đam mê khởi nghiệp sáng tạo, tối đa hóa năng lực, nguồn lực, cống hiến trí tuệ cho sự phát triển chung của đất nước, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế- xã hội, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã từng bước đề ra chủ trương, chính sách pháp luật, chiến lược lâu dài nhằm kiến tạo hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo. Từ định hướng chiến lược tại Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân, đến việc thể chế hóa chủ trương của Đảng trong Luật Khoa học, Công nghệ và đổi mới sáng tạo năm 2025 và Chính phủ cụ thể hóa thông qua Nghị quyết số 86/NQ-CP ban hành Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo. Những chủ trương, chính sách đã góp phần thúc đẩy khởi nghiệp sáng tạo trong hệ thống kinh tế tư nhân trở thành một động lực phát triển quan trọng của đất nước trong kỷ nguyên số.
Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô số 02/2026/QH16 được Quốc hội khóa XVI thông qua ngày 23/4/2026, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026, thay thế Luật Thủ đô số 39/2024/QH15. Với 09 chương, 36 điều, Luật Thủ đô năm 2026 tiếp tục thể chế hóa chủ trương xây dựng Thủ đô Hà Nội trở thành trung tâm chính trị, hành chính quốc gia, trung tâm lớn về kinh tế, văn hóa, khoa học, giáo dục, đào tạo và đổi mới sáng tạo; đồng thời tạo dựng một không gian pháp lý mới với mức độ phân quyền, phân cấp và trao quyền mạnh mẽ hơn cho Thành phố.
Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Tại Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI đã thông qua Luật Phát triển đô thị số 18/2026/QH16, Luật có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/10/2026. Luật được kết cấu gồm 05 chương, 66 điều quy định các cơ chế, chính sách nhằm tạo lập hành lang pháp lý ổn định, đồng bộ, đột phá và khả thi để thúc đẩy phát triển Thành phố Hồ Chí Minh, phát triển đô thị đặc biệt khác, thành phố khác và khu kinh tế đặc biệt; bảo đảm cơ sở pháp lý cho việc áp dụng các cơ chế, chính sách đặc thù, vượt trội phù hợp với điều kiện, yêu cầu phát triển và năng lực thực thi của từng địa phương; qua đó khai thác hiệu quả tiềm năng, lợi thế, tạo không gian phát triển mới, thu hút nguồn lực đầu tư chất lượng cao và hình thành các động lực tăng trưởng mới.
Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Trên cơ sở kế thừa những quy định của Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013 đã được thực tiễn chứng minh là phù hợp, Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026 đồng thời bổ sung nhiều quy định để tháo gỡ những vướng mắc, bất cập, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, tạo cơ sở pháp lý đầy đủ, đồng bộ cho công tác hòa giải ở cơ sở.
Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chuyển đổi số trong hoạt động ngân hàng đã làm thay đổi căn bản phương thức xác lập và thực hiện các hợp đồng, giao dịch. Nhiều giao dịch được thực hiện hoàn toàn trên môi trường điện tử thông qua Internet Banking, Mobile Banking, eKYC, chữ ký điện tử, xác thực OTP và các hệ thống ngân hàng lõi (Core Banking). Khi phát sinh tranh chấp, chứng cứ không chỉ là hồ sơ giấy mà còn là dữ liệu điện tử được lưu giữ trên các hệ thống thông tin của ngân hàng và của khách hàng. Mặc dù Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015) và Luật Giao dịch điện tử năm 2023 đã thiết lập cơ sở pháp lý quan trọng cho việc thừa nhận dữ liệu điện tử là nguồn chứng cứ. Tuy nhiên, việc xác định giá trị chứng minh của loại chứng cứ này vẫn còn nhiều khoảng trống cần tiếp tục hoàn thiện.
Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Ngày 25/6/2025, Quốc hội khóa XV đã thông qua Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 (Luật số 89/2025/QH15) đánh dấu bước quan trọng trong tư duy lập pháp, quản lý của Nhà nước đối với hệ thống ngân sách nhà nước, đáp ứng yêu cầu tổ chức mô hình chính quyền địa phương hai cấp trên phạm vi toàn quốc. Bài viết đề cập nội dung của Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 gắn với việc tổ chức mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, làm rõ những kết quả từ việc sửa đổi Luật phù hợp với thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội, tổ chức bộ máy hành chính hiện nay.
THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

Trong cấu trúc an ninh phi truyền thống hiện đại, an ninh năng lượng đóng vai trò là “mạch máu” sống còn, quyết định sức bền kinh tế và vị thế quốc gia. Bước vào giai đoạn 2026 - 2030, trước yêu cầu bứt phá tăng trưởng GDP ở mức hai con số gắn liền với cam kết lịch sử phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050, Việt Nam đứng trước bài toán vừa bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng trước biến động địa chính trị toàn cầu, vừa chủ động chuyển dịch năng lượng xanh theo chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước.
Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp, cải cách thủ tục hành chính tiếp tục được đẩy mạnh gắn với chuyển đổi số, phân cấp, phân quyền và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Kết quả thực hiện trong tháng 8/2026 cho thấy nhiều chuyển biến tích cực, đồng thời đặt ra yêu cầu tiếp tục đồng bộ dữ liệu, hoàn thiện quy trình và nâng cao hiệu quả phối hợp trong cải cách thủ tục hành chính.
Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp về tình hình, kết quả cải cách thủ tục hành chính (TTHC) tháng 8 và nhiệm vụ trọng tâm tháng 9/2026, cải cách TTHC đang chuyển sang một giai đoạn mới, trong đó dữ liệu và công nghệ số ngày càng giữ vai trò quan trọng trong quản trị và tổ chức thực hiện. Việc khai thác, kết nối, chia sẻ dữ liệu để tái cấu trúc quy trình, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục đang từng bước làm thay đổi phương thức quản lý, hướng tới nền hành chính hiện đại, hiệu quả, phục vụ tốt hơn người dân và doanh nghiệp.
Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bài viết phân tích yêu cầu tái cấu trúc phương thức bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong điều kiện tiếp tục tinh gọn tổ chức bộ máy và đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia. Từ cách tiếp cận hệ thống, bài viết làm rõ sự dịch chuyển từ bảo vệ bằng tuyên truyền tuyến tính sang bảo vệ bằng năng lực thể chế hóa, năng lực quản trị và hiệu quả tổ chức thực hiện; đồng thời phân tích vai trò của Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 66-NQ/TW) và Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 57-NQ/TW) như hai trục lớn của quá trình tái cấu trúc này. Trên cơ sở đó, bài viết khảo sát thực tiễn thi hành án dân sự, qua đó cho thấy “gọn hơn về tổ chức, mạnh hơn về quản trị” không chỉ là yêu cầu cải cách hành chính, mà còn là một phương thức củng cố niềm tin của Nhân dân vào hệ thống chính trị.
THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả không chỉ là giảm bớt hóa đơn tiền điện, mà còn trở thành “chìa khóa” bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, bảo vệ môi trường và hướng tới tăng trưởng xanh. Đứng trước những biến động phức tạp của chuỗi cung ứng toàn cầu, sự ra đời của các văn bản chỉ đạo chiến lược như Chỉ thị số 09/CT-TTg, Chỉ thị số 10/CT-TTg và Công điện số 27/CĐ-TTg từ Chính phủ đang tạo ra những bước ngoặt lớn. Cuộc cách mạng này đòi hỏi sự đồng bộ từ hoàn thiện hành lang pháp lý, đổi mới công nghệ, đến sự thay đổi tư duy và hành động của mỗi người dân, doanh nghiệp.
“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 2)

“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 2)

Du lịch xanh, du lịch bền vững đã trở thành xu hướng phổ biến tại Việt Nam, nhưng để tiến tới mục tiêu "du lịch Net Zero", ngành Du lịch cần có nhiều thay đổi theo chiều sâu: từ việc xây dựng những sản phẩm xanh sang xây dựng những doanh nghiệp lữ hành thực sự bền vững. Đây là cả một quá trình bởi phát triển "du lịch Net Zero" không chỉ liên quan đến môi trường mà còn đòi hỏi sự thay đổi đồng bộ về mô hình kinh doanh, sản phẩm, công nghệ, nhân lực, quan hệ với cộng đồng và cách thức ứng xử với các giá trị văn hóa.
“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 1)

“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 1)

Du lịch Việt Nam đang đứng trước một giai đoạn phát triển mới, trong đó yêu cầu tăng trưởng không thể tách rời nhiệm vụ bảo tồn và phát huy những giá trị làm nên bản sắc dân tộc. Nếu thiên nhiên tạo nên diện mạo của đất nước thì văn hóa chính là chiều sâu, là ký ức, là “hồn cốt” để Việt Nam trở thành một điểm đến khác biệt trong mắt du khách trong nước và quốc tế. Bởi vậy, phát triển du lịch hôm nay không chỉ là câu chuyện về lượng khách, doanh thu hay số lượng cơ sở lưu trú, mà còn là câu chuyện về cách gìn giữ di sản, bảo vệ cảnh quan, duy trì lối sống cộng đồng và trao truyền những giá trị văn hóa Việt Nam cho các thế hệ mai sau. Trong câu chuyện đó, doanh nghiệp lữ hành đóng vai trò trung tâm, là “cầu nối” đưa văn hoá Việt Nam đến với du khách.
Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Trong bối cảnh tai nạn lao động vẫn diễn biến phức tạp, chuyển đổi số đang mở ra khả năng thay đổi căn bản phương thức quản trị an toàn, vệ sinh lao động (ATVSLĐ) tại doanh nghiệp. Từ số hóa hoạt động huấn luyện, cấp chứng nhận điện tử đến ứng dụng trí tuệ nhân tạo, cảm biến và robot để nhận diện, cảnh báo sớm nguy cơ, vấn đề đặt ra hiện nay là cần tiếp tục hoàn thiện hành lang pháp lý để chuyển từ quản lý mang tính thủ tục, hậu kiểm sang quản trị chủ động, lấy phòng ngừa rủi ro làm trọng tâm.

Theo dõi chúng tôi trên: