Thứ sáu 16/01/2026 23:28
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Bất cập trong quy định pháp luật về ký quỹ, ký cược

Ký quỹ, ký cược là hai trong chín biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự. So với các biện pháp bảo đảm khác thì ký quỹ, ký cược nhìn chung còn khá xa lạ với nhiều người tham gia giao dịch và cũng có ít văn bản hướng dẫn chi tiết về hai biện pháp bảo đảm này. Trong bài viết, nhóm tác giả nêu lên một số bất cập, đồng thời đưa ra kiến nghị hoàn thiện quy định pháp luật về ký quỹ, ký cược trong quan hệ pháp luật dân sự.


Khoản 1 Điều 330 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: “Ký quỹ là việc bên có nghĩa vụ gửi một khoản tiền hoặc kim khí quý, đá quý hoặc giấy tờ có giá vào tài khoản phong tỏa tại một tổ chức tín dụng để bảo đảm việc thực hiện nghĩa vụ”. Theo tìm hiểu của nhóm tác giả, tính đến thời điểm hiện tại, trong hệ thống pháp luật Việt Nam, ngoài điều khoản này thì không còn quy định nào định nghĩa trực tiếp ký quỹ là gì.

Theo quy định tại khoản 1 Điều 329 thì: “Ký cược là việc bên thuê tài sản là động sản giao cho bên cho thuê một khoản tiền hoặc kim khí quý, đá quý hoặc các vật có giá trị khác (sau đây gọi chung là tài sản ký cược) trong một thời hạn để bảo đảm việc trả lại tài sản thuê”. Dưới góc độ pháp lý, từ định nghĩa về ký cược, dễ dàng nhận thấy, quan hệ ký cược đi liền với hợp đồng thuê tài sản bao gồm hai bên tham gia là bên ký cược (bên thuê) và bên nhận ký cược (bên cho thuê). Việc ký cược chỉ được xác lập nhằm bảo đảm nghĩa vụ trả lại tài sản thuê trong hợp đồng thuê, trong đó, tài sản ký cược được dịch chuyển sang cho bên nhận ký cược. Tài sản ký cược có thể là tiền hoặc kim khí quý, đá quý hoặc vật có giá trị khác. Như vậy, biện pháp ký cược chỉ được sử dụng để bảo đảm duy nhất cho nghĩa vụ trả lại tài sản thuê là động sản. Điều đó có nghĩa là không được ký cược để bảo đảm nghĩa vụ đối với bất kỳ loại hợp đồng nào khác, kể cả hợp đồng thuê bất động sản (trước đây, ký cược đã từng được quy định nhằm bảo đảm việc khách du lịch nước ngoài thông qua các doanh nghiệp du lịch trở về nước[1]).

Trong phạm vi bài viết này, tác giả đưa ra quan điểm về một số bất cập và kiến nghị hoàn thiện hơn quy định về các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ ký quỹ, ký cược, cụ thể:

1. Quy định giới hạn về đối tượng được phép giao dịch ký quỹ, ký cược

Về loại tài sản được phép lưu thông, trao đổi trong giao dịch dân sự, theo khoản 1 Điều 105 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì tài sản gồm có bốn loại là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản. Ký quỹ, ký cược là hai trong chín biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự, có đối tượng là tài sản gồm những loại như sau: (i) Đối tượng trong giao dịch ký quỹ bao gồm tiền hoặc kim khí quý, đá quý hoặc giấy tờ có giá (thiếu một loại tài sản là quyền tài sản); (ii) Đối tượng trong giao dịch ký cược bao gồm tiền hoặc kim khí quý, đá quý hoặc vật có giá trị khác (thiếu hai loại tài sản là giấy tờ có giá và quyền tài sản). Như vậy, quy định về đối tượng của ký quỹ, ký cược theo Bộ luật Dân sự năm 2015 đều không bao gồm quyền tài sản, trong khi đó, các loại tài sản có thể giao dịch dân sự có quyền tài sản. Điều này sẽ làm giới hạn quyền giao dịch dân sự của các chủ thể. Bên cạnh đó, đối với các biện pháp cầm cố, thế chấp, bảo lãnh, ngoài những tài sản được liệt kê tại Điều 329, Điều 330 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì quyền tài sản cũng là đối tượng của các biện pháp bảo đảm này. Điều này cho thấy, so với các biện pháp bảo đảm khác, tài sản bảo đảm trong ký quỹ, ký cược còn bị hạn chế và giới hạn. Quy định của pháp luật đã tạo ra sự phân biệt giữa các biện pháp bảo đảm. Hơn nữa, trong quá trình hội nhập xu thế toàn cầu hóa quốc tế hiện nay, tài sản giao lưu dân sự là quyền tài sản ngày càng phổ biến. Chính vì vậy, việc mở rộng phạm vi đối tượng bảo đảm của ký quỹ, ký cược là cần thiết. Tác giả đề xuất sửa đổi điều luật về đối tượng ký quỹ, ký cược như sau:

Thứ nhất, đối với ký quỹ, cần sửa đổi, bổ sung khoản 1 Điều 330 Bộ luật Dân sự năm 2015 như sau: Ký quỹ là việc bên có nghĩa vụ gửi một khoản tiền hoặc kim khí quý, đá quý hoặc giấy tờ có giá “hoặc quyền tài sản” vào tài khoản phong tỏa tại một tổ chức tín dụng để bảo đảm việc thực hiện nghĩa vụ.

Thứ hai, đối với ký cược, đối tượng là quyền tài sản cần được quy định cụ thể trong những trường hợp tài sản thuê có giá trị lớn, vì ký cược phải có sự chuyển giao tài sản nên đối với những giao dịch nhỏ thì đối tượng là quyền tài sản sẽ làm giao dịch này trở nên phức tạp, khó khăn trong việc chuyển giao quyền sở hữu giữa các bên. Bên cạnh việc bổ sung về đối tượng là quyền tài sản, tác giả đề xuất bỏ quy định “kim khí quý, đá quý” bên cạnh “vật có giá trị” vì vật có giá trị đã bao gồm kim khí quý, đá quý. Do đó, cần sửa đổi, bổ sung quy định tại khoản 1 Điều 329 Bộ luật Dân sự năm 2015 như sau: Ký cược là việc bên thuê tài sản là động sản giao cho bên cho thuê một khoản tiền hoặc vật có giá trị hoặc quyền tài sản (sau đây gọi chung là tài sản ký cược) trong một thời hạn để bảo đảm việc trả lại tài sản thuê.

Ở đây, đối với tài sản là giấy tờ có giá, tác giả không đề xuất bổ sung thành đối tượng của ký cược vì đối với ký cược, khi các bên xác lập giao dịch với nhau cần phải có sự chuyển giao tài sản nên đối với các loại giấy tờ có giá, khi chuyển giao thì phải thực hiện thủ tục chuyển giao tài sản theo quy định của pháp luật mà việc thực hiện thủ tục chuyển giao này làm mất nhiều thời gian và gây khó khăn cho cả hai bên; bên cạnh đó, giấy tờ có giá khi có sự chuyển giao cho bên kia thì cần phải thực hiện theo đúng quy định pháp luật để có thể xử lý được khi xảy ra tranh chấp.

2. Việc xác định chủ thể của giao dịch ký quỹ

Theo quy định tại Điều 330 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì chủ thể tham gia giao dịch ký quỹ phải có ba bên, đó là bên có nghĩa vụ (bên ký quỹ), bên có quyền (bên nhận ký quỹ) và tổ chức tín dụng.

Tuy nhiên, trong thực tiễn, đối với lĩnh vực ngân hàng, việc ký quỹ có thể chỉ có sự tham gia của hai bên là bên ký quỹ và bên tổ chức tín dụng (cũng đồng thời là bên có quyền và bên nhận ký quỹ, thay vì lại phải ký quỹ ở một tổ chức tín dụng khác)[2]. Bên cạnh đó, theo một số quy định khác, giao dịch ký quỹ lại không nhất thiết phải có sự tham gia của tổ chức tín dụng, chẳng hạn như các công ty chứng khoán cũng thực hiện việc ký quỹ. Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 cũng quy định: “Nghiêm cấm cá nhân, tổ chức không phải là tổ chức tín dụng thực hiện hoạt động ngân hàng, trừ giao dịch ký quỹ, giao dịch mua, bán lại chứng khoán của công ty chứng khoán” (khoản 2 Điều 8).

Như vậy, Bộ luật Dân sự năm 2015 đã không bao quát được các trường hợp theo quy định của pháp luật ngân hàng và trên thực tế là ngoài trường hợp ký quỹ ba bên thì đang thừa nhận quan hệ ký quỹ chỉ có hai bên. Điều này dẫn đến việc thiếu thống nhất và đồng bộ giữa các văn bản pháp luật.

Vì vậy, tác giả đề xuất bổ sung cụm từ “trừ trường hợp luật có quy định khác” vào định nghĩa ký quỹ tại khoản 1 Điều 330 Bộ luật Dân sự năm 2015, theo đó: Ký quỹ là việc bên có nghĩa vụ gửi một khoản tiền hoặc kim khí quý, đá quý hoặc giấy tờ có giá hoặc quyền tài sản vào tài khoản phong tỏa tại một tổ chức tín dụng để bảo đảm việc thực hiện nghĩa vụ, “trừ trường hợp luật có quy định khác”. Phương án khác là có thể ban hành một văn bản quy định cụ thể, điều này sẽ phần nào hạn chế được tình trạng vi phạm pháp luật và góp phần tạo nên một hệ thống pháp luật hoàn chỉnh hơn; việc quy định cụ thể cũng tránh gây nhầm lẫn, khó hiểu cho các bên, tạo điều kiện thuận lợi, dễ dàng hơn cho các chủ thể khi tham gia vào giao dịch ký quỹ.

3. Hình thức xác lập giao dịch ký cược

Đối với ký cược, pháp luật không quy định bắt buộc các chủ thể phải xác lập bằng hình thức văn bản. Tuy nhiên, theo tác giả, pháp luật cần sửa đổi theo hướng quy định các bên phải thỏa thuận ký cược bằng văn bản, bởi lẽ:

- Văn bản này là cơ sở pháp lý để các bên tham gia giao dịch phân định được đúng, sai, bảo vệ quyền lợi cho mình, bảo đảm cho việc thực hiện nghĩa vụ, từ đó cũng hạn chế xảy ra tranh chấp, mâu thuẫn giữa các bên.

- Ký cược bằng văn bản giúp nâng cao giá trị pháp lý của ký cược, tạo lòng tin để các chủ thể lựa chọn áp dụng trong các hợp đồng có giá trị lớn.

- Trong trường hợp tài sản ký cược là động sản có đăng ký quyền sở hữu thì thỏa thuận bằng văn bản là bằng chứng để bên cho thuê thực hiện việc đăng ký chuyển quyền sở hữu tài sản ký cược từ bên thuê sang cho mình[3].

- Văn bản ký cược là bằng chứng để cơ quan chức năng có thể thuận tiện cho việc kiểm tra, quản lý việc kinh doanh của các cơ sở kinh doanh; là bằng chứng pháp lý quan trọng để giải quyết tranh chấp liên quan đến ký cược.

- Sự tồn tại của ký cược là vì một giao dịch dân sự khác được xác lập trước đó, nếu ký cược không được thể hiện rõ bằng văn bản thì nó không thể thực hiện tốt vai trò là biện pháp bảo đảm của mình.

- Pháp luật không quy định cụ thể ký cược bằng miệng thế nào được coi là hợp pháp, chỉ cần có hai bên chủ thể hay phải có người làm chứng khi xác lập giao dịch.

- Mặc dù pháp luật không bắt buộc nhưng trên thực tế, nếu tài sản ký cược có giá trị lớn, các bên cũng thường lựa chọn hình thức xác lập giao dịch ký cược bằng văn bản.

4. Xử lý tài sản ký cược trong trường hợp bên cho thuê không trả lại tài sản ký cược

Về xử lý tài sản ký cược, Bộ luật Dân sự năm 2015 chỉ quy định về trường hợp tài sản thuê được trả lại cho bên cho thuê và tài sản thuê không được trả lại cho bên cho thuê, mà chưa có quy định về trường hợp bên cho thuê không trả lại tài sản ký cược. Tức là pháp luật mới chỉ quy định được việc xử lý hậu quả khi một bên vi phạm (bên thuê), còn bên kia thì bỏ ngỏ (bên cho thuê). Điều này ảnh hưởng đến quyền lợi của bên thuê và làm mất đi sự bình đẳng của các bên khi tham gia giao dịch. Như vậy, khi có tranh chấp xảy ra, trường hợp bên cho thuê không trả lại tài sản ký cược thì xử lý như thế nào? Bên cạnh đó, luật cũng chưa quy định việc xử lý tài sản trong trường hợp tài sản ký cược có giá trị lớn hơn tài sản thuê hoặc nhỏ hơn tài sản thuê, khi xảy ra tranh chấp, các bên có phải trả phần thừa, bù phần thiếu hay không?

Theo tác giả, trong trường hợp bên cho thuê không trả lại tài sản ký cược thì xử lý theo hướng: (i) Nếu việc người cho thuê không trả lại tài sản ký cược là do không còn khả năng thanh toán thì người thuê được giữ tài sản thuê làm tài sản của mình; (ii) Nếu việc người cho thuê không trả lại tài sản ký cược không phải do mất khả năng thanh toán thì người thuê được giao trả tài sản thuê cho chính người cho thuê, sau đó có quyền lựa chọn có thể khởi kiện yêu cầu đòi lại tài sản ký cược hoặc yêu cầu bên cho thuê thanh toán giá trị tài sản ký cược cho mình. Đồng thời, luật cần bổ sung quy định về việc xử lý tài sản đối với trường hợp tài sản ký cược có giá trị lớn hơn tài sản thuê mà bên thuê muốn sở hữu tài sản ký cược thì sẽ phải hoàn trả số tiền chênh lệch của tài sản ký cược so với giá trị của tài sản thuê; ngược lại, nếu giá trị tài sản ký cược nhỏ hơn giá trị tài sản thuê thì bên cho thuê có quyền yêu cầu bên thuê bù thêm phần chênh lệch giá trị tài sản cho mình.

Vì vậy, tác giả đề xuất sửa đổi, bổ sung khoản 2 Điều 329 Bộ luật Dân sự năm 2015 như sau:

“2. Trường hợp tài sản thuê được trả lại thì bên thuê được nhận lại tài sản ký cược sau khi trả tiền thuê; nếu bên thuê không trả lại tài sản thuê thì bên cho thuê có quyền đòi lại tài sản thuê; nếu tài sản thuê không còn để trả lại thì tài sản ký cược thuộc về bên cho thuê và các bên phải thanh toán phần giá trị tài sản chênh lệch (nếu có) cho bên kia.

Trường hợp nếu bên cho thuê không còn tài sản ký cược để trả lại cho bên thuê thì bên thuê có quyền trả lại tài sản thuê cho bên cho thuê và yêu cầu bên cho thuê bồi thường giá trị tài sản ký cược, nếu bên cho thuê cố tình không muốn trả lại tài sản ký cược cho bên thuê thì bên thuê có quyền trả lại tài sản thuê cho chính người cho thuê và có thể khởi kiện đòi lại tài sản ký cược hoặc yêu cầu thanh toán giá trị tài sản ký cược nếu không muốn nhận lại tài sản ký cược”.

Trong trường hợp không sửa đổi, bổ sung điều khoản trong Bộ luật Dân sự thì tác giả đề xuất phương án khác là ban hành một số văn bản hướng dẫn chi tiết quy định áp dụng các trường hợp xử lý tài sản ký cược.

ThS. Nguyễn Thị Anh Thư
Đại học Trà Vinh
Đoàn Mỹ Xuyên
Sinh viên Đại học Trà Vinh


[1] Thông tư số 75-BTC/TCTN ngày 30/11/1992 của Bộ Tài Chính hướng dẫn việc nộp tiền ký cược của khách du lịch.

[2] Kỷ yếu Tọa đàm “Hoàn thiện pháp luật về giao dịch bảo đảm” do Cục Đăng ký quốc gia giao dịch bảo đảm và Dự án JICA tổ chức ngày 09/7/2019 tại TP. Hồ Chí Minh.

[3] Hoàng Thế Liên và các tác giả khác (2013), Bình luận Bộ luật Dân sự 2005, Nxb. Chính trị Quốc gia, tr. 156.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Việc lập và nộp hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH), đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là thủ tục bắt buộc, bảo đảm tính chặt chẽ, minh bạch và khách quan trong quá trình lựa chọn những người tiêu biểu tham gia cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Căn cứ Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND, Hội đồng bầu cử quốc gia đã ban hành mẫu biểu, hướng dẫn và quy trình tiếp nhận hồ sơ, tạo điều kiện để người được giới thiệu ứng cử và người tự ứng cử thực hiện quyền chính trị - pháp lý đúng quy định.
Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Việc điều chỉnh cơ cấu và phân bổ giới thiệu người ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) được thực hiện trên cơ sở điều chỉnh lần thứ nhất của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về cơ cấu, thành phần và số lượng được phân bổ cho từng cơ quan, tổ chức, đơn vị. Trên cơ sở đó, Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tổ chức hội nghị hiệp thương có trách nhiệm thông báo phân bổ và hướng dẫn nội dung, trình tự, thủ tục giới thiệu người ứng cử, bảo đảm việc lập hồ sơ ứng cử được thực hiện theo quy định pháp luật.
Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Từ năm 2026, các quy định liên quan đến thu nhập từ kinh doanh, từ tiền lương, tiền công của cá nhân cư trú tại Luật Thuế thu nhập cá nhân số 109/2025/QH15 có hiệu lực, với nhiều chính sách mới như tăng mức giảm trừ gia cảnh lên 15,5 triệu đồng, nâng ngưỡng doanh thu chịu thuế của hộ, cá nhân kinh doanh lên 500 triệu đồng/năm giúp giảm gánh nặng đối với người nộp thuế.
Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Luật Thương mại điện tử số 122/2025/QH15 được Quốc hội thông qua ngày 10/12/2025, gồm 07 chương, 41 điều, được xây dựng theo định hướng kiến tạo phát triển, tăng cường hiệu quả quản lý và bảo vệ lợi ích chính đáng của doanh nghiệp, người tiêu dùng với nhiều nội dung mới, nổi bật. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2026.
Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Hội đồng nhân dân (HĐND) cấp tỉnh, cấp xã và bố trí đại biểu HĐND hoạt động chuyên trách nhiệm kỳ 2026 - 2031 là nội dung quan trọng nhằm bảo đảm tổ chức bộ máy HĐND các cấp tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu sắp xếp đơn vị hành chính và định hướng cải cách của Đảng và Nhà nước. Những quy định này được thực hiện thống nhất theo Nghị quyết số 106/2025/UBTVQH15 ngày 16/10/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) và các văn bản có liên quan.
Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là một trong những quyền chính trị cơ bản của công dân, đồng thời là khâu có ý nghĩa quyết định đối với chất lượng hoạt động của cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Pháp luật về bầu cử không chỉ bảo đảm quyền ứng cử của công dân mà còn đặt ra những tiêu chuẩn, điều kiện, giới hạn và cơ chế sàng lọc chặt chẽ nhằm lựa chọn được những người đủ đức, đủ tài, xứng đáng đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân.
Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức theo các quy định chặt chẽ của Hiến pháp và pháp luật về bầu cử, trong đó xác định rõ tổng số đại biểu được bầu, cơ cấu, thành phần người ứng cử cũng như nguyên tắc phân bổ đại biểu ở từng địa phương. Bài viết làm rõ số lượng ĐBQH khóa XVI dự kiến được bầu, các yêu cầu về tỷ lệ đại diện của phụ nữ, người dân tộc thiểu số và những nguyên tắc cụ thể để xác định số lượng đại biểu HĐND các cấp, qua đó giúp cử tri hiểu rõ hơn cơ sở pháp lý và ý nghĩa của việc bảo đảm tính đại diện, dân chủ trong bầu cử.
Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Theo quy định tại Điều 7 Hiến pháp năm 2013 và Điều 1 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015, việc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tiến hành theo các nguyên tắc bầu cử phổ thông; nguyên tắc bình đẳng trong bầu cử; nguyên tắc bầu cử trực tiếp; nguyên tắc bỏ phiếu kín. Việc quán triệt và thực hiện nghiêm các nguyên tắc này không chỉ bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân, mà còn là thước đo quan trọng để đánh giá một cuộc bầu cử dân chủ, đúng pháp luật.
Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là những người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân trong bộ máy quyền lực nhà nước. Trên cơ sở Hiến pháp năm 2013, được sửa đổi, bổ sung năm 2025, Luật Tổ chức Quốc hội và Luật Tổ chức chính quyền địa phương quy định rõ hệ thống quyền hạn, trách nhiệm cũng như cơ chế miễn trừ đối với đại biểu nhằm bảo đảm thực hiện đầy đủ chức năng lập pháp, giám sát, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và địa phương, đồng thời tăng cường trách nhiệm của đại biểu dân cử trước cử tri và xã hội.
Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số là yêu cầu cấp thiết trong tiến trình xây dựng xã hội phát triển toàn diện và bền vững ở Việt Nam hiện nay. Trên cơ sở phân tích lý luận và khảo sát thực tiễn tại tỉnh Gia Lai, nơi có 24,76% dân số là người dân tộc thiểu số thuộc 44 thành phần, bài viết đánh giá việc thực hiện quyền này theo khung phân tích của Bình luận chung số 21 của Liên hợp quốc, gồm ba tiêu chí: tính sẵn có, khả năng tiếp cận và tính chấp nhận được. Kết quả cho thấy, còn tồn tại hạn chế về thiết chế văn hóa cơ sở, chênh lệch vùng miền và mức độ tham gia còn hình thức. Từ đó, bài viết đề xuất giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả, bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số tại tỉnh Gia Lai.
Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu cải cách toàn diện, đẩy mạnh hội nhập quốc tế và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, việc nâng cao vai trò lãnh đạo toàn diện, trực tiếp của Đảng đối với hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp có ý nghĩa chiến lược và cấp thiết.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bài viết nêu lên vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước và đề xuất một số giải pháp nâng cao vai trò của Bộ Tư pháp trong giai đoạn mới.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Trong quá trình phát triển của đất nước, đặc biệt, trong 10 năm gần đây, với sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế - xã hội Việt Nam, việc xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật là công tác đặc biệt quan trọng. Với sự nỗ lực không ngừng, Bộ Tư pháp đã cùng các bộ, ngành làm tốt công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và đưa pháp luật vào cuộc sống, góp phần quan trọng trong thực hiện thành công công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế, giữ vững chủ quyền quốc gia, an ninh, trật tự xã hội, nâng cao đời sống vật chất và văn hóa, tinh thần của Nhân dân, bảo đảm công bằng xã hội, xây dựng xã hội dân chủ, văn minh theo đường lối của Đảng và Nhà nước. Để đạt được những thành tựu đó, nhiều hoạt động đã được triển khai đồng bộ, từ công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL); đặc biệt, đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực làm công tác xây dựng, thi hành pháp luật. Bộ Tư pháp đã chủ động, tích cực phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, trong đó có Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trong công tác xây dựng thể chế, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác pháp chế.
Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Với chức năng là cơ quan của Chính phủ, thực hiện quản lý nhà nước về xây dựng và thi hành pháp luật, Bộ Tư pháp đã và đang đóng góp, góp phần quan trọng trong kiến tạo nền tảng pháp lý vững chắc, phục vụ mục tiêu phát triển đất nước; đồng thời, đóng vai trò chủ đạo trong xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ pháp luật, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và thúc đẩy tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Những kết quả đạt được thể hiện qua các nội dung chính sau:
Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Ngày 01/01/2004, tỉnh Lai Châu chính thức được chia tách thành tỉnh Điện Biên và Lai Châu. Đây cũng là thời điểm Sở Tư pháp tỉnh Lai Châu (mới) được thành lập và đi vào hoạt động. Trải qua hơn 21 năm xây dựng và phát triển, ngành Tư pháp tỉnh Lai Châu đã vượt qua khó khăn, thử thách, ngày càng lớn mạnh và khẳng định được vai trò, vị thế của mình.

Theo dõi chúng tôi trên: