Thứ hai 24/08/2026 09:15
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Bất cập trong quy định về chế độ bảo trợ xã hội đối với người cao tuổi ở Việt Nam và kiến nghị sửa đổi[1]

Tóm tắt: Tuy có nhiều ưu điểm trong việc tạo cơ sở pháp lý để người cao tuổi hưởng quyền được bảo vệ, chăm sóc và nuôi dưỡng khi lâm vào hoàn cảnh già yếu, bệnh tật, đói nghèo,… song các quy định của pháp luật hiện hành về chế độ bảo trợ xã hội đối với người cao tuổi vẫn còn bất cập. Bài viết phân tích những điểm bất cập này, từ đó đề xuất sửa đổi một số quy định nhằm bảo đảm hơn nữa quyền lợi bảo trợ xã hội đối với người cao tuổi trong bối cảnh già hóa dân số nhanh chóng ở Việt Nam hiện nay.


Abstract: A lot of advantages have shown in the legal basis for the elderly to enjoy their right on taking care of and looking after once they are in aging time, illness or poverty, yet the provisions of the existing law on social patronage to the elderly still reveal their inadequacy. This article analyzes these shortcomings, hence, proposes amendments to some provisions to further ensure social patronage benefits for the elderly in the context of rapid population aging in Vietnam now.

Là một nội dung quan trọng trong hệ thống an sinh xã hội đối với người cao tuổi, chế độ bảo trợ xã hội (BTXH) đối với người cao tuổi ở Việt Nam luôn được Đảng và Nhà nước quan tâm. Ngay từ khi đất nước giành được chính quyền năm 1945, BTXH nói chung, trong đó có BTXH đối với người cao tuổi nói riêng đã được quy định trong Hiến pháp năm 1946[2]. Tuy nhiên, trong khoảng thời gian dài do hoàn cảnh đất nước khó khăn nên các hoạt động BTXH nói chung, BTXH đối với người cao tuổi nói riêng chưa được cụ thể trong các văn bản pháp luật. Từ năm 2000, với sự ra đời của Nghị định số 07/2000/NĐ-CP ngày 09/3/2000 của Chính phủ về chính sách cứu trợ xã hội, chế độ BTXH đối với người cao tuổi mới được quy định cụ thể[3]. Đến nay, qua nhiều lần sửa đổi, bổ sung, chế độ BTXH đối với người cao tuổi ngày càng hoàn thiện. Hiện nay, chế độ BTXH đối với người cao tuổi được đề cập cụ thể, trực tiếp trong Luật Người cao tuổi năm 2009 (từ Điều 17 đến Điều 20) và Nghị định số 136/2013/NĐ-CP ngày 21/10/2013 của Chính phủ quy định chính sách trợ giúp xã hội đối với đối tượng bảo trợ xã hội. Các quy định này đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng để bảo đảm các chế độ BTXH đối với người cao tuổi khi họ khi lâm vào hoàn cảnh khó khăn.

Tuy nhiên, do đời sống kinh tế - xã hội không ngừng phát triển và thay đổi, các quy định về chế độ BTXH đối với người cao tuổi dần bộc lộ những bất cập như: Đối tượng người cao tuổi hưởng BTXH chưa bao quát được những người cao tuổi khó khăn trong thực tế; mức hưởng các chế độ trợ cấp xã hội hàng tháng còn thấp; nhiều người cao tuổi không có thu nhập, không có nguồn trợ cấp nào khác chưa có thẻ bảo hiểm y tế,… Trong khi đó, Việt Nam hiện đang là một trong 10 quốc gia có tỷ lệ già hóa dân số nhanh nhất thế giới. Tỷ lệ người cao tuổi tăng nhanh liên tục từ 7,1% (năm 1989) lên 8,7% (năm 2009), 10,2% (năm 2014) và 11,1% (năm 2017) dân số. Dự báo đến năm 2030, tỷ trọng người cao tuổi ở Việt Nam chiếm 17% và năm 2050 là 25% dân số[4]. Số lượng người cao tuổi gia tăng nhanh chóng như vậy sẽ là thách thức rất lớn về đáp ứng nhu cầu bảo đảm đời sống, chăm sóc sức khoẻ, khám chữa bệnh,… đối với người cao tuổi.

Trước thực trạng pháp luật cũng như yêu cầu đặt ra, đồng thời góp phần thực hiện mục tiêu của “Chương trình hành động quốc gia về người cao tuổi Việt Nam giai đoạn 2012 - 2020”[5] cần phải có những giải pháp. Trong đó, giải pháp quan trọng cần làm trước hết là sửa đổi, bổ sung một số quy định của pháp luật hiện hành về chế độ BTXH đối với người cao tuổi, cụ thể 04 vấn đề sau đây:

Thứ nhất, về đối tượng người cao tuổi hưởng chế độ bảo trợ xã hội

Đối tượng người cao tuổi hưởng chế độ BTXH được hiểu là cá nhân công dân Việt Nam từ đủ 60 tuổi trở lên[6], có đủ điều kiện do pháp luật quy định. Theo khoản 5 Điều 5 Nghị định số 136/2013/NĐ-CP, hiện có 03 nhóm đối tượng người cao tuổi được hưởng trợ cấp xã hội hàng tháng, đó là: (i) Người cao tuổi thuộc hộ nghèo không có người có nghĩa vụ và quyền phụng dưỡng hoặc có người có nghĩa vụ và quyền phụng dưỡng nhưng người này đang hưởng chế độ trợ cấp xã hội hàng tháng; (ii) Người từ đủ 80 tuổi trở lên không thuộc đối tượng nêu trên nhưng không có lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội hàng tháng, trợ cấp xã hội hàng tháng; (iii) Người đủ 60 tuổi thuộc hộ nghèo không có người có nghĩa vụ và quyền phụng dưỡng, không có điều kiện sống ở cộng đồng, đủ điều kiện tiếp nhận vào cơ sở bảo trợ xã hội, nhà xã hội nhưng có người nhận chăm sóc tại cộng đồng.

Theo quy định này thì người cao tuổi không thuộc hộ nghèo, có người phụng dưỡng nhưng không có nguồn thu nhập (không có lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội hàng tháng, trợ cấp xã hội hàng tháng), phải đủ 80 tuổi trở lên mới là đối tượng hưởng trợ cấp xã hội hàng tháng. Quy định này chưa phù hợp với thực tế đời sống của người cao tuổi. Bởi tính từ khi người cao tuổi được xác định là hết khả năng lao động (thông thường là nam trên 60 tuổi, nữ trên 55 tuổi theo Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014) đến khi được hưởng trợ cấp xã hội thì ít nhất phải sau 20 năm (đối với nam), sau 25 năm (đối với nữ). Trong khoảng thời gian đó, chỉ độ tuổi từ 60 - 70 mới có thể tham gia lao động sản xuất, còn nhóm từ 70 - 75 tuổi thì thu nhập giảm sút do sức khoẻ ngày càng suy yếu, riêng nhóm từ 75 - 79 tuổi hầu hết ít tham gia lao động sản xuất, lại thường xuyên ốm đau, bệnh tật, đòi hỏi được nuôi dưỡng, chăm sóc nhiều hơn[7].

Theo báo cáo của Ủy ban quốc gia về người cao tuổi, năm 2016 cả nước có 10.144.400 người cao tuổi, thì số người có lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội và trợ cấp hàng tháng khác chỉ 4.349.200 người (chiếm khoảng 46,0%)[8]. Như vậy, còn khoảng 54% người cao tuổi không có nguồn thu nhập nào khác, sống phụ thuộc vào con cái từ sinh hoạt hàng ngày đến chăm sóc, nuôi dưỡng khi đau yếu, bệnh tật, nhất là người cao tuổi thuộc hộ nghèo bị mắc bệnh nan y, người cao tuổi sống cô đơn,…

Vì thế, để bảo đảm nguyên tắc hưởng BTXH là quyền cơ bản của con người và việc tiếp cận BTXH phải trên cơ sở bình đẳng đối với tất cả người cao tuổi khi rơi vào hoàn cảnh khó khăn, đồng thời nhằm thực hiện mục đích đặt ra trong Chương trình hành động quốc gia về người cao tuổi giai đoạn 2012 - 2020, nên pháp luật cần mở rộng đối tượng người cao tuổi hưởng BTXH. Theo đó, cần giảm độ tuổi hưởng trợ cấp hàng tháng xuống 75 tuổi thay vì 80 tuổi như hiện nay đối với người cao tuổi không có lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội hàng tháng, trợ cấp xã hội hàng tháng.

Thực tế, việc giảm độ tuổi hưởng trợ cấp xã hội hàng tháng đã được tỉnh Bắc Ninh thực hiện thành công[9]. Đây là minh chứng để cơ quan có thẩm quyền tham khảo nhằm sửa đổi quy định hiện hành theo hướng mở rộng đối tượng hưởng trợ cấp xã hội đối với người cao tuổi trong phạm vi cả nước.

Ngoài ra, với mục đích chỉ trợ cấp đối với những người cao tuổi có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn như hiện nay về cơ bản là phù hợp, được cân đối với nguồn ngân sách chi trả, song các quy định này chưa tính đến các yếu tố đặc thù của các nhóm người cao tuổi là nữ, người cao tuổi mắc bệnh hiểm nghèo,… Do vậy, cùng với giảm độ tuổi hưởng trợ cấp cho nhóm đối tượng không có lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội, cũng như nhóm người cao tuổi khuyết tật, pháp luật cần dựa vào các đặc điểm về giới tính, tình trạng bệnh tật (mắc bệnh hiểm nghèo),… để bổ sung các nhóm đối tượng người cao tuổi hưởng BTXH, tiến tới phổ cập BTXH đối với mọi người cao tuổi không có thu nhập.

Thứ hai, về chế độ trợ giúp xã hội thường xuyên tại cộng đồng

Chế độ trợ giúp xã hội thường xuyên tại cộng đồng là chế độ BTXH cơ bản đối với người cao tuổi, được Nhà nước chi trả thường xuyên hàng tháng khi người cao tuổi sinh sống cùng gia đình, người thân, nhằm bảo đảm đời sống hàng ngày và góp phần chăm sóc sức khỏe đối với người cao tuổi. Theo quy định, chế độ trợ giúp xã hội thường xuyên tại cộng đồng gồm: Chế độ trợ cấp xã hội hàng tháng và chế độ bảo hiểm y tế.

- Chế độ trợ cấp xã hội hàng tháng: Đây là chế độ trợ cấp bằng tiền được Nhà nước trả hàng tháng để nuôi dưỡng người cao tuổi. Mức trợ cấp dựa vào mức chuẩn được Nhà nước xây dựng, tùy thuộc vào điều kiện kinh tế đất nước và mức sống tối thiểu dân cư từng thời kỳ.

Theo quy định tại Điều 4 Nghị định số 136/2013/NĐ-CP, mức chuẩn trợ cấp xã hội đối với người cao tuổi là 270.000 đồng. Mức chuẩn này là căn cứ xác định mức trợ cấp hàng tháng đối với người cao tuổi. Tùy vào sự phát triển kinh tế - xã hội của từng địa phương (cấp tỉnh) mà địa phương quy định mức chuẩn trợ giúp cao hơn. Ví dụ: Hiện nay, TP. Hà Nội quy định mức chuẩn trợ cấp xã hội là 350.000 đồng, TP. Hồ Chí Minh là 380.000 đồng[10].

So với trước[11], mức chuẩn trợ giúp hiện nay đã thể hiện sự nỗ lực lớn của Chính phủ trong điều kiện ngân sách còn khó khăn, song so với mức sống tối thiểu của xã hội thì mức chuẩn trợ giúp này là quá thấp, chỉ bằng khoảng 38% so với chuẩn nghèo nông thôn và 30% chuẩn nghèo thành thị trong giai đoạn 2016 - 2020, bằng 20% so với mức sống tối thiểu[12]. Theo đó, mỗi ngày người cao tuổi chỉ được 9.000 đồng[13]. Vì vậy, pháp luật cần điều chỉnh mức chuẩn trợ giúp xã hội dựa trên mức sống tối thiểu, phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội. Theo đó, cần phải có lộ trình tăng mức chuẩn trợ giúp xã hội cho người cao tuổi để tiến dần đến mức sống tối thiểu.

Ngoài ra, mức chuẩn trợ giúp xã hội quy định một mức chung như hiện nay là chưa tính đến các yếu tố về chỉ số giá sinh hoạt cũng như mức sống tối thiểu của dân cư như nguyên tắc chính sách BTXH đã đặt ra. Vì thế, cần quy định mức chuẩn trợ giúp xã hội theo vùng thay vì quy định một mức chuẩn chung như hiện nay. Quy định như vậy sẽ phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của từng vùng, mức sống của dân cư trong vùng và chỉ số giá sinh hoạt của các vùng/địa phương. Từ đó mà mức trợ cấp xã hội hàng tháng và các chế độ hỗ trợ khác mới có thể dần đáp ứng được mức sống tối thiểu thực tế của người cao tuổi.

- Chế độ bảo hiểm y tế: Theo quy định hiện hành, khi người cao tuổi đủ điều kiện hưởng trợ cấp xã hội hàng tháng thì đồng thời được Nhà nước đóng bảo hiểm y tế[14]. Như vậy, người cao tuổi không có lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội hàng tháng, trợ cấp xã hội hàng tháng trong độ tuổi 60 - 79 phải tự đóng bảo hiểm y tế. Quy định này, theo chúng tôi cũng cần xem xét, nhất là đối với nhóm người cao tuổi từ 75 - 79 tuổi. Bởi những người trong độ tuổi này hầu hết không còn tham gia lao động sản xuất và vì thế không có thu nhập. Đặc biệt ở độ tuổi này, họ thường xuyên ốm đau, bệnh tật. Trong khi đó số người cao tuổi tham gia bảo hiểm y tế còn thấp, chỉ chiếm 54,9% so với tỷ lệ chung là 72,3%[15].

Đây là thực tế đáng lo ngại, bởi trong khi mức sống còn thấp chưa đủ ăn uống sinh hoạt hàng ngày, nếu không được cấp thẻ bảo hiểm y tế thì người cao tuổi sẽ rất khó khăn khi ốm đau, bệnh tật. Vì thế, pháp luật cần bổ sung chế độ hỗ trợ bảo hiểm y tế cho người từ 75 - 79 tuổi mà không có trợ cấp xã hội hàng tháng, không có nguồn thu nhập nào khác, nhằm góp phần thực hiện hiện tốt mục tiêu chăm sóc sức khỏe người cao tuổi cũng như mục tiêu bảo hiểm y tế toàn dân.

Thứ ba, về chế độ hỗ trợ chi phí mai táng và tổ chức mai táng khi người cao tuổi chết

Theo quy định tại khoản 1 Điều 11 Nghị định số 136/2013/NĐ-CP, đối tượng là người cao tuổi được hỗ trợ chi phí mai táng khi chết bao gồm: (i) Người từ đủ 60 tuổi trở lên đang hưởng trợ cấp xã hội hàng tháng theo Nghị định số 136/2013/NĐ-CP; (ii) Người từ đủ 80 tuổi trở lên đang hưởng trợ cấp tuất bảo hiểm xã hội hàng tháng, trợ cấp hàng tháng khác. Ngoài ra, người cao tuổi (không thuộc diện hưởng trợ cấp xã hội hàng tháng) bị chết, mất tích do thiên tai, hỏa hoạn; tai nạn giao thông đặc biệt nghiêm trọng hoặc các lý do bất khả kháng khác được xem xét hỗ trợ chi phí mai táng. Mức hỗ trợ chi phí mai táng cho người cao tuổi trong các trường hợp này bằng 20 lần mức chuẩn trợ giúp xã hội.

Như vậy, việc hỗ trợ mai táng chủ yếu chỉ áp dụng đối với người cao tuổi trong các trường hợp trên vô hình trung đã loại trừ đối tượng người cao tuổi dưới 80 tuổi, nhất là nhóm người từ 75 - 79 tuổi mà không có nguồn trợ cấp nào khác là không hợp lý. Bởi độ tuổi 75 - 79 là độ tuổi thọ trung bình ở Việt Nam, nếu không có nguồn hỗ trợ thì các chi phí mai táng là gánh nặng lớn cho con cái. Vì thế, pháp luật cần bổ sung quy định hỗ trợ chi phí mai táng cho nhóm người cao tuổi từ 75 - 79 tuổi.

Cùng với đó, cần tăng mức hỗ trợ chi phí mai táng đối với người cao tuổi. Bởi mức hỗ trợ mai táng hiện nay bằng 20 lần mức chuẩn (5.400.000 đồng) là quá thấp, chưa tính đến những biến động của giá dịch vụ tang lễ trong thời điểm hiện nay, nhất là ở các thành phố lớn như Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh.

Thứ tư, về chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng người cao tuổi tại các cơ sở chăm sóc

Chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng người cao tuổi tại các cơ sở chăm sóc người cao tuổi được hiểu là các chế độ/quyền lợi người cao tuổi được hưởng khi chăm sóc, nuôi dưỡng tại các cơ sở tập trung theo quy định. Theo Điều 20 Luật Người cao tuổi năm 2009, cơ sở chăm sóc người cao tuổi bao gồm: (i) Cơ sở bảo trợ xã hội; (ii) Cơ sở tư vấn, dịch vụ chăm sóc người cao tuổi; (iii) Cơ sở chăm sóc người cao tuổi khác. Hiện nay, pháp luật chỉ quy định cụ thể quyền lợi của người cao tuổi khi được tiếp nhận vào cở sở BTXH do Nhà nước thành lập và quản lý khi có đủ điều kiện, còn quyền lợi người cao tuổi tự nguyện sống tại cơ sở BTXH hoặc các cơ sở tư nhân như Viện dưỡng lão, trung tâm điều dưỡng,… hoàn toàn được thực hiện theo hợp đồng dịch vụ chăm sóc ký kết giữa người ủy nhiệm/người có quyền và nghĩa vụ phụng dưỡng người cao tuổi với cơ sở chăm sóc, nuôi dưỡng người cao tuổi. Người cao tuổi khi đủ điều kiện được tiếp nhận vào cơ sở BTXH và được hưởng các chế độ nhất định. Quy định này có một số vấn đề cần trao đổi sau đây:

- Điều kiện người cao tuổi được tiếp nhận vào cơ sở bảo trợ xã hội: Cơ sở BTXH là điểm đến cuối cùng khi người cao tuổi không thể sống độc lập ở cộng đồng, có chi phí thấp so với các cơ sở chăm sóc người cao tuổi tư nhân. Theo quy định tại khoản 2 Điều 18 Luật Người cao tuổi năm 2009, người cao tuổi được tiếp nhận vào cơ sở BTXH là: “Người cao tuổi thuộc hộ gia đình nghèo không có người có nghĩa vụ và quyền phụng dưỡng, không có điều kiện sống ở cộng đồng, có nguyện vọng và được tiếp nhận vào cơ sở bảo trợ xã hội”.

Theo quy định này, điều kiện tiếp nhận người cao tuổi vào sống trong cơ sở BTXH hiện nay phải thuộc hộ gia đình nghèo. Theo chúng tôi, quy định như vậy đã phần nào làm hạn chế cơ hội được chăm sóc, nuôi dưỡng người cao tuổi tại cơ sở BTXH. Bởi trong bối cảnh số lượng người cao tuổi ngày càng tăng, người cao tuổi sống cô đơn ngày càng phổ biến, nhiều gia đình không thuộc hộ nghèo nhưng do con cái bận rộn hoặc ở xa, không có thời gian, điều kiện chăm sóc bố mẹ già, nếu được tiếp nhận vào cơ sở tập trung họ sẽ được chăm sóc tốt hơn. Song không phải gia đình người cao tuổi nào cũng có khả năng kinh tế để đưa bố mẹ vào cơ sở BTXH theo hợp đồng dịch vụ chăm sóc.

Để bảo đảm quyền được chăm sóc, nuôi dưỡng và nhất là đáp ứng nhu cầu thực tế của người cao tuổi trong bối cảnh hiện nay, pháp luật cần bãi bỏ điều kiện người cao tuổi thuộc hộ nghèo, chỉ cần quy định điều kiện người cao tuổi có hoàn cảnh neo đơn, không có điều kiện sống ở cộng đồng, có nguyện vọng thì được tiếp nhận vào cơ sở BTXH và được hưởng các quyền lợi BTXH.

- Chế độ đối với người cao tuổi khi chăm sóc, nuôi dưỡng tại cơ sở bảo trợ xã hội: Người cao tuổi khi sống tại cơ sở BTXH được hưởng chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng như: Được hưởng trợ cấp nuôi dưỡng hàng tháng bằng 4,0 lần mức chuẩn trợ giúp xã hội; được cấp thẻ bảo hiểm y tế; được hỗ trợ chi phí mai táng khi chết với mức bằng 20 lần mức chuẩn trợ giúp xã hội; được cấp vật dụng phục vụ cho sinh hoạt thường ngày, chăn, màn, chiếu, quần áo mùa hè, quần áo mùa đông, quần áo lót, khăn mặt, giày, dép, bàn chải đánh răng, thuốc chữa bệnh[16].

Có thể thấy rằng, chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng người cao tuổi tại cơ sở BTXH khá toàn diện với các hình thức đa dạng, đã phần nào khắc phục khó khăn trong sinh hoạt hàng ngày của người cao tuổi. Tuy nhiên, quy định mức trợ cấp áp dụng một hệ số như hiện nay (trong bối cảnh cần mở rộng đối tượng được tiếp nhận vào cơ sở BTXH) là không linh hoạt. Vì thế, cùng với việc mở rộng đối tượng người cao tuổi được tiếp nhận vào cơ sở BTXH như trên, pháp luật cần quy định linh hoạt chế độ hưởng tùy vào mức độ khó khăn của từng nhóm đối tượng người cao tuổi, trong đó quy định các mức hệ số tính trợ cấp là 2,0; 3,0; 4,0 thay vì quy định một mức hệ số 4,0 như hiện nay. Quy định như vậy sẽ giúp giảm bớt khó khăn về kinh phí khi số lượng người cao tuổi tại cơ sở BTXH tăng lên trong bối cảnh nguồn ngân sách dành cho BTXH đối với người cao tuổi còn eo hẹp.

- Về cơ sở chăm sóc người cao tuổi

Cùng với các cơ sở BTXH do Nhà nước thành lập và quản lý, các cơ sở chăm sóc người cao tuổi khác như viện dưỡng lão, trung tâm điều dưỡng tư nhân ngày càng phát triển với nhiều hình thức đa dạng, nhằm đáp ứng nhu cầu lựa chọn nơi sinh sống theo ý muốn của người cao tuổi. Nhiều gia đình do quy mô ít con, hoặc con sinh sống ở xa, không có điều kiện, thời gian phụng dưỡng bố mẹ đã lựa chọn phương án đưa bố mẹ vào cơ sở BTXH hoặc viện dưỡng lão để được các nhân viên có chuyên môn, có kinh nghiệm chăm sóc.

Tuy nhiên, do giá dịch vụ cao nên viện dưỡng lão tư nhân chủ yếu dành cho người cao tuổi có điều kiện kinh tế khá giả. Trong khi phần lớn người cao tuổi có thu nhập thấp, không có lương hưu hoặc có nhưng mức lương hưu thấp thì ước mơ vào viện dưỡng lão tư nhân là quá xa vời.

Hiện nay, ở Việt Nam, Nhà nước chưa thành lập cơ sở chăm sóc riêng cho người cao tuổi. Dù đã có 182 cơ sở BTXH do Nhà nước thành lập và quản lý[17], nhưng các cơ sở này đều dành chung cho những đối tượng có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, không nơi nương tựa bao gồm cả trẻ em bị bỏ rơi, mồ côi, mất nguồn nuôi dưỡng, trẻ em và người nhiễm HIV, trẻ em và người khuyết tật, các đối tượng bảo vệ khẩn cấp như người bị bạo lực gia đình, người là nạn nhân buôn bán người,… và được phân bổ theo địa giới hành chính, mỗi tỉnh/thành từ 01 đến 03 cơ sở. Tình trạng chung của các cơ sở này là thiếu về nhân lực (10 người bệnh mới có 01 nhân viên chăm sóc), cơ sở vật chất tại các cơ sở này cũng vô cùng nghèo nàn, không có dụng cụ tập phục hồi chức năng, không có các hoạt động vui chơi, giải trí riêng cho người cao tuổi[18]. Trong khi đó, do đặc điểm về tuổi cao, sức yếu, tâm sinh lý thay đổi, người cao tuổi cần phải có chế độ chăm sóc riêng về ăn uống, sinh hoạt, phục hồi chức năng, khám chữa bệnh.

Trước thực trạng này, Nhà nước cần đầu tư phát triển hệ thống riêng các cơ sở chăm sóc người cao tuổi, đó là các viện dưỡng lão, bằng việc quy định cụ thể số lượng viện dưỡng lão được thành lập trên cơ sở số lượng người cao tuổi ở địa bàn/cụm địa bàn. Ví dụ, cứ địa bàn/cụm địa bàn có từ 3.000 đến 5.000 người cao tuổi phải thành lập 01 viện dưỡng lão có đầy đủ điều kiện cơ sở vật chất, đủ nhân viên, hộ lý, điều dưỡng, bác sỹ. Theo đó, quy định viện dưỡng lão này hoàn toàn hoạt động tự chủ như các đơn vị sự nghiệp công lập khác.

TS. Đỗ Thị Dung

Đại học Luật Hà Nội





[1]. Nghiên cứu này được thực hiện trong khuôn khổ đề tài: “Pháp luật an sinh xã hội đối với người cao tuổi ở Việt Nam - Thực trạng và phương hướng hoàn thiện”, Trường Đại học Luật Hà Nội, 2017.

[2]. Điều 14 Hiến pháp năm 1946 quy định: “Những công dân già cả hoặc tàn tật không làm được việc thì được giúp đỡ”.

[3]. Khoản 2 Điều 6 Nghị định số 07/2000/NĐ-CP ngày 09/3/2000 của Chính phủ về chính sách cứu trợ xã hội; Nghị định số 168/2004/NĐ-CP ngày 20/9/2004 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 07/2000/NĐ-CP ngày 09/3/2000 của Chính phủ về chính sách cứu trợ xã hội; Nghị định số 67/2007/NĐ-CP ngày 13/4/2007 của Chính phủ về chính sách trợ giúp các đối tượng bảo trợ xã hội; Nghị định số 13/2010/NĐ-CP ngày 27/02/2010 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 67/2007/NĐ-CP ngày 13/4/2007 của Chính phủ về chính sách trợ giúp các đối tượng bảo trợ xã hội.

[4]. Báo Tuổi trẻ, 70% người cao tuổi ở Việt Nam không nhận được trợ cấp, https://tuoitre.vn/70-so-nguoi-cao-tuoi-o-viet-nam-khong-nhan-duoc-tro-cap-1354123.htm, truy cập ngày 05/7/2018.

[5]. Một trong các mục tiêu đặt ra trong Chương trình hành động quốc gia về người cao tuổi Việt Nam giai đoạn 2012 - 2020 là: “Nâng cao chất lượng đời sống vật chất của người cao tuổi; hoàn thiện chính sách trợ giúp và bảo trợ xã hội hướng tới đảm bảo mức sống tối thiểu cho người cao tuổi; phát triển, nâng cao chất lượng hệ thống dịch vụ và cơ sở chăm sóc người cao tuổi, chú trọng người cao tuổi khuyết tật, người cao tuổi thuộc diện nghèo không có người phụng dưỡng, người cao tuổi dân tộc thiểu số”. Xem: Quyết định số 1781/QĐ-TTg ngày 22/11/2012 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình hành động quốc gia về người cao tuổi Việt Nam giai đoạn 2012 - 2020.

[6]. Điều 2 Luật Người cao tuổi năm 2009.

[7]. Hoàng Mạnh, 62% người cao tuổi Việt Nam chưa có lương hưu hoặc trợ cấp tuổi già, http://dantri.com.vn/viec-lam/62-nguoi-cao-tuoi-vn-chua-co-luong-huu-hoac-tro-cap-tuoi-gia-20150909100344502.htm, truy cập ngày 11/7/2018.

[8]. Ủy ban Các vấn đề xã hội của Quốc hội khoá 13, Già hóa dân số và chăm sóc người cao tuổi dựa vào cộng đồng ở Việt Nam, Nxb. Hồng Đức, 2015, tr.13 và Lan Hương, Dịch vụ chăm sóc người cao tuổi: Khoảng trống còn lớn, http://daidoanket.vn/xa-hoi/dich-vu-cham-soc-nguoi-cao-tuoi-khoang-trong-con-lon-tintuc353292, truy cập ngày 10/7/2018.

[9]. Nghị quyết số 122/2014/NQ-HĐND17 của Hội đồng nhân dân tỉnh Bắc Ninh quy định người cao tuổi từ đủ 75 tuổi đến dưới 80 tuổi hưởng trợ cấp hàng tháng là 135.000 đồng/người/tháng.

[10]. Quyết định số 13/2014/QĐ-UBND ngày 27/3/2014 của Ủy ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh về điều chỉnh một số chế độ, chính sách hỗ trợ cho đối tượng bảo trợ xã hội; Quyết định số 78/2014/QĐ-UBND ngày 31/10/2014 của Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội về quy định mức trợ cấp xã hội hàng tháng cho các đối tượng sống tại cộng đồng và tại các cơ sở bảo trợ xã hội thuộc Sở Lao động - Thương binh và Xã hội.

[11]. Nghị định số 07/2000/NĐ-CP ngày 09/3/2000 của Chính phủ về chính sách cứu trợ xã hội quy định mức trợ cấp cứu trợ xã hội thường xuyên tối thiểu là 45.000 đồng; Nghị định số 168/2004/NĐ-CP ngày 20/9/2004 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 07/2000/NĐ-CP ngày 09/3/2000 của Chính phủ về chính sách cứu trợ xã hội quy định mức trợ cấp cứu trợ xã hội thường xuyên thấp nhất là 65.000 đồng; Nghị định số 67/2007/NĐ-CP ngày 13/4/2007 của Chính phủ về chính sách trợ giúp các đối tượng bảo trợ xã hội quy định mức chuẩn để xác định mức trợ cấp xã hội hàng tháng là 120.000 đồng; Nghị định số 13/2010/NĐ-CP ngày 27/02/2010 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 67/2007/NĐ-CP ngày 13/4/2007 của Chính phủ về chính sách trợ giúp các đối tượng bảo trợ xã hội quy định mức chuẩn để xác định mức trợ cấp xã hội hàng tháng là 180.000 đồng.

[12]. Tờ trình số 59/TTr- BLĐTBXH ngày 14/8/2015 đề nghị phê duyệt đề án tổng thể “Chuyển đổi phương pháp tiếp cận đo lường nghèo từ đơn chiều sang đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016 - 2010” đề xuất mức sống tối thiểu là 1,3 triệu đồng/người/tháng.

[13]. Mai Long, Tiền trợ cấp cho người cao tuổi đủ mua ổ bánh mì mỗi ngày, http://baophapluat.vn/dan-sinh/tien-tro-cap-cho-nguoi-cao-tuoi-du-mua-o-banh-mi-moi-ngay-292727.html, truy cập ngày 05/7/2018.

[14]. Điều 12 Luật Bảo hiểm y tế năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014); khoản 1 Điều 18 Luật Người cao tuổi và khoản 1 Điều 9 Nghị định số 136/2013/NĐ-CP.

[15]. Ủy ban Các vấn đề xã hội của Quốc hội khóa 13, Già hóa dân số và chăm sóc người cao tuổi dựa vào cộng đồng ở Việt Nam, Nxb. Hồng Đức, 2015, tr.13.

[16]. Khoản 2 Điều 18 Luật Người cao tuổi năm 2009 và Điều 26 Nghị định số 136/2013/NĐ-CP.

[17]. Trường Đại học Luật Hà Nội, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Chính sách, pháp luật Asean về lao động và các vấn đề xã hội - tính tương thích của pháp luật Việt Nam, Kỷ yếu hội thảo khoa học, Hà Nội tháng 12/2016, tr. 88.

[18]. Mạnh Kiên, Dịch vụ chăm sóc sức khoẻ người cao tuổi ở nước ta: Thiếu và yếu, https://baomoi.com/dich-vu-cham-soc-suc-khoe-nguoi-cao-tuoi-o-nuoc-ta-thieu-va-yeu/c/20503791.epi, truy cập ngày 05/7/2018.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Trong bối cảnh tai nạn lao động vẫn diễn biến phức tạp, chuyển đổi số đang mở ra khả năng thay đổi căn bản phương thức quản trị an toàn, vệ sinh lao động (ATVSLĐ) tại doanh nghiệp. Từ số hóa hoạt động huấn luyện, cấp chứng nhận điện tử đến ứng dụng trí tuệ nhân tạo, cảm biến và robot để nhận diện, cảnh báo sớm nguy cơ, vấn đề đặt ra hiện nay là cần tiếp tục hoàn thiện hành lang pháp lý để chuyển từ quản lý mang tính thủ tục, hậu kiểm sang quản trị chủ động, lấy phòng ngừa rủi ro làm trọng tâm.
Đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

Đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

Với mục tiêu đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, thành phố Hà Nội đặt trọng tâm vào đổi mới nội dung, hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật, tăng cường ứng dụng công nghệ số và xây dựng đội ngũ làm công tác phổ biến, giáo dục pháp luật am hiểu địa bàn, phong tục, tập quán và văn hóa của người dân nơi đây.
Quan điểm, định hướng mới của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai

Quan điểm, định hướng mới của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai

Ngày 16/6/2022, Ban chấp hành trung ương Đảng khóa XIII ban hành Nghị quyết số 18-NQ/TW về "Tiếp tục đổi mới, hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý và sử dụng đất, tạo động lực đưa nước ta trở thành nước phát triển có thu nhập cao" (Nghị quyết số 18-NQ/TW). Để hiện thực hóa mục tiêu đưa đất nước trở thành nước phát triển có thu nhập cao, trong thời điểm hiện tại, nhằm phù hợp với sự phát triển chung của đất nước, Hội nghị lần thứ ba, Ban chấp hành trung ương Đảng khóa XIV đã đưa ra những quan điểm, định hướng sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan tại Nghị quyết số 21-NQ/TW ngày 28/7/2026 (Nghị quyết số 21-NQ/TW) làm kim chỉ nam cho mọi hoạt động sửa đổi chính sách pháp luật sau này. Nghị quyết số 21-NQ/TW đã thể hiện những điểm mới trong chủ trương của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan.
Luật Thủ đô năm 2026: Mở rộng cơ hội đầu tư cho nhiều dự án

Luật Thủ đô năm 2026: Mở rộng cơ hội đầu tư cho nhiều dự án

Luật Thủ đô năm 2026 được Quốc hội thông qua ngày 23/4/2026 và có hiệu lực từ ngày 01/7/2026, tiếp tục hoàn thiện các cơ chế, chính sách đặc thù nhằm xây dựng và phát triển Thủ đô. Đáng chú ý, tại Điều 26 của Luật đã thiết lập khung chính sách tương đối toàn diện về thu hút đầu tư, ưu đãi, hỗ trợ đầu tư và phát triển doanh nghiệp, mở rộng cơ hội cho nhiều dự án trên địa bàn Thành phố được tiếp cận các chính sách ưu đãi về đất đai, thuế, tín dụng, hạ tầng, phát triển nhân lực và đổi mới sáng tạo.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Tóm tắt: Trong bối cảnh hệ thống pháp luật ngày càng phức tạp và thường xuyên thay đổi, việc tiếp cận, hiểu và sử dụng pháp luật trở thành thách thức đối với người dân. Mô hình phổ biến, giáo dục pháp luật hiện nay chủ yếu tập trung vào truyền đạt văn bản, chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu hỗ trợ người dân sử dụng pháp luật trong thực tiễn. Trên cơ sở phân tích xu hướng quốc tế về tiếp cận công lý lấy người dân làm trung tâm và ứng dụng công nghệ số, nghiên cứu đề xuất chuyển từ mô hình “phổ biến pháp luật” sang “hạ tầng tuân thủ phòng ngừa”, gắn phổ biến pháp luật với nhu cầu thực tiễn, cảnh báo sớm rủi ro pháp lý và hỗ trợ tra cứu, sử dụng pháp luật hiệu quả trong môi trường số.
Nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng cho người gửi tiền ở Việt Nam

Nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng cho người gửi tiền ở Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh ngân hàng số phát triển, thông tin chưa được kiểm chứng có thể tác động nhanh đến tâm lý và hành vi của người gửi tiền. Nghiên cứu phân tích quy định pháp luật và thực tiễn phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cho thấy, hoạt động này chưa chú trọng đầy đủ đến mức độ hiểu và khả năng vận dụng pháp luật của người gửi tiền; nội dung còn thiên về tính chuyên môn; phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật và cơ chế cung cấp thông tin kịp thời còn hạn chế. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá, tích hợp thông tin pháp luật ngắn gọn vào dịch vụ ngân hàng số và tăng cường cung cấp thông tin chính thức, kịp thời nhằm bảo vệ người gửi tiền và củng cố niềm tin vào hệ thống ngân hàng.
Phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Tóm tắt: Quyền con người phản ánh sự kết tinh những giá trị nhân phẩm cao quý của nhân loại. Nghiên cứu công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người là phân tích, đánh giá phương thức thể chế hóa các chủ trương của Đảng về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đồng thời, đề xuất giải pháp khắc phục những hạn chế của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 trước thách thức mới từ công nghệ số. Trên cơ sở tổng hợp và so sánh luật học, nghiên cứu phân tích, đánh giá vai trò của công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người và thực trạng thi hành Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012. Đồng thời, nghiên cứu đánh giá tính phù hợp, khả thi của dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)* (dự thảo Luật). Từ đó, kiến nghị và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Luật Phòng, chống ma túy năm 2021 quy định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi nghiện ma túy mà không tự nguyện cai nghiện. Mặc dù không được xem là biện pháp xử lý hành chính nhưng biện pháp này mang tính cách ly người bị áp dụng khỏi cộng đồng. Để bảo vệ quyền của người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi, pháp luật cho phép các chủ thể liên quan khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành chưa quy định quyền khởi kiện hay kháng cáo đối với quyết định này. Nghiên cứu phân tích bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi, đồng thời, đề xuất giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật nhằm bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người bị áp dụng biện pháp này.
Nâng cao trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Nâng cao trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã xác định rõ trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật. Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, cải cách tư pháp và chuyển đổi số quốc gia, vai trò này ngày càng trở nên quan trọng. Nghiên cứu phân tích cơ sở chính trị, pháp lý, thực trạng quy định pháp luật và thực tiễn triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật của Tòa án nhân dân; trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện hoạt động này trong hệ thống Tòa án nhân dân.
Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Sự phát triển của nền tảng số, mạng xã hội và trí tuệ nhân tạo tạo sinh đang làm thay đổi phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật, đồng thời, đặt ra nhiều thách thức trong kiểm soát thông tin pháp luật trên môi trường số. Bên cạnh việc mở rộng khả năng tiếp cận pháp luật của người dân, tình trạng lan truyền thông tin pháp luật sai lệch, thiếu kiểm chứng hoặc được tạo sinh bởi hệ thống trí tuệ nhân tạo đang ảnh hưởng đến hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật và quyền tiếp cận thông tin pháp luật chính xác. Trên cơ sở phân tích các vấn đề lý luận, đánh giá thực trạng quy định và thực tiễn áp dụng pháp luật tại Việt Nam, nghiên cứu phân tích bất cập trong kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số và đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả quản lý và bảo đảm chính xác của thông tin pháp luật trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật.
Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 7/2026

Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 7/2026

(Cập nhật bởi LuatVietnam.vn)
Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam[1]

Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam[1]

Tóm tắt: Mô hình chính quyền địa phương hai cấp được triển khai ở Việt Nam từ ngày 01/7/2025 đánh dấu bước chuyển quan trọng trong quá trình đổi mới tổ chức bộ máy nhà nước theo hướng tinh, gọn, tăng cường phân quyền, phân cấp và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị địa phương. Nghiên cứu phân tích các cơ hội và thách thức trong quá trình triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam, làm rõ những vấn đề đặt ra trong hoàn thiện thể chế, bảo đảm nguồn lực và nâng cao năng lực quản trị địa phương, từ đó, đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam thời gian tới.
Một số bất cập của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 và kiến nghị hoàn thiện

Một số bất cập của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Sau hơn 13 năm thi hành, Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng trong triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, góp phần nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ và Nhân dân. Tuy nhiên, trước yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, chuyển đổi số và hoàn thiện thể chế theo chủ trương, định hướng của Đảng, nhiều quy định của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 bộc lộ những hạn chế, bất cập. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, tổng kết thực tiễn thi hành và bối cảnh phát triển đất nước giai đoạn mới, nghiên cứu làm rõ những bất cập về tổ chức thực hiện công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên pháp luật, đối tượng đặc thù, nội dung, hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật và sự không thống nhất của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 với một số luật liên quan. Từ đó, kiến nghị sửa đổi, bổ sung nhằm hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật và nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong bối cảnh hiện nay.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật - Yêu cầu chuyển từ phổ biến, giáo dục pháp luật hình thức sang tiếp cận dựa trên nhu cầu của người dân

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật - Yêu cầu chuyển từ phổ biến, giáo dục pháp luật hình thức sang tiếp cận dựa trên nhu cầu của người dân

Tóm tắt: Việc sửa đổi Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 là cấp thiết trước yêu cầu khắc phục tình trạng tuyên truyền thiên về hình thức, chưa gắn chặt với những vấn đề pháp lý mà người dân thực sự cần được hỗ trợ. Nghiên cứu phân tích khoảng cách giữa nguyên tắc phù hợp với nhu cầu và cơ chế nhận diện, phản ánh, đáp ứng, đo lường nhu cầu pháp lý trong dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật[1] (dự thảo Luật). Trên cơ sở phân tích quy phạm, bình luận chính sách và tiếp cận liên ngành về nhu cầu pháp lý, năng lực pháp lý, tiếp cận công lý, nghiên cứu tập trung vào các quy định về nguyên tắc, nội dung, hình thức, hướng dẫn và giải đáp pháp luật, đối tượng đặc thù, giáo dục pháp luật trong cơ sở giáo dục, trách nhiệm tổ chức thực hiện, cơ chế cấp xã, chuyển đổi số và đánh giá hiệu quả. Kết quả nghiên cứu cho thấy, dự thảo Luật đã có nhiều định hướng tích cực nhưng thiếu cơ chế khảo sát nhu cầu, thiết kế nội dung theo tình huống, chuyển tuyến hỗ trợ pháp lý và đánh giá khả năng hiểu, vận dụng pháp luật. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện các cơ chế bảo đảm cách tiếp cận lấy nhu cầu pháp lý của người dân làm trung tâm.
Chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên ở Việt Nam

Chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên ở Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển nhanh, mạnh mẽ của không gian mạng đang tác động sâu sắc đến đời sống xã hội, đồng thời, đặt ra nhiều rủi ro đối với người chưa thành niên. Trong bối cảnh đó, chuyển đổi số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật trở thành yêu cầu cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả tiếp cận pháp luật cho nhóm đối tượng này. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết của chuyển đổi số trong phổ biến, giáo dục pháp luật đối với người chưa thành niên; đánh giá thực trạng triển khai tại Việt Nam, chỉ ra những hạn chế, bất cập, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên.

Theo dõi chúng tôi trên: