Thứ năm 05/03/2026 07:11
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Bất cập trong thi hành án dân sự liên quan đến quyền sử dụng đất của hộ gia đình

Hiện nay, việc thực hiện thi hành án dân sự liên quan đến quyền sử dụng đất của hộ gia đình còn gặp nhiều khó khăn, phức tạp. Trên cơ sở thực tiễn thi hành pháp luật về vấn đề này, tác giả chỉ ra những bất cập, đồng thời, nêu lên một số đề xuất nhằm hoàn thiện quy định của pháp luật để đáp ứng yêu cầu áp dụng pháp luật.


1. Khái niệm về hộ gia đình và quy định pháp luật về quyền sử dụng đất của hộ gia đình

Theo Từ điển Tiếng Việt thì chữ “hộ” về danh từ được xem là nhà ở[1], còn theo Từ điển Luật học thì “gia đình” là tập hợp những người gắn bó với nhau do quan hệ hôn nhân, huyết thống hoặc do quan hệ nuôi dưỡng làm phát sinh các nghĩa vụ và quyền giữa họ với nhau theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình[2]. Cũng trong Từ điển Luật học, “hộ gia đình” là tập hợp nhóm người có quan hệ hôn nhân, huyết thống và nuôi dưỡng[3].

Điều 1 Luật Đất đai năm 1993 quy định: “… Nhà nước giao đất cho… hộ gia đình… sử dụng ổn định lâu dài. Nhà nước còn cho… hộ gia đình… thuê đất...”. Bộ luật Dân sự năm 1995 và Bộ luật Dân sự năm 2005 cũng đã có các quy định về hộ gia đình, quyền sử dụng đất của hộ gia đình, theo đó, ghi nhận “Hộ gia đình mà các thành viên có tài sản chung…” là chủ thể của quan hệ dân sự; bên cạnh đó còn quy định về đại diện, tài sản chung và trách nhiệm dân sự của hộ gia đình[4]; Bộ luật Dân sự năm 2005 tại Điều 109 quy định về chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung của hộ gia đình.

Bộ luật Dân sự năm 2015 không khái niệm thế nào là hộ gia đình, nhưng dẫn chiếu qua luật chuyên ngành, cụ thể: “Việc xác định chủ thể của quan hệ dân sự có sự tham gia của hộ gia đình sử dụng đất được thực hiện theo quy định của Luật Đất đai” (khoản 2 Điều 101). Khoản 29 Điều 3 Luật Đất đai năm 2013 quy định: “Hộ gia đình sử dụng đất là những người có quan hệ hôn nhân, huyết thống, nuôi dưỡng theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình, đang sống chung và có quyền sử dụng đất chung tại thời điểm được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất; nhận chuyển quyền sử dụng đất”. Bên cạnh đó, việc quy định trách nhiệm và nghĩa vụ pháp lý liên quan đến hộ gia đình cũng có sự thay đổi so với quy định trước đây. Theo Điều 101 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì các thành viên của hộ gia đình cùng trực tiếp tham gia quan hệ dân sự, nếu họ không tham gia thì phải có sự ủy quyền bằng văn bản, đồng thời, việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung của các thành viên gia đình được thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 212 Bộ luật Dân sự năm 2015.

Theo quy định của pháp luật hiện hành, hộ gia đình vẫn là chủ thể tham gia trong quan hệ dân sự như quy định trước đây nhưng chủ hộ không đương nhiên là đại diện của hộ trong quan hệ giao dịch dân sự nếu không được tất cả thành viên trong hộ ủy quyền. Tài sản của hộ dựa trên sự thỏa thuận, nếu không có thỏa thuận thì mỗi thành viên đều nhau, đồng thời, việc định đoạt tài sản là bất động sản, động sản có đăng ký, tài sản là nguồn thu nhập chủ yếu của gia đình phải là tất cả những thành viên gia đình từ đủ 18 tuổi trở lên (thành niên) so với quy định trước đây là 15 tuổi.

2. Một số bất cập từ thực tiễn thi hành pháp luật thi hành án liên quan đến tài sản là quyền sử dụng đất của hộ gia đình

2.1. Về quy trình xác định phần quyền sử dụng đất của người phải thi hành án trong khối tài sản chung của hộ gia đình

Theo khoản 1 Điều 74 Luật Thi hành án dân sự năm 2008, được sửa đổi, bổ sung năm 2014 (Luật Thi hành án dân sự), Luật chưa quy định cụ thể thời hạn (trong thời gian bao lâu) chấp hành viên phải thực hiện thông báo cho người được thi hành án có quyền yêu cầu Tòa án xác định phần quyền sở hữu tài sản, phần quyền sử dụng đất của người phải thi hành án trong khối tài sản chung theo thủ tục tố tụng dân sự. Do đó, trong thực tiễn, nhiều chấp hành viên đã kéo dài thời hạn ra thông báo, ảnh hưởng đến quyền lợi của đương sự trong thi hành án nhưng lại chưa có căn cứ, chế tài yêu cầu chấp hành viên thực hiện.

Bên cạnh đó, theo Luật Thi hành án dân sự (khoản 1 Điều 74), trình tự xác định phần quyền sử dụng đất của người phải thi hành án trong khối tài sản chung của hộ gia đình được thực hiện như sau: Trước hết, chấp hành viên phải xác định các thành viên trong hộ theo khoản 29 Điều 3 Luật Đất đai năm 2013; sau đó, chấp hành viên tiến hành cho những người trong hộ tự thỏa thuận và phân chia tài sản; nếu người phải thi hành án và những người có quyền sử dụng đất không tự thỏa thuận hoặc thỏa thuận vi phạm điều cấm của pháp luật/trái đạo đức xã hội và không yêu cầu Tòa án giải quyết, thì chấp hành viên thông báo cho người được thi hành án có quyền yêu cầu Tòa án xác định phần quyền sử dụng đất của người phải thi hành án trong khối tài sản chung theo thủ tục tố tụng dân sự; nếu người được thi hành án không yêu cầu Tòa án giải quyết thì chấp hành viên yêu cầu Tòa án xác định phần quyền sử dụng đất của người phải thi hành án trong khối tài sản chung theo thủ tục tố tụng dân sự và khi có kết quả, chấp hành viên mới xử lý tài sản theo quy định.

Tuy nhiên, theo hướng dẫn tại điểm c khoản 2 Điều 24 Nghị định số 62/2015/NĐ-CP ngày 18/7/2015 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thi hành án dân sự (Nghị định số 62/2015/NĐ-CP), thì chấp hành viên xác định phần sở hữu, sử dụng theo số lượng thành viên của hộ gia đình, sau đó, chấp hành viên thông báo kết quả cho các thành viên trong hộ gia đình biết, trường hợp các thành viên hộ gia đình không đồng ý với việc xác định của chấp hành viên thì có quyền yêu cầu Tòa án phân chia tài sản chung, còn nếu không có người khởi kiện thì chấp hành viên tiến hành kê biên, xử lý tài sản.

Như vậy, Luật Thi hành án dân sự và Nghị định số 62/2015/NĐ-CP đã có những quy định chưa rõ ràng, còn chồng chéo gây khó khăn cho công tác giải quyết của chấp hành viên. Cụ thể như sau: (i) Chấp hành viên phải xác định phần quyền sử dụng đất theo số lượng thành viên của hộ gia đình trước hay cho các thành viên của hộ gia đình tự thỏa thuận phân chia trước; (ii) Luật Thi hành án dân sự (khoản 1 Điều 74) đã giới hạn quyền yêu cầu Tòa án của người được thi hành án khi họ “không thống nhất với sự thỏa thuận” của những người trong hộ (người được thi hành án chỉ được thực hiện quyền yêu cầu Tòa án xác định phần quyền sử dụng đất của người phải thi hành án trong những trường hợp các thành viên hộ gia đình không thỏa thuận, thỏa thuận vi phạm điều cấm của pháp luật, thỏa thuận trái đạo đức xã hội, thỏa thuận không được); (iii) Nghị định số 62/2015/NĐ-CP (điểm c khoản 2 Điều 24) đã bỏ quên quyền của người được thi hành án khi quy định chỉ những thành viên trong hộ gia đình của người phải thi hành án mới được chấp hành viên thông báo kết quả phân chia và cũng chỉ có họ mới được yêu cầu Tòa án giải quyết nếu không thống nhất với việc xác định của chấp hành viên. Ngày 17/3/2020, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 33/2020/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 62/2015/NĐ-CP nhưng những bất cập này cũng chưa được đề cập, giải quyết trong Nghị định này.

2.2. Khó khăn, vướng mắc từ thực tiễn thực hiện của chấp hành viên

Theo tác giả được biết thì cho đến nay, trong pháp luật thi hành án dân sự, chưa có một văn bản quy phạm pháp luật hay hướng dẫn cụ thể nào về xác định tài sản hộ gia đình. Riêng Tòa án nhân dân tối cao đã hướng dẫn Tòa án các cấp trong việc giải quyết xác định tài sản hộ gia đình như sau: Thời điểm để xác định hộ gia đình có bao nhiêu thành viên có quyền sử dụng đất là thời điểm được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất, nhận chuyển quyền sử dụng đất; việc xác định ai là thành viên hộ gia đình phải căn cứ vào hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; khi giải quyết vụ án dân sự, ngoài những người là thành viên hộ gia đình có quyền sử dụng đất, Tòa án phải đưa người đang trực tiếp quản lý, sử dụng đất của hộ gia đình, người có công sức đóng góp làm tăng giá trị quyền sử dụng đất hoặc tài sản trên đất tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan[5]. Quy định này của Tòa án cũng là cơ sở để chấp hành viên thực hiện việc xác định giá trị phần quyền sử dụng đất của người phải thi hành án. Tuy nhiên, việc xác định còn gặp rất nhiều khó khăn, cụ thể:

Thứ nhất, xác định thành viên hộ gia đình vào thời điểm nào

Theo khoản 29 Điều 3 Luật Đất đai năm 2013 và mục 4 phần III Giải đáp số 01/2017/GĐ-TANDTC ngày 07/4/2017 của Tòa án nhân dân tối cao giải đáp một số vấn đề nghiệp vụ thì thành viên có quyền sử dụng đất của hộ gia đình được xác định ở thời điểm khi Nhà nước giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất; nhận chuyển quyền sử dụng đất qua hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Tuy nhiên, quyền sử dụng đất của hộ gia đình nhiều lần thay đổi, cấp lại thì căn cứ vào việc cấp đất lần đầu hay lần sau cùng? Đây là một vấn đề phổ biến khi có tranh chấp về xác định phần giá trị quyền sử dụng đất của thành viên hộ gia đình hiện nay mà chưa được hướng dẫn.

Thứ hai, người trong hộ không ký thế chấp thì có nghĩa vụ liên đới trong tài sản hộ gia đình hay không

Khi thế chấp quyền sử dụng đất, căn cứ vào thời điểm thế chấp, tại thời điểm công chứng, thành viên trong hộ gia đình chưa đủ 18 tuổi hay đã đủ 18 tuổi nhưng mất năng lực hành vi dân sự thì pháp luật về dân sự không buộc phải có nghĩa vụ ký vào hợp đồng thế chấp, nhưng đến khi nợ quá hạn, theo quy định pháp luật thi hành án không được lấy phần tài sản của thành viên đó để thi hành án. Do đó, khi giải quyết thi hành án, rất nhiều trường hợp các tổ chức tín dụng không đảm bảo quyền lợi của mình do giá trị tài sản không đủ để thực hiện nghĩa vụ của hộ gia đình. Xuất phát từ bất cập trong thực tiễn nên Bộ Tài nguyên và Môi trường đã ban hành Thông tư số 33/2017/TT-BTNMT ngày 29/9/2017 quy định chi tiết Nghị định số 01/2017/NĐ-CP ngày 06/01/2017 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số nghị định quy định chi tiết thi hành Luật Đất đai và sửa đổi, bổ sung một số điều của các thông tư hướng dẫn thi hành Luật Đất đai (Thông tư số 33/2017/TT-BTNMT), theo đó, Thông tư này quy định: “Hộ gia đình sử dụng đất thì ghi “Hộ gia đình, gồm ông” (hoặc “Hộ gia đình, gồm bà”), sau đó ghi họ tên, năm sinh, tên và số giấy tờ nhân thân của chủ hộ gia đình như quy định tại điểm a khoản này; địa chỉ thường trú của hộ gia đình. Trường hợp chủ hộ gia đình không có quyền sử dụng đất chung của hộ gia đình thì ghi người đại diện là thành viên khác của hộ gia đình có chung quyền sử dụng đất của hộ gia đình. Dòng tiếp theo ghi “Cùng sử dụng đất, cùng sở hữu tài sản gắn liền với đất (hoặc Cùng sử dụng đất hoặc Cùng sở hữu tài sản) với … (ghi lần lượt họ tên, năm sinh, tên và số giấy tờ nhân thân của những thành viên còn lại trong hộ gia đình có chung quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất)” (khoản 5 Điều 6).

Theo tác giả, việc sửa đổi, bổ sung trên bảo đảm sự chặt chẽ về mặt pháp luật, cụ thể hơn về chủ thể có quyền sử dụng đất, ngoài việc giải quyết những khó khăn hay rào cản, còn giảm những rủi ro cho người sử dụng đất, minh bạch về tài sản, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của các thành viên có chung quyền sử dụng đất, tuy nhiên, có thể vì lo ngại sẽ gây khó khăn khi làm các thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất hoặc làm các thủ tục thế chấp tài sản bảo lãnh, thế chấp tài sản vay tiền ngân hàng, hơn nữa, còn tồn tại nhiều quan điểm không thống nhất với nội dung trên, do đó, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã dời thời điểm áp dụng sau ngày 05/12/2017, đến thời điểm nào áp dụng thì chưa quy định. Quy định trên của Bộ Tài nguyên và Môi trường là phù hợp, tạo thuận lợi xác định chủ thể có quyền sử dụng đất một cách chính xác, đảm bảo cho việc thực hiện giao dịch dân sự và giải quyết tranh chấp, nhưng do nhiều lý do nên quy định này đến nay vẫn chưa được triển khai thi hành trên thực tế.

Thứ ba, việc cơ quan, tổ chức, cá nhân chậm cung cấp đầy đủ tài liệu, chứng cứ theo yêu cầu của cơ quan thi hành án

Theo Điều 11 Luật Thi hành án dân sự về trách nhiệm phối hợp của cơ quan, tổ chức, cá nhân với cơ quan thi hành án dân sự, chấp hành viên tạo điều kiện về hành lang pháp lý cho cơ quan thi hành án và chấp hành viên.

Để xác định thành viên hộ gia đình, chấp hành viên phải tiến hành xác định tại Ủy ban nhân dân có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, đồng thời, dựa theo quy định của Luật Đất đai năm 2013 và khoản 2 Điều 60 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai, về việc nộp hồ sơ và trả kết quả thực hiện thủ tục hành chính về đất đai thì Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất tiếp nhận hồ sơ và trả kết quả, cũng có thể xác định thành viên hộ gia đình khi được cấp quyền sử dụng đất, nhưng thực trạng từ cấp xã cho đến nơi cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì nhiều hồ sơ bị thất lạc hoặc không được lưu trữ hay hồ sơ không thể hiện tại thời điểm cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có những ai là thành viên hộ gia đình. Do đó, chấp hành viên phải xác minh tại Công an cấp huyện khi địa điểm cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là thành phố trực thuộc Trung ương còn lại thì xác minh tại Công an cấp xã. Đối với Công an cấp xã, vì không có đủ điều kiện quản lý hồ sơ lâu dài nên nhiều xã chuyển hồ sơ về huyện quản lý, do đó, chấp hành viên lại phải xác minh tại Công an cấp huyện. Việc xác minh qua nhiều bước, gây khó khăn, kéo dài thời gian giải quyết.

Thứ tư, thái độ chấp hành pháp luật của người phải thi hành án và thành viên của hộ gia đình liên quan đến nghĩa vụ phải thi hành án

Khi xác định được thành viên của hộ gia đình thì chấp hành viên lại gặp những khó khăn khác như người trong hộ không ở địa phương, không hợp tác trong việc xác định giá trị tài sản, kéo dài thời gian, ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án cũng như việc thi hành án, làm ảnh hưởng đến lòng tin của nhân dân.

3. Một số kiến nghị, đề xuất

- Cần xem xét đưa quy định tại khoản 5 Điều 6 Thông tư số 33/2017/TT-BTNMT vào áp dụng trên thực tiễn, làm thế nào để quyền sử dụng đất cấp cho hộ gia đình cần ghi rõ từng thành viên và tỷ lệ giá trị phần quyền sử dụng kèm theo.

- Pháp luật thi hành án dân sự cần bổ sung quyền của người được thi hành án trong việc xác định phần quyền sử dụng đất của thành viên hộ gia đình liên quan đến quyền lợi được thi hành án của mình.

- Quy định giới hạn thời gian chấp hành viên phải thực hiện thông báo về việc xác định phân chia quyền sử dụng đất của bên phải thi hành án cho bên được thi hành án.

- Pháp luật dân sự cần quy định: Khi thế chấp tài sản hộ gia đình, người đại diện theo pháp luật của những người trong hộ khi chưa đủ 18 tuổi hay đủ 18 tuổi nhưng mất năng lực hành vi dân sự thì hợp đồng thế chấp cần ghi rõ là người đại diện cho những người này có trách nhiệm thế chấp tài sản ghi trong hộ, đồng thời, khi phát sinh nghĩa vụ thì phần quyền sử dụng đất trên được xử lý theo luật thi hành án dân sự.

- Tiếp tục tuyên truyền ý thức chấp hành pháp luật dân sự và thi hành án cho người dân.

- Cần tăng cường công tác quản lý, chỉ đạo, lưu trữ hồ sơ, sổ quản lý, theo dõi và thực hiện tốt quy định tại Điều 11 Luật Thi hành án dân sự về việc cung cấp thông tin, phối hợp trong việc giải quyết của Tòa án và tổ chức thi hành án dân sự. Kịp thời hướng dẫn xác định giá trị tài sản hộ gia đình và nghĩa vụ pháp lý của các thành viên đối với quyền sử dụng đất cấp cho hộ trong thời gian qua.

ThS. Ngô Văn Lượng

Viện kiểm sát nhân dân huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp







[1]. Từ điển Tiếng Việt (2014), Lê Tiến Dũng, Nxb. Văn hóa thông tin, tr. 510.

[2]. Từ điển Luật học (2016), Bộ tư pháp - Viện Khoa học pháp lý, Nxb. Từ điển Bách khoa - Tư pháp, tr. 282.

[3]. Từ điển Luật học (2016), Bộ tư pháp - Viện Khoa học pháp lý, Nxb. Từ điển Bách khoa - Tư pháp, tr. 373.

[4]. Các điều 116, 117, 118, 119 Bộ luật Dân sự năm 1995; các điều 106, 107, 108, 110 Bộ luật Dân sự năm 2005.

[5]. Theo mục 4 phần III Giải đáp số 01/2017/GĐ-TANDTC ngày 07/4/2017 của Tòa án nhân dân tối cao giải đáp một số vấn đề nghiệp vụ.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Một vụ án in và phát hành sách giáo khoa giả vừa được đưa ra xét xử đã tiếp tục gióng lên hồi chuông cảnh báo về tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực xuất bản, đặc biệt là đối với sách giáo dục - mặt hàng có nhu cầu cao và ảnh hưởng trực tiếp đến hàng triệu học sinh.
Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức thống nhất vào ngày 15/3/2026 theo Nghị quyết của Quốc hội. Tuy nhiên, pháp luật cho phép tổ chức bỏ phiếu sớm trong những trường hợp đặc biệt nhằm bảo đảm quyền bầu cử của công dân không thể tham gia bỏ phiếu vào ngày chính thức. Việc tổ chức bầu cử sớm phải tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc về thẩm quyền quyết định, trình tự thủ tục, kiểm phiếu, niêm phong, bảo mật kết quả và kỷ luật thời gian bỏ phiếu theo đúng quy định của Luật Bầu cử và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Vận động bầu cử của người ứng cử là hoạt động gặp gỡ, tiếp xúc cử tri hoặc thông qua phương tiện thông tin đại chúng để người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân báo cáo với cử tri về dự kiến chương trình hành động của mình nhằm thực hiện trách nhiệm đại biểu nếu được bầu làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân và trao đổi những vấn đề mà cử tri quan tâm; tạo điều kiện để cử tri tiếp xúc với người ứng cử, hiểu rõ hơn người ứng cử; trên cơ sở đó cân nhắc, lựa chọn, bầu những người đủ tiêu chuẩn làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.
Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, yêu cầu thượng tôn Hiến pháp và pháp luật không chỉ đặt ra đối với hoạt động của bộ máy nhà nước mà trở thành chuẩn mực ứng xử phổ biến trong xã hội. Pháp luật chỉ thực sự phát huy vai trò điều chỉnh các quan hệ xã hội khi được các chủ thể tiếp nhận, tôn trọng, tuân thủ thực hiện trên tinh thần chủ động, tự giác, gắn với niềm tin vào công bằng và trật tự xã hội. Thực tiễn cho thấy, hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, nhưng tình trạng vi phạm pháp luật trong một số lĩnh vực vẫn diễn biến phức tạp; còn tồn tại khoảng trống giữa nhận thức pháp luật và hành vi tuân thủ; tâm lý tuân thủ thụ động, mang tính tình thế, phụ thuộc vào sự kiểm tra, giám sát và xử lý của cơ quan có thẩm quyền. Những biểu hiện này phản ánh việc tuân thủ pháp luật chưa thực sự trở thành chuẩn mực văn hóa trong xã hội. Vì vậy, việc nghiên cứu, nhận diện các yếu tố tác động, đánh giá đúng thực trạng, đề xuất nhiệm vụ, giải pháp xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn, góp phần thể chế hóa chủ trương của Đảng, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, mạnh, bền vững trong bối cảnh mới.
Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Tết Nguyên đán là dịp đoàn viên, nghỉ ngơi và tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí đầu năm, góp phần làm phong phú đời sống văn hóa, tinh thần của mỗi gia đình và cộng đồng. Tuy nhiên, một số hình thức vui chơi có thưởng có thể vượt ngoài khuôn khổ pháp luật nếu không được nhận diện đúng. Từ yêu cầu bảo đảm kỷ cương, pháp luật trong dịp Tết, việc làm rõ ranh giới pháp lý giữa vui xuân có thưởng và hành vi vi phạm pháp luật có ý nghĩa quan trọng.
Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết 71-NQ/TW) đặt ra những yêu cầu mang tính chiến lược đối với xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, giáo dục đại học giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành lớp trí thức mới - vừa có năng lực chuyên môn, vừa có bản lĩnh, nhân cách và tinh thần phụng sự xã hội. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật phỏng vấn Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đào Thanh Trường - Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội, xung quanh quan điểm xây dựng con người toàn diện, các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp, cũng như những định hướng tích hợp giáo dục nhân văn với khoa học, công nghệ trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Mùa xuân về không chỉ mang theo nhựa sống của thiên nhiên mà còn là thời điểm để nhìn lại những thành quả của năm qua. Xuân Bính Ngọ 2026, với Trường Cao đẳng Cơ điện Hà Nội (HCEM), là một mùa xuân đặc biệt - mùa xuân của sự cộng hưởng giữa niềm tự hào về hành trình 80 năm đất nước độc lập và quyết tâm chính trị cao để hiện thực hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị. Đây chính là “chìa khóa” để HCEM bứt phá, vươn tầm quốc tế, trở thành biểu tượng của nền giáo dục nghề nghiệp (GDNN) hiện đại trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Năm 2025 được xem là cột mốc bản lề trên hành trình đưa Việt Nam bước vào kỷ nguyên số toàn diện. Trong không khí Xuân Bính Ngọ 2026, Cục trưởng Cục Chuyển đổi số quốc gia (Bộ KH&CN) Trần Duy Ninh chia sẻ với Tạp chí Dân chủ và Pháp luật về những thành quả nổi bật, tầm nhìn, cơ hội và kỳ vọng đặt vào đội ngũ trí thức công nghệ, với khát vọng xây dựng đất nước Việt Nam hùng cường, tự chủ và thịnh vượng trên nền tảng số.
Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Nhìn lại hành trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đội ngũ doanh nhân Việt Nam tiếp tục là lực lượng năng động, sáng tạo và đóng góp quan trọng vào tăng trưởng. Tuy nhiên, bối cảnh hội nhập sâu, rộng đặt ra yêu cầu cao hơn đối với việc hoàn thiện pháp luật về kinh doanh. Nhân dịp xuân mới, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Quang Vinh - Phó Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) về kỳ vọng đổi mới và yêu cầu xây dựng hành lang pháp lý ổn định để doanh nghiệp Việt Nam tự tin phát triển trong giai đoạn mới.
Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với mục tiêu đến năm 2045 trở thành nước phát triển có thu nhập cao, đội ngũ doanh nhân Việt Nam được kỳ vọng trở thành lực lượng kiến tạo thịnh vượng quốc gia. Khát vọng ấy chỉ có thể nảy nở và lớn lên trong hệ sinh thái pháp lý minh bạch, an toàn và tạo động lực.
Tiên phong xây dựng hệ sinh thái bảo quản thuốc thông minh - Khi công nghệ mang lại sự an tâm cho sức khỏe cộng đồng

Tiên phong xây dựng hệ sinh thái bảo quản thuốc thông minh - Khi công nghệ mang lại sự an tâm cho sức khỏe cộng đồng

Trong hành trình chăm sóc sức khỏe người dân, có một mắt xích âm thầm nhưng vô cùng quan trọng: bảo quản thuốc. Chất lượng của từng viên thuốc, từng lọ vaccine hay mỗi loại dược liệu đều phụ thuộc tuyệt đối vào môi trường chúng được gìn giữ. Chỉ một biến động nhỏ về nhiệt độ, độ ẩm hay ánh sáng cũng đủ ảnh hưởng đến hiệu lực điều trị và an toàn của sản phẩm.
EVN - Bảo đảm an ninh năng lượng, hiện thực hóa Nghị quyết và yêu cầu hoàn thiện thể chế pháp luật

EVN - Bảo đảm an ninh năng lượng, hiện thực hóa Nghị quyết và yêu cầu hoàn thiện thể chế pháp luật

Năng lượng không chỉ là “đầu vào” của sản xuất, mà còn là hạ tầng nền tảng quan trọng quyết định sức cạnh tranh quốc gia, chất lượng sống của người dân và năng lực tự chủ của nền kinh tế đất nước trong giai đoạn phát triển mới. Trong bối cảnh nhu cầu điện tăng cao, biến động nguồn cung nhiên liệu toàn cầu, áp lực chuyển dịch xanh và yêu cầu vận hành hệ thống an toàn, minh bạch, đặt ra bài toán lớn đối với ngành điện: vừa phải bảo đảm đủ điện cho phát triển nhanh và bền vững, vừa phải thiết kế lại cơ chế, chính sách để thu hút đầu tư, phát triển thị trường và tăng năng lực quản trị.
Hương Việt Sinh tiên phong số hóa suất ăn học đường: Minh bạch nguồn gốc thực phẩm chỉ bằng một cú chạm

Hương Việt Sinh tiên phong số hóa suất ăn học đường: Minh bạch nguồn gốc thực phẩm chỉ bằng một cú chạm

An toàn thực phẩm tại bếp ăn trường học luôn là nỗi trăn trở của các bậc phụ huynh và nhà quản lý giáo dục. Trước bài toán này, thay vì quản lý bằng giấy tờ, Công ty TNHH Hương Việt Sinh đã có bước đi tiên phong, xây dựng hệ sinh thái số, thiết lập tiêu chuẩn mới về sự minh bạch và an toàn trong lĩnh vực cung cấp suất ăn bán trú.
Điều chỉnh quy hoạch phát triển điện lực quốc gia - bước đi cấp bách trong giai đoạn tăng tốc phát triển

Điều chỉnh quy hoạch phát triển điện lực quốc gia - bước đi cấp bách trong giai đoạn tăng tốc phát triển

Trong giai đoạn đất nước chuyển mình mạnh mẽ, mục tiêu đưa Việt Nam trở thành quốc gia phát triển có thu nhập cao vào năm 2045 đặt ra yêu cầu ngày càng lớn đối với hệ thống năng lượng, đặc biệt là điện lực. Việc bảo đảm đủ điện cho sản xuất, kinh doanh và đời sống của Nhân dân không chỉ là nhiệm vụ kinh tế mà còn là vấn đề an ninh quốc gia. Trong bối cảnh đó, công tác điều chỉnh quy hoạch phát triển điện lực quốc gia giai đoạn 2021 - 2030, tầm nhìn đến 2050 (QHĐ VIII) nhận được sự quan tâm đặc biệt của Chính phủ, các bộ ngành và cộng đồng doanh nghiệp.
LILAMA bứt phá theo tinh thần Nghị quyết số 79-NQ/TW: Từ doanh nghiệp lắp máy truyền thống đến lực lượng tiên phong làm chủ công nghệ

LILAMA bứt phá theo tinh thần Nghị quyết số 79-NQ/TW: Từ doanh nghiệp lắp máy truyền thống đến lực lượng tiên phong làm chủ công nghệ

Nghị quyết số 79-NQ/TW ngày 06/01/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế nhà nước (Nghị quyết số 79-NQ/TW) được ban hành không chỉ khẳng định vai trò chủ đạo, dẫn dắt của doanh nghiệp nhà nước, mà còn đặt ra yêu cầu cao hơn về hiệu quả, năng lực cạnh tranh và khả năng làm chủ công nghệ. Trong dòng chảy đó, Tổng công ty Lắp máy Việt Nam - LILAMA đang cho thấy những nỗ lực rõ nét nhằm bứt phá, tái định vị từ một doanh nghiệp lắp máy truyền thống thành lực lượng tiên phong trong chế tạo, tổng thầu và làm chủ công nghệ công nghiệp - năng lượng.

Theo dõi chúng tôi trên: