Thứ tư 14/01/2026 11:51
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Bất cập trong thi hành án dân sự liên quan đến quyền sử dụng đất của hộ gia đình

Hiện nay, việc thực hiện thi hành án dân sự liên quan đến quyền sử dụng đất của hộ gia đình còn gặp nhiều khó khăn, phức tạp. Trên cơ sở thực tiễn thi hành pháp luật về vấn đề này, tác giả chỉ ra những bất cập, đồng thời, nêu lên một số đề xuất nhằm hoàn thiện quy định của pháp luật để đáp ứng yêu cầu áp dụng pháp luật.


1. Khái niệm về hộ gia đình và quy định pháp luật về quyền sử dụng đất của hộ gia đình

Theo Từ điển Tiếng Việt thì chữ “hộ” về danh từ được xem là nhà ở[1], còn theo Từ điển Luật học thì “gia đình” là tập hợp những người gắn bó với nhau do quan hệ hôn nhân, huyết thống hoặc do quan hệ nuôi dưỡng làm phát sinh các nghĩa vụ và quyền giữa họ với nhau theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình[2]. Cũng trong Từ điển Luật học, “hộ gia đình” là tập hợp nhóm người có quan hệ hôn nhân, huyết thống và nuôi dưỡng[3].

Điều 1 Luật Đất đai năm 1993 quy định: “… Nhà nước giao đất cho… hộ gia đình… sử dụng ổn định lâu dài. Nhà nước còn cho… hộ gia đình… thuê đất...”. Bộ luật Dân sự năm 1995 và Bộ luật Dân sự năm 2005 cũng đã có các quy định về hộ gia đình, quyền sử dụng đất của hộ gia đình, theo đó, ghi nhận “Hộ gia đình mà các thành viên có tài sản chung…” là chủ thể của quan hệ dân sự; bên cạnh đó còn quy định về đại diện, tài sản chung và trách nhiệm dân sự của hộ gia đình[4]; Bộ luật Dân sự năm 2005 tại Điều 109 quy định về chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung của hộ gia đình.

Bộ luật Dân sự năm 2015 không khái niệm thế nào là hộ gia đình, nhưng dẫn chiếu qua luật chuyên ngành, cụ thể: “Việc xác định chủ thể của quan hệ dân sự có sự tham gia của hộ gia đình sử dụng đất được thực hiện theo quy định của Luật Đất đai” (khoản 2 Điều 101). Khoản 29 Điều 3 Luật Đất đai năm 2013 quy định: “Hộ gia đình sử dụng đất là những người có quan hệ hôn nhân, huyết thống, nuôi dưỡng theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình, đang sống chung và có quyền sử dụng đất chung tại thời điểm được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất; nhận chuyển quyền sử dụng đất”. Bên cạnh đó, việc quy định trách nhiệm và nghĩa vụ pháp lý liên quan đến hộ gia đình cũng có sự thay đổi so với quy định trước đây. Theo Điều 101 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì các thành viên của hộ gia đình cùng trực tiếp tham gia quan hệ dân sự, nếu họ không tham gia thì phải có sự ủy quyền bằng văn bản, đồng thời, việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung của các thành viên gia đình được thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 212 Bộ luật Dân sự năm 2015.

Theo quy định của pháp luật hiện hành, hộ gia đình vẫn là chủ thể tham gia trong quan hệ dân sự như quy định trước đây nhưng chủ hộ không đương nhiên là đại diện của hộ trong quan hệ giao dịch dân sự nếu không được tất cả thành viên trong hộ ủy quyền. Tài sản của hộ dựa trên sự thỏa thuận, nếu không có thỏa thuận thì mỗi thành viên đều nhau, đồng thời, việc định đoạt tài sản là bất động sản, động sản có đăng ký, tài sản là nguồn thu nhập chủ yếu của gia đình phải là tất cả những thành viên gia đình từ đủ 18 tuổi trở lên (thành niên) so với quy định trước đây là 15 tuổi.

2. Một số bất cập từ thực tiễn thi hành pháp luật thi hành án liên quan đến tài sản là quyền sử dụng đất của hộ gia đình

2.1. Về quy trình xác định phần quyền sử dụng đất của người phải thi hành án trong khối tài sản chung của hộ gia đình

Theo khoản 1 Điều 74 Luật Thi hành án dân sự năm 2008, được sửa đổi, bổ sung năm 2014 (Luật Thi hành án dân sự), Luật chưa quy định cụ thể thời hạn (trong thời gian bao lâu) chấp hành viên phải thực hiện thông báo cho người được thi hành án có quyền yêu cầu Tòa án xác định phần quyền sở hữu tài sản, phần quyền sử dụng đất của người phải thi hành án trong khối tài sản chung theo thủ tục tố tụng dân sự. Do đó, trong thực tiễn, nhiều chấp hành viên đã kéo dài thời hạn ra thông báo, ảnh hưởng đến quyền lợi của đương sự trong thi hành án nhưng lại chưa có căn cứ, chế tài yêu cầu chấp hành viên thực hiện.

Bên cạnh đó, theo Luật Thi hành án dân sự (khoản 1 Điều 74), trình tự xác định phần quyền sử dụng đất của người phải thi hành án trong khối tài sản chung của hộ gia đình được thực hiện như sau: Trước hết, chấp hành viên phải xác định các thành viên trong hộ theo khoản 29 Điều 3 Luật Đất đai năm 2013; sau đó, chấp hành viên tiến hành cho những người trong hộ tự thỏa thuận và phân chia tài sản; nếu người phải thi hành án và những người có quyền sử dụng đất không tự thỏa thuận hoặc thỏa thuận vi phạm điều cấm của pháp luật/trái đạo đức xã hội và không yêu cầu Tòa án giải quyết, thì chấp hành viên thông báo cho người được thi hành án có quyền yêu cầu Tòa án xác định phần quyền sử dụng đất của người phải thi hành án trong khối tài sản chung theo thủ tục tố tụng dân sự; nếu người được thi hành án không yêu cầu Tòa án giải quyết thì chấp hành viên yêu cầu Tòa án xác định phần quyền sử dụng đất của người phải thi hành án trong khối tài sản chung theo thủ tục tố tụng dân sự và khi có kết quả, chấp hành viên mới xử lý tài sản theo quy định.

Tuy nhiên, theo hướng dẫn tại điểm c khoản 2 Điều 24 Nghị định số 62/2015/NĐ-CP ngày 18/7/2015 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thi hành án dân sự (Nghị định số 62/2015/NĐ-CP), thì chấp hành viên xác định phần sở hữu, sử dụng theo số lượng thành viên của hộ gia đình, sau đó, chấp hành viên thông báo kết quả cho các thành viên trong hộ gia đình biết, trường hợp các thành viên hộ gia đình không đồng ý với việc xác định của chấp hành viên thì có quyền yêu cầu Tòa án phân chia tài sản chung, còn nếu không có người khởi kiện thì chấp hành viên tiến hành kê biên, xử lý tài sản.

Như vậy, Luật Thi hành án dân sự và Nghị định số 62/2015/NĐ-CP đã có những quy định chưa rõ ràng, còn chồng chéo gây khó khăn cho công tác giải quyết của chấp hành viên. Cụ thể như sau: (i) Chấp hành viên phải xác định phần quyền sử dụng đất theo số lượng thành viên của hộ gia đình trước hay cho các thành viên của hộ gia đình tự thỏa thuận phân chia trước; (ii) Luật Thi hành án dân sự (khoản 1 Điều 74) đã giới hạn quyền yêu cầu Tòa án của người được thi hành án khi họ “không thống nhất với sự thỏa thuận” của những người trong hộ (người được thi hành án chỉ được thực hiện quyền yêu cầu Tòa án xác định phần quyền sử dụng đất của người phải thi hành án trong những trường hợp các thành viên hộ gia đình không thỏa thuận, thỏa thuận vi phạm điều cấm của pháp luật, thỏa thuận trái đạo đức xã hội, thỏa thuận không được); (iii) Nghị định số 62/2015/NĐ-CP (điểm c khoản 2 Điều 24) đã bỏ quên quyền của người được thi hành án khi quy định chỉ những thành viên trong hộ gia đình của người phải thi hành án mới được chấp hành viên thông báo kết quả phân chia và cũng chỉ có họ mới được yêu cầu Tòa án giải quyết nếu không thống nhất với việc xác định của chấp hành viên. Ngày 17/3/2020, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 33/2020/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 62/2015/NĐ-CP nhưng những bất cập này cũng chưa được đề cập, giải quyết trong Nghị định này.

2.2. Khó khăn, vướng mắc từ thực tiễn thực hiện của chấp hành viên

Theo tác giả được biết thì cho đến nay, trong pháp luật thi hành án dân sự, chưa có một văn bản quy phạm pháp luật hay hướng dẫn cụ thể nào về xác định tài sản hộ gia đình. Riêng Tòa án nhân dân tối cao đã hướng dẫn Tòa án các cấp trong việc giải quyết xác định tài sản hộ gia đình như sau: Thời điểm để xác định hộ gia đình có bao nhiêu thành viên có quyền sử dụng đất là thời điểm được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất, nhận chuyển quyền sử dụng đất; việc xác định ai là thành viên hộ gia đình phải căn cứ vào hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; khi giải quyết vụ án dân sự, ngoài những người là thành viên hộ gia đình có quyền sử dụng đất, Tòa án phải đưa người đang trực tiếp quản lý, sử dụng đất của hộ gia đình, người có công sức đóng góp làm tăng giá trị quyền sử dụng đất hoặc tài sản trên đất tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan[5]. Quy định này của Tòa án cũng là cơ sở để chấp hành viên thực hiện việc xác định giá trị phần quyền sử dụng đất của người phải thi hành án. Tuy nhiên, việc xác định còn gặp rất nhiều khó khăn, cụ thể:

Thứ nhất, xác định thành viên hộ gia đình vào thời điểm nào

Theo khoản 29 Điều 3 Luật Đất đai năm 2013 và mục 4 phần III Giải đáp số 01/2017/GĐ-TANDTC ngày 07/4/2017 của Tòa án nhân dân tối cao giải đáp một số vấn đề nghiệp vụ thì thành viên có quyền sử dụng đất của hộ gia đình được xác định ở thời điểm khi Nhà nước giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất; nhận chuyển quyền sử dụng đất qua hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Tuy nhiên, quyền sử dụng đất của hộ gia đình nhiều lần thay đổi, cấp lại thì căn cứ vào việc cấp đất lần đầu hay lần sau cùng? Đây là một vấn đề phổ biến khi có tranh chấp về xác định phần giá trị quyền sử dụng đất của thành viên hộ gia đình hiện nay mà chưa được hướng dẫn.

Thứ hai, người trong hộ không ký thế chấp thì có nghĩa vụ liên đới trong tài sản hộ gia đình hay không

Khi thế chấp quyền sử dụng đất, căn cứ vào thời điểm thế chấp, tại thời điểm công chứng, thành viên trong hộ gia đình chưa đủ 18 tuổi hay đã đủ 18 tuổi nhưng mất năng lực hành vi dân sự thì pháp luật về dân sự không buộc phải có nghĩa vụ ký vào hợp đồng thế chấp, nhưng đến khi nợ quá hạn, theo quy định pháp luật thi hành án không được lấy phần tài sản của thành viên đó để thi hành án. Do đó, khi giải quyết thi hành án, rất nhiều trường hợp các tổ chức tín dụng không đảm bảo quyền lợi của mình do giá trị tài sản không đủ để thực hiện nghĩa vụ của hộ gia đình. Xuất phát từ bất cập trong thực tiễn nên Bộ Tài nguyên và Môi trường đã ban hành Thông tư số 33/2017/TT-BTNMT ngày 29/9/2017 quy định chi tiết Nghị định số 01/2017/NĐ-CP ngày 06/01/2017 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số nghị định quy định chi tiết thi hành Luật Đất đai và sửa đổi, bổ sung một số điều của các thông tư hướng dẫn thi hành Luật Đất đai (Thông tư số 33/2017/TT-BTNMT), theo đó, Thông tư này quy định: “Hộ gia đình sử dụng đất thì ghi “Hộ gia đình, gồm ông” (hoặc “Hộ gia đình, gồm bà”), sau đó ghi họ tên, năm sinh, tên và số giấy tờ nhân thân của chủ hộ gia đình như quy định tại điểm a khoản này; địa chỉ thường trú của hộ gia đình. Trường hợp chủ hộ gia đình không có quyền sử dụng đất chung của hộ gia đình thì ghi người đại diện là thành viên khác của hộ gia đình có chung quyền sử dụng đất của hộ gia đình. Dòng tiếp theo ghi “Cùng sử dụng đất, cùng sở hữu tài sản gắn liền với đất (hoặc Cùng sử dụng đất hoặc Cùng sở hữu tài sản) với … (ghi lần lượt họ tên, năm sinh, tên và số giấy tờ nhân thân của những thành viên còn lại trong hộ gia đình có chung quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất)” (khoản 5 Điều 6).

Theo tác giả, việc sửa đổi, bổ sung trên bảo đảm sự chặt chẽ về mặt pháp luật, cụ thể hơn về chủ thể có quyền sử dụng đất, ngoài việc giải quyết những khó khăn hay rào cản, còn giảm những rủi ro cho người sử dụng đất, minh bạch về tài sản, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của các thành viên có chung quyền sử dụng đất, tuy nhiên, có thể vì lo ngại sẽ gây khó khăn khi làm các thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất hoặc làm các thủ tục thế chấp tài sản bảo lãnh, thế chấp tài sản vay tiền ngân hàng, hơn nữa, còn tồn tại nhiều quan điểm không thống nhất với nội dung trên, do đó, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã dời thời điểm áp dụng sau ngày 05/12/2017, đến thời điểm nào áp dụng thì chưa quy định. Quy định trên của Bộ Tài nguyên và Môi trường là phù hợp, tạo thuận lợi xác định chủ thể có quyền sử dụng đất một cách chính xác, đảm bảo cho việc thực hiện giao dịch dân sự và giải quyết tranh chấp, nhưng do nhiều lý do nên quy định này đến nay vẫn chưa được triển khai thi hành trên thực tế.

Thứ ba, việc cơ quan, tổ chức, cá nhân chậm cung cấp đầy đủ tài liệu, chứng cứ theo yêu cầu của cơ quan thi hành án

Theo Điều 11 Luật Thi hành án dân sự về trách nhiệm phối hợp của cơ quan, tổ chức, cá nhân với cơ quan thi hành án dân sự, chấp hành viên tạo điều kiện về hành lang pháp lý cho cơ quan thi hành án và chấp hành viên.

Để xác định thành viên hộ gia đình, chấp hành viên phải tiến hành xác định tại Ủy ban nhân dân có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, đồng thời, dựa theo quy định của Luật Đất đai năm 2013 và khoản 2 Điều 60 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai, về việc nộp hồ sơ và trả kết quả thực hiện thủ tục hành chính về đất đai thì Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất tiếp nhận hồ sơ và trả kết quả, cũng có thể xác định thành viên hộ gia đình khi được cấp quyền sử dụng đất, nhưng thực trạng từ cấp xã cho đến nơi cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì nhiều hồ sơ bị thất lạc hoặc không được lưu trữ hay hồ sơ không thể hiện tại thời điểm cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có những ai là thành viên hộ gia đình. Do đó, chấp hành viên phải xác minh tại Công an cấp huyện khi địa điểm cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là thành phố trực thuộc Trung ương còn lại thì xác minh tại Công an cấp xã. Đối với Công an cấp xã, vì không có đủ điều kiện quản lý hồ sơ lâu dài nên nhiều xã chuyển hồ sơ về huyện quản lý, do đó, chấp hành viên lại phải xác minh tại Công an cấp huyện. Việc xác minh qua nhiều bước, gây khó khăn, kéo dài thời gian giải quyết.

Thứ tư, thái độ chấp hành pháp luật của người phải thi hành án và thành viên của hộ gia đình liên quan đến nghĩa vụ phải thi hành án

Khi xác định được thành viên của hộ gia đình thì chấp hành viên lại gặp những khó khăn khác như người trong hộ không ở địa phương, không hợp tác trong việc xác định giá trị tài sản, kéo dài thời gian, ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án cũng như việc thi hành án, làm ảnh hưởng đến lòng tin của nhân dân.

3. Một số kiến nghị, đề xuất

- Cần xem xét đưa quy định tại khoản 5 Điều 6 Thông tư số 33/2017/TT-BTNMT vào áp dụng trên thực tiễn, làm thế nào để quyền sử dụng đất cấp cho hộ gia đình cần ghi rõ từng thành viên và tỷ lệ giá trị phần quyền sử dụng kèm theo.

- Pháp luật thi hành án dân sự cần bổ sung quyền của người được thi hành án trong việc xác định phần quyền sử dụng đất của thành viên hộ gia đình liên quan đến quyền lợi được thi hành án của mình.

- Quy định giới hạn thời gian chấp hành viên phải thực hiện thông báo về việc xác định phân chia quyền sử dụng đất của bên phải thi hành án cho bên được thi hành án.

- Pháp luật dân sự cần quy định: Khi thế chấp tài sản hộ gia đình, người đại diện theo pháp luật của những người trong hộ khi chưa đủ 18 tuổi hay đủ 18 tuổi nhưng mất năng lực hành vi dân sự thì hợp đồng thế chấp cần ghi rõ là người đại diện cho những người này có trách nhiệm thế chấp tài sản ghi trong hộ, đồng thời, khi phát sinh nghĩa vụ thì phần quyền sử dụng đất trên được xử lý theo luật thi hành án dân sự.

- Tiếp tục tuyên truyền ý thức chấp hành pháp luật dân sự và thi hành án cho người dân.

- Cần tăng cường công tác quản lý, chỉ đạo, lưu trữ hồ sơ, sổ quản lý, theo dõi và thực hiện tốt quy định tại Điều 11 Luật Thi hành án dân sự về việc cung cấp thông tin, phối hợp trong việc giải quyết của Tòa án và tổ chức thi hành án dân sự. Kịp thời hướng dẫn xác định giá trị tài sản hộ gia đình và nghĩa vụ pháp lý của các thành viên đối với quyền sử dụng đất cấp cho hộ trong thời gian qua.

ThS. Ngô Văn Lượng

Viện kiểm sát nhân dân huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp







[1]. Từ điển Tiếng Việt (2014), Lê Tiến Dũng, Nxb. Văn hóa thông tin, tr. 510.

[2]. Từ điển Luật học (2016), Bộ tư pháp - Viện Khoa học pháp lý, Nxb. Từ điển Bách khoa - Tư pháp, tr. 282.

[3]. Từ điển Luật học (2016), Bộ tư pháp - Viện Khoa học pháp lý, Nxb. Từ điển Bách khoa - Tư pháp, tr. 373.

[4]. Các điều 116, 117, 118, 119 Bộ luật Dân sự năm 1995; các điều 106, 107, 108, 110 Bộ luật Dân sự năm 2005.

[5]. Theo mục 4 phần III Giải đáp số 01/2017/GĐ-TANDTC ngày 07/4/2017 của Tòa án nhân dân tối cao giải đáp một số vấn đề nghiệp vụ.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Luật Thương mại điện tử số 122/2025/QH15 được Quốc hội thông qua ngày 10/12/2025, gồm 07 chương, 41 điều, được xây dựng theo định hướng kiến tạo phát triển, tăng cường hiệu quả quản lý và bảo vệ lợi ích chính đáng của doanh nghiệp, người tiêu dùng với nhiều nội dung mới, nổi bật. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2026.
Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Hội đồng nhân dân (HĐND) cấp tỉnh, cấp xã và bố trí đại biểu HĐND hoạt động chuyên trách nhiệm kỳ 2026 - 2031 là nội dung quan trọng nhằm bảo đảm tổ chức bộ máy HĐND các cấp tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu sắp xếp đơn vị hành chính và định hướng cải cách của Đảng và Nhà nước. Những quy định này được thực hiện thống nhất theo Nghị quyết số 106/2025/UBTVQH15 ngày 16/10/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) và các văn bản có liên quan.
Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là một trong những quyền chính trị cơ bản của công dân, đồng thời là khâu có ý nghĩa quyết định đối với chất lượng hoạt động của cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Pháp luật về bầu cử không chỉ bảo đảm quyền ứng cử của công dân mà còn đặt ra những tiêu chuẩn, điều kiện, giới hạn và cơ chế sàng lọc chặt chẽ nhằm lựa chọn được những người đủ đức, đủ tài, xứng đáng đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân.
Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức theo các quy định chặt chẽ của Hiến pháp và pháp luật về bầu cử, trong đó xác định rõ tổng số đại biểu được bầu, cơ cấu, thành phần người ứng cử cũng như nguyên tắc phân bổ đại biểu ở từng địa phương. Bài viết làm rõ số lượng ĐBQH khóa XVI dự kiến được bầu, các yêu cầu về tỷ lệ đại diện của phụ nữ, người dân tộc thiểu số và những nguyên tắc cụ thể để xác định số lượng đại biểu HĐND các cấp, qua đó giúp cử tri hiểu rõ hơn cơ sở pháp lý và ý nghĩa của việc bảo đảm tính đại diện, dân chủ trong bầu cử.
Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Theo quy định tại Điều 7 Hiến pháp năm 2013 và Điều 1 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015, việc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tiến hành theo các nguyên tắc bầu cử phổ thông; nguyên tắc bình đẳng trong bầu cử; nguyên tắc bầu cử trực tiếp; nguyên tắc bỏ phiếu kín. Việc quán triệt và thực hiện nghiêm các nguyên tắc này không chỉ bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân, mà còn là thước đo quan trọng để đánh giá một cuộc bầu cử dân chủ, đúng pháp luật.
Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là những người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân trong bộ máy quyền lực nhà nước. Trên cơ sở Hiến pháp năm 2013, được sửa đổi, bổ sung năm 2025, Luật Tổ chức Quốc hội và Luật Tổ chức chính quyền địa phương quy định rõ hệ thống quyền hạn, trách nhiệm cũng như cơ chế miễn trừ đối với đại biểu nhằm bảo đảm thực hiện đầy đủ chức năng lập pháp, giám sát, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và địa phương, đồng thời tăng cường trách nhiệm của đại biểu dân cử trước cử tri và xã hội.
Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số là yêu cầu cấp thiết trong tiến trình xây dựng xã hội phát triển toàn diện và bền vững ở Việt Nam hiện nay. Trên cơ sở phân tích lý luận và khảo sát thực tiễn tại tỉnh Gia Lai, nơi có 24,76% dân số là người dân tộc thiểu số thuộc 44 thành phần, bài viết đánh giá việc thực hiện quyền này theo khung phân tích của Bình luận chung số 21 của Liên hợp quốc, gồm ba tiêu chí: tính sẵn có, khả năng tiếp cận và tính chấp nhận được. Kết quả cho thấy, còn tồn tại hạn chế về thiết chế văn hóa cơ sở, chênh lệch vùng miền và mức độ tham gia còn hình thức. Từ đó, bài viết đề xuất giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả, bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số tại tỉnh Gia Lai.
Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu cải cách toàn diện, đẩy mạnh hội nhập quốc tế và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, việc nâng cao vai trò lãnh đạo toàn diện, trực tiếp của Đảng đối với hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp có ý nghĩa chiến lược và cấp thiết.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bài viết nêu lên vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước và đề xuất một số giải pháp nâng cao vai trò của Bộ Tư pháp trong giai đoạn mới.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Trong quá trình phát triển của đất nước, đặc biệt, trong 10 năm gần đây, với sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế - xã hội Việt Nam, việc xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật là công tác đặc biệt quan trọng. Với sự nỗ lực không ngừng, Bộ Tư pháp đã cùng các bộ, ngành làm tốt công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và đưa pháp luật vào cuộc sống, góp phần quan trọng trong thực hiện thành công công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế, giữ vững chủ quyền quốc gia, an ninh, trật tự xã hội, nâng cao đời sống vật chất và văn hóa, tinh thần của Nhân dân, bảo đảm công bằng xã hội, xây dựng xã hội dân chủ, văn minh theo đường lối của Đảng và Nhà nước. Để đạt được những thành tựu đó, nhiều hoạt động đã được triển khai đồng bộ, từ công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL); đặc biệt, đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực làm công tác xây dựng, thi hành pháp luật. Bộ Tư pháp đã chủ động, tích cực phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, trong đó có Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trong công tác xây dựng thể chế, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác pháp chế.
Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Với chức năng là cơ quan của Chính phủ, thực hiện quản lý nhà nước về xây dựng và thi hành pháp luật, Bộ Tư pháp đã và đang đóng góp, góp phần quan trọng trong kiến tạo nền tảng pháp lý vững chắc, phục vụ mục tiêu phát triển đất nước; đồng thời, đóng vai trò chủ đạo trong xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ pháp luật, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và thúc đẩy tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Những kết quả đạt được thể hiện qua các nội dung chính sau:
Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Ngày 01/01/2004, tỉnh Lai Châu chính thức được chia tách thành tỉnh Điện Biên và Lai Châu. Đây cũng là thời điểm Sở Tư pháp tỉnh Lai Châu (mới) được thành lập và đi vào hoạt động. Trải qua hơn 21 năm xây dựng và phát triển, ngành Tư pháp tỉnh Lai Châu đã vượt qua khó khăn, thử thách, ngày càng lớn mạnh và khẳng định được vai trò, vị thế của mình.
Công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế - Những khó khăn, vướng mắc và kiến nghị hoàn thiện thể chế từ góc nhìn của luật sư

Công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế - Những khó khăn, vướng mắc và kiến nghị hoàn thiện thể chế từ góc nhìn của luật sư

Trợ giúp pháp lý (TGPL) là một trong những chính sách xã hội có ý nghĩa nhân văn sâu sắc của Đảng và Nhà nước ta trong việc bảo đảm quyền được tiếp cận công lý bình đẳng của mọi tầng lớp Nhân dân, đặc biệt là nhóm những người yếu thế trong xã hội. Thông qua các hoạt động TGPL, người yếu thế trong xã hội được cung cấp, sử dụng dịch vụ pháp lý miễn phí khi có tranh chấp, góp phần nâng cao ý thức pháp luật và phòng ngừa vi phạm pháp luật. Trong hoạt động TGPL, đội ngũ luật sư đóng vai trò then chốt, là lực lượng trực tiếp thực hiện việc tư vấn, đại diện và bào chữa cho các đối tượng yếu thế. Tuy nhiên, thực tế cho thấy công tác TGPL còn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc, cả về cơ chế, nguồn lực và phương thức triển khai.
Nâng cao hiệu quả tích hợp nội dung bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong học phần “Thực tiễn và kinh nghiệm xây dựng, phát triển địa phương – ngành – đoàn thể” thuộc chương trình Trung cấp lý luận chính trị

Nâng cao hiệu quả tích hợp nội dung bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong học phần “Thực tiễn và kinh nghiệm xây dựng, phát triển địa phương – ngành – đoàn thể” thuộc chương trình Trung cấp lý luận chính trị

Việc tích hợp nội dung bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong giảng dạy chương trình Trung cấp lý luận chính trị là yêu cầu tất yếu, góp phần trực tiếp vào việc xây dựng bản lĩnh chính trị, củng cố niềm tin và năng lực tư duy lý luận cho đội ngũ cán bộ đương chức và dự nguồn cấp cơ sở. Trên cơ sở thực tiễn công tác giảng dạy và yêu cầu đổi mới giáo dục lý luận chính trị, cần đề ra giải pháp nâng cao hiệu quả tích hợp nội dung bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong học phần “Thực tiễn và kinh nghiệm xây dựng, phát triển địa phương – ngành – đoàn thể” thuộc chương trình Trung cấp lý luận chính trị (Học phần) tại Trường Chính trị tỉnh Phú Thọ.
Thực tiễn thi hành Luật Tương trợ tư pháp phần về dân sự

Thực tiễn thi hành Luật Tương trợ tư pháp phần về dân sự

Sau hơn 17 năm thi hành, Luật Tương trợ tư pháp năm 2007, thực tiễn đời sống xã hội đang đặt ra nhiều yêu cầu mới đối với hoạt động TTTP về dân sự. Do đó, việc tổng kết thực tiễn thực hiện Luật Tương trợ tư pháp năm 2007 là cần thiết, từ đó, đánh giá những điểm còn hạn chế so với yêu cầu thực tiễn, làm cơ sở đề xuất hoàn thiện pháp luật TTTP về dân sự trong bối cảnh mới.

Theo dõi chúng tôi trên: