Thứ sáu 01/05/2026 07:38
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Bất cập về niêm yết việc thụ lý công chứng văn bản khai nhận, văn bản thỏa thuận phân chia di sản

Thừa kế là một sự kiện pháp lý nhằm chuyển dịch tài sản của người chết cho người thừa kế của họ. Pháp luật về chứng thực hiện nay không quy định về niêm yết việc thụ lý chứng thực văn bản thỏa thuận phân chia di sản, văn bản khai nhận di sản trước khi thực hiện chứng thực. Tuy nhiên, pháp luật về công chứng quy định, trước khi thực hiện việc công chứng văn bản khai nhận hoặc thỏa thuận phân chia di sản thừa kế, tổ chức hành nghề công chứng phải niêm yết việc thụ lý công chứng tại trụ sở Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người chết cư trú cuối cùng, nếu di sản thừa kế là bất động sản phải niêm yết đồng thời tại Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có bất động sản (gọi chung là Ủy ban nhân dân cấp xã nơi niêm yết) trong thời hạn 15 ngày trước khi thực hiện chứng nhận[1]. Hiện nay, việc niêm yết này đã bộc lộ những vướng mắc, không đồng bộ khi mỗi nơi nhận định và thực hiện khác nhau.


1. Một số vướng mắc

Hiện nay, Ủy ban nhân dân cấp xã nơi niêm yết khi thực hiện tiếp nhận niêm yết thừa kế của các tổ chức hành nghề công chứng thì phát sinh hai quan điểm khác nhau, cụ thể:

Quan điểm thứ nhất: Khi các tổ chức hành nghề công chứng gửi thông báo niêm yết có đủ các thông tin theo quy định tại khoản 2 Điều 18 Nghị định số 29/2015/NĐ-CP ngày 15/3/2015 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Công chứng (Nghị định số 29/2015/NĐ-CP) thì Ủy ban nhân dân cấp xã nơi niêm yết sẽ ký vào biên bản niêm yết. Khi kết thúc thời hạn 15 ngày niêm yết, Ủy ban nhân dân cấp xã nơi niêm yết sẽ cùng tổ chức hành nghề công chứng ký biên bản kết thúc niêm yết và ghi nhận cụ thể có tranh chấp, khiếu nại, tố cáo liên quan đến việc thừa kế hay không. Biên bản này là cơ sở pháp lý quan trọng để tổ chức hành nghề công chứng thực hiện việc công chứng văn bản khai nhận hoặc thỏa thuận phân chia di sản thừa kế.

Theo quan điểm này, việc niêm yết thừa kế chỉ cần tổ chức hành nghề công chứng gửi thông báo niêm yết có đủ các nội dung quy định tại khoản 2 Điều 18 Nghị định số 29/2015/NĐ-CP thì Ủy ban nhân dân sẽ ký vào biên bản niêm yết và thực hiện việc niêm yết. Quan điểm này không yêu cầu phải có dự thảo văn bản khai nhận, văn bản thỏa thuận phân chia có chữ ký của người khai nhận, người thỏa thuận phân chia bởi Nghị định số 29/2015/NĐ-CP không quy định. Hơn nữa, khoản 2 Điều 18 Nghị định số 29/2015/NĐ-CP quy định trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp xã là niêm yết việc thụ lý thông báo công chứng, ghi nhận có hay không có sự tranh chấp, khiếu nại, tố cáo liên quan đến việc thừa kế và ghi nhận nội dung đó vào biên bản khi kết thúc niêm yết. Công chứng viên chịu trách nhiệm về văn bản công chứng do mình thực hiện, Ủy ban nhân dân cấp xã không có thẩm quyền xem xét tính pháp lý của hồ sơ thừa kế do tổ chức hành nghề công chứng thực hiện.

Quan điểm thứ hai: Ủy ban nhân dân cấp xã nơi niêm yết yêu cầu tổ chức hành nghề công chứng khi gửi thông báo niêm yết phải gửi kèm theo dự thảo văn bản khai nhận hoặc văn bản thỏa thuận phân chia di sản có chữ ký của người khai nhận, người thỏa thuận phân chia di sản. Nếu tổ chức hành nghề công chứng không cung cấp bản dự thảo có chữ ký của người khai nhận, người thỏa thuận phân chia di sản thì từ chối tiếp nhận và không niêm yết việc thừa kế. Do đó, việc thừa kế không thể thực hiện được.

Nhóm chủ thể theo quan điểm này cho rằng, khi niêm yết thừa kế thì phải có dự thảo văn bản khai nhận, văn bản thỏa thuận phân chia di sản có đủ chữ ký của người khai nhận, người thỏa thuận phân chia di sản, có như thế mới biết chủ thể là ai, nội dung khai nhận, thỏa thuận phân chia là gì, để từ đó có cơ sở niêm yết. Tuy quan điểm này là nhằm mục đích bảo đảm tính toàn diện, chặt chẻ của việc niêm yết thừa kế nhưng đã bộc lộ nhiều khiếm khuyết, nghiêm trọng hơn có thể là vi phạm quy định pháp luật bởi những căn cứ sau:

Thứ nhất, Nghị định số 29/2015/NĐ-CP không quy định tổ chức hành nghề công chứng phải gửi kèm theo dự thảo văn bản khai nhận, văn bản thỏa thuận phân chia di sản có chữ ký của người khai nhận, người thỏa thuận phân chia di sản khi gửi thông báo thụ lý việc niêm yết thừa kế. Việc yêu cầu thêm bản dự thảo này là một bước lùi trong cải cách thủ tục hành chính vì đã vượt quyền, tự mình định ra thêm những yêu cầu ngoài quy định pháp luật.

Thứ hai, quan hệ thừa kế hàm chứa nhiều quan hệ pháp lý có liên quan như người thừa kế chết, thừa kế thế vị, di sản thừa kế là quyền sử dụng đất cấp chung cho hộ gia đình, thừa kế theo bản án, quyết định của cơ quan có thẩm quyền, từ chối nhận di sản, tặng cho kỷ phần thừa kế, ủy quyền từ chối, khai nhận, thỏa thuận phân chia di sản… Ngay mới giai đoạn đầu khi có yêu cầu công chứng hồ sơ thừa kế mà Ủy ban nhân dân cấp xã nơi niêm yết yêu cầu phải có dự thảo văn bản khai nhận, văn bản thỏa thuận phân chia di sản có chữ ký người khai nhận, người thỏa thuận phân chia di sản là một yêu cầu khó thực hiện. Đây là giai đoạn tổ chức hành nghề công chứng tìm hiểu thông tin, xác minh sự chính xác, minh bạch của hồ sơ thừa kế. Việc yêu cầu dự thảo văn bản khai nhận, văn bản thỏa thuận phân chia di sản đã có chữ ký của người khai nhận, người thỏa thuận phân chia di sản mới thực hiện niêm yết vô hình trung đã buộc công chứng viên phải hoàn thiện hồ sơ trước khi niêm yết, mặc dù khả năng tranh chấp, khiếu nại hoặc bỏ xót người thừa kế là chưa được xác định và hoàn toàn có thể xảy ra.

Thứ ba, giá trị pháp lý của dự thảo văn bản khai nhận, văn bản thỏa thuận phân chia di sản có chữ ký của người khai nhận, người thỏa thuận phân chia di sản được xác định như thế nào? Bản dự thảo này phải chăng chỉ là một “dấu hiệu hình thức” để cho địa phương biết nội dung thừa kế như thế nào? Dự thảo này có được dùng làm văn bản chính thức để công chứng viên chứng nhận hay không, hay khi kết thúc niêm yết, người khai nhận, người thỏa thuận phân chia di sản phải ký lại văn bản trước mặt công chứng viên?

Luật công chứng năm 2014 và Thông tư số 01/2021/TT-BTP ngày 03/02/2021 của Bộ Tư pháp quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Công chứng xác định nguyên tắc người yêu cầu công chứng phải ký trước mặt công chứng viên và tại thời điểm công chứng viên chứng nhận văn bản. Một số trường hợp ngoại lệ, người yêu cầu công chứng có thể ký vào văn bản trước thời điểm công chứng viên chứng nhận văn bản nhưng phải ghi rõ lý do. Nếu thực hiện theo quan điểm này, lời chứng của công chứng viên đối với văn bản khai nhận, văn bản thỏa thuận phân chia di sản phải ghi rõ người khai nhận, người phân chia di sản đã ký trước đó hơn 15 ngày (thời điểm trước khi thực hiện việc niêm yết). Việc này trái với tinh thần của Luật Công chứng về thời điểm công chứng là tại thời thời điểm công chứng viên chứng nhận văn bản.

Thứ tư, về khả năng thay đổi sự thỏa thuận hoặc sự tồn tại của chủ thể trong thời gian niêm yết: Nếu công chứng viên sử dụng bản dự thảo có chữ ký của người khai nhận, người thỏa thuận phân chia di sản trước đó khi niêm yết để chứng nhận văn bản sẽ tiềm ẩn rất nhiều rủi ro. Trong thời hạn 15 ngày niêm yết này hoàn toàn có thể xảy ra khả năng người khai nhận, người thỏa thuận phân chia di sản chết hoặc thay đổi ý chí đối với nội dung thỏa thuận trước đó. Công chứng viên phải yêu cầu người khai nhận, người thỏa thuận phân chia di sản ký lại văn bản khai nhận, văn bản thỏa thuận phân chia trước mặt công chứng viên để xác định lại chủ thể có còn sống hay không, hoặc có thay đổi ý chí trước khi công chứng viên chứng nhận văn bản hay không.

Ví dụ: Dự thảo ghi nhận những người thỏa thuận phân chia di sản đều nhận kỷ phần thừa kế của mình và đã ký vào dự thảo để tổ chức hành nghề công chứng niêm yết. Tuy nhiên, trong thời hạn 15 ngày niêm yết, có sự thay đổi ý chí, có người thừa kế muốn tự nguyện tặng cho kỷ phần thừa kế mà mình được nhận cho người đồng thừa kế khác. Tất nhiên, yêu cầu này phải được lập lại thành văn bản mới và những người thỏa thuận phân chia phải ký tên lại. Trong trường hợp này, ý nghĩa của dự thảo văn bản khai nhận, văn bản thỏa thuận phân chia di sản có chữ ký của người khai nhận, người thỏa thuận phân chia di sản trước đó đã được niêm yết là không có ý nghĩa.

2. Kiến nghị

Xuất phát từ hai quan điểm nêu trên có thể nhận thấy điểm then chốt chính là sự chưa rõ ràng từ văn bản quy phạm pháp luật. Niêm yết thừa kế được quy định tại Nghị định số 29/2015/NĐ-CP chưa cụ thể, chi tiết, dẫn đến mỗi nơi thực hiện khác nhau dựa theo quan điểm, lý lẽ riêng. Sự chưa thống nhất áp dụng giữa các địa phương gây rất nhiều khó khăn cho hoạt động công chứng và người yêu cầu công chứng, do đó, cần sớm có văn bản hướng dẫn thi hành đối với nội dung này. Tác giả đề xuất nên xác định cụ thể hơn nữa thẩm quyền và trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp xã nơi niêm yết. Hành vi yêu cầu phải có dự thảo văn bản khai nhận, văn bản thỏa thuận phân chia di sản có chữ ký của người khai nhận, người thỏa thuận phân chia di sản khi niêm yết nên được xác định là không phù hợp, cần sớm được chấm dứt.

ThS. Nguyễn Huy Cường
Văn phòng công chứng Nguyễn Huy Cường, tỉnh Trà Vinh


[1] Điều 18 Nghị định số 29/2015/NĐ-CP ngày 15/3/2015 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Công chứng.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định và tổ chức thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Kiến nghị hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định và tổ chức thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 là đạo luật quan trọng nhằm cụ thể hóa quyền tiếp cận thông tin của công dân theo Hiến pháp năm 2013[*], góp phần nâng cao tính công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Sau 08 năm thi hành, bên cạnh những kết quả đạt được, thực tiễn cho thấy còn bộc lộ một số hạn chế, bất cập trong quy định pháp luật và tổ chức thi hành, đặc biệt, liên quan đến phạm vi thông tin, trách nhiệm cung cấp thông tin, trình tự, thủ tục và điều kiện bảo đảm thực hiện quyền. Trên cơ sở nhận diện các vướng mắc, bất cập, nghiên cứu đề xuất định hướng sửa đổi, bổ sung Luật theo hướng bảo đảm tính đồng bộ với hệ thống pháp luật hiện hành, phù hợp với yêu cầu chuyển đổi số và tổ chức bộ máy nhà nước, đồng thời kiến nghị các giải pháp nâng cao hiệu quả tổ chức thi hành, qua đó góp phần bảo đảm tốt hơn quyền tiếp cận thông tin của công dân và xây dựng nền hành chính công khai, minh bạch.
Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018) sau hơn 08 năm thi hành đã bộc lộ nhiều bất cập trước sự vận động nhanh chóng của thực tiễn, đặc biệt là sự xuất hiện của các hình thức hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng và các quan hệ tôn giáo có yếu tố nước ngoài ngày càng phức tạp. Vì vậy, việc tăng cường quản lý nhà nước đối với các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng là yêu cầu cấp thiết không chỉ bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân mà còn nhằm giữ vững an ninh, trật tự xã hội và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới.
Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Thẩm quyền ban hành VBQPPL là nội dung trọng tâm nhằm bảo đảm mỗi loại VBQPPL được ban hành bởi đúng cơ quan, đúng cấp, vừa phù hợp với phạm vi pháp lý, vừa hạn chế rủi ro và xung đột giữa các văn bản.
Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Việc ban hành Luật Ban hành VBQPPL số 64/2025/QH15 được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 87/2025/QH15 và các nghị định hướng dẫn thi hành có ý nghĩa đặc biệt trong bối cảnh đổi mới tư duy xây dựng pháp luật, gắn kết chặt chẽ giữa xây dựng và thi hành pháp luật.
Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Bài viết phân tích quy trình xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ của Quốc hội và quy trình xây dựng chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội, từ đó, đưa ra một số lưu ý nhằm nâng cao hiệu quả việc thực hiện hai quy trình này.
Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Tóm tắt: Bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra góp phần bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp cần miễm trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra để bảo vệ lợi ích hợp pháp của các nhà sản xuất kinh doanh. Bài viết nghiên cứu những trường hợp miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023, đồng thời chỉ ra ưu, nhược điểm và hạn chế của Luật, từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Trong bối cảnh nhiều thách thức, đội ngũ luật sư với kiến thức chuyên môn và kỹ năng nghề nghiệp của mình, đóng vai trò then chốt trong việc nâng cao chất lượng, hiệu quả trợ giúp pháp lý.
Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Những năm qua, công tác trợ giúp pháp lý trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận. Nhiều vụ việc được trợ giúp pháp lý kịp thời, góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người nghèo, người có công với cách mạng và các nhóm yếu thế khác.
Ứng dụng công nghệ số, nền tảng trực tuyến, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động trợ giúp pháp lý

Ứng dụng công nghệ số, nền tảng trực tuyến, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động trợ giúp pháp lý

Những nỗ lực số hóa hồ sơ, vận hành Hệ thống quản lý trợ giúp pháp lý, kết nối dữ liệu dân cư, phát triển tư vấn trực tuyến… đã mở ra hướng tiếp cận mới, góp phần nâng cao chất lượng và tính minh bạch của dịch vụ trợ giúp pháp lý.
Tăng cường hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế trong tố tụng hình sự

Tăng cường hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế trong tố tụng hình sự

Trong tiến trình cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, việc bảo đảm quyền con người luôn là sợi chỉ đỏ xuyên suốt, đặc biệt, với đối tượng yếu thế, yêu cầu này càng trở nên cấp thiết và nhân văn. Trong tố tụng hình sự (TTHS), đối tượng yếu thế với tư cách bị hại, người làm chứng hay bị can, bị cáo, đã và đang phải đối mặt với hệ thống tư pháp hình sự. Đối tượng yếu thế có được tiếp cận công lý bình đẳng hay không phụ thuộc vào sự công tâm, chuyên nghiệp và nhạy cảm của các cơ quan trong hoạt động tố tụng, trong đó có vai trò của hoạt động trợ giúp pháp lý.
Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo trong bối cảnh mới

Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo trong bối cảnh mới

Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và thúc đẩy phát triển bền vững, hoạt động trợ giúp pháp lý đóng vai trò quan trọng trong việc bảo đảm công bằng xã hội và tiếp cận công lý cho người dân, đặc biệt là người nghèo thuộc nhóm đối tượng yếu thế.
Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Đây là giải pháp quan trọng nhằm khắc phục khó khăn, vướng mắc, nâng cao chất lượng tổ chức thi hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo.
Ưu điểm, hạn chế và một số vấn đề chính cần rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Ưu điểm, hạn chế và một số vấn đề chính cần rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 đã góp phần quan trọng trong việc bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của cá nhân, tổ chức, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đối với lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo. Tuy nhiên, thực tiễn triển khai Luật cũng bộc lộ những bất cập, hạn chế cần sửa đổi, hoàn thiện nhằm đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới.
Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là một trong những loại tội phạm có diễn biến ngày càng phức tạp, đa dạng và tinh vi. Phương thức thực hiện tội phạm không ngừng biến đổi, đặc biệt là việc sử dụng công nghệ cao để phạm tội, gây thiệt hại lớn đối với tài sản và tâm lý hoang mang cho người dân, ảnh hưởng đến trật tự, an toàn xã hội. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng các quy định của Bộ luật Hình sự về tội này vẫn còn tồn tại một số vướng mắc, bất cập từ chính quy định của pháp luật.
Xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Bài viết làm rõ sự cần thiết của việc xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên bứt phá, phát triển mới của dân tộc, theo tinh thần Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Đại hội XIV).

Theo dõi chúng tôi trên: