Thứ năm 12/03/2026 10:19
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Bất cập về niêm yết việc thụ lý công chứng văn bản khai nhận, văn bản thỏa thuận phân chia di sản

Thừa kế là một sự kiện pháp lý nhằm chuyển dịch tài sản của người chết cho người thừa kế của họ. Pháp luật về chứng thực hiện nay không quy định về niêm yết việc thụ lý chứng thực văn bản thỏa thuận phân chia di sản, văn bản khai nhận di sản trước khi thực hiện chứng thực. Tuy nhiên, pháp luật về công chứng quy định, trước khi thực hiện việc công chứng văn bản khai nhận hoặc thỏa thuận phân chia di sản thừa kế, tổ chức hành nghề công chứng phải niêm yết việc thụ lý công chứng tại trụ sở Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người chết cư trú cuối cùng, nếu di sản thừa kế là bất động sản phải niêm yết đồng thời tại Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có bất động sản (gọi chung là Ủy ban nhân dân cấp xã nơi niêm yết) trong thời hạn 15 ngày trước khi thực hiện chứng nhận[1]. Hiện nay, việc niêm yết này đã bộc lộ những vướng mắc, không đồng bộ khi mỗi nơi nhận định và thực hiện khác nhau.


1. Một số vướng mắc

Hiện nay, Ủy ban nhân dân cấp xã nơi niêm yết khi thực hiện tiếp nhận niêm yết thừa kế của các tổ chức hành nghề công chứng thì phát sinh hai quan điểm khác nhau, cụ thể:

Quan điểm thứ nhất: Khi các tổ chức hành nghề công chứng gửi thông báo niêm yết có đủ các thông tin theo quy định tại khoản 2 Điều 18 Nghị định số 29/2015/NĐ-CP ngày 15/3/2015 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Công chứng (Nghị định số 29/2015/NĐ-CP) thì Ủy ban nhân dân cấp xã nơi niêm yết sẽ ký vào biên bản niêm yết. Khi kết thúc thời hạn 15 ngày niêm yết, Ủy ban nhân dân cấp xã nơi niêm yết sẽ cùng tổ chức hành nghề công chứng ký biên bản kết thúc niêm yết và ghi nhận cụ thể có tranh chấp, khiếu nại, tố cáo liên quan đến việc thừa kế hay không. Biên bản này là cơ sở pháp lý quan trọng để tổ chức hành nghề công chứng thực hiện việc công chứng văn bản khai nhận hoặc thỏa thuận phân chia di sản thừa kế.

Theo quan điểm này, việc niêm yết thừa kế chỉ cần tổ chức hành nghề công chứng gửi thông báo niêm yết có đủ các nội dung quy định tại khoản 2 Điều 18 Nghị định số 29/2015/NĐ-CP thì Ủy ban nhân dân sẽ ký vào biên bản niêm yết và thực hiện việc niêm yết. Quan điểm này không yêu cầu phải có dự thảo văn bản khai nhận, văn bản thỏa thuận phân chia có chữ ký của người khai nhận, người thỏa thuận phân chia bởi Nghị định số 29/2015/NĐ-CP không quy định. Hơn nữa, khoản 2 Điều 18 Nghị định số 29/2015/NĐ-CP quy định trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp xã là niêm yết việc thụ lý thông báo công chứng, ghi nhận có hay không có sự tranh chấp, khiếu nại, tố cáo liên quan đến việc thừa kế và ghi nhận nội dung đó vào biên bản khi kết thúc niêm yết. Công chứng viên chịu trách nhiệm về văn bản công chứng do mình thực hiện, Ủy ban nhân dân cấp xã không có thẩm quyền xem xét tính pháp lý của hồ sơ thừa kế do tổ chức hành nghề công chứng thực hiện.

Quan điểm thứ hai: Ủy ban nhân dân cấp xã nơi niêm yết yêu cầu tổ chức hành nghề công chứng khi gửi thông báo niêm yết phải gửi kèm theo dự thảo văn bản khai nhận hoặc văn bản thỏa thuận phân chia di sản có chữ ký của người khai nhận, người thỏa thuận phân chia di sản. Nếu tổ chức hành nghề công chứng không cung cấp bản dự thảo có chữ ký của người khai nhận, người thỏa thuận phân chia di sản thì từ chối tiếp nhận và không niêm yết việc thừa kế. Do đó, việc thừa kế không thể thực hiện được.

Nhóm chủ thể theo quan điểm này cho rằng, khi niêm yết thừa kế thì phải có dự thảo văn bản khai nhận, văn bản thỏa thuận phân chia di sản có đủ chữ ký của người khai nhận, người thỏa thuận phân chia di sản, có như thế mới biết chủ thể là ai, nội dung khai nhận, thỏa thuận phân chia là gì, để từ đó có cơ sở niêm yết. Tuy quan điểm này là nhằm mục đích bảo đảm tính toàn diện, chặt chẻ của việc niêm yết thừa kế nhưng đã bộc lộ nhiều khiếm khuyết, nghiêm trọng hơn có thể là vi phạm quy định pháp luật bởi những căn cứ sau:

Thứ nhất, Nghị định số 29/2015/NĐ-CP không quy định tổ chức hành nghề công chứng phải gửi kèm theo dự thảo văn bản khai nhận, văn bản thỏa thuận phân chia di sản có chữ ký của người khai nhận, người thỏa thuận phân chia di sản khi gửi thông báo thụ lý việc niêm yết thừa kế. Việc yêu cầu thêm bản dự thảo này là một bước lùi trong cải cách thủ tục hành chính vì đã vượt quyền, tự mình định ra thêm những yêu cầu ngoài quy định pháp luật.

Thứ hai, quan hệ thừa kế hàm chứa nhiều quan hệ pháp lý có liên quan như người thừa kế chết, thừa kế thế vị, di sản thừa kế là quyền sử dụng đất cấp chung cho hộ gia đình, thừa kế theo bản án, quyết định của cơ quan có thẩm quyền, từ chối nhận di sản, tặng cho kỷ phần thừa kế, ủy quyền từ chối, khai nhận, thỏa thuận phân chia di sản… Ngay mới giai đoạn đầu khi có yêu cầu công chứng hồ sơ thừa kế mà Ủy ban nhân dân cấp xã nơi niêm yết yêu cầu phải có dự thảo văn bản khai nhận, văn bản thỏa thuận phân chia di sản có chữ ký người khai nhận, người thỏa thuận phân chia di sản là một yêu cầu khó thực hiện. Đây là giai đoạn tổ chức hành nghề công chứng tìm hiểu thông tin, xác minh sự chính xác, minh bạch của hồ sơ thừa kế. Việc yêu cầu dự thảo văn bản khai nhận, văn bản thỏa thuận phân chia di sản đã có chữ ký của người khai nhận, người thỏa thuận phân chia di sản mới thực hiện niêm yết vô hình trung đã buộc công chứng viên phải hoàn thiện hồ sơ trước khi niêm yết, mặc dù khả năng tranh chấp, khiếu nại hoặc bỏ xót người thừa kế là chưa được xác định và hoàn toàn có thể xảy ra.

Thứ ba, giá trị pháp lý của dự thảo văn bản khai nhận, văn bản thỏa thuận phân chia di sản có chữ ký của người khai nhận, người thỏa thuận phân chia di sản được xác định như thế nào? Bản dự thảo này phải chăng chỉ là một “dấu hiệu hình thức” để cho địa phương biết nội dung thừa kế như thế nào? Dự thảo này có được dùng làm văn bản chính thức để công chứng viên chứng nhận hay không, hay khi kết thúc niêm yết, người khai nhận, người thỏa thuận phân chia di sản phải ký lại văn bản trước mặt công chứng viên?

Luật công chứng năm 2014 và Thông tư số 01/2021/TT-BTP ngày 03/02/2021 của Bộ Tư pháp quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Công chứng xác định nguyên tắc người yêu cầu công chứng phải ký trước mặt công chứng viên và tại thời điểm công chứng viên chứng nhận văn bản. Một số trường hợp ngoại lệ, người yêu cầu công chứng có thể ký vào văn bản trước thời điểm công chứng viên chứng nhận văn bản nhưng phải ghi rõ lý do. Nếu thực hiện theo quan điểm này, lời chứng của công chứng viên đối với văn bản khai nhận, văn bản thỏa thuận phân chia di sản phải ghi rõ người khai nhận, người phân chia di sản đã ký trước đó hơn 15 ngày (thời điểm trước khi thực hiện việc niêm yết). Việc này trái với tinh thần của Luật Công chứng về thời điểm công chứng là tại thời thời điểm công chứng viên chứng nhận văn bản.

Thứ tư, về khả năng thay đổi sự thỏa thuận hoặc sự tồn tại của chủ thể trong thời gian niêm yết: Nếu công chứng viên sử dụng bản dự thảo có chữ ký của người khai nhận, người thỏa thuận phân chia di sản trước đó khi niêm yết để chứng nhận văn bản sẽ tiềm ẩn rất nhiều rủi ro. Trong thời hạn 15 ngày niêm yết này hoàn toàn có thể xảy ra khả năng người khai nhận, người thỏa thuận phân chia di sản chết hoặc thay đổi ý chí đối với nội dung thỏa thuận trước đó. Công chứng viên phải yêu cầu người khai nhận, người thỏa thuận phân chia di sản ký lại văn bản khai nhận, văn bản thỏa thuận phân chia trước mặt công chứng viên để xác định lại chủ thể có còn sống hay không, hoặc có thay đổi ý chí trước khi công chứng viên chứng nhận văn bản hay không.

Ví dụ: Dự thảo ghi nhận những người thỏa thuận phân chia di sản đều nhận kỷ phần thừa kế của mình và đã ký vào dự thảo để tổ chức hành nghề công chứng niêm yết. Tuy nhiên, trong thời hạn 15 ngày niêm yết, có sự thay đổi ý chí, có người thừa kế muốn tự nguyện tặng cho kỷ phần thừa kế mà mình được nhận cho người đồng thừa kế khác. Tất nhiên, yêu cầu này phải được lập lại thành văn bản mới và những người thỏa thuận phân chia phải ký tên lại. Trong trường hợp này, ý nghĩa của dự thảo văn bản khai nhận, văn bản thỏa thuận phân chia di sản có chữ ký của người khai nhận, người thỏa thuận phân chia di sản trước đó đã được niêm yết là không có ý nghĩa.

2. Kiến nghị

Xuất phát từ hai quan điểm nêu trên có thể nhận thấy điểm then chốt chính là sự chưa rõ ràng từ văn bản quy phạm pháp luật. Niêm yết thừa kế được quy định tại Nghị định số 29/2015/NĐ-CP chưa cụ thể, chi tiết, dẫn đến mỗi nơi thực hiện khác nhau dựa theo quan điểm, lý lẽ riêng. Sự chưa thống nhất áp dụng giữa các địa phương gây rất nhiều khó khăn cho hoạt động công chứng và người yêu cầu công chứng, do đó, cần sớm có văn bản hướng dẫn thi hành đối với nội dung này. Tác giả đề xuất nên xác định cụ thể hơn nữa thẩm quyền và trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp xã nơi niêm yết. Hành vi yêu cầu phải có dự thảo văn bản khai nhận, văn bản thỏa thuận phân chia di sản có chữ ký của người khai nhận, người thỏa thuận phân chia di sản khi niêm yết nên được xác định là không phù hợp, cần sớm được chấm dứt.

ThS. Nguyễn Huy Cường
Văn phòng công chứng Nguyễn Huy Cường, tỉnh Trà Vinh


[1] Điều 18 Nghị định số 29/2015/NĐ-CP ngày 15/3/2015 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Công chứng.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Để bảo đảm cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân được tiến hành dân chủ, đúng pháp luật, các quy định về phiếu bầu cử cũng như nguyên tắc, trình tự bỏ phiếu đã được quy định chặt chẽ[1]. Việc nắm rõ các quy định này giúp cử tri thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ trong ngày bầu cử.
[1] Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 và Nghị quyết số 40/NQ-HĐBCQG ngày 29/9/2025 của Hội đồng bầu cử quốc gia quy định mẫu văn bản hồ sơ ứng cử và việc hồ sơ ứng cử; nội quy phòng bỏ phiếu trong công tác bầu cử ĐBQH khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031
Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Trong quá trình tổ chức bầu cử, có thể phát sinh một số tình huống đặc biệt như dịch bệnh, thiên tai, hỏa hoạn hoặc vấn đề về an ninh, trật tự. Pháp luật về bầu cử đã quy định rõ thẩm quyền và phương án xử lý nhằm bảo đảm cuộc bầu cử được tổ chức an toàn, đúng quy định và bảo đảm quyền bầu cử của cử tri.
Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Để chuẩn bị cho “Ngày hội non sông” - Ngày bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031, công tác phân chia đơn vị bầu cử cần phải được triển khai với những yêu cầu khắt khe hơn bao giờ hết với mục tiêu trọng tâm là bảo đảm cân đối, tránh chênh lệch lớn, thuận tiện cho cử tri thực hiện quyền bầu cử như: Các khu vực đô thị, khu công nghiệp có đông cử tri; các khu vực miền núi, hải đảo có ít cử tri.
Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Pháp luật quy định cụ thể về nguyên tắc bỏ phiếu, cách ghi phiếu bầu, việc viết hộ, bỏ hộ phiếu và xử lý Thẻ cử tri nhằm bảo đảm việc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân diễn ra đúng quy định.
Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Cơ chế giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân giữ vai trò quan trọng trong việc bảo đảm tính dân chủ, minh bạch và hợp pháp của quá trình bầu cử. Pháp luật Việt Nam thiết lập cơ chế này trên cơ sở kết hợp giữa các quy định đặc thù của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân với các quy định chung của pháp luật về khiếu nại, tố cáo, qua đó hình thành khung pháp lý cho việc tiếp nhận, xem xét và xử lý các khiếu nại, tố cáo phát sinh trong quá trình bầu cử.
Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Một vụ án in và phát hành sách giáo khoa giả vừa được đưa ra xét xử đã tiếp tục gióng lên hồi chuông cảnh báo về tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực xuất bản, đặc biệt là đối với sách giáo dục - mặt hàng có nhu cầu cao và ảnh hưởng trực tiếp đến hàng triệu học sinh.
Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức thống nhất vào ngày 15/3/2026 theo Nghị quyết của Quốc hội. Tuy nhiên, pháp luật cho phép tổ chức bỏ phiếu sớm trong những trường hợp đặc biệt nhằm bảo đảm quyền bầu cử của công dân không thể tham gia bỏ phiếu vào ngày chính thức. Việc tổ chức bầu cử sớm phải tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc về thẩm quyền quyết định, trình tự thủ tục, kiểm phiếu, niêm phong, bảo mật kết quả và kỷ luật thời gian bỏ phiếu theo đúng quy định của Luật Bầu cử và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Vận động bầu cử của người ứng cử là hoạt động gặp gỡ, tiếp xúc cử tri hoặc thông qua phương tiện thông tin đại chúng để người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân báo cáo với cử tri về dự kiến chương trình hành động của mình nhằm thực hiện trách nhiệm đại biểu nếu được bầu làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân và trao đổi những vấn đề mà cử tri quan tâm; tạo điều kiện để cử tri tiếp xúc với người ứng cử, hiểu rõ hơn người ứng cử; trên cơ sở đó cân nhắc, lựa chọn, bầu những người đủ tiêu chuẩn làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.
Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, yêu cầu thượng tôn Hiến pháp và pháp luật không chỉ đặt ra đối với hoạt động của bộ máy nhà nước mà trở thành chuẩn mực ứng xử phổ biến trong xã hội. Pháp luật chỉ thực sự phát huy vai trò điều chỉnh các quan hệ xã hội khi được các chủ thể tiếp nhận, tôn trọng, tuân thủ thực hiện trên tinh thần chủ động, tự giác, gắn với niềm tin vào công bằng và trật tự xã hội. Thực tiễn cho thấy, hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, nhưng tình trạng vi phạm pháp luật trong một số lĩnh vực vẫn diễn biến phức tạp; còn tồn tại khoảng trống giữa nhận thức pháp luật và hành vi tuân thủ; tâm lý tuân thủ thụ động, mang tính tình thế, phụ thuộc vào sự kiểm tra, giám sát và xử lý của cơ quan có thẩm quyền. Những biểu hiện này phản ánh việc tuân thủ pháp luật chưa thực sự trở thành chuẩn mực văn hóa trong xã hội. Vì vậy, việc nghiên cứu, nhận diện các yếu tố tác động, đánh giá đúng thực trạng, đề xuất nhiệm vụ, giải pháp xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn, góp phần thể chế hóa chủ trương của Đảng, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, mạnh, bền vững trong bối cảnh mới.
Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Tết Nguyên đán là dịp đoàn viên, nghỉ ngơi và tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí đầu năm, góp phần làm phong phú đời sống văn hóa, tinh thần của mỗi gia đình và cộng đồng. Tuy nhiên, một số hình thức vui chơi có thưởng có thể vượt ngoài khuôn khổ pháp luật nếu không được nhận diện đúng. Từ yêu cầu bảo đảm kỷ cương, pháp luật trong dịp Tết, việc làm rõ ranh giới pháp lý giữa vui xuân có thưởng và hành vi vi phạm pháp luật có ý nghĩa quan trọng.
Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết 71-NQ/TW) đặt ra những yêu cầu mang tính chiến lược đối với xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, giáo dục đại học giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành lớp trí thức mới - vừa có năng lực chuyên môn, vừa có bản lĩnh, nhân cách và tinh thần phụng sự xã hội. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật phỏng vấn Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đào Thanh Trường - Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội, xung quanh quan điểm xây dựng con người toàn diện, các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp, cũng như những định hướng tích hợp giáo dục nhân văn với khoa học, công nghệ trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Mùa xuân về không chỉ mang theo nhựa sống của thiên nhiên mà còn là thời điểm để nhìn lại những thành quả của năm qua. Xuân Bính Ngọ 2026, với Trường Cao đẳng Cơ điện Hà Nội (HCEM), là một mùa xuân đặc biệt - mùa xuân của sự cộng hưởng giữa niềm tự hào về hành trình 80 năm đất nước độc lập và quyết tâm chính trị cao để hiện thực hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị. Đây chính là “chìa khóa” để HCEM bứt phá, vươn tầm quốc tế, trở thành biểu tượng của nền giáo dục nghề nghiệp (GDNN) hiện đại trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Năm 2025 được xem là cột mốc bản lề trên hành trình đưa Việt Nam bước vào kỷ nguyên số toàn diện. Trong không khí Xuân Bính Ngọ 2026, Cục trưởng Cục Chuyển đổi số quốc gia (Bộ KH&CN) Trần Duy Ninh chia sẻ với Tạp chí Dân chủ và Pháp luật về những thành quả nổi bật, tầm nhìn, cơ hội và kỳ vọng đặt vào đội ngũ trí thức công nghệ, với khát vọng xây dựng đất nước Việt Nam hùng cường, tự chủ và thịnh vượng trên nền tảng số.
Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Nhìn lại hành trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đội ngũ doanh nhân Việt Nam tiếp tục là lực lượng năng động, sáng tạo và đóng góp quan trọng vào tăng trưởng. Tuy nhiên, bối cảnh hội nhập sâu, rộng đặt ra yêu cầu cao hơn đối với việc hoàn thiện pháp luật về kinh doanh. Nhân dịp xuân mới, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Quang Vinh - Phó Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) về kỳ vọng đổi mới và yêu cầu xây dựng hành lang pháp lý ổn định để doanh nghiệp Việt Nam tự tin phát triển trong giai đoạn mới.
Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với mục tiêu đến năm 2045 trở thành nước phát triển có thu nhập cao, đội ngũ doanh nhân Việt Nam được kỳ vọng trở thành lực lượng kiến tạo thịnh vượng quốc gia. Khát vọng ấy chỉ có thể nảy nở và lớn lên trong hệ sinh thái pháp lý minh bạch, an toàn và tạo động lực.

Theo dõi chúng tôi trên: