Thứ sáu 19/06/2026 08:10
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Biện pháp giám sát người bị buộc tội là người dưới 18 tuổi theo Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015

Tóm tắt: Bài viết đề cập đến những điểm mới của quy định về giám sát người bị buộc tội dưới 18 tuổi trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 so với Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003.

Tóm tắt: Bài viết đề cập đến những điểm mới của quy định về giám sát người bị buộc tội dưới 18 tuổi trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 so với Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003.

Abstract: The article is concerned with new points of regulations on supervising accused person under 18 years in the Criminal Code of 2015 compared to the Criminal Code of 2003.

1. Những điểm mới về giám sát người bị buộc tội dưới 18 tuổi

Thứ nhất, bổ sung cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra có quyền ra quyết định giao người bị buộc tội là người dưới 18 tuổi

Ngoài việc quy định cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án có thể ra quyết định giao người bị buộc tội là người dưới 18 tuổi cho người đại diện của họ giám sát để bảo đảm sự có mặt của họ khi có giấy triệu tập của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng như quy định tại Điều 304 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 thì quy định tại khoản 1 Điều 418 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 đã bổ sung cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra cũng có quyền ra quyết định giao người bị buộc tội là người dưới 18 tuổi.

Thứ hai, quy định rõ ràng hơn nhiệm vụ của người giám sát

Nếu như khoản 2 Điều 304 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 chỉ quy định: Người được giao nhiệm vụ giám sát có nghĩa vụ giám sát chặt chẽ người chưa thành niên, theo dõi tư cách, đạo đức và giáo dục người đó thì khoản 2 Điều 418 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quy định rõ ràng hơn như sau: Trường hợp người dưới 18 tuổi có dấu hiệu bỏ trốn hoặc có hành vi mua chuộc, cưỡng ép, xúi giục người khác khai báo gian dối, cung cấp tài liệu sai sự thật; tiêu hủy, giả mạo chứng cứ, tài liệu, đồ vật của vụ án, tẩu tán tài sản liên quan đến vụ án; đe dọa, khống chế, trả thù người làm chứng, bị hại, người tố giác tội phạm hoặc người thân thích của những người này hoặc tiếp tục phạm tội thì người được giao nhiệm vụ giám sát phải kịp thời thông báo và phối hợp với cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng để có biện pháp ngăn chặn, xử lý kịp thời. Quy định này của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 nhằm đảm bảo việc áp dụng biện pháp giám sát chặt chẽ hơn người bị buộc tội dưới 18 tuổi được hiệu quả, đúng mục đích; đồng thời ngăn chặn kịp thời những hành vi tiêu cực, cản trở việc giải quyết vụ án do người bị buộc tội dưới 18 tuổi thực hiện.

Thứ ba, mở rộng đối tượng người giám sát người bị buộc tội dưới 18 tuổi

Theo Điều 304 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 thì người được giao nhiệm vụ giám sát người dưới 18 tuổi phạm tội là cha, mẹ hoặc người đỡ đầu của họ. Nhưng Điều 418 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 thì mở rộng hơn đối tượng người giám sát người bị buộc tội dưới 18 tuổi là người đại diện hợp pháp của họ. Theo đó, người đại diện của người bị buộc tội là người dưới 18 tuổi được xác định theo thứ tự sau đây: Cha mẹ đẻ, cha mẹ nuôi, người giám hộ và người do Tòa án chỉ định.

2. Về người giám sát của người bị buộc tội dưới 18 tuổi

Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 không quy định cụ thể về người đại diện của người bị buộc tội dưới 18 tuổi gồm những ai. Tuy nhiên, Thông tư liên tịch số 06/2018/TTLT-VKSNDTC-TANDTC-BCA-BTP-BLĐTBXH ngày 21/12/2018 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao, Bộ Công an, Bộ Tư pháp, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội về phối hợp thực hiện một số quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự về thủ tục tố tụng đối với người dưới 18 tuổi (Thông tư liên tịch số 06/2018) thì có quy định như sau: Người đại diện của người bị buộc tội là người dưới 18 tuổi là người từ đủ 18 tuổi trở lên, có đủ năng lực pháp luật, năng lực hành vi dân sự và có đủ điều kiện làm người đại diện theo quy định tại các điều 134, 135 và 136 Bộ luật Dân sự và được xác định theo thứ tự sau đây: (1) Cha mẹ đẻ, cha mẹ nuôi; (2) Người giám hộ; (3) Người do Tòa án chỉ định.

2.1. Về người giám hộ của người bị buộc tội là người dưới 18 tuổi

Người giám hộ của người bị buộc tội là người dưới 18 tuổi bao gồm người giám hộ đương nhiên hoặc người được Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người dưới 18 tuổi cư trú cử hoặc Tòa án chỉ định theo quy định tại các điều 46, 47, 48, 52 và 54 Mục 4 Chương III Bộ luật Dân sự năm 2015.

Một là, về người giám hộ đương nhiên của người bị buộc tội dưới 18 tuổi

Theo quy định tại Điều 47 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì trường hợp người bị buộc tội dưới 18 tuổi không còn cha, mẹ hoặc không xác định được cha, mẹ hoặc người bị buộc tội dưới 18 tuổi có cha, mẹ nhưng cha, mẹ đều mất năng lực hành vi dân sự; cha, mẹ đều có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi; cha, mẹ đều bị hạn chế năng lực hành vi dân sự; cha, mẹ đều bị Tòa án tuyên bố hạn chế quyền đối với con; cha, mẹ đều không có điều kiện chăm sóc, giáo dục con và có yêu cầu người giám hộ thì có người giám hộ đương nhiên. Người giám hộ đương nhiên của người bị buộc tội dưới 18 tuổi được xác định quy định tại Điều 52 Bộ luật Dân sự năm 2015 theo thứ tự sau:

(i) Anh ruột là anh cả hoặc chị ruột là chị cả là người giám hộ; nếu anh cả hoặc chị cả không có đủ điều kiện làm người giám hộ thì anh ruột hoặc chị ruột tiếp theo là người giám hộ, trừ trường hợp có thỏa thuận anh ruột hoặc chị ruột khác làm người giám hộ.

(ii) Trường hợp không có người giám hộ theo thứ tự thứ nhất thì ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại là người giám hộ hoặc những người này thỏa thuận cử một hoặc một số người trong số họ làm người giám hộ.

(iii) Trường hợp không có người giám hộ như hai trường hợp trên thì bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột hoặc dì ruột là người giám hộ.

Hai là, về người giám hộ của người bị buộc tội dưới 18 tuổi được Ủy ban nhân dân cấp xã cử

Trường hợp người bị buộc tội dưới 18 tuổi không còn cha, mẹ hoặc không xác định được cha, mẹ hoặc người bị buộc tội dưới 18 tuổi có cha, mẹ nhưng cha, mẹ đều mất năng lực hành vi dân sự; cha, mẹ đều có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi; cha, mẹ đều bị hạn chế năng lực hành vi dân sự; cha, mẹ đều bị Tòa án tuyên bố hạn chế quyền đối với con; cha, mẹ đều không có điều kiện chăm sóc, giáo dục con và có yêu cầu người giám hộ mà không có người giám hộ đương nhiên thì Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú của người chưa thành niên có trách nhiệm cử người giám hộ cho họ theo quy định tại Điều 54 Bộ luật Dân sự năm 2015. Ngoài ra, trường hợp có tranh chấp về việc cử người giám hộ của người bị buộc tội dưới 18 tuổi thì Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú của người được giám hộ có trách nhiệm cử người giám hộ.

Việc cử người giám hộ phải được sự đồng ý của người được cử làm người giám hộ. Việc cử người giám hộ phải được lập thành văn bản, trong đó ghi rõ lý do cử người giám hộ, quyền, nghĩa vụ cụ thể của người giám hộ, tình trạng tài sản của người được giám hộ. Trường hợp cử người giám hộ cho người chưa thành niên từ đủ sáu tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của người chưa thành niên.

Ba là, về người giám hộ của người bị buộc tội dưới 18 tuổi được Tòa án chỉ định

Theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 thì khi có sự tranh chấp về người giám hộ giữa những người giám hộ đương nhiên của người bị buộc tội dưới 18 tuổi thì Tòa án sẽ chỉ định người giám hộ. Đối với người chưa thành niên từ đủ sáu tuổi trở lên thì khi Tòa án chỉ định người giám hộ cho họ phải xem xét nguyện vọng của người này.

2.2. Về người đại diện của người bị buộc tội dưới 18 tuổi do Tòa án chỉ định

Theo khoản 3 Điều 136 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì trong trường hợp không xác định được người đại diện là cha mẹ của người bị buộc tội dưới 18 tuổi, người giám hộ cho người bị buộc tội dưới 18 tuổi (bao gồm người giám hộ đương nhiên, người giám hộ do Ủy ban nhân dân cấp xã cử hoặc do Tòa án chỉ định) thì Tòa án chỉ định người đại diện cho người bị buộc tội dưới 18 tuổi.

3. Thẩm quyền ra quyết định giao người bị buộc tội dưới 18 tuổi để giám sát và thẩm quyền thay đổi người giám sát người bị buộc tội dưới 18 tuổi

3.1. Về thẩm quyền ra quyết định giao người bị buộc tội dưới 18 tuổi để giám sát

Theo quy định tại khoản 1 Điều 418 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 thì cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án có thể ra quyết định giao người bị buộc tội là người dưới 18 tuổi cho người đại diện của họ giám sát để bảo đảm sự có mặt của họ khi có giấy triệu tập của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Cụ thể:

- Trong giai đoạn điều tra thì điều tra viên là người có quyền ra quyết định giao người bị buộc tội là người dưới 18 tuổi cho người đại diện giám sát (theo điểm đ khoản 1 Điều 37 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015). Mẫu quyết định giao người bị buộc tội cho đại diện giám sát được ban hành kèm theo Thông tư số 61/2017/TT-BCA ngày 14/12/2017 của Bộ Công an.

- Trong giai đoạn truy tố thì kiểm sát viên là người có quyền ra quyết định giao người bị buộc tội là người dưới 18 tuổi để giám sát (theo điểm h khoản 1 Điều 42 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015). Mẫu quyết định giao người bị buộc tội là người dưới 18 tuổi để giám sát được ban hành kèm theo Quyết định số 15/QĐ-VKSTC ngày 09/01/2018 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao.

- Trong giai đoạn xét xử thì thẩm phán chủ tọa phiên tòa không có quyền ra quyết định giao người bị buộc tội là người dưới 18 tuổi để giám sát vì không được quy định tại Điều 45 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Thay vào đó, Chánh án Tòa án là người có quyền ra quyết định giao người bị buộc tội là người dưới 18 tuổi để giám sát (theo điểm đ khoản 2 Điều 44 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015). Về mẫu quyết định giao người bị buộc tội là người dưới 18 tuổi để giám sát thì hiện nay Tòa án nhân dân tối cao chưa ban hành.

Quyết định giao người bị buộc tội dưới 18 tuổi để giám sát phải được gửi ngay cho người đại diện được giao nhiệm vụ giám sát theo quy định tại Điều 11 Thông tư liên tịch số 06/2018.

3.2. Về thẩm quyền thay đổi người giám sát người bị buộc tội dưới 18 tuổi

Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quy định người có thẩm quyền thay đổi người giám sát người bị buộc tội dưới 18 tuổi như sau:

- Trong giai đoạn điều tra thì điều tra viên là người có quyền ra quyết định thay đổi người giám sát người bị buộc tội dưới 18 tuổi (theo điểm đ khoản 1 Điều 37 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015).

- Trong giai đoạn truy tố thì kiểm sát viên là người có quyền ra quyết định thay đổi người giám sát người bị buộc tội dưới 18 tuổi (theo điểm h khoản 1 Điều 42 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015).

- Trong giai đoạn xét xử thì thẩm phán chủ tọa phiên tòa là người có quyền ra quyết định thay đổi người giám sát người bị buộc tội dưới 18 tuổi (theo điểm e khoản 2 Điều 45 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015).

4. Một số vấn đề cần lưu ý khi áp dụng biện pháp giám sát người bị buộc tội dưới 18 tuổi

Thứ nhất, theo quy định tại Thông tư liên tịch số 06/2018 thì cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải xem xét, cân nhắc áp dụng biện pháp giám sát trước khi quyết định áp dụng biện pháp ngăn chặn. Khi người bị buộc tội là người dưới 18 tuổi đã được áp dụng biện pháp giám sát, biện pháp ngăn chặn khác ngoài biện pháp tạm giam nhưng bỏ trốn và bị bắt theo quyết định truy nã, có dấu hiệu bỏ trốn, tiếp tục phạm tội, có dấu hiệu tiếp tục phạm tội hoặc có các hành vi khác quy định tại khoản 2 Điều 418 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 thì cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng được quyền áp dụng biện pháp tạm giữ, tạm giam theo quy định tại khoản 1 Điều 419 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Thứ hai, cũng theo quy định tại Thông tư liên tịch số 06/2018 thì người đại diện được giao nhiệm vụ giám sát có trách nhiệm phối hợp chặt chẽ với cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, cơ quan, tổ chức khác có liên quan trong việc giám sát người bị buộc tội dưới 18 tuổi; nếu phát hiện người bị buộc tội dưới 18 tuổi có dấu hiệu bỏ trốn hoặc có các hành vi khác quy định tại khoản 2 Điều 418 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 thì phải kịp thời ngăn chặn và thông báo ngay bằng điện thoại hoặc hình thức khác nhanh nhất cho cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng để phối hợp xử lý.

Thứ ba, việc giao người bị buộc tội là người dưới 18 tuổi cho người đại diện giám sát cần dựa trên các yếu tố: Tính chất, mức độ nguy hiểm của tội phạm, lứa tuổi, tình hình sức khỏe, tiền án, tiền sự của người dưới 18 tuổi, khả năng giám sát, giáo dục của người đại diện của họ. Vì biện pháp giám sát người bị buộc tội dưới 18 tuổi không phải là quy định bắt buộc mà chỉ nhằm đảm bảo sự có mặt của người bị buộc tội khi được cơ quan có thẩm quyền triệu tập.

5. Một số vướng mắc cần được hướng dẫn

Nghiên cứu quy định về biện pháp giám sát người bị buộc tội dưới 18 tuổi và biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú thì thấy rằng, mục đích của biện pháp giám sát người bị buộc tội dưới 18 tuổi theo Điều 418 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 là để bảo đảm sự có mặt của người bị buộc tội dưới 18 tuổi khi có giấy triệu tập của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Còn mục đích của biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú theo Điều 123 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 là nhằm bảo đảm sự có mặt của bị can, bị cáo khi có giấy triệu tập của cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án. Như vậy, mục đích của hai biện pháp này là giống nhau. Tuy nhiên, vấn đề là biện pháp giám sát người bị buộc tội dưới 18 tuổi có được áp dụng đồng thời với biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú không thì thực tiễn vẫn còn vướng mắc do nhận thức còn khác nhau.

Quan điểm thứ nhất cho rằng, khi cơ quan tiến hành tố tụng đã áp dụng biện pháp giám sát người bị buộc tội thì không được áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Bởi vì khoản 1 Điều 419 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quy định như sau: “Chỉ áp dụng biện pháp tạm giữ, tạm giam đối với người bị buộc tội là người dưới 18 tuổi khi có căn cứ cho rằng việc áp dụng biện pháp giám sát và các biện pháp ngăn chặn khác không hiệu quả” và khoản 1 Điều 12 Thông tư liên tịch số 06/2018 quy định như sau: “Trước khi quyết định áp dụng biện pháp giữ người trong trường hợp khẩn cấp, bắt, tạm giữ, tạm giam người dưới 18 tuổi, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải xem xét, cân nhắc áp dụng biện pháp giám sát, cấm đi khỏi nơi cư trú hoặc tạm hoãn xuất cảnh quy định tại Điều 123, Điều 124 Bộ luật Tố tụng hình sự”. Như vậy, qua các quy định này thì có thể thấy biện pháp giám sát người bị buộc tội dưới 18 tuổi và biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú là hoàn toàn độc lập với nhau. Cho nên khi đã áp dụng biện giám sát người bị buộc tội dưới 18 tuổi thì không cần thiết phải áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú đối với người bị buộc tội dưới 18 tuổi.

Quan điểm thứ hai cho rằng, mặc dù biện pháp giám sát người bị buộc tội dưới 18 tuổi và biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú có mục đích tương tự nhau nhưng cách thức thực hiện, quyền và nghĩa vụ của những người liên quan là khác nhau như: Bị can, bị cáo bị cấm đi khỏi nơi cư trú thì phải làm cam đoan thực hiện nghĩa vụ quy định tại khoản 2 Điều 123 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; nếu bị can, bị cáo bị cấm đi khỏi nơi cư trú vi phạm nghĩa vụ thì bị tạm giam. Còn biện pháp giám sát người bị buộc tội dưới 18 tuổi có quy định nghĩa vụ của người đại diện được giao nhiệm vụ giám sát. Trường hợp người đại diện được giao nhiệm vụ giám sát vi phạm nghĩa vụ giám sát mà để người bị buộc tội dưới 18 tuổi bỏ trốn hoặc thực hiện các hành vi khác quy định tại khoản 2 Điều 418 Bộ luật Tố tụng hình sự thì tùy tính chất, mức độ vi phạm có thể bị thay đổi hoặc bị xử lý theo quy định của pháp luật. Ngoài ra, biện pháp giám sát người bị buộc tội không phải là một trong các biện pháp ngăn chặn theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Cho nên, khi áp dụng biện pháp giám sát người bị buộc tội dưới 18 tuổi thì cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng vẫn có quyền áp dụng biện pháp ngăn chặn là cấm đi khỏi nơi cư trú đối với người bị buộc tội dưới 18 tuổi.

Những vướng mắc trên đây rất cần được cơ quan có thẩm quyền hướng dẫn hoặc giải đáp để việc áp dụng pháp luật trong thực tiễn được thống nhất.

Dương Tấn Thanh

Tòa án nhân dân thị xã Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Nghị quyết số 254/2025/QH15: Cơ chế trên 75% đồng thuận mở đường cho nhiều dự án vượt "điểm nghẽn" giải phóng mặt bằng

Nghị quyết số 254/2025/QH15: Cơ chế trên 75% đồng thuận mở đường cho nhiều dự án vượt "điểm nghẽn" giải phóng mặt bằng

Quy định mới tại Nghị quyết số 254/2025/QH15 và Nghị định số 49/2026/NĐ-CP với cơ chế đồng thuận trên 75% được kỳ vọng khơi thông hàng nghìn dự án, sẽ tháo gỡ một trong những vướng mắc lớn nhất trong quá trình triển khai các dự án có sử dụng đất.
Nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống tham nhũng trong tình hình mới

Nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống tham nhũng trong tình hình mới

Ngày 10/12/2025, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XV, Kỳ họp thứ 10 chính thức thông qua Luật số 132/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống tham nhũng (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026).
Luật Dân số năm 2025 chuyển trọng tâm chính sách từ kế hoạch hóa gia đình sang dân số và phát triển

Luật Dân số năm 2025 chuyển trọng tâm chính sách từ kế hoạch hóa gia đình sang dân số và phát triển

Luật Dân số được Quốc hội khóa XV, kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 10/12/2025, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026 thay thế Pháp lệnh Dân số số 06/2004/PL-UBTVQH11 (đã được sửa đổi, bổ sung theo Pháp lệnh số 07/2025/UBTVQH15). Một trong những thay đổi căn bản của Luật Dân số năm 2025 là chuyển trọng tâm chính sách dân số từ kế hoạch hóa gia đình sang dân số và phát triển. Những nội dung liên quan đến dân số và phát triển đã được thể hiện trong việc hướng tới giải quyết đồng bộ các vấn đề về quy mô dân số, cơ cấu dân số, thích ứng với già hóa dân số, nâng cao chất lượng dân số và đặt trong mối quan hệ tác động qua lại với phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, của từng địa phương, góp phần bảo đảm sự phát triển bền vững của đất nước.
Công tác kiểm tra, giám sát Đảng ủy cấp xã tại Hà Nội hiện nay

Công tác kiểm tra, giám sát Đảng ủy cấp xã tại Hà Nội hiện nay

Đổi mới công tác kiểm tra, giám sát không chỉ dừng lại ở việc xử lý vi phạm mà cốt lõi là để cảnh báo, phòng ngừa và kiến tạo sự phát triển. Trước thực trạng 70% cán bộ kiểm tra cấp xã còn lúng túng về nghiệp vụ và áp lực từ việc thiếu vắng sự giám sát của Hội đồng nhân dân tại các xã, phường, Hà Nội đang nỗ lực tìm kiếm những mô hình mới như "giám sát dữ liệu số" hay cơ chế bảo vệ cán bộ "dám nói, dám làm". Đây chính là chìa khóa để bảo đảm bộ máy chính quyền Thủ đô vận hành liêm chính và hiệu quả sau khi tinh gọn.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định và tổ chức thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Kiến nghị hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định và tổ chức thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 là đạo luật quan trọng nhằm cụ thể hóa quyền tiếp cận thông tin của công dân theo Hiến pháp năm 2013[*], góp phần nâng cao tính công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Sau 08 năm thi hành, bên cạnh những kết quả đạt được, thực tiễn cho thấy còn bộc lộ một số hạn chế, bất cập trong quy định pháp luật và tổ chức thi hành, đặc biệt, liên quan đến phạm vi thông tin, trách nhiệm cung cấp thông tin, trình tự, thủ tục và điều kiện bảo đảm thực hiện quyền. Trên cơ sở nhận diện các vướng mắc, bất cập, nghiên cứu đề xuất định hướng sửa đổi, bổ sung Luật theo hướng bảo đảm tính đồng bộ với hệ thống pháp luật hiện hành, phù hợp với yêu cầu chuyển đổi số và tổ chức bộ máy nhà nước, đồng thời kiến nghị các giải pháp nâng cao hiệu quả tổ chức thi hành, qua đó góp phần bảo đảm tốt hơn quyền tiếp cận thông tin của công dân và xây dựng nền hành chính công khai, minh bạch.
Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018) sau hơn 08 năm thi hành đã bộc lộ nhiều bất cập trước sự vận động nhanh chóng của thực tiễn, đặc biệt là sự xuất hiện của các hình thức hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng và các quan hệ tôn giáo có yếu tố nước ngoài ngày càng phức tạp. Vì vậy, việc tăng cường quản lý nhà nước đối với các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng là yêu cầu cấp thiết không chỉ bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân mà còn nhằm giữ vững an ninh, trật tự xã hội và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới.
Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Thẩm quyền ban hành VBQPPL là nội dung trọng tâm nhằm bảo đảm mỗi loại VBQPPL được ban hành bởi đúng cơ quan, đúng cấp, vừa phù hợp với phạm vi pháp lý, vừa hạn chế rủi ro và xung đột giữa các văn bản.
Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Việc ban hành Luật Ban hành VBQPPL số 64/2025/QH15 được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 87/2025/QH15 và các nghị định hướng dẫn thi hành có ý nghĩa đặc biệt trong bối cảnh đổi mới tư duy xây dựng pháp luật, gắn kết chặt chẽ giữa xây dựng và thi hành pháp luật.
Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Bài viết phân tích quy trình xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ của Quốc hội và quy trình xây dựng chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội, từ đó, đưa ra một số lưu ý nhằm nâng cao hiệu quả việc thực hiện hai quy trình này.
Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Tóm tắt: Bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra góp phần bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp cần miễm trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra để bảo vệ lợi ích hợp pháp của các nhà sản xuất kinh doanh. Bài viết nghiên cứu những trường hợp miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023, đồng thời chỉ ra ưu, nhược điểm và hạn chế của Luật, từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Trong bối cảnh nhiều thách thức, đội ngũ luật sư với kiến thức chuyên môn và kỹ năng nghề nghiệp của mình, đóng vai trò then chốt trong việc nâng cao chất lượng, hiệu quả trợ giúp pháp lý.
Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Những năm qua, công tác trợ giúp pháp lý trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận. Nhiều vụ việc được trợ giúp pháp lý kịp thời, góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người nghèo, người có công với cách mạng và các nhóm yếu thế khác.
Ứng dụng công nghệ số, nền tảng trực tuyến, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động trợ giúp pháp lý

Ứng dụng công nghệ số, nền tảng trực tuyến, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động trợ giúp pháp lý

Những nỗ lực số hóa hồ sơ, vận hành Hệ thống quản lý trợ giúp pháp lý, kết nối dữ liệu dân cư, phát triển tư vấn trực tuyến… đã mở ra hướng tiếp cận mới, góp phần nâng cao chất lượng và tính minh bạch của dịch vụ trợ giúp pháp lý.
Tăng cường hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế trong tố tụng hình sự

Tăng cường hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế trong tố tụng hình sự

Trong tiến trình cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, việc bảo đảm quyền con người luôn là sợi chỉ đỏ xuyên suốt, đặc biệt, với đối tượng yếu thế, yêu cầu này càng trở nên cấp thiết và nhân văn. Trong tố tụng hình sự (TTHS), đối tượng yếu thế với tư cách bị hại, người làm chứng hay bị can, bị cáo, đã và đang phải đối mặt với hệ thống tư pháp hình sự. Đối tượng yếu thế có được tiếp cận công lý bình đẳng hay không phụ thuộc vào sự công tâm, chuyên nghiệp và nhạy cảm của các cơ quan trong hoạt động tố tụng, trong đó có vai trò của hoạt động trợ giúp pháp lý.
Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo trong bối cảnh mới

Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo trong bối cảnh mới

Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và thúc đẩy phát triển bền vững, hoạt động trợ giúp pháp lý đóng vai trò quan trọng trong việc bảo đảm công bằng xã hội và tiếp cận công lý cho người dân, đặc biệt là người nghèo thuộc nhóm đối tượng yếu thế.

Theo dõi chúng tôi trên: