Thứ sáu 16/01/2026 01:50
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Bình luận về quyền sử dụng chỉ dẫn địa lý theo quy định pháp luật sở hữu trí tuệ của Việt Nam

Chỉ dẫn địa lý là dấu hiệu dùng để chỉ sản phẩm có nguồn gốc từ khu vực, địa phương, vùng lãnh thổ hay quốc gia cụ thể. Với tính chất đặc biệt của chỉ dẫn địa lý, các quy định của pháp luật thường hướng tới việc xác định quyền sử dụng chỉ dẫn địa lý là tổ chức, cá nhân tiến hành hoạt động sản xuất hàng hóa tại lãnh thổ quốc gia, vùng lãnh thổ hoặc địa phương tương ứng. Trong bài viết, tác giả phân tích các quy định của pháp luật về quyền sử dụng chỉ dẫn địa lý, tập trung vào hai vấn đề chính là chủ thể có quyền sử dụng chỉ dẫn địa lý và điều kiện, thủ tục để được cấp quyền sử dụng chỉ dẫn địa lý, từ đó, đưa ra một số kiến nghị hoàn thiện quy định pháp luật về quyền sử dụng chỉ dẫn địa lý.


1. Thực trạng pháp luật về sử dụng chỉ dẫn địa lý

1.1. Chủ thể có quyền sử dụng chỉ dẫn địa lý

Với hầu hết các đối tượng của quyền sở hữu công nghiệp như sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, bí mật kinh doanh, nhãn hiệu... chủ sở hữu các đối tượng này đồng thời là người có quyền sử dụng đối tượng thuộc quyền sở hữu của mình. Tuy nhiên, với tính chất đặc biệt của chỉ dẫn địa lý, quyền sử dụng chỉ dẫn địa lý thường được trao cho các tổ chức, cá nhân sản xuất sản phẩm mang chỉ dẫn địa lý tại địa phương tương ứng.

Khoản 4 Điều 121 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 quy định, chủ sở hữu của chỉ dẫn địa lý là Nhà nước và Nhà nước trao quyền sử dụng chỉ dẫn địa lý cho tổ chức, cá nhân tiến hành việc sản xuất sản phẩm mang chỉ dẫn địa lý tại địa phương tương ứng và đưa sản phẩm đó ra thị trường. Quy định này xác định quyền sở hữu chỉ dẫn địa lý không thuộc về cộng đồng các tổ chức, cá nhân tiến hành sản xuất sản phẩm mang chỉ dẫn địa lý, tuy nhiên, họ vẫn có quyền sử dụng chỉ dẫn địa lý đó để khai thác thương mại và thực hiện các hoạt động phát triển chỉ dẫn địa lý. Tương tự pháp luật Việt Nam, Luật Bảo vệ tên của sản phẩm nông, lâm, thủy sản và thực phẩm năm 2015 của Nhật Bản quy định nhà sản xuất đã đăng ký sẽ được gắn chỉ dẫn địa lý lên các sản phẩm của họ[1].

Bên cạnh đó, cũng có một số quốc gia quy định về đối tượng có quyền sử dụng chỉ dẫn địa lý rộng hơn. Chẳng hạn, Điều 25 Luật Bảo vệ chỉ dẫn địa lý năm 2003 của Thái Lan quy định khi đã có đăng ký chỉ dẫn địa lý cho bất kỳ hàng hóa nào thì cá nhân, tổ chức sản xuất hàng hóa tại nguồn gốc địa lý của hàng hóa hoặc cá nhân, tổ chức tham gia buôn bán có liên quan đến hàng hóa được quyền sử dụng chỉ dẫn địa lý đã đăng ký đối với hàng hóa được chỉ định phù hợp với các điều kiện quy định của tổ chức đăng ký. Như vậy, pháp luật Thái Lan không chỉ cho phép những người sản xuất mà cả những người kinh doanh sản phẩm có nguồn gốc địa lý ở khu vực tương ứng với chỉ dẫn địa lý có quyền gắn chỉ dẫn địa lý lên sản phẩm. Hay Luật Đăng ký và bảo hộ chỉ dẫn địa lý hàng hóa năm 1999 của Ấn Độ, theo Điều 17.1, Điều 2.1.(b) và Điều 2.1.(k), đối tượng được sử dụng chỉ dẫn địa lý là tổ chức, cá nhân sản xuất hàng hóa bao gồm: (i) Đối với hàng hóa nông nghiệp, người chế biến và đóng gói hàng hóa đó có quyền sử dụng chỉ dẫn địa lý; (ii) Đối với hàng hóa tự nhiên, người khai thác hàng hóa có quyền sử dụng chỉ dẫn địa lý cho sản phẩm tương ứng; (iii) Đối với hàng thủ công mỹ nghệ hoặc hàng công nghiệp, người kinh doanh hoặc giao dịch trong việc sản xuất, khai thác, chế tạo hoặc sản xuất hàng hóa đó được quyền sử dụng chỉ dẫn địa lý gắn lên sản phẩm tương ứng. Luật của Ấn Độ cũng có quy định khá rộng về đối tượng được phép sử dụng chỉ dẫn địa lý, căn cứ vào loại sản phẩm mang chỉ dẫn địa lý, người được cấp quyền sử dụng chỉ dẫn địa lý có thể là người sản xuất, chế tạo, khai thác hoặc kinh doanh, tiến hành giao dịch sản xuất hàng hóa có nguồn gốc địa lý từ khu vực tương ứng với chỉ dẫn địa lý.

Với cách quy định của một số quốc gia, đặc biệt là Ấn Độ xác định rộng rãi các đối tượng được phép sử dụng chỉ dẫn địa lý. Hiện nay, các sản phẩm được công nhận và bảo hộ chỉ dẫn địa lý ở Việt Nam hầu hết là nông sản nên cách xác định đối tượng được bảo hộ vẫn hợp lý. Tuy nhiên, nếu có những sản phẩm khác ngoài nông sản, chẳng hạn như sản phẩm khai thác từ tự nhiên hoặc các sản phẩm thủ công mỹ nghệ thì cách xác định như trên chưa bao quát được người có quyền sử dụng chỉ dẫn địa lý. Hay đối với người kinh doanh các sản phẩm được sản xuất tại khu vực tương ứng với chỉ dẫn địa lý, dù tổ chức sản xuất không đăng ký để được cấp quyền sử dụng chỉ dẫn địa lý, nhưng những sản phẩm đó vẫn bảo đảm theo tiêu chuẩn mà tổ chức quản lý chỉ dẫn địa lý quy định, thì pháp luật vẫn nên cho phép người kinh doanh sản phẩm này vẫn có thể yêu cầu để được cấp quyền sử dụng chỉ dẫn địa lý.

Trong Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ năm 2020[2] sửa đổi khoản 4 Điều 121 như sau: “Chỉ dẫn địa lý của Việt Nam thuộc sở hữu chung của cộng đồng những người sản xuất sản phẩm mang chỉ dẫn địa lý ở khu vực nơi có chỉ dẫn địa lý”. Quy định này đã thể hiện rõ được bản chất và xác định đúng đối tượng có quyền sở hữu chỉ dẫn địa lý. Bản thân chỉ dẫn địa lý được hình thành và phát triển bởi chính những người đã và đang sử dụng chúng, bởi vậy họ đương nhiên được công nhận quyền sở hữu và sử dụng chỉ dẫn địa lý để gắn lên các sản phẩm do họ tạo ra.

Tuy nhiên, dù có thay đổi về cách xác định chủ sở hữu của chỉ dẫn địa lý thì trong Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 và Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ năm 2020 đều hướng tới việc xác định người có quyền sử dụng chỉ dẫn địa lý là tổ chức, cá nhân tiến hành hoạt động sản xuất hàng hóa tại lãnh thổ quốc gia, vùng lãnh thổ hoặc địa phương tương ứng với chỉ dẫn địa.

1.2. Thủ tục đăng ký cấp quyền sử dụng chỉ dẫn địa lý

Khoản 4 Điều 121 và khoản 2 Điều 123 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 quy định tổ chức được Nhà nước trao quyền quản lý chỉ dẫn địa lý có quyền cho phép người khác sử dụng chỉ dẫn địa lý. Đồng thời, trong giấy chứng nhận chỉ dẫn địa lý quy định cần thiết phải ghi thông tin các tổ chức, cá nhân có quyền sử dụng chỉ dẫn địa lý[3]. Như vậy, pháp luật Việt Nam và nhiều quốc gia khác trên thế giới đều có quy định, muốn sử dụng chỉ dẫn địa lý, các cá nhân, tổ chức phải đăng ký và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng chỉ dẫn địa lý. Hay nói cách khác, người có quyền sử dụng phải nộp đơn yêu cầu cấp “giấy chứng nhận quyền sử dụng tên gọi xuất xứ hàng hóa”. Chỉ những người được cấp giấy chứng nhận đó mới được phép sử dụng chỉ dẫn địa lý. Bất cứ người nào khác đáp ứng tiêu chuẩn để sử dụng nhưng chưa được cấp giấy chứng nhận thì đều không được sử dụng chỉ dẫn địa lý. Có quan điểm cho rằng, việc tổ chức, cá nhân phải dừng sử dụng chỉ dẫn địa lý vì họ chưa làm thủ tục cấp quyền sử dụng chỉ dẫn địa lý là không hợp lý, chưa phù hợp với bản chất của chỉ dẫn địa lý, bởi chỉ dẫn địa lý được hình thành và phát triển bởi chính tổ chức, cá nhân đang sử dụng chúng.

Tuy nhiên, nếu chủ thể nào cũng được quyền sử dụng chỉ dẫn địa lý mà không có sự kiểm tra, giám sát về chất lượng, tính chất của sản phẩm bởi một tổ chức có thẩm quyền thì trường hợp danh tiếng và chất lượng của sản phẩm mang chỉ dẫn địa lý bị giảm sút có thể xảy ra, gây thiệt hại đến các tổ chức, cá nhân khác. Thực tế đã chỉ ra sự bất cập trong việc tùy tiện sử dụng chỉ dẫn địa lý bởi một số chủ thể không đáp ứng được điều kiện đặc biệt là các tiêu chuẩn để bảo đảm chất lượng khi đưa sản phẩm gắn chỉ dẫn địa lý ra thị trường. Điển hình như chỉ dẫn địa lý nước mắm Phú Quốc, một số cơ sở sản xuất lấy màu pha với nước muối, thêm “hương vị nước mắm” rồi dán nhãn nước mắm Phú Quốc, sau đó tung ra thị trường bán với giá rất rẻ. Hay đối với chỉ dẫn địa lý Chè Shan Tuyết Mộc Châu chỉ được sử dụng để đóng bao sản phẩm 35kg khi chuyển đi nơi khác bán chiếm đến 90%. Khi đến tay nhà phân phối, người ta lại mở bao gói sản phẩm này ra để đóng thành gói lẻ bán ra thị trường, điều này khó tránh khỏi việc sản phẩm bị trộn lẫn với những sản phẩm chè được sản xuất từ nơi khác. Tương tự, nhiều sản phẩm cà phê thực tế không được sản xuất tại các khu vực được xác định trên bản đồ bảo hộ nhưng khi thực hiện đóng gói tại Buôn Ma Thuột liền được gắn với chỉ dẫn địa lý Buôn Ma Thuột[4].

Bởi vậy, cần thiết phải có cơ chế kiểm soát và tồn tại thủ tục cấp quyền sử dụng chỉ dẫn địa lý đối với các tổ chức, cá nhân đáp ứng điều kiện được đặt ra. Tuy nhiên, theo tác giả, quy định hiện hành về hoạt động cấp quyền sử dụng chỉ dẫn địa lý vẫn có một số bất cập sau:

Một là, hiện nay pháp luật không có quy định cụ thể về thủ tục để tổ chức quản lý chỉ dẫn địa lý cấp quyền sử dụng cho tổ chức, cá nhân có nhu cầu sử dụng chỉ dẫn địa lý

Việc cấp quyền sử dụng chỉ dẫn địa lý là nội dung quan trọng của quy chế quản lý chỉ dẫn địa lý. Trên thực tế, để được cấp quyền sử dụng chỉ dẫn địa lý, tổ chức và cá nhân có nhu cầu phải làm hồ sơ đề nghị được cấp quyền (gồm đơn đề nghị và các giấy tờ khác theo yêu cầu) và gửi về cơ quan quản lý chỉ dẫn địa lý. Trên cơ sở hồ sơ đề nghị, cơ quan quản lý chỉ dẫn địa lý tiến hành thẩm định và quyết định việc cấp quyền hay không cấp quyền sử dụng chỉ dẫn địa lý. Tuy nhiên, không phải ở địa phương nào cũng đưa ra được quy chế về quản lý chỉ dẫn địa lý và thủ tục cấp quyền sử dụng chỉ dẫn địa lý phù hợp, dẫn đến sự lúng túng cho cả phía cơ quan có thẩm quyền và tổ chức, cá nhân có nhu cầu sử dụng chỉ dẫn địa lý. Việc pháp luật không có quy định cụ thể về thủ tục cấp quyền sử dụng chỉ dẫn địa lý dẫn đến sự không thống nhất giữa các địa phương khi đưa ra quy định về hoạt động cấp quyền sử dụng chỉ dẫn địa lý. Mỗi địa phương, khu vực có quy định khác nhau về hoạt động cấp quyền sử dụng chỉ dẫn địa lý.

Hai là, pháp luật chưa có quy định về điều kiện để được cấp quyền sử dụng chỉ dẫn địa lý

Việc quy định rõ các điều kiện sử dụng chỉ dẫn địa lý là cơ sở cho việc cấp quyền sử dụng chỉ dẫn địa lý. Căn cứ vào hồ sơ đề nghị được cấp quyền sử dụng và các điều kiện sử dụng chỉ dẫn địa lý, cơ quan quản lý chỉ dẫn địa lý sẽ xem xét để trao quyền sử dụng cho các tổ chức, cá nhân đủ điều kiện. Trường hợp xây dựng quy chế quản lý trực tiếp cho từng chỉ dẫn địa lý thì các điều kiện sử dụng sẽ được quy định chi tiết hơn so với trường hợp xây dựng quy chế quản lý chung cho tất cả các chỉ dẫn địa lý của địa phương. Trên thực tế, quy chế quản lý chỉ dẫn địa lý do các tổ chức quản lý xây dựng đều đưa ra điều kiện để được cấp quyền sử dụng chỉ dẫn địa lý. Một số điều kiện tối thiểu: (i) Được thành lập hợp pháp (nếu là tổ chức); (ii) Có hoạt động sản xuất sản phẩm mang chỉ dẫn địa lý thuộc khu vực địa lý mang chỉ dẫn địa lý; (iii) Sản phẩm đáp ứng điều kiện bảo hộ; (iv) Có hồ sơ đề nghị trao quyền sử dụng chỉ dẫn địa lý. Một số quy chế riêng có thể có quy định trực tiếp các điều kiện liên quan đến việc sản xuất, đóng gói, kinh doanh sản phẩm như: Điều kiện về nguyên vật liệu; điều kiện về việc thực hiện các quy trình kỹ thuật cần có; điều kiện về việc tuân thủ các quy định về việc sử dụng tem, nhãn sản phẩm; điều kiện về tiêu chuẩn an toàn vệ sinh thực phẩm (đối với một số sản phẩm thực phẩm).

Tuy nhiên, mỗi tổ chức quản lý cũng vẫn đưa ra những điều kiện khác nhau để tổ chức, cá nhân được cấp quyền sử dụng chỉ dẫn địa lý. Chẳng hạn, trong quy chế về quản lý chỉ dẫn địa lý đối với nhãn lồng Hưng Yên và cà phê nhân Robusta Buôn Ma Thuột đều cho phép người kinh doanh (không sản xuất sản phẩm) có thể được cấp quyền sử dụng chỉ dẫn địa lý, tuy nhiên, điều kiện để được cấp quyền sử dụng chỉ dẫn địa lý cho hai đối tượng này có điểm khác nhau. Đối với tổ chức, cá nhân chỉ hoạt đông thương mại không tổ chức sản xuất, thì trong hồ sơ phải có văn bản liên kết hoặc hợp đồng mua sản phẩm với các tổ chức, cá nhân sản xuất nhãn đã được cấp quyền sử dụng chỉ dẫn địa lý “Hưng Yên” dùng cho sản phẩm nhãn lồng. Trong khi đó, tổ chức, cá nhân kinh doanh cà phê Buôn Ma Thuột không cần tài liệu này trong hồ sơ xin cấp quyền sử dụng chỉ dẫn địa lý[5].

Pháp luật hiện hành không có bất kỳ quy định nào liên quan từ cấp quyền sử dụng, kiểm soát chất lượng hàng hóa cũng như quy hoạch vùng địa lý bảo hộ… Cơ chế sử dụng địa lý do các địa phương quản lý tự quyết định, ban hành tùy thuộc vào từng địa phương, dẫn đến sự thiếu thống nhất.

Ba là, bất cập trong quy định về ghi nhận các tổ chức, cá nhân có quyền sử dụng chỉ dẫn địa lý trong văn bằng bảo hộ

Theo Hiệp định thương mại tự do giữa Việt Nam và Liên minh Châu Âu (EVFTA), khi một chỉ dẫn địa lý được bảo hộ theo EVFTA (các chỉ dẫn địa lý trong Danh mục), thì việc sử dụng hợp pháp chỉ dẫn địa lý đó không phụ thuộc vào việc đăng ký người sử dụng hoặc nộp thêm bất kỳ khoản phí nào[6]. Có thể hiểu, các tổ chức, cá nhân tiến hành hoạt động sản xuất sản phẩm thì có quyền sử dụng không phụ thuộc vào việc đăng ký người sử dụng và nộp phí. Pháp luật Việt Nam cũng không yêu cầu người sử dụng (các hiệp hội, tổ chức quản lý chỉ dẫn địa lý) nộp phí sử dụng chỉ dẫn địa lý. Tuy nhiên, khoản 2 Điều 92 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 quy định văn bằng bảo hộ ghi nhận các tổ chức cá nhân có quyền sử dụng chỉ dẫn địa lý. Điều đó có nghĩa là đơn đăng ký chỉ dẫn địa lý phải liệt kê những người có quyền sử dụng và văn bằng bảo hộ phải được sửa đổi, bổ sung để ghi nhận thay đổi về người có quyền sử dụng về sau. Quy định này không bảo đảm cam kết trong EVFTA cũng như khả năng thực thi trong thực tế. Bởi vậy, trong Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ năm 2020 sửa đổi khoản 2 Điều 92 như sau: “Văn bằng bảo hộ chỉ dẫn địa lý ghi nhận tổ chức quản lý chỉ dẫn địa lý, chỉ dẫn địa lý được bảo hộ, tính chất đặc thù của sản phẩm mang chỉ dẫn địa lý, tính chất đặc thù về điều kiện địa lý và khu vực địa lý mang chỉ dẫn địa lý”. Như vậy, quy định này đã loại yêu cầu ghi tên tổ chức, cá nhận được quyền sử dụng chỉ dẫn địa lý là hoàn toàn hợp lý.

1.3. Thực trạng pháp luật về quyền sử dụng chỉ dẫn địa lý

Sử dụng, đưa đối tượng sở hữu công nghiệp vào khai thác để thu được các lợi ích từ chúng có thể được xem như một trong những quyền năng quan trọng nhất của chủ sở hữu đối tượng sở hữu công nghiệp. Tương tự, quyền sử dụng chỉ dẫn địa lý là quyền đặc biệt quan trọng của chủ sở hữu chỉ dẫn địa lý. Các quốc gia hiện nay có quy định khác nhau về cơ chế bảo hộ đối với chỉ dẫn địa lý. Đối với những nước bảo hộ chỉ dẫn địa lý dưới hình thức nhãn hiệu tập thể và nhãn hiệu chứng nhận, việc sử dụng nhãn hiệu phải tuân theo Quy chế sử dụng nhãn hiệu và do chủ sở hữu nhãn hiệu kiểm soát. Chẳng hạn như Hoa Kỳ, là một thành viên của WTO và Hiệp định về các khía cạnh thương mai của quyền sở hữu trí tuệ (Hiệp định TRIPs), Hoa Kỳ không có đạo luật hay cơ chế riêng về bảo hộ chỉ dẫn địa lý. Nhưng Hoa Kỳ vẫn tuân thủ nghĩa vụ bảo hộ chỉ dẫn địa lý. Cụ thể, Hoa Kỳ bảo hộ chỉ dẫn địa lý dưới dạng nhãn hiệu chứng nhận (“certification mark” hay “certification trademark”)[7]. Theo Đạo luật Lanham Act năm 1946 khẳng định quyền sử dụng chỉ dẫn địa lý trong hoạt động thương mại, quyền này là quyền bất khả xâm phạm[8]. Đối với những nước bảo hộ chỉ dẫn địa lý dưới hình thức đăng ký, quyền và nghĩa vụ của người đó có quyền sử dụng chỉ dẫn địa lý theo quy định riêng của pháp luật về chỉ dẫn địa lý. Như vậy, các quốc gia đều công nhận quyền sử dụng chỉ dẫn địa lý của những người được phép sử dụng thỏa mãn các điều kiện nhất định.

Trước khi có các quy định điều chỉnh đối với việc bảo hộ chỉ dẫn địa lý trong Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005, Nghị định số 54/2000/NĐ-CP ngày 03/10/2000 của Chính phủ về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với bí mật kinh doanh, chỉ dẫn địa lý, tên thương mại và bảo hộ quyền chống cạnh tranh không lành mạnh liên quan tới sở hữu công nghiệp, công nhận quyền sử dụng chỉ bao gồm quyền gắn chỉ dẫn địa lý trên hàng hóa, bao bì hàng hóa, giấy tờ giao dịch nhằm mục đích mua bán hàng hóa và quảng cáo cho hàng hóa tương ứng[9]. Khoản 7 Điều 124 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 quy định các hành vi cụ thể được coi là sử dụng chỉ dẫn địa lý gồm: (i) Gắn chỉ dẫn địa lý được bảo hộ lên hàng hóa, bao bì hàng hóa, phương tiện kinh doanh, giấy tờ giao dịch trong hoạt động kinh doanh; (ii) Lưu thông, chào bán, quảng cáo nhằm để bán, tàng trữ để bán hàng hóa có mang chỉ dẫn địa lý được bảo hộ; (iii) Nhập khẩu hàng hóa có mang chỉ dẫn địa lý được bảo hộ. Như vậy, Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 đã mở rộng các hành vi được coi là sử dụng chỉ dẫn địa lý, bao gồm cả hành vi gắn chỉ dẫn địa lý lên phương tiện kinh doanh, hành vi lưu thông, chào bán, tàng trữ, nhập khẩu hàng hóa mang chỉ dẫn địa lý.

Như vậy, trong thời gian chỉ dẫn địa lý đáp ứng điều kiện được bảo hộ, tổ chức, cá nhân có quyền sử dụng chỉ dẫn địa lý trong hoạt động sản xuất kinh doanh của mình để hưởng lợi ích do chỉ dẫn địa lý mang lại. Điều này cũng đồng nghĩa với việc họ có quyền ngăn cấm bất kỳ ai sử dụng chỉ dẫn địa lý một cách bất hợp pháp[10]. Mọi người trong xã hội đều có nghĩa vụ phải tôn trọng, không được có các hành vi cản trở hoặc xâm phạm khi tổ chức, cá nhân có quyền sử dụng chỉ dẫn địa lý thực hiện quyền sử dụng của mình.

Quyền sử dụng chỉ dẫn địa lý có một điểm khác biệt so với quyền sử dụng các đối tượng sở hữu công nghiệp khác (trừ tên thương mại) đó là quyền sử dụng chỉ dẫn địa lý không được chuyển giao[11]. Do đặc trưng của đối tượng quyền sở hữu công nghiệp đối với chỉ dẫn địa lý là mối liên hệ mật thiết với khu vực địa lý mà hàng hóa và dịch vụ được sản xuất ra mang đặc trưng địa lý ở khu vực đó (tính lãnh thổ) cho nên quyền sử dụng chỉ dẫn địa lý không được phép chuyển giao cho bất kỳ chủ thể nào khác. Đây chính là một đặc trưng riêng biệt về nội dung quyền sở hữu công nghiệp đối với chỉ dẫn địa lý.

Tuy nhiên, với hành vi sử dụng chỉ dẫn địa lý trong quy định tại khoản 1 Điều 124 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 còn chưa bao quát được đầy đủ hành vi sử dụng chỉ dẫn địa lý trong thực tế, cụ thể là hành vi bán và vận chuyển sản phẩm gắn chỉ dẫn địa lý là hành vi phổ biến được thực hiện bởi các tổ chức, cá nhân sản xuất sản phẩm. Điểm b khoản 1 Điều 124 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 có đề cập đến hành vi “lưu thông” ở đây chỉ có thể được hiểu là “di chuyển, thông suốt không bị ứ đọng, ngưng trệ”[12] hay “chảy suốt, đi suốt không bị vướng”[13]. Như vậy, hành vi “lưu thông” không được coi là bao hàm hoạt động mua bán các hàng hóa có gắn chỉ dẫn địa lý.

2. Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Từ những phân tích về một số quy định về quyền sử dụng chỉ dẫn địa lý trong Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005, tác giả đề xuất một số kiến nghị như sau:

Thứ nhất, bổ sung thêm đối tượng được cấp quyền sử dụng chỉ dẫn địa lý. Hiện nay pháp luật về sở hữu trí tuệ của Việt Nam chỉ quy định tổ chức, cá nhân sản xuất sản phẩm có nguồn gốc chỉ dẫn địa lý ở khu vực tương ứng với chỉ dẫn địa lý. Tác giả kiến nghị pháp luật nên bổ sung thêm một số các đối tượng khác cũng nên có quyền sử dụng chỉ dẫn địa lý nếu đáp ứng được các điều kiện được quy định trong luật hoặc quy chế sử dụng chỉ dẫn địa lý do tổ chức quản lý chỉ dẫn địa lý ban hành, như tổ chức, cá nhân kinh doanh, khai thác sản phẩm trong khu vực sản xuất sản phẩm có chỉ dẫn địa lý được bảo hộ.

Thứ hai, cần bổ sung các quy định về thủ tục cấp quyền sử dụng chỉ dẫn địa lý, điều kiện cấp quyền chỉ dẫn địa lý. Quy định cụ thể cho việc cấp quyền sử dụng chỉ dẫn địa lý sẽ tạo ra tính thống nhất và hiệu quả cho hoạt động quản lý và cấp quyền sử dụng chỉ dẫn địa lý. Khắc phục được sự lúng túng và khó khăn trong việc xin cấp quyền sử dụng chỉ dẫn địa lý của các tổ chức, cá nhân sản xuất sản phẩm có nguồn gốc địa lý tại khu vực tương ứng với chỉ dẫn địa lý.

Thứ ba, bổ sung quy định về nghĩa vụ công khai danh sách các tổ chức, cá nhân được cấp quyền sử dụng chỉ dẫn địa lý bởi tổ chức quản lý chỉ dẫn địa lý. Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ năm 2020 nên bỏ yêu cầu ghi danh các tổ chức, cá nhân được cấp quyền sử dụng chỉ dẫn địa lý trong văn bằng bảo hộ. Tuy nhiên, việc bỏ ghi danh này sẽ khó khăn cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền cũng như người tiêu dùng khó xác định được các tổ chức, cá nhân cung cấp sản phẩm đạt tiêu chuẩn được gắn chỉ dẫn địa lý. Thay vào đó, nên có một quy định về nghĩa vụ công khai danh sách các tổ chức, cá nhân được cấp quyền sử dụng chỉ dẫn địa lý. Quy định này sẽ bảo đảm sự ổn định cho văn bằng bảo hộ, không phải tiến hành thay đổi thường xuyên nhưng vẫn bảo đảm sự minh bạch, công khai về các tổ chức, cá nhân có quyền sử dụng chỉ dẫn địa lý.

Thứ tư, bổ sung thêm hành vi “bán” sản phẩm gắn chỉ dẫn địa lý trong quy định tại khoản 7 Điều 124 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005.

Trong Điều 21 Nghị định 103/2006/NĐ-CP ngày 22/9/2006 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ về sở hữu công nghiệp quy định: “Hành vi lưu thông sản phẩm được hiểu bao gồm cả hành vi bán, trưng bày để bán, vận chuyển sản phẩm”. Bên cạnh đó Điều 18.77.2 của Hiệp định đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) có quy định phải xử lý hình sự đối với hành vi nhập khẩu hoặc xuất khẩu hàng hóa giả mạo nhãn hiệu (hoặc có thể thực hiện cam kết thông qua việc xử lý hành vi phân phối hoặc bán hàng hóa giả mạo nhãn hiệu) ở quy mô thương mại. Vì vậy, để bảo đảm thực hiện cam kết trong CPTPP trong Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ năm 2020 có kiến nghị sửa đổi điểm b khoản 5 Điều 124 (Sử dụng nhãn hiệu) theo hướng thay hành vi “lưu thông” thành các hành vi “bán, trưng bày để bán, vận chuyển”. Bởi vậy, để bảo đảm tính đồng nhất, cần thiết sửa đổi điểm b khoản 7 Điều 124 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 theo hướng thay hành vi “lưu thông” thành các hành vi “bán, trưng bày để bán, vận chuyển”, cụ thể như sau: “b) Bán, chào bán, quảng cáo để bán, trưng bày để bán, tàng trữ để bán, vận chuyển hàng hóa mang chỉ dẫn địa lý được bảo hộ”. Quy định như vậy sẽ phù hợp với thực tiễn và tuân thủ cam kết trong CPTPP.

ThS. Nguyễn Thị Nguyệt
Đại học Thương mại


[1]. Xem Điều 3 Luật Bảo vệ tên của sản phẩm nông sản, lâm sản, thủy sản và thực phẩm năm 2015 của Nhật Bản.

[2]. Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ ngày 17/11/2020

[3]. Xem khoản 2 Điều 92 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005.

[4]. “Bảo hộ chỉ dẫn địa lý: Yêu cầu của phát triển nông nghiệp bền vững”, Bùi Thị Hằng Nga, Nguyễn Minh Bách Tùng, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, số 17(417), tháng 9/2020.

[5]. Điều 5, Điều 7 Quyết định số 18/2010/QĐ-UBND ngày 30/6/2010 của Ủy ban nhân dân tỉnh Đắk Lắk ban hành Quy chế quản lý, sử dụng chỉ dẫn địa lý cà phê Buôn Ma Thuột đối với sản phẩm cà phê nhân Robusta và Sổ tay hướng dẫn quản lý và sử dụng chỉ dẫn địa lý “Hưng Yên” cho sản phẩm nhãn lồng - Sở Khoa học và công nghệ Hưng Yên ban hành.

[6]. Xem Điều 12.29 Hiệp định Thương mại tự do giữa Việt Nam và Liên minh châu Âu (EVFTA).

[8]. Điều 1065 Luật Nhãn hiệu năm 1946 của Hoa Kỳ.

[9]. Xem khoản 1 Điều 12 Nghị định 54/2000/NĐ-CP ngày 03/10/2000 của Chính phủ về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với bí mật kinh doanh, chỉ dẫn địa lý, tên thương mại và bảo hộ quyền chống cạnh tranh không lành mạnh liên quan tới sở hữu công nghiệp.

[10]. Xem khoản 1 Điều 125 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005.

[11]. Xem khoản 1 Điều 142 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Việc điều chỉnh cơ cấu và phân bổ giới thiệu người ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) được thực hiện trên cơ sở điều chỉnh lần thứ nhất của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về cơ cấu, thành phần và số lượng được phân bổ cho từng cơ quan, tổ chức, đơn vị. Trên cơ sở đó, Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tổ chức hội nghị hiệp thương có trách nhiệm thông báo phân bổ và hướng dẫn nội dung, trình tự, thủ tục giới thiệu người ứng cử, bảo đảm việc lập hồ sơ ứng cử được thực hiện theo quy định pháp luật.
Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Từ năm 2026, các quy định liên quan đến thu nhập từ kinh doanh, từ tiền lương, tiền công của cá nhân cư trú tại Luật Thuế thu nhập cá nhân số 109/2025/QH15 có hiệu lực, với nhiều chính sách mới như tăng mức giảm trừ gia cảnh lên 15,5 triệu đồng, nâng ngưỡng doanh thu chịu thuế của hộ, cá nhân kinh doanh lên 500 triệu đồng/năm giúp giảm gánh nặng đối với người nộp thuế.
Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Luật Thương mại điện tử số 122/2025/QH15 được Quốc hội thông qua ngày 10/12/2025, gồm 07 chương, 41 điều, được xây dựng theo định hướng kiến tạo phát triển, tăng cường hiệu quả quản lý và bảo vệ lợi ích chính đáng của doanh nghiệp, người tiêu dùng với nhiều nội dung mới, nổi bật. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2026.
Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Hội đồng nhân dân (HĐND) cấp tỉnh, cấp xã và bố trí đại biểu HĐND hoạt động chuyên trách nhiệm kỳ 2026 - 2031 là nội dung quan trọng nhằm bảo đảm tổ chức bộ máy HĐND các cấp tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu sắp xếp đơn vị hành chính và định hướng cải cách của Đảng và Nhà nước. Những quy định này được thực hiện thống nhất theo Nghị quyết số 106/2025/UBTVQH15 ngày 16/10/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) và các văn bản có liên quan.
Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là một trong những quyền chính trị cơ bản của công dân, đồng thời là khâu có ý nghĩa quyết định đối với chất lượng hoạt động của cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Pháp luật về bầu cử không chỉ bảo đảm quyền ứng cử của công dân mà còn đặt ra những tiêu chuẩn, điều kiện, giới hạn và cơ chế sàng lọc chặt chẽ nhằm lựa chọn được những người đủ đức, đủ tài, xứng đáng đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân.
Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức theo các quy định chặt chẽ của Hiến pháp và pháp luật về bầu cử, trong đó xác định rõ tổng số đại biểu được bầu, cơ cấu, thành phần người ứng cử cũng như nguyên tắc phân bổ đại biểu ở từng địa phương. Bài viết làm rõ số lượng ĐBQH khóa XVI dự kiến được bầu, các yêu cầu về tỷ lệ đại diện của phụ nữ, người dân tộc thiểu số và những nguyên tắc cụ thể để xác định số lượng đại biểu HĐND các cấp, qua đó giúp cử tri hiểu rõ hơn cơ sở pháp lý và ý nghĩa của việc bảo đảm tính đại diện, dân chủ trong bầu cử.
Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Theo quy định tại Điều 7 Hiến pháp năm 2013 và Điều 1 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015, việc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tiến hành theo các nguyên tắc bầu cử phổ thông; nguyên tắc bình đẳng trong bầu cử; nguyên tắc bầu cử trực tiếp; nguyên tắc bỏ phiếu kín. Việc quán triệt và thực hiện nghiêm các nguyên tắc này không chỉ bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân, mà còn là thước đo quan trọng để đánh giá một cuộc bầu cử dân chủ, đúng pháp luật.
Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là những người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân trong bộ máy quyền lực nhà nước. Trên cơ sở Hiến pháp năm 2013, được sửa đổi, bổ sung năm 2025, Luật Tổ chức Quốc hội và Luật Tổ chức chính quyền địa phương quy định rõ hệ thống quyền hạn, trách nhiệm cũng như cơ chế miễn trừ đối với đại biểu nhằm bảo đảm thực hiện đầy đủ chức năng lập pháp, giám sát, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và địa phương, đồng thời tăng cường trách nhiệm của đại biểu dân cử trước cử tri và xã hội.
Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số là yêu cầu cấp thiết trong tiến trình xây dựng xã hội phát triển toàn diện và bền vững ở Việt Nam hiện nay. Trên cơ sở phân tích lý luận và khảo sát thực tiễn tại tỉnh Gia Lai, nơi có 24,76% dân số là người dân tộc thiểu số thuộc 44 thành phần, bài viết đánh giá việc thực hiện quyền này theo khung phân tích của Bình luận chung số 21 của Liên hợp quốc, gồm ba tiêu chí: tính sẵn có, khả năng tiếp cận và tính chấp nhận được. Kết quả cho thấy, còn tồn tại hạn chế về thiết chế văn hóa cơ sở, chênh lệch vùng miền và mức độ tham gia còn hình thức. Từ đó, bài viết đề xuất giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả, bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số tại tỉnh Gia Lai.
Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu cải cách toàn diện, đẩy mạnh hội nhập quốc tế và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, việc nâng cao vai trò lãnh đạo toàn diện, trực tiếp của Đảng đối với hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp có ý nghĩa chiến lược và cấp thiết.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bài viết nêu lên vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước và đề xuất một số giải pháp nâng cao vai trò của Bộ Tư pháp trong giai đoạn mới.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Trong quá trình phát triển của đất nước, đặc biệt, trong 10 năm gần đây, với sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế - xã hội Việt Nam, việc xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật là công tác đặc biệt quan trọng. Với sự nỗ lực không ngừng, Bộ Tư pháp đã cùng các bộ, ngành làm tốt công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và đưa pháp luật vào cuộc sống, góp phần quan trọng trong thực hiện thành công công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế, giữ vững chủ quyền quốc gia, an ninh, trật tự xã hội, nâng cao đời sống vật chất và văn hóa, tinh thần của Nhân dân, bảo đảm công bằng xã hội, xây dựng xã hội dân chủ, văn minh theo đường lối của Đảng và Nhà nước. Để đạt được những thành tựu đó, nhiều hoạt động đã được triển khai đồng bộ, từ công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL); đặc biệt, đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực làm công tác xây dựng, thi hành pháp luật. Bộ Tư pháp đã chủ động, tích cực phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, trong đó có Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trong công tác xây dựng thể chế, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác pháp chế.
Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Với chức năng là cơ quan của Chính phủ, thực hiện quản lý nhà nước về xây dựng và thi hành pháp luật, Bộ Tư pháp đã và đang đóng góp, góp phần quan trọng trong kiến tạo nền tảng pháp lý vững chắc, phục vụ mục tiêu phát triển đất nước; đồng thời, đóng vai trò chủ đạo trong xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ pháp luật, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và thúc đẩy tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Những kết quả đạt được thể hiện qua các nội dung chính sau:
Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Ngày 01/01/2004, tỉnh Lai Châu chính thức được chia tách thành tỉnh Điện Biên và Lai Châu. Đây cũng là thời điểm Sở Tư pháp tỉnh Lai Châu (mới) được thành lập và đi vào hoạt động. Trải qua hơn 21 năm xây dựng và phát triển, ngành Tư pháp tỉnh Lai Châu đã vượt qua khó khăn, thử thách, ngày càng lớn mạnh và khẳng định được vai trò, vị thế của mình.
Công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế - Những khó khăn, vướng mắc và kiến nghị hoàn thiện thể chế từ góc nhìn của luật sư

Công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế - Những khó khăn, vướng mắc và kiến nghị hoàn thiện thể chế từ góc nhìn của luật sư

Trợ giúp pháp lý (TGPL) là một trong những chính sách xã hội có ý nghĩa nhân văn sâu sắc của Đảng và Nhà nước ta trong việc bảo đảm quyền được tiếp cận công lý bình đẳng của mọi tầng lớp Nhân dân, đặc biệt là nhóm những người yếu thế trong xã hội. Thông qua các hoạt động TGPL, người yếu thế trong xã hội được cung cấp, sử dụng dịch vụ pháp lý miễn phí khi có tranh chấp, góp phần nâng cao ý thức pháp luật và phòng ngừa vi phạm pháp luật. Trong hoạt động TGPL, đội ngũ luật sư đóng vai trò then chốt, là lực lượng trực tiếp thực hiện việc tư vấn, đại diện và bào chữa cho các đối tượng yếu thế. Tuy nhiên, thực tế cho thấy công tác TGPL còn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc, cả về cơ chế, nguồn lực và phương thức triển khai.

Theo dõi chúng tôi trên: