Thứ tư 26/08/2026 20:02
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Bộ luật Lao động năm 2019 và sự ảnh hưởng đến giải quyết tranh chấp lao động tại Tòa án nhân dân

Tranh chấp lao động xuất phát từ nhiều nguyên nhân, nguyên nhân chủ quan do người lao động, người sử dụng lao động không nắm rõ quy định pháp luật hoặc biết mà cố tình không làm, nguyên nhân khách quan do kinh tế, xã hội, môi trường làm việc hay do chính sách pháp luật có sự thay đổi. Bộ luật Lao động năm 2019 được ban hành với nhiều nội dung sửa đổi, bổ sung, trong đó có quy định về tranh chấp lao động và giải quyết tranh chấp lao động. Các quy định mới về vấn đề này không chỉ góp phần điều chỉnh hiệu quả, thực chất quan hệ lao động, mà còn có những tác động, ảnh hưởng đến thủ tục giải quyết tranh chấp lao động. Trong bài viết này, tác giả trình bày phân tích, bình luận sự ảnh hưởng của những quy định mới trong Bộ luật Lao động năm 2019 đối với phương thức giải quyết tranh chấp lao động tại Tòa án nhân dân.


1. Khái niệm tranh chấp lao động

Tranh chấp lao động là hiện tượng phổ biến của thị trường lao động, các quy định về vấn đề này đã được ghi nhận từ rất sớm trong các văn bản pháp luật lao động. Trải qua các lần sửa đổi, bổ sung Bộ luật Lao động, đây là nội dung luôn được điều chỉnh, bổ sung ở các mức độ khác nhau. Bộ luật Lao động năm 2019 dành toàn bộ chương XIV để quy định về giải quyết tranh chấp lao động, từ Điều 179 đến Điều 151 với số lượng 19 điều. Các quy định sửa đổi, bổ sung của Bộ luật Lao động năm 2019 về giải quyết tranh chấp lao động không chỉ tác động đến luật nội dung, mà còn ảnh hưởng đến thủ tục tố tụng giải quyết tranh chấp lao động tại Tòa án nhân dân.

Khoản 1 Điều 179 Bộ luật Lao động năm 2019 quy định: “Tranh chấp lao động là tranh chấp về quyền và nghĩa vụ, lợi ích phát sinh giữa các bên trong quá trình xác lập, thực hiện hoặc chấm dứt quan hệ lao động; tranh chấp giữa các tổ chức đại diện người lao động (NLĐ) với nhau; tranh chấp phát sinh từ quan hệ có liên quan trực tiếp đến quan hệ lao động...”. Đây là khái niệm mới so với quy định của Bộ luật Lao động năm 2012 về tranh chấp lao động: “Tranh chấp lao động là tranh chấp về quyền, nghĩa vụ và lợi ích phát sinh giữa các bên trong quan hệ lao động”[1]. Như vậy, nếu như tranh chấp lao động theo quy định của Bộ luật Lao động năm 2012 là những tranh chấp giữa các bên trong quan hệ lao động, tức là giữa NLĐ và người sử dụng lao động (NSDLĐ) trong quá trình thực hiện, chấm dứt quan hệ lao động thì Bộ luật Lao động năm 2019 đã bổ sung thêm tranh chấp lao động trong giai đoạn xác lập quan hệ lao động. Điều này hoàn toàn phù hợp và tương thích với các quy định của Bộ luật Dân sự và Bộ luật Tố tụng dân sự. Nếu như trước khi có Bộ luật Lao động năm 2019, Tòa án nhân dân không thụ lý các vụ tranh chấp trong giai đoạn giao kết quan hệ lao động, thì từ ngày 01/01/2021, tranh chấp trong quá trình giao kết quan hệ lao động thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân. Tuy nhiên, từ đây cũng nảy sinh vấn đề giải quyết hậu quả pháp lý khi có tranh chấp về giao kết quan hệ lao động (ví dụ, vấn đề đưa ra đề nghị và chấp nhận đề nghị hoặc bội ước trong xác lập hợp đồng lao động) thì có áp dụng tương tự như tranh chấp trong giao kết hợp đồng dân sự không hay cần có cách xử lý đặc thù của quan hệ lao động? Có lẽ cũng cần phải có án lệ của Tòa án nhân dân về vấn đề này. Ngoài ra, theo Điều 179 Bộ luật Lao động năm 2019, thì tranh chấp lao động còn bao gồm: Tranh chấp giữa các tổ chức đại diện NLĐ với nhau; tranh chấp phát sinh từ quan hệ có liên quan trực tiếp đến quan hệ lao động. Trong đó, có thể khẳng định tranh chấp giữa các tổ chức đại diện NLĐ với nhau là vấn đề hoàn toàn mới. Từ đây, cũng nảy sinh vấn đề về chủ thể có thẩm quyền khởi kiện trong những vụ tranh chấp này, bởi chủ thể đại diện lao động theo quy định của Bộ luật Lao động năm 2019 bao gồm công đoàn cơ sở và tổ chức của NLĐ tại doanh nghiệp[2]. Tuy nhiên, hiện nay, các văn bản hướng dẫn về việc thành lập, tổ chức, hoạt động... của tổ chức NLĐ tại doanh nghiệp chưa được hướng dẫn cụ thể, nên hiện vẫn chỉ có tổ chức công đoàn cơ sở là tổ chức đại diện cho NLĐ mà chưa xuất hiện các tổ chức đại diện khác của NLĐ. Vì vậy, cần có những quy định cụ thể nhằm xác định chủ thể có thẩm quyền khởi kiện đại diện cho tập thể lao động, đặc biệt là trong các tranh chấp lao động tập thể.

Bộ luật Lao động năm 2019 cũng đưa ra các khái niệm xác định cụ thể hơn về nội dung của tranh chấp lao động tập thể so với Bộ luật Lao động năm 2012. Theo đó, tranh chấp lao động tập thể về quyền được hiểu là tranh chấp giữa một hay nhiều tổ chức đại diện NLĐ với NSDLĐ hoặc một hay nhiều tổ chức của NSDLĐ phát sinh trong trường hợp sau đây[3]: (i) Có sự khác nhau trong việc hiểu và thực hiện quy định của thỏa ước lao động tập thể, nội quy lao động, quy chế và thỏa thuận hợp pháp khác; (ii) Có sự khác nhau trong việc hiểu và thực hiện quy định của pháp luật về lao động; (iii) Khi NSDLĐ có hành vi phân biệt đối xử đối với NLĐ, thành viên ban lãnh đạo của tổ chức đại diện NLĐ vì lý do thành lập, gia nhập, hoạt động trong tổ chức đại diện NLĐ; can thiệp, thao túng tổ chức đại diện NLĐ; vi phạm nghĩa vụ về thương lượng thiện chí. Còn tranh chấp lao động tập thể về lợi ích bao gồm[4]: (i) Tranh chấp lao động phát sinh trong quá trình thương lượng tập thể; (ii) Khi một bên từ chối thương lượng hoặc không tiến hành thương lượng trong thời hạn theo quy định của pháp luật. Với các sửa đổi cụ thể nói trên về tranh chấp lao động tập thể sẽ giúp Tòa án nhân dân dễ dàng hơn trong việc xác định nội dung, loại việc kiện tụng về tranh chấp lao động tập thể. Đây cũng là cơ sở để khắc phục tình trạng các vụ án do Tòa án nhân dân giải quyết chỉ là các vụ án lao động cá nhân mà chưa có vụ án lao động nào về tranh chấp lao động tập thể và đình công[5]. Trong khi các tranh chấp lao động tập thể, đình công ở nước ta trong thời gian qua không phải là cá biệt và cũng không phải không có những yêu cầu khởi kiện về tranh chấp lao động tập thể, đình công được đưa đến Tòa án nhân dân nhưng do những lý do khác nhau, trong đó có những vướng mắc từ quy định của pháp luật nội dung và tố tụng dẫn đến khó khăn khi thụ lý và giải quyết vụ án tranh chấp lao động tập thể và đình công.

2. Cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền giải quyết tranh chấp lao động

Theo quy định tại Điều 187 và Điều 191 Bộ luật Lao động năm 2019 thì cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền giải quyết tranh chấp lao động bao gồm: (i) Hòa giải viên lao động; (ii) Hội đồng trọng tài lao động; (iii) Tòa án nhân dân. Về chủ thể có thẩm quyền giải quyết tranh chấp lao động hầu như không có sự thay đổi so với Bộ luật Lao động năm 2012 (bớt đi một chủ thể là chủ tịch Ủy ban nhân cấp quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh). Tuy nhiên, sự thay đổi đáng kể về chủ thể giải quyết tranh chấp lao động có tác động ảnh hưởng đến việc giải quyết tranh chấp lao động tại Tòa án nhân dân là về thẩm quyền của hội đồng trọng tài lao động. So với Bộ luật Lao động năm 2012 thì Bộ luật Lao động năm 2019 đã bổ sung thêm hội đồng trọng tài lao động cũng có thẩm quyền giải quyết tranh chấp lao động cá nhân. Quy định mới này được đánh giá là làm cho cơ chế giải quyết tranh chấp lao động được linh hoạt hơn, hoàn thiện hơn khi mở rộng quyền lựa chọn cơ chế giải quyết tranh chấp[6]. Theo quy định tại Điều 188, Điều 189 Bộ luật Lao động năm 2019, thì sau khi hòa giải viên lao động hòa giải không thành hoặc một trong hai bên không thực hiện các hòa giải thành hoặc hết 05 ngày làm việc mà hòa giải viên lao động không tiến hành hòa giải, thì mỗi bên tranh chấp có quyền yêu cầu hội đồng trọng tài lao động hoặc Tòa án nhân dân giải quyết. Việc yêu cầu hội đồng trọng tài lao động giải quyết phải đạt được sự đồng thuận của hai bên tranh chấp (khoản 1 Điều 189). Khi yêu cầu trọng tài giải quyết các bên không được yêu cầu Tòa án nhân dân giải quyết. Ban trọng tài được thành lập để giải quyết tranh chấp lao động trong vòng 07 ngày làm việc kể từ ngày nhận được yêu cầu (khoản 2 Điều 189). Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày ban trọng tài lao động được thành lập, ban trọng tài lao động phải ra quyết định về việc giải quyết tranh chấp và gửi cho các bên tranh chấp (khoản 3 Điều 189). Trường hợp hết thời hạn quy định (07 ngày) mà ban trọng tài lao động không được thành lập hoặc hết thời hạn quy định (30 ngày) mà ban trọng tài lao động không ra quyết định giải quyết tranh chấp hoặc trường hợp một trong các bên không thi hành quyết định giải quyết tranh chấp của ban trọng tài lao động thì các bên có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết[7].

Đối với giải quyết tranh chấp lao động tập thể về quyền thì tương tự tranh chấp lao động cá nhân, hệ thống cơ quan, tổ chức, cá nhân giải quyết tranh chấp lao động tập thể về quyền cũng bổ sung hội đồng trọng tài lao động (thay thế chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện và tương đương)[8]. Trình tự, thủ tục, thẩm quyền giải quyết tranh chấp lao động tập thể về quyền của hội đồng trọng tài lao động được quy định tương tự như giải quyết tranh chấp lao động cá nhân nói trên. Như vậy, cơ chế giải quyết tranh chấp lao động trong Bộ luật Lao động năm 2019 là sự kết hợp hai loại thủ tục tố tụng: Tố tụng ngoài Tòa án (hòa giải viên lao động, hội đồng trọng tài lao động) và thủ tục tố tụng dân sự tại Tòa án. Trong đó, hòa giải là nơi bắt đầu thủ tục tố tụng, còn Tòa án là nơi kết thúc việc giải quyết tranh chấp và phán quyết của Tòa án là quyết định duy nhất có tính cưỡng chế thi hành.

3. Thẩm quyền giải quyết tranh chấp lao động của Tòa án nhân dân theo Bộ luật Lao động năm 2019

Quy định liên quan đến thẩm quyền giải quyết tranh chấp lao động của Tòa án nhân dân được ghi nhận tại Điều 32 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Tuy nhiên, do có những thay đổi về khái niệm tranh chấp lao động, về chủ thể có thẩm quyền, trình tự, thủ tục giải quyết tranh chấp lao động nên Điều 32 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thiếu sự tương thích. Theo đó, Điều 32 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 đã được Bộ luật Lao động năm 2019 chỉnh sửa, bổ sung như sau[9]:

- Sửa tên “Điều 32. Những tranh chấp về lao động thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án” thành “Điều 32. Những tranh chấp về lao động và tranh chấp liên quan đến lao động thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án”;

- Sửa đổi, bổ sung nội dung Điều 32 của Bộ luật Tố tụng dân sự theo hướng làm rõ các loại tranh chấp, chủ thể có thẩm quyền, thủ tục… liên quan đến khởi kiện, thụ lý vụ án như sau:

“1. Tranh chấp lao động cá nhân giữa NLĐ với NSDLĐ phải thông qua thủ tục hòa giải của hòa giải viên lao động mà hòa giải thành nhưng các bên không thực hiện hoặc thực hiện không đúng, hòa giải không thành hoặc hết thời hạn hòa giải theo quy định của pháp luật về lao động mà hòa giải viên lao động không tiến hành hòa giải, trừ các tranh chấp lao động sau đây không bắt buộc phải qua thủ tục hòa giải: (a) Về xử lý kỷ luật lao động theo hình thức sa thải hoặc về trường hợp bị đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động; (b) Về bồi thường thiệt hại, trợ cấp khi chấm dứt hợp đồng lao động; (c) Giữa người giúp việc gia đình với NSDLĐ; (d) Về bảo hiểm xã hội theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội, về bảo hiểm y tế theo quy định của pháp luật về bảo hiểm y tế, về bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của pháp luật về việc làm, về bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp theo quy định của pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động; (đ) Về bồi thường thiệt hại giữa NLĐ với doanh nghiệp, tổ chức đưa NLĐ đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng; (e) Giữa NLĐ thuê lại với NSDLĐ thuê lại.

1a. Tranh chấp lao động cá nhân mà hai bên thỏa thuận lựa chọn hội đồng trọng tài lao động giải quyết nhưng hết thời hạn theo quy định của pháp luật về lao động mà ban trọng tài lao động không được thành lập, Ban trọng tài lao động không ra quyết định giải quyết tranh chấp hoặc một trong các bên không thi hành quyết định của ban trọng tài lao động thì có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết.

1b. Tranh chấp lao động tập thể về quyền theo quy định của pháp luật về lao động đã qua thủ tục hòa giải của hòa giải viên lao động mà hòa giải không thành, hết thời hạn hòa giải theo quy định của pháp luật về lao động mà hòa giải viên lao động không tiến hành hòa giải hoặc một trong các bên không thực hiện biên bản hòa giải thành thì có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết.

1c. Tranh chấp lao động tập thể về quyền mà hai bên thỏa thuận lựa chọn Hội đồng trọng tài lao động giải quyết nhưng hết thời hạn theo quy định của pháp luật về lao động mà Ban trọng tài lao động không được thành lập, Ban trọng tài lao động không ra quyết định giải quyết tranh chấp hoặc một trong các bên không thi hành quyết định của Ban trọng tài lao động thì có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết”.

Với những sửa đổi, bổ sung trên đây của Bộ luật Lao động năm 2019 liên quan đến Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, thì khi xem xét điều kiện thụ lý vụ án lao động, Tòa án nhân dân cần nghiên cứu thủ tục hòa giải, trọng tài về chủ thể giải quyết, trình tự, thủ tục hòa giải, trọng tài cùng các yếu tố khác để đánh giá xem có đủ điều kiện thụ lý vụ án lao động hay không.

ThS. Nguyễn Năng Quang
Đại học Công nghệ Miền Đông



[1]. Khoản 7 Điều 3 Bộ luật Lao động năm 2012.

[2]. Khoản 3 Điều 3 Bộ luật Lao động năm 2019.

[3]. Khoản 2 Điều 179 Bộ luật Lao động năm 2019.

[4]. Khoản 3 Điều 179 Bộ luật Lao động năm 2019.

[5]. Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, theo Báo cáo số 50/BC-LĐTBXH ngày 07/5/2019 về Tổng kết thi hành Bộ luật Lao động năm 2012, thì: Tổng số 2.406 vụ án lao động được giải quyết tại Tòa án nhân dân nhưng là các vụ án lao động cá nhân mà chưa có vụ án lao động nào về tranh chấp lao động tập thể và đình công, tr. 53.

[6]. Bộ Tư pháp, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, Triển khai thi hành Bộ luật Lao động năm 2019, Nxb. Tư pháp, năm 2020, tr.154.

[7]. Khoản 4, khoản 5 Điều 189 Bộ luật Lao động năm 2019.

[8]. Xem khoản 1 Điều 191 Bộ luật Lao động năm 2019.

[9]. Xem khoản 2 Điều 219 Bộ luật Lao động năm 2019.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Trong bối cảnh tai nạn lao động vẫn diễn biến phức tạp, chuyển đổi số đang mở ra khả năng thay đổi căn bản phương thức quản trị an toàn, vệ sinh lao động (ATVSLĐ) tại doanh nghiệp. Từ số hóa hoạt động huấn luyện, cấp chứng nhận điện tử đến ứng dụng trí tuệ nhân tạo, cảm biến và robot để nhận diện, cảnh báo sớm nguy cơ, vấn đề đặt ra hiện nay là cần tiếp tục hoàn thiện hành lang pháp lý để chuyển từ quản lý mang tính thủ tục, hậu kiểm sang quản trị chủ động, lấy phòng ngừa rủi ro làm trọng tâm.
Đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

Đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

Với mục tiêu đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, thành phố Hà Nội đặt trọng tâm vào đổi mới nội dung, hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật, tăng cường ứng dụng công nghệ số và xây dựng đội ngũ làm công tác phổ biến, giáo dục pháp luật am hiểu địa bàn, phong tục, tập quán và văn hóa của người dân nơi đây.
Quan điểm, định hướng mới của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai

Quan điểm, định hướng mới của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai

Ngày 16/6/2022, Ban chấp hành trung ương Đảng khóa XIII ban hành Nghị quyết số 18-NQ/TW về "Tiếp tục đổi mới, hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý và sử dụng đất, tạo động lực đưa nước ta trở thành nước phát triển có thu nhập cao" (Nghị quyết số 18-NQ/TW). Để hiện thực hóa mục tiêu đưa đất nước trở thành nước phát triển có thu nhập cao, trong thời điểm hiện tại, nhằm phù hợp với sự phát triển chung của đất nước, Hội nghị lần thứ ba, Ban chấp hành trung ương Đảng khóa XIV đã đưa ra những quan điểm, định hướng sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan tại Nghị quyết số 21-NQ/TW ngày 28/7/2026 (Nghị quyết số 21-NQ/TW) làm kim chỉ nam cho mọi hoạt động sửa đổi chính sách pháp luật sau này. Nghị quyết số 21-NQ/TW đã thể hiện những điểm mới trong chủ trương của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan.
Luật Thủ đô năm 2026: Mở rộng cơ hội đầu tư cho nhiều dự án

Luật Thủ đô năm 2026: Mở rộng cơ hội đầu tư cho nhiều dự án

Luật Thủ đô năm 2026 được Quốc hội thông qua ngày 23/4/2026 và có hiệu lực từ ngày 01/7/2026, tiếp tục hoàn thiện các cơ chế, chính sách đặc thù nhằm xây dựng và phát triển Thủ đô. Đáng chú ý, tại Điều 26 của Luật đã thiết lập khung chính sách tương đối toàn diện về thu hút đầu tư, ưu đãi, hỗ trợ đầu tư và phát triển doanh nghiệp, mở rộng cơ hội cho nhiều dự án trên địa bàn Thành phố được tiếp cận các chính sách ưu đãi về đất đai, thuế, tín dụng, hạ tầng, phát triển nhân lực và đổi mới sáng tạo.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Tóm tắt: Trong bối cảnh hệ thống pháp luật ngày càng phức tạp và thường xuyên thay đổi, việc tiếp cận, hiểu và sử dụng pháp luật trở thành thách thức đối với người dân. Mô hình phổ biến, giáo dục pháp luật hiện nay chủ yếu tập trung vào truyền đạt văn bản, chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu hỗ trợ người dân sử dụng pháp luật trong thực tiễn. Trên cơ sở phân tích xu hướng quốc tế về tiếp cận công lý lấy người dân làm trung tâm và ứng dụng công nghệ số, nghiên cứu đề xuất chuyển từ mô hình “phổ biến pháp luật” sang “hạ tầng tuân thủ phòng ngừa”, gắn phổ biến pháp luật với nhu cầu thực tiễn, cảnh báo sớm rủi ro pháp lý và hỗ trợ tra cứu, sử dụng pháp luật hiệu quả trong môi trường số.
Nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng cho người gửi tiền ở Việt Nam

Nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng cho người gửi tiền ở Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh ngân hàng số phát triển, thông tin chưa được kiểm chứng có thể tác động nhanh đến tâm lý và hành vi của người gửi tiền. Nghiên cứu phân tích quy định pháp luật và thực tiễn phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cho thấy, hoạt động này chưa chú trọng đầy đủ đến mức độ hiểu và khả năng vận dụng pháp luật của người gửi tiền; nội dung còn thiên về tính chuyên môn; phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật và cơ chế cung cấp thông tin kịp thời còn hạn chế. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá, tích hợp thông tin pháp luật ngắn gọn vào dịch vụ ngân hàng số và tăng cường cung cấp thông tin chính thức, kịp thời nhằm bảo vệ người gửi tiền và củng cố niềm tin vào hệ thống ngân hàng.
Phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Tóm tắt: Quyền con người phản ánh sự kết tinh những giá trị nhân phẩm cao quý của nhân loại. Nghiên cứu công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người là phân tích, đánh giá phương thức thể chế hóa các chủ trương của Đảng về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đồng thời, đề xuất giải pháp khắc phục những hạn chế của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 trước thách thức mới từ công nghệ số. Trên cơ sở tổng hợp và so sánh luật học, nghiên cứu phân tích, đánh giá vai trò của công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người và thực trạng thi hành Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012. Đồng thời, nghiên cứu đánh giá tính phù hợp, khả thi của dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)* (dự thảo Luật). Từ đó, kiến nghị và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Luật Phòng, chống ma túy năm 2021 quy định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi nghiện ma túy mà không tự nguyện cai nghiện. Mặc dù không được xem là biện pháp xử lý hành chính nhưng biện pháp này mang tính cách ly người bị áp dụng khỏi cộng đồng. Để bảo vệ quyền của người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi, pháp luật cho phép các chủ thể liên quan khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành chưa quy định quyền khởi kiện hay kháng cáo đối với quyết định này. Nghiên cứu phân tích bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi, đồng thời, đề xuất giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật nhằm bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người bị áp dụng biện pháp này.
Nâng cao trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Nâng cao trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã xác định rõ trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật. Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, cải cách tư pháp và chuyển đổi số quốc gia, vai trò này ngày càng trở nên quan trọng. Nghiên cứu phân tích cơ sở chính trị, pháp lý, thực trạng quy định pháp luật và thực tiễn triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật của Tòa án nhân dân; trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện hoạt động này trong hệ thống Tòa án nhân dân.
Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Sự phát triển của nền tảng số, mạng xã hội và trí tuệ nhân tạo tạo sinh đang làm thay đổi phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật, đồng thời, đặt ra nhiều thách thức trong kiểm soát thông tin pháp luật trên môi trường số. Bên cạnh việc mở rộng khả năng tiếp cận pháp luật của người dân, tình trạng lan truyền thông tin pháp luật sai lệch, thiếu kiểm chứng hoặc được tạo sinh bởi hệ thống trí tuệ nhân tạo đang ảnh hưởng đến hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật và quyền tiếp cận thông tin pháp luật chính xác. Trên cơ sở phân tích các vấn đề lý luận, đánh giá thực trạng quy định và thực tiễn áp dụng pháp luật tại Việt Nam, nghiên cứu phân tích bất cập trong kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số và đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả quản lý và bảo đảm chính xác của thông tin pháp luật trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật.
Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 7/2026

Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 7/2026

(Cập nhật bởi LuatVietnam.vn)
Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam[1]

Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam[1]

Tóm tắt: Mô hình chính quyền địa phương hai cấp được triển khai ở Việt Nam từ ngày 01/7/2025 đánh dấu bước chuyển quan trọng trong quá trình đổi mới tổ chức bộ máy nhà nước theo hướng tinh, gọn, tăng cường phân quyền, phân cấp và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị địa phương. Nghiên cứu phân tích các cơ hội và thách thức trong quá trình triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam, làm rõ những vấn đề đặt ra trong hoàn thiện thể chế, bảo đảm nguồn lực và nâng cao năng lực quản trị địa phương, từ đó, đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam thời gian tới.
Một số bất cập của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 và kiến nghị hoàn thiện

Một số bất cập của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Sau hơn 13 năm thi hành, Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng trong triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, góp phần nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ và Nhân dân. Tuy nhiên, trước yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, chuyển đổi số và hoàn thiện thể chế theo chủ trương, định hướng của Đảng, nhiều quy định của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 bộc lộ những hạn chế, bất cập. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, tổng kết thực tiễn thi hành và bối cảnh phát triển đất nước giai đoạn mới, nghiên cứu làm rõ những bất cập về tổ chức thực hiện công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên pháp luật, đối tượng đặc thù, nội dung, hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật và sự không thống nhất của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 với một số luật liên quan. Từ đó, kiến nghị sửa đổi, bổ sung nhằm hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật và nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong bối cảnh hiện nay.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật - Yêu cầu chuyển từ phổ biến, giáo dục pháp luật hình thức sang tiếp cận dựa trên nhu cầu của người dân

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật - Yêu cầu chuyển từ phổ biến, giáo dục pháp luật hình thức sang tiếp cận dựa trên nhu cầu của người dân

Tóm tắt: Việc sửa đổi Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 là cấp thiết trước yêu cầu khắc phục tình trạng tuyên truyền thiên về hình thức, chưa gắn chặt với những vấn đề pháp lý mà người dân thực sự cần được hỗ trợ. Nghiên cứu phân tích khoảng cách giữa nguyên tắc phù hợp với nhu cầu và cơ chế nhận diện, phản ánh, đáp ứng, đo lường nhu cầu pháp lý trong dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật[1] (dự thảo Luật). Trên cơ sở phân tích quy phạm, bình luận chính sách và tiếp cận liên ngành về nhu cầu pháp lý, năng lực pháp lý, tiếp cận công lý, nghiên cứu tập trung vào các quy định về nguyên tắc, nội dung, hình thức, hướng dẫn và giải đáp pháp luật, đối tượng đặc thù, giáo dục pháp luật trong cơ sở giáo dục, trách nhiệm tổ chức thực hiện, cơ chế cấp xã, chuyển đổi số và đánh giá hiệu quả. Kết quả nghiên cứu cho thấy, dự thảo Luật đã có nhiều định hướng tích cực nhưng thiếu cơ chế khảo sát nhu cầu, thiết kế nội dung theo tình huống, chuyển tuyến hỗ trợ pháp lý và đánh giá khả năng hiểu, vận dụng pháp luật. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện các cơ chế bảo đảm cách tiếp cận lấy nhu cầu pháp lý của người dân làm trung tâm.
Chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên ở Việt Nam

Chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên ở Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển nhanh, mạnh mẽ của không gian mạng đang tác động sâu sắc đến đời sống xã hội, đồng thời, đặt ra nhiều rủi ro đối với người chưa thành niên. Trong bối cảnh đó, chuyển đổi số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật trở thành yêu cầu cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả tiếp cận pháp luật cho nhóm đối tượng này. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết của chuyển đổi số trong phổ biến, giáo dục pháp luật đối với người chưa thành niên; đánh giá thực trạng triển khai tại Việt Nam, chỉ ra những hạn chế, bất cập, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên.

Theo dõi chúng tôi trên: