Chủ nhật 15/03/2026 09:15
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Bộ luật Lao động năm 2019 và sự ảnh hưởng đến giải quyết tranh chấp lao động tại Tòa án nhân dân

Tranh chấp lao động xuất phát từ nhiều nguyên nhân, nguyên nhân chủ quan do người lao động, người sử dụng lao động không nắm rõ quy định pháp luật hoặc biết mà cố tình không làm, nguyên nhân khách quan do kinh tế, xã hội, môi trường làm việc hay do chính sách pháp luật có sự thay đổi. Bộ luật Lao động năm 2019 được ban hành với nhiều nội dung sửa đổi, bổ sung, trong đó có quy định về tranh chấp lao động và giải quyết tranh chấp lao động. Các quy định mới về vấn đề này không chỉ góp phần điều chỉnh hiệu quả, thực chất quan hệ lao động, mà còn có những tác động, ảnh hưởng đến thủ tục giải quyết tranh chấp lao động. Trong bài viết này, tác giả trình bày phân tích, bình luận sự ảnh hưởng của những quy định mới trong Bộ luật Lao động năm 2019 đối với phương thức giải quyết tranh chấp lao động tại Tòa án nhân dân.


1. Khái niệm tranh chấp lao động

Tranh chấp lao động là hiện tượng phổ biến của thị trường lao động, các quy định về vấn đề này đã được ghi nhận từ rất sớm trong các văn bản pháp luật lao động. Trải qua các lần sửa đổi, bổ sung Bộ luật Lao động, đây là nội dung luôn được điều chỉnh, bổ sung ở các mức độ khác nhau. Bộ luật Lao động năm 2019 dành toàn bộ chương XIV để quy định về giải quyết tranh chấp lao động, từ Điều 179 đến Điều 151 với số lượng 19 điều. Các quy định sửa đổi, bổ sung của Bộ luật Lao động năm 2019 về giải quyết tranh chấp lao động không chỉ tác động đến luật nội dung, mà còn ảnh hưởng đến thủ tục tố tụng giải quyết tranh chấp lao động tại Tòa án nhân dân.

Khoản 1 Điều 179 Bộ luật Lao động năm 2019 quy định: “Tranh chấp lao động là tranh chấp về quyền và nghĩa vụ, lợi ích phát sinh giữa các bên trong quá trình xác lập, thực hiện hoặc chấm dứt quan hệ lao động; tranh chấp giữa các tổ chức đại diện người lao động (NLĐ) với nhau; tranh chấp phát sinh từ quan hệ có liên quan trực tiếp đến quan hệ lao động...”. Đây là khái niệm mới so với quy định của Bộ luật Lao động năm 2012 về tranh chấp lao động: “Tranh chấp lao động là tranh chấp về quyền, nghĩa vụ và lợi ích phát sinh giữa các bên trong quan hệ lao động”[1]. Như vậy, nếu như tranh chấp lao động theo quy định của Bộ luật Lao động năm 2012 là những tranh chấp giữa các bên trong quan hệ lao động, tức là giữa NLĐ và người sử dụng lao động (NSDLĐ) trong quá trình thực hiện, chấm dứt quan hệ lao động thì Bộ luật Lao động năm 2019 đã bổ sung thêm tranh chấp lao động trong giai đoạn xác lập quan hệ lao động. Điều này hoàn toàn phù hợp và tương thích với các quy định của Bộ luật Dân sự và Bộ luật Tố tụng dân sự. Nếu như trước khi có Bộ luật Lao động năm 2019, Tòa án nhân dân không thụ lý các vụ tranh chấp trong giai đoạn giao kết quan hệ lao động, thì từ ngày 01/01/2021, tranh chấp trong quá trình giao kết quan hệ lao động thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân. Tuy nhiên, từ đây cũng nảy sinh vấn đề giải quyết hậu quả pháp lý khi có tranh chấp về giao kết quan hệ lao động (ví dụ, vấn đề đưa ra đề nghị và chấp nhận đề nghị hoặc bội ước trong xác lập hợp đồng lao động) thì có áp dụng tương tự như tranh chấp trong giao kết hợp đồng dân sự không hay cần có cách xử lý đặc thù của quan hệ lao động? Có lẽ cũng cần phải có án lệ của Tòa án nhân dân về vấn đề này. Ngoài ra, theo Điều 179 Bộ luật Lao động năm 2019, thì tranh chấp lao động còn bao gồm: Tranh chấp giữa các tổ chức đại diện NLĐ với nhau; tranh chấp phát sinh từ quan hệ có liên quan trực tiếp đến quan hệ lao động. Trong đó, có thể khẳng định tranh chấp giữa các tổ chức đại diện NLĐ với nhau là vấn đề hoàn toàn mới. Từ đây, cũng nảy sinh vấn đề về chủ thể có thẩm quyền khởi kiện trong những vụ tranh chấp này, bởi chủ thể đại diện lao động theo quy định của Bộ luật Lao động năm 2019 bao gồm công đoàn cơ sở và tổ chức của NLĐ tại doanh nghiệp[2]. Tuy nhiên, hiện nay, các văn bản hướng dẫn về việc thành lập, tổ chức, hoạt động... của tổ chức NLĐ tại doanh nghiệp chưa được hướng dẫn cụ thể, nên hiện vẫn chỉ có tổ chức công đoàn cơ sở là tổ chức đại diện cho NLĐ mà chưa xuất hiện các tổ chức đại diện khác của NLĐ. Vì vậy, cần có những quy định cụ thể nhằm xác định chủ thể có thẩm quyền khởi kiện đại diện cho tập thể lao động, đặc biệt là trong các tranh chấp lao động tập thể.

Bộ luật Lao động năm 2019 cũng đưa ra các khái niệm xác định cụ thể hơn về nội dung của tranh chấp lao động tập thể so với Bộ luật Lao động năm 2012. Theo đó, tranh chấp lao động tập thể về quyền được hiểu là tranh chấp giữa một hay nhiều tổ chức đại diện NLĐ với NSDLĐ hoặc một hay nhiều tổ chức của NSDLĐ phát sinh trong trường hợp sau đây[3]: (i) Có sự khác nhau trong việc hiểu và thực hiện quy định của thỏa ước lao động tập thể, nội quy lao động, quy chế và thỏa thuận hợp pháp khác; (ii) Có sự khác nhau trong việc hiểu và thực hiện quy định của pháp luật về lao động; (iii) Khi NSDLĐ có hành vi phân biệt đối xử đối với NLĐ, thành viên ban lãnh đạo của tổ chức đại diện NLĐ vì lý do thành lập, gia nhập, hoạt động trong tổ chức đại diện NLĐ; can thiệp, thao túng tổ chức đại diện NLĐ; vi phạm nghĩa vụ về thương lượng thiện chí. Còn tranh chấp lao động tập thể về lợi ích bao gồm[4]: (i) Tranh chấp lao động phát sinh trong quá trình thương lượng tập thể; (ii) Khi một bên từ chối thương lượng hoặc không tiến hành thương lượng trong thời hạn theo quy định của pháp luật. Với các sửa đổi cụ thể nói trên về tranh chấp lao động tập thể sẽ giúp Tòa án nhân dân dễ dàng hơn trong việc xác định nội dung, loại việc kiện tụng về tranh chấp lao động tập thể. Đây cũng là cơ sở để khắc phục tình trạng các vụ án do Tòa án nhân dân giải quyết chỉ là các vụ án lao động cá nhân mà chưa có vụ án lao động nào về tranh chấp lao động tập thể và đình công[5]. Trong khi các tranh chấp lao động tập thể, đình công ở nước ta trong thời gian qua không phải là cá biệt và cũng không phải không có những yêu cầu khởi kiện về tranh chấp lao động tập thể, đình công được đưa đến Tòa án nhân dân nhưng do những lý do khác nhau, trong đó có những vướng mắc từ quy định của pháp luật nội dung và tố tụng dẫn đến khó khăn khi thụ lý và giải quyết vụ án tranh chấp lao động tập thể và đình công.

2. Cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền giải quyết tranh chấp lao động

Theo quy định tại Điều 187 và Điều 191 Bộ luật Lao động năm 2019 thì cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền giải quyết tranh chấp lao động bao gồm: (i) Hòa giải viên lao động; (ii) Hội đồng trọng tài lao động; (iii) Tòa án nhân dân. Về chủ thể có thẩm quyền giải quyết tranh chấp lao động hầu như không có sự thay đổi so với Bộ luật Lao động năm 2012 (bớt đi một chủ thể là chủ tịch Ủy ban nhân cấp quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh). Tuy nhiên, sự thay đổi đáng kể về chủ thể giải quyết tranh chấp lao động có tác động ảnh hưởng đến việc giải quyết tranh chấp lao động tại Tòa án nhân dân là về thẩm quyền của hội đồng trọng tài lao động. So với Bộ luật Lao động năm 2012 thì Bộ luật Lao động năm 2019 đã bổ sung thêm hội đồng trọng tài lao động cũng có thẩm quyền giải quyết tranh chấp lao động cá nhân. Quy định mới này được đánh giá là làm cho cơ chế giải quyết tranh chấp lao động được linh hoạt hơn, hoàn thiện hơn khi mở rộng quyền lựa chọn cơ chế giải quyết tranh chấp[6]. Theo quy định tại Điều 188, Điều 189 Bộ luật Lao động năm 2019, thì sau khi hòa giải viên lao động hòa giải không thành hoặc một trong hai bên không thực hiện các hòa giải thành hoặc hết 05 ngày làm việc mà hòa giải viên lao động không tiến hành hòa giải, thì mỗi bên tranh chấp có quyền yêu cầu hội đồng trọng tài lao động hoặc Tòa án nhân dân giải quyết. Việc yêu cầu hội đồng trọng tài lao động giải quyết phải đạt được sự đồng thuận của hai bên tranh chấp (khoản 1 Điều 189). Khi yêu cầu trọng tài giải quyết các bên không được yêu cầu Tòa án nhân dân giải quyết. Ban trọng tài được thành lập để giải quyết tranh chấp lao động trong vòng 07 ngày làm việc kể từ ngày nhận được yêu cầu (khoản 2 Điều 189). Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày ban trọng tài lao động được thành lập, ban trọng tài lao động phải ra quyết định về việc giải quyết tranh chấp và gửi cho các bên tranh chấp (khoản 3 Điều 189). Trường hợp hết thời hạn quy định (07 ngày) mà ban trọng tài lao động không được thành lập hoặc hết thời hạn quy định (30 ngày) mà ban trọng tài lao động không ra quyết định giải quyết tranh chấp hoặc trường hợp một trong các bên không thi hành quyết định giải quyết tranh chấp của ban trọng tài lao động thì các bên có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết[7].

Đối với giải quyết tranh chấp lao động tập thể về quyền thì tương tự tranh chấp lao động cá nhân, hệ thống cơ quan, tổ chức, cá nhân giải quyết tranh chấp lao động tập thể về quyền cũng bổ sung hội đồng trọng tài lao động (thay thế chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện và tương đương)[8]. Trình tự, thủ tục, thẩm quyền giải quyết tranh chấp lao động tập thể về quyền của hội đồng trọng tài lao động được quy định tương tự như giải quyết tranh chấp lao động cá nhân nói trên. Như vậy, cơ chế giải quyết tranh chấp lao động trong Bộ luật Lao động năm 2019 là sự kết hợp hai loại thủ tục tố tụng: Tố tụng ngoài Tòa án (hòa giải viên lao động, hội đồng trọng tài lao động) và thủ tục tố tụng dân sự tại Tòa án. Trong đó, hòa giải là nơi bắt đầu thủ tục tố tụng, còn Tòa án là nơi kết thúc việc giải quyết tranh chấp và phán quyết của Tòa án là quyết định duy nhất có tính cưỡng chế thi hành.

3. Thẩm quyền giải quyết tranh chấp lao động của Tòa án nhân dân theo Bộ luật Lao động năm 2019

Quy định liên quan đến thẩm quyền giải quyết tranh chấp lao động của Tòa án nhân dân được ghi nhận tại Điều 32 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Tuy nhiên, do có những thay đổi về khái niệm tranh chấp lao động, về chủ thể có thẩm quyền, trình tự, thủ tục giải quyết tranh chấp lao động nên Điều 32 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thiếu sự tương thích. Theo đó, Điều 32 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 đã được Bộ luật Lao động năm 2019 chỉnh sửa, bổ sung như sau[9]:

- Sửa tên “Điều 32. Những tranh chấp về lao động thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án” thành “Điều 32. Những tranh chấp về lao động và tranh chấp liên quan đến lao động thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án”;

- Sửa đổi, bổ sung nội dung Điều 32 của Bộ luật Tố tụng dân sự theo hướng làm rõ các loại tranh chấp, chủ thể có thẩm quyền, thủ tục… liên quan đến khởi kiện, thụ lý vụ án như sau:

“1. Tranh chấp lao động cá nhân giữa NLĐ với NSDLĐ phải thông qua thủ tục hòa giải của hòa giải viên lao động mà hòa giải thành nhưng các bên không thực hiện hoặc thực hiện không đúng, hòa giải không thành hoặc hết thời hạn hòa giải theo quy định của pháp luật về lao động mà hòa giải viên lao động không tiến hành hòa giải, trừ các tranh chấp lao động sau đây không bắt buộc phải qua thủ tục hòa giải: (a) Về xử lý kỷ luật lao động theo hình thức sa thải hoặc về trường hợp bị đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động; (b) Về bồi thường thiệt hại, trợ cấp khi chấm dứt hợp đồng lao động; (c) Giữa người giúp việc gia đình với NSDLĐ; (d) Về bảo hiểm xã hội theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội, về bảo hiểm y tế theo quy định của pháp luật về bảo hiểm y tế, về bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của pháp luật về việc làm, về bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp theo quy định của pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động; (đ) Về bồi thường thiệt hại giữa NLĐ với doanh nghiệp, tổ chức đưa NLĐ đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng; (e) Giữa NLĐ thuê lại với NSDLĐ thuê lại.

1a. Tranh chấp lao động cá nhân mà hai bên thỏa thuận lựa chọn hội đồng trọng tài lao động giải quyết nhưng hết thời hạn theo quy định của pháp luật về lao động mà ban trọng tài lao động không được thành lập, Ban trọng tài lao động không ra quyết định giải quyết tranh chấp hoặc một trong các bên không thi hành quyết định của ban trọng tài lao động thì có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết.

1b. Tranh chấp lao động tập thể về quyền theo quy định của pháp luật về lao động đã qua thủ tục hòa giải của hòa giải viên lao động mà hòa giải không thành, hết thời hạn hòa giải theo quy định của pháp luật về lao động mà hòa giải viên lao động không tiến hành hòa giải hoặc một trong các bên không thực hiện biên bản hòa giải thành thì có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết.

1c. Tranh chấp lao động tập thể về quyền mà hai bên thỏa thuận lựa chọn Hội đồng trọng tài lao động giải quyết nhưng hết thời hạn theo quy định của pháp luật về lao động mà Ban trọng tài lao động không được thành lập, Ban trọng tài lao động không ra quyết định giải quyết tranh chấp hoặc một trong các bên không thi hành quyết định của Ban trọng tài lao động thì có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết”.

Với những sửa đổi, bổ sung trên đây của Bộ luật Lao động năm 2019 liên quan đến Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, thì khi xem xét điều kiện thụ lý vụ án lao động, Tòa án nhân dân cần nghiên cứu thủ tục hòa giải, trọng tài về chủ thể giải quyết, trình tự, thủ tục hòa giải, trọng tài cùng các yếu tố khác để đánh giá xem có đủ điều kiện thụ lý vụ án lao động hay không.

ThS. Nguyễn Năng Quang
Đại học Công nghệ Miền Đông



[1]. Khoản 7 Điều 3 Bộ luật Lao động năm 2012.

[2]. Khoản 3 Điều 3 Bộ luật Lao động năm 2019.

[3]. Khoản 2 Điều 179 Bộ luật Lao động năm 2019.

[4]. Khoản 3 Điều 179 Bộ luật Lao động năm 2019.

[5]. Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, theo Báo cáo số 50/BC-LĐTBXH ngày 07/5/2019 về Tổng kết thi hành Bộ luật Lao động năm 2012, thì: Tổng số 2.406 vụ án lao động được giải quyết tại Tòa án nhân dân nhưng là các vụ án lao động cá nhân mà chưa có vụ án lao động nào về tranh chấp lao động tập thể và đình công, tr. 53.

[6]. Bộ Tư pháp, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, Triển khai thi hành Bộ luật Lao động năm 2019, Nxb. Tư pháp, năm 2020, tr.154.

[7]. Khoản 4, khoản 5 Điều 189 Bộ luật Lao động năm 2019.

[8]. Xem khoản 1 Điều 191 Bộ luật Lao động năm 2019.

[9]. Xem khoản 2 Điều 219 Bộ luật Lao động năm 2019.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Để bảo đảm cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân được tiến hành dân chủ, đúng pháp luật, các quy định về phiếu bầu cử cũng như nguyên tắc, trình tự bỏ phiếu đã được quy định chặt chẽ[1]. Việc nắm rõ các quy định này giúp cử tri thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ trong ngày bầu cử.
[1] Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 và Nghị quyết số 40/NQ-HĐBCQG ngày 29/9/2025 của Hội đồng bầu cử quốc gia quy định mẫu văn bản hồ sơ ứng cử và việc hồ sơ ứng cử; nội quy phòng bỏ phiếu trong công tác bầu cử ĐBQH khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031
Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Trong quá trình tổ chức bầu cử, có thể phát sinh một số tình huống đặc biệt như dịch bệnh, thiên tai, hỏa hoạn hoặc vấn đề về an ninh, trật tự. Pháp luật về bầu cử đã quy định rõ thẩm quyền và phương án xử lý nhằm bảo đảm cuộc bầu cử được tổ chức an toàn, đúng quy định và bảo đảm quyền bầu cử của cử tri.
Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Để chuẩn bị cho “Ngày hội non sông” - Ngày bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031, công tác phân chia đơn vị bầu cử cần phải được triển khai với những yêu cầu khắt khe hơn bao giờ hết với mục tiêu trọng tâm là bảo đảm cân đối, tránh chênh lệch lớn, thuận tiện cho cử tri thực hiện quyền bầu cử như: Các khu vực đô thị, khu công nghiệp có đông cử tri; các khu vực miền núi, hải đảo có ít cử tri.
Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Pháp luật quy định cụ thể về nguyên tắc bỏ phiếu, cách ghi phiếu bầu, việc viết hộ, bỏ hộ phiếu và xử lý Thẻ cử tri nhằm bảo đảm việc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân diễn ra đúng quy định.
Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Cơ chế giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân giữ vai trò quan trọng trong việc bảo đảm tính dân chủ, minh bạch và hợp pháp của quá trình bầu cử. Pháp luật Việt Nam thiết lập cơ chế này trên cơ sở kết hợp giữa các quy định đặc thù của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân với các quy định chung của pháp luật về khiếu nại, tố cáo, qua đó hình thành khung pháp lý cho việc tiếp nhận, xem xét và xử lý các khiếu nại, tố cáo phát sinh trong quá trình bầu cử.
Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Một vụ án in và phát hành sách giáo khoa giả vừa được đưa ra xét xử đã tiếp tục gióng lên hồi chuông cảnh báo về tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực xuất bản, đặc biệt là đối với sách giáo dục - mặt hàng có nhu cầu cao và ảnh hưởng trực tiếp đến hàng triệu học sinh.
Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức thống nhất vào ngày 15/3/2026 theo Nghị quyết của Quốc hội. Tuy nhiên, pháp luật cho phép tổ chức bỏ phiếu sớm trong những trường hợp đặc biệt nhằm bảo đảm quyền bầu cử của công dân không thể tham gia bỏ phiếu vào ngày chính thức. Việc tổ chức bầu cử sớm phải tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc về thẩm quyền quyết định, trình tự thủ tục, kiểm phiếu, niêm phong, bảo mật kết quả và kỷ luật thời gian bỏ phiếu theo đúng quy định của Luật Bầu cử và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Vận động bầu cử của người ứng cử là hoạt động gặp gỡ, tiếp xúc cử tri hoặc thông qua phương tiện thông tin đại chúng để người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân báo cáo với cử tri về dự kiến chương trình hành động của mình nhằm thực hiện trách nhiệm đại biểu nếu được bầu làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân và trao đổi những vấn đề mà cử tri quan tâm; tạo điều kiện để cử tri tiếp xúc với người ứng cử, hiểu rõ hơn người ứng cử; trên cơ sở đó cân nhắc, lựa chọn, bầu những người đủ tiêu chuẩn làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.
Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, yêu cầu thượng tôn Hiến pháp và pháp luật không chỉ đặt ra đối với hoạt động của bộ máy nhà nước mà trở thành chuẩn mực ứng xử phổ biến trong xã hội. Pháp luật chỉ thực sự phát huy vai trò điều chỉnh các quan hệ xã hội khi được các chủ thể tiếp nhận, tôn trọng, tuân thủ thực hiện trên tinh thần chủ động, tự giác, gắn với niềm tin vào công bằng và trật tự xã hội. Thực tiễn cho thấy, hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, nhưng tình trạng vi phạm pháp luật trong một số lĩnh vực vẫn diễn biến phức tạp; còn tồn tại khoảng trống giữa nhận thức pháp luật và hành vi tuân thủ; tâm lý tuân thủ thụ động, mang tính tình thế, phụ thuộc vào sự kiểm tra, giám sát và xử lý của cơ quan có thẩm quyền. Những biểu hiện này phản ánh việc tuân thủ pháp luật chưa thực sự trở thành chuẩn mực văn hóa trong xã hội. Vì vậy, việc nghiên cứu, nhận diện các yếu tố tác động, đánh giá đúng thực trạng, đề xuất nhiệm vụ, giải pháp xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn, góp phần thể chế hóa chủ trương của Đảng, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, mạnh, bền vững trong bối cảnh mới.
Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Tết Nguyên đán là dịp đoàn viên, nghỉ ngơi và tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí đầu năm, góp phần làm phong phú đời sống văn hóa, tinh thần của mỗi gia đình và cộng đồng. Tuy nhiên, một số hình thức vui chơi có thưởng có thể vượt ngoài khuôn khổ pháp luật nếu không được nhận diện đúng. Từ yêu cầu bảo đảm kỷ cương, pháp luật trong dịp Tết, việc làm rõ ranh giới pháp lý giữa vui xuân có thưởng và hành vi vi phạm pháp luật có ý nghĩa quan trọng.
Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết 71-NQ/TW) đặt ra những yêu cầu mang tính chiến lược đối với xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, giáo dục đại học giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành lớp trí thức mới - vừa có năng lực chuyên môn, vừa có bản lĩnh, nhân cách và tinh thần phụng sự xã hội. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật phỏng vấn Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đào Thanh Trường - Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội, xung quanh quan điểm xây dựng con người toàn diện, các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp, cũng như những định hướng tích hợp giáo dục nhân văn với khoa học, công nghệ trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Mùa xuân về không chỉ mang theo nhựa sống của thiên nhiên mà còn là thời điểm để nhìn lại những thành quả của năm qua. Xuân Bính Ngọ 2026, với Trường Cao đẳng Cơ điện Hà Nội (HCEM), là một mùa xuân đặc biệt - mùa xuân của sự cộng hưởng giữa niềm tự hào về hành trình 80 năm đất nước độc lập và quyết tâm chính trị cao để hiện thực hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị. Đây chính là “chìa khóa” để HCEM bứt phá, vươn tầm quốc tế, trở thành biểu tượng của nền giáo dục nghề nghiệp (GDNN) hiện đại trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Năm 2025 được xem là cột mốc bản lề trên hành trình đưa Việt Nam bước vào kỷ nguyên số toàn diện. Trong không khí Xuân Bính Ngọ 2026, Cục trưởng Cục Chuyển đổi số quốc gia (Bộ KH&CN) Trần Duy Ninh chia sẻ với Tạp chí Dân chủ và Pháp luật về những thành quả nổi bật, tầm nhìn, cơ hội và kỳ vọng đặt vào đội ngũ trí thức công nghệ, với khát vọng xây dựng đất nước Việt Nam hùng cường, tự chủ và thịnh vượng trên nền tảng số.
Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Nhìn lại hành trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đội ngũ doanh nhân Việt Nam tiếp tục là lực lượng năng động, sáng tạo và đóng góp quan trọng vào tăng trưởng. Tuy nhiên, bối cảnh hội nhập sâu, rộng đặt ra yêu cầu cao hơn đối với việc hoàn thiện pháp luật về kinh doanh. Nhân dịp xuân mới, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Quang Vinh - Phó Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) về kỳ vọng đổi mới và yêu cầu xây dựng hành lang pháp lý ổn định để doanh nghiệp Việt Nam tự tin phát triển trong giai đoạn mới.
Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với mục tiêu đến năm 2045 trở thành nước phát triển có thu nhập cao, đội ngũ doanh nhân Việt Nam được kỳ vọng trở thành lực lượng kiến tạo thịnh vượng quốc gia. Khát vọng ấy chỉ có thể nảy nở và lớn lên trong hệ sinh thái pháp lý minh bạch, an toàn và tạo động lực.

Theo dõi chúng tôi trên: