Thứ hai 24/08/2026 13:18
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Bộ pháp điển - Một số điểm bất cập trong quá trình xây dựng và áp dụng trên thực tế

Việc xây dựng Bộ pháp điển được đặt ra để giải quyết tình trạng hệ thống pháp luật còn rất phức tạp với nhiều chủ thể ban hành nhiều loại văn bản quy phạm pháp luật, số lượng văn bản quy phạm pháp luật được ban hành rất lớn và có xu hướng tiếp tục gia tăng gây khó khăn cho việc áp dụng trên thực tế. Tuy nhiên, quá trình xây dựng Bộ pháp điển để đưa vào khai thác, sử dụng còn gặp phải một số bất cập. Bài viết phân tích và đưa ra một số kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng của Bộ pháp điển Việt Nam hiện nay.


1. Giới thiệu về Bộ pháp điển và tầm quan trọng của Bộ pháp điển

Ngày 16/4/2012, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã thông qua Pháp lệnh Pháp điển hệ thống quy phạm pháp luật (sau đây gọi tắt là Pháp lệnh Pháp điển), tạo cơ sở pháp lý nền tảng cho công tác pháp điển. Theo đó, pháp điển hệ thống quy phạm pháp luật (QPPL) là việc cơ quan nhà nước rà soát, tập hợp, sắp xếp các QPPL đang còn hiệu lực trong các văn bản QPPL do cơ quan nhà nước ở trung ương ban hành, trừ Hiến pháp, để xây dựng Bộ pháp điển. Việc pháp điển được thực hiện đối với các QPPL trong văn bản QPPL của cơ quan nhà nước ở trung ương. Theo Quyết định số 1267/QĐ-TTg ngày 29/7/2014 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt Đề án xây dựng Bộ pháp điển, Bộ pháp điển được xây dựng trong 10 năm (2014 - 2023), cụ thể:

Giai đoạn 1 (2014 - 2017) thực hiện pháp điển xong 08 chủ đề gồm: Dân tộc; Hành chính tư pháp; Ngân hàng, tiền tệ; Tài chính; Thống kê; Tôn giáo, tín ngưỡng; Tương trợ tư pháp; Văn thư, lưu trữ.

Giai đoạn 2 (2018 - 2020) thực hiện pháp điển xong 27 chủ đề gồm: Bưu chính, viễn thông; Bổ trợ tư pháp; Cán bộ, công chức, viên chức; Chính sách xã hội; Công nghiệp; Dân số, gia đình, trẻ em, bình đẳng giới; Dân sự; Đất đai; Doanh nghiệp, hợp tác xã; Giáo dục, đào tạo; Giao thông, vận tải; Hình sự; Kế toán, kiểm toán; Khiếu nại, tố cáo; Khoa học, công nghệ; Môi trường; Tài nguyên; Tài sản công, nợ công, dự trữ nhà nước; Thi đua, khen thưởng, các danh hiệu vinh dự nhà nước; Thi hành án; Thông tin, báo chí, xuất bản; Thuế, phí, lệ phí, các khoản thu khác; Thương mại, đầu tư, chứng khoán; Tổ chức chính trị - xã hội, hội; Văn hóa, thể thao, du lịch; Xây dựng, nhà ở; Xây dựng pháp luật và thi hành pháp luật; Đô thị.

Giai đoạn 3 (2021 - 2023) thực hiện pháp điển xong 10 chủ đề gồm: An ninh quốc gia; Bảo hiểm; Lao động; Ngoại giao, điều ước quốc tế; Nông nghiệp, nông thôn; Quốc phòng; Tổ chức bộ máy nhà nước; Tố tụng và các phương thức giải quyết tranh chấp; Trật tự an toàn xã hội; Y tế, dược.

Để tổ chức triển khai thực hiện công tác pháp điển, ngày 06/6/2014, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 843/QĐ-TTg phê duyệt Danh mục các đề mục trong mỗi chủ đề và phân công cơ quan pháp điển theo đề mục (sau đây gọi tắt là Quyết định số 843/QĐ-TTg). Theo đó, Bộ pháp điển chứa đựng 265 đề mục thuộc 45 chủ đề kể trên.

Đến nay, chúng ta đã thực hiện pháp điển xong 120/265 đề mục được Chính phủ phê duyệt và đưa vào khai thác, sử dụng. Bước đầu Bộ pháp điển đã được xã hội đón nhận tích cực, khai thác và sử dụng. Đặc biệt, các cơ quan nhà nước và một số luật sư, doanh nghiệp đã thường xuyên khai thác, sử dụng và coi Bộ pháp điển là một trong những công cụ hữu hiệu hỗ trợ giải quyết công việc. Việc xây dựng Bộ pháp điển mang lại nhiều lợi ích cho người dân và toàn xã hội, cụ thể:

Thứ nhất, Bộ pháp điển góp phần giúp người dân, doanh nghiệp hay cơ quan nhà nước dễ dàng, thuận tiện trong tìm kiếm, tra cứu cũng như quản lý các quy phạm pháp luật đang còn hiệu lực

Thực tế cho thấy, hiện nay, cả nước có 8.748 văn bản QPPL do các chủ thể có thẩm quyền ở trung ương ban hành và 52.544 văn bản QPPL do các chủ thể có thẩm quyền ở địa phương ban hành[1]. Số lượng các QPPL trong các văn bản QPPL đồ sộ, phức tạp đó được lựa chọn, sắp xếp vào các đề mục trong các chủ đề với phạm vi nội dung được xác định rõ ràng, ổn định, có tính logic và hệ thống cao tạo điều kiện thuận lợi cho việc tiếp cận, tra cứu, tìm kiếm các quy định pháp luật theo lĩnh vực cụ thể.

Bên cạnh đó, việc Bộ pháp điển lựa chọn, đưa vào đề mục những QPPL đang có hiệu lực có ý nghĩa rất lớn trong việc thi hành pháp luật bởi việc áp dụng Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 về các trường hợp khiến cho văn bản QPPL hết hiệu lực (Điều 154) đang gặp nhiều bất cập trên thực tế. Thậm chí, có câu chuyện hy hữu xảy ra đó là chính Bộ trưởng ban hành Thông tư còn không xác định được là Thông tư mình ban hành có còn hiệu lực hay không[2], vậy thì người dân, doanh nghiệp biết tìm đâu cơ sở pháp lý để áp dụng pháp luật. Hiện nay, có khá nhiều trang thông tin điện tử cung cấp dữ liệu văn bản QPPL (miễn phí hoặc có thu phí) tuy nhiên, nếu gặp phải văn bản như ví dụ trên thì những chủ thể này cũng khó xác định chính xác hiệu lực văn bản QPPL. Chính vì vậy, việc rà soát toàn bộ các văn bản QPPL để xác định văn bản nào còn hiệu lực và văn bản nào hết hiệu lực để đưa vào Bộ pháp điển có ý nghĩa rất lớn trong việc tổ chức thi hành pháp luật.

Thứ hai, việc xây dựng Bộ pháp điển góp phần nâng cao tính thống nhất, tính đồng bộ của hệ thống quy phạm pháp luật

Pháp điển là việc sắp xếp các QPPL theo một trật tự với bố cục logic từ đó phát hiện những quy định trái pháp luật, mâu thuẫn, chồng chéo, không phù hợp để có các biện pháp xử lý kịp thời. Thậm chí có cả những khoảng trống các quan hệ xã hội chưa có các QPPL quy định, điều chỉnh. Do đó, thông qua việc pháp điển sẽ giúp góp phần nâng cao tính thống nhất, tính đồng bộ của các QPPL trong hệ thống văn bản QPPL nước ta.

Thứ ba, việc xây dựng Bộ pháp điển trên cơ sở pháp điển hệ thống quy phạm pháp luật tạo thuận lợi trong quá trình xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật

Pháp điển là việc tập hợp, sắp xếp các QPPL vào từng đề mục, chủ đề theo một lĩnh vực, nhóm lĩnh vực cụ thể qua đó giúp cơ quan soạn thảo có cái nhìn tổng thể, toàn diện về thực trạng hệ thống pháp luật hiện nay. Cũng chính từ đây, các điều luật được xây dựng sẽ phù hợp và thống nhất với các quy định trong hệ thống pháp luật, đảm bảo tính hợp hiến, hợp pháp. Bộ pháp điển cũng giúp cho việc sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành mới các quy định được thực hiện một cách dễ dàng hơn trên cơ sở các quy định trong Bộ pháp điển mà không phải tiến hành rà soát, kiểm tra các văn bản phân tán trong hệ thống pháp luật như hiện nay.

Thứ tư, việc xây dựng và đưa vào sử dụng Bộ pháp điển góp phần nâng cao tính công khai, minh bạch của hệ thống pháp luật và sự tin tưởng của người dân vào hệ thống pháp luật

Bộ pháp điển là việc sắp xếp các QPPL theo một trật tự với bố cục logic, hợp lý giúp các cá nhân, tổ chức dễ dàng, thuận tiện trong tra cứ, tìm kiếm các quy định của pháp luật. Qua đó, Bộ pháp điển góp phần bảo đảm tính công khai, minh bạch của hệ thống pháp luật và nâng cao sự tin tưởng của người dân vào hệ thống pháp luật.

Đồng thời, theo Đề án xây dựng Bộ pháp điển, sau khi Chính phủ thông qua từng phần của Bộ pháp điển thì kết quả đó được đăng tải và duy trì thường xuyên, liên tục trên Cổng thông tin điện tử pháp điển và được sử dụng miễn phí. Đây là Cổng thông tin độc lập, đăng tải Bộ pháp điển điện tử, do Nhà nước giữ bản quyền và giao Bộ Tư pháp thống nhất quản lý, duy trì hoạt động. Điều này giúp cho người dân, doanh nghiệp và các cơ quan nhà nước tiếp cận hệ thống văn bản QPPL một cách nhanh chóng, chính xác, kịp thời, đầy đủ hơn mà không phải trả bất kỳ một khoản chi phí nào.

Những lợi ích mà công tác xây dựng, hoàn thiện Bộ pháp điển kể trên không chỉ có ý nghĩa lớn trong việc xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật mà nó còn giúp cho quá trình tổ chức thực thi pháp luật được thuận lợi, dễ dàng. Do đó, Bộ pháp điển có tầm quan trọng rất lớn trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

2. Một số hạn chế của Bộ pháp điển

Một là, Điều 6 Pháp lệnh Pháp điển quy định Bộ pháp điển được cấu trúc theo các chủ đề. Mỗi chủ đề có một hoặc nhiều đề mục. Trong đề mục, tùy theo nội dung có thể có phần, chương, mục, điều, khoản, điểm (không có tiểu mục). Tuy nhiên, theo quy định tại khoản 3 Điều 8 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 thì cấu trúc của văn bản có thể có tiểu mục[3]. Quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 xuất phát từ thực tiễn bởi hệ thống pháp luật hiện nay rất cồng kềnh, phức tạp nên bổ sung thêm tiểu mục là cần thiết. Chính vì vậy, để phù hợp với quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 và thuận lợi trong xây dựng Bộ pháp điển về mặt hình thức như hiện nay thì Điều 6 Pháp lệnh Pháp điển cần bổ sung thêm “tiểu mục” trong cấu trúc của Bộ pháp điển như sau: “Bộ pháp điển được cấu trúc theo các chủ đề. Mỗi chủ đề có một hoặc nhiều đề mục. Trong đề mục, tùy theo nội dung có thể có phần, chương, mục, tiểu mục, điều, khoản, điểm”.

Hai là, Điều 7 Pháp lệnh Pháp điển quy định Bộ pháp điển gồm có 45 chủ đề và 271 đề mục (Theo Quyết định số 843/QĐ-TTg). Tuy nhiên, hiện nay cấu trúc của Bộ pháp điển chưa bảo đảm sự cân đối giữa các chủ đề. Ví dụ: Có những chủ đề gồm hơn 10 đề mục, khối lượng văn bản đồ sộ lên tới hàng nghìn văn bản như chủ đề Thuế, phí, lệ phí và các khoản thu khác nhưng cũng có nhiều chủ đề có 1, 2 đề mục, chỉ có khoảng dưới 10 văn bản như chủ đề Tôn giáo, tín ngưỡng; chủ đề Dân tộc… Chính vì vậy, trong quá trình xây dựng Bộ Pháp điển, chúng ta có thể nghiên cứu việc gộp hoặc tách các chủ đề cho phù hợp. Ví dụ: Chủ đề Dân tộc gộp với chủ đề Tôn giáo, tín ngưỡng; Chủ đề Tương trợ tư pháp gộp với chủ đề Ngoại giao, điều ước quốc tế…

Ba là, các đề mục sắp xếp trong các chủ đề hiện nay cũng chưa logic, thống nhất về phạm vi QPPL điều chỉnh, ví dụ: Đề mục Đăng ký giao dịch bảo đảm và đề mục Giao dịch bảo đảm có hệ thống văn bản QPPL đều thuộc phạm vi của đề mục Dân sự và cần được pháp điển vào đề mục Dân sự, nhưng hiện nay Bộ pháp điển tách riêng làm 03 đề mục độc lập. Việc xác định phạm vi hệ thống QPPL để nhóm thành các chủ đề của Bộ pháp điển cũng chưa hợp lý, cụ thể: Đề mục Mặt trận Tổ quốc Việt Nam lại được sắp xếp cùng với các đề mục thuộc chủ đề Tổ chức bộ máy nhà nước trong khi Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là một thiết chế độc lập, không thuộc bộ máy nhà nước nên việc sắp xếp chủ đề như vậy chưa thực sự phù hợp[4].

Bốn là, việc sắp xếp các quy phạm pháp luật trong Bộ pháp điển hiện nay chưa bảo đảm tính logic, dễ tra cứu, sử dụng

- Điều 2 Pháp lệnh Pháp điển quy định: “Pháp điển hệ thống QPPL là việc cơ quan nhà nước rà soát, tập hợp, sắp xếp các QPPL đang còn hiệu lực trong các văn bản QPPL do cơ quan nhà nước ở trung ương ban hành, trừ Hiến pháp, để xây dựng Bộ pháp điển”. Như vậy, việc xây dựng Bộ pháp điển phải là pháp điển theo QPPL. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy, mặc dù chúng ta đã có khái niệm QPPL[5] nhưng việc xác định QPPL còn gây nhiều tranh cãi và với khối lượng văn bản QPPL đồ sộ như hiện nay thì việc pháp điển theo QPPL là không khả thi. Do đó, khi xây dựng Nghị định số 63/2013/NĐ-CP ngày 27/6/2013 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Pháp lệnh Pháp điển hệ thống quy phạm pháp luật (Nghị định số 63/2013/NĐ-CP) thì mô hình Bộ pháp điển được xác định là pháp điển theo điều. Xét theo nguyên tắc áp dụng pháp luật thì Pháp lệnh Pháp điển có hiệu lực pháp lý cao hơn Nghị định số 63/2013/NĐ-CP nên chúng ta phải ưu tiên áp dụng Pháp lệnh Pháp điển. Tuy nhiên, hiện nay chúng ta đang tiến hành pháp điển theo điều như vậy vô hình chung lại vi phạm quy định trong Pháp lệnh Pháp điển. Do đó, để đảm bảo tính thống nhất trong hệ thống pháp luật cũng như yêu cầu của thực tiễn thì Pháp lệnh Pháp điển cần sửa đổi thành pháp điển theo điều chứ không phải pháp điển theo QPPL như hiện nay.



- Về việc bố trí, sắp xếp các điều còn chưa phù hợp, gây khó khăn cho việc tra cứu. Theo quy định của Nghị định số 63/2013/NĐ-CP thì đơn vị nhỏ nhất của văn bản được đưa vào Bộ pháp điển là điều. Như vậy, các điều quy định về cùng một nội dung khi đưa vào Bộ pháp điển cần được sắp xếp theo thứ bậc hiệu lực pháp lý của QPPL từ cao xuống thấp. Tuy nhiên, trong một đề mục, trừ văn bản QPPL có giá trị pháp lý cao nhất thì các văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành có thể có nhiều văn bản cùng giá trị hiệu lực pháp lý[6]. Trường hợp các điều này thuộc các văn bản QPPL có cùng cấp hiệu lực thì được sắp xếp theo trật tự thời gian ban hành của văn bản. Nguyên tắc sắp xếp các QPPL như vậy gây hạn chế trong trường hợp những nội dung QPPL quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành bị sắp xếp ở xa với nội dung được quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành, đặc biệt là đối với những người dân không có nhiều kiến thức chuyên môn về pháp luật thì sẽ gặp khó khăn trong việc tra cứu, tìm kiếm quy định.

Năm là, cách thức ghi chú trong Bộ pháp điển hiện nay chưa rõ ràng, khoa học

Ghi chú của điều là việc ghi rõ từng điều của Bộ pháp điển tương ứng với điều nào trong văn bản sử dụng để pháp điển. Tại điều đầu tiên của mỗi văn bản được pháp điển thì phải ghi chú đầy đủ các thành phần quy định tại khoản 1 Điều 5 Nghị định số 63/2013/NĐ-CP; đối với các điều tiếp theo, thì chỉ ghi chú số thứ tự của điều; số, ký hiệu, thời điểm có hiệu lực của văn bản. Trường hợp nội dung của điều trong văn bản được pháp điển bị sửa đổi, bổ sung thì bổ sung phần ghi chú về nội dung sửa đổi, bổ sung, số, ký hiệu của văn bản sửa đổi, bổ sung và thời điểm có hiệu lực của văn bản. Ghi chú được đặt trong ngoặc đơn ở dòng kế tiếp sau dòng về tên gọi của điều trong Bộ pháp điển bằng chữ in nghiêng, có cỡ chữ nhỏ hơn cỡ chữ của điều được ghi chú. Điển hình là những ghi chú về nội dung sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ các QPPL thể hiện chưa cụ thể “nội dung được sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ” theo quy định tại Điều 5 Nghị định số 63/2013/NĐ-CP.

Tuy nhiên hiện nay, phần mềm pháp điển cũng chưa đáp ứng được việc ghi chú chính xác nội dung được sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ cũng như cập nhật sự thay đổi về hiệu lực của từng điều trong các văn bản QPPL. Do vậy, nhiều ghi chú cũng dễ bị lỗi thời, thiếu chính xác.

Sáu là, cách thức chỉ dẫn các nội dung có liên quan trong Bộ pháp điển chưa cụ thể, còn hình thức

Trong Bộ pháp điển, đề mục, phần, chương, mục, tiểu mục, điều được đánh số thứ tự, trường hợp có liên quan đến nội dung khác của Bộ pháp điển thì phải được chỉ dẫn. Các điều trong Bộ pháp điển được ký hiệu để phân biệt hình thức văn bản QPPL và được ghi chú để nhận biết điều của văn bản QPPL được pháp điển. Các điều quy định về cùng một nội dung nhưng không được sắp xếp với nhau mà được sắp xếp vào các vị trí xa nhau, các đề mục khác nhau thì các điều này được chỉ dẫn là “có nội dung liên quan”.

Điều 6 Nghị định số 63/2013/NĐ-CP quy định: Chỉ dẫn là việc chỉ ra các đề mục, phần, chương, mục hoặc điều của Bộ pháp điển có nội dung liên quan trực tiếp đến nhau, tùy từng trường hợp, việc chỉ dẫn được thực hiện giữa các đề mục, phần, chương, mục hoặc điều của Bộ pháp điển. Chỉ dẫn được đặt trong ngoặc đơn, ngay sau nội dung được chỉ dẫn bằng chữ in nghiêng, có cỡ chữ nhỏ hơn cỡ chữ của nội dung được chỉ dẫn. Như vậy, việc chỉ dẫn là sự xác định các nội dung trong Bộ pháp điển có liên quan đến nhau. Tuy nhiên, thực tế cho thấy các bộ hiện nay vẫn đang tiến hành xây dựng Bộ pháp điển và chúng ta mới chỉ hoàn thành được 120/265 đề mục. Điều đó đồng nghĩa với việc còn nhiều văn bản QPPL chưa được đưa vào Bộ pháp điển. Do đó, để giải quyết tình trạng này, Điều 13 Nghị định số 63/2013/NĐ-CP quy định:

(i) Trường hợp phần, chương, mục, điều của các văn bản được pháp điển có nội dung liên quan đến phần, chương, mục, điều của văn bản khác thì cơ quan thực hiện pháp điển ghi rõ số thứ tự, tên gọi của phần, chương, mục, điều, số, ký hiệu, tên gọi, ngày tháng năm ban hành của văn bản khác đó bằng chữ in nghiêng và được đặt trong ngoặc đơn vào cuối phần, chương, mục, điều của văn bản được pháp điển.

(ii) Trường hợp phần, chương, mục hoặc điều của văn bản được pháp điển có nội dung liên quan đến phần, chương, mục hoặc điều của đề mục đã có trong Bộ pháp điển thì cơ quan thực hiện pháp điển ghi rõ số thứ tự, tên gọi của phần, chương, mục hoặc điều của đề mục đó bằng chữ in nghiêng và được đặt trong ngoặc đơn, ở cuối phần, chương, mục, điều của văn bản được pháp điển.

Tuy nhiên, Pháp lệnh Pháp điển và Nghị định số 63/2013/NĐ-CP đều chưa xác định cụ thể thế nào là “nội dung có liên quan”. Do vậy, hiện nay nhiều QPPL được chỉ dẫn rất dài, liên quan đến nhiều QPPL nhưng không phân biệt được đâu là QPPL liên quan, hướng dẫn trực tiếp, đâu là QPPL liên quan gián tiếp nên không mang lại hiệu quả sử dụng khi tra cứu, áp dụng Bộ pháp điển.

Tóm lại, cấu trúc, nội dung Bộ pháp điển sắp xếp chưa thực sự hợp lý, logic nên những người dân ít hiểu biết về pháp luật và công nghệ thông tin sẽ gặp khó khăn trong việc tra cứu. Nếu không điều chỉnh cấu trúc và nội dung Bộ pháp điển để việc tra cứu dễ dàng hơn thì “tâm lý e ngại của đám đông” cũng sẽ là một rào cản khiến cho Bộ pháp điển khó có thể được sử dụng rộng rãi.

Bảy là, việc quản lý Bộ pháp điển hiện nay chưa bảo đảm cập nhật kịp thời quy phạm pháp luật được ban hành mới

Theo Pháp lệnh Pháp điển, việc cập nhật QPPL mới ban hành không chỉ được giao cho Bộ Tư pháp thực hiện mà do nhiều cơ quan thực hiện (theo thẩm quyền ban hành văn bản QPPL[7]). Bên cạnh đó, quy trình ban hành văn bản QPPL cũng như pháp điển QPPL mới còn phức tạp nên không đảm bảo được việc cập nhật QPPL mới ban hành đúng ngày QPPL đó có hiệu lực khiến Bộ pháp điển bị lỗi thời.

Trong khi đó, nguồn văn bản QPPL được sử dụng để pháp điển là từ Cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật. Hiện nay, Chính phủ giao cho Bộ Tư pháp xây dựng Cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật - ứng dụng công nghệ thông tin trong việc quản lý hệ thống văn bản QPPL. Tuy nhiên, hệ thống văn bản QPPL được đăng tải trên Cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật cũng chưa được cập nhật kịp thời, đầy đủ. Điều này ảnh hướng lớn đến tính chính xác, đầy đủ trong Bộ pháp điển.

Bất cập này xuất phát từ việc chúng ta chưa có một phần mềm để tự động cập nhật sự thay đổi của các văn bản QPPL. Thực tế cho thấy, hiện nay việc cập nhật dữ liệu vào cơ sở dữ liệu quốc gia hay thực hiện công tác pháp điển đều do con người trực tiếp làm và chỉ thực hiện trong ngày làm việc và khoảng thời gian làm việc hành chính. Điều này gây trở ngại rất lớn vì người dân có thể tiếp cận Bộ pháp điển bất cứ khoảng thời gian nào và họ có thể sẽ gặp phải trường hợp tiếp cận với những QPPL đã hết hiệu lực mà Bộ pháp điển chưa kịp cập nhật. Hiện nay, số lượng văn bản QPPL rất lớn và số lượng ngày càng tăng lên. Theo thống kê, chỉ riêng Bộ trưởng Bộ Tài chính đã ban hành hơn 400 thông tư/năm, như vậy trung bình 01 ngày làm việc phải ký ít nhất 01 thông tư[8]. Do đó, chưa tính đến các chủ thể khác ban hành văn bản QPPL mới thì chỉ riêng việc cập nhật thông tư của một bộ kể trên cũng mất rất nhiều thời gian, nguồn lực nếu chỉ dùng sức người đơn thuần.

Chính vì vậy, việc đầu tư để có một phần mềm tự động cập nhật sự thay đổi của các văn bản QPPL vào Bộ pháp điển sẽ đảm bảo Bộ pháp điển luôn mới và đáp ứng được yêu cầu của người sử dụng. Bên cạnh đó, sau khi phần mềm tự động cập nhật thì chúng ta cũng có thể tự kiểm tra lại việc cập nhật của phần mềm, từ đó đảm bảo độ chính xác và tin cậy cao hơn cho Bộ pháp điển.

Tám là, phạm vi của Bộ pháp điển chưa đáp ứng được nhu cầu khai thác, sử dụng của người dân, doanh nghiệp

Bộ pháp điển hiện nay chỉ mới dừng lại ở việc rà soát các văn bản QPPL do các chủ thể có thẩm quyền ở trung ương ban hành để đưa vào Bộ pháp điển. Tuy nhiên, các văn bản QPPL ở địa phương lại có ý nghĩa quan trọng đối với hoạt động của người dân, doanh nghiệp bởi mỗi địa phương sẽ có những chính sách đặc thù để phát triển kinh tế - xã hội được thể chế hoá trong các văn bản QPPL. Chính vì vậy, tác giả kiến nghị cần thực hiện việc rà soát thêm các văn bản QPPL ở địa phương để đưa vào Bộ pháp điển.

Ngoài ra, Bộ pháp điển hiện nay cũng chỉ tập hợp các văn bản QPPL đang còn hiệu lực. Tuy nhiên, nhu cầu của nhiều nhóm đối tượng sử dụng Bộ pháp điển như: Tòa án, Viện kiểm sát, cơ quan điều tra, luật sư… thì không chỉ dừng lại ở việc áp dụng các QPPL đang có hiệu lực mà còn áp dụng cả những văn bản mà thời điểm hiện tại đã hết hiệu lực, không còn nằm trong Bộ pháp điển, bởi nguyên tắc áp dụng pháp luật là hành vi vi phạm xảy ra tại thời điểm nào thì áp dụng văn bản QPPL đang có hiệu lực tại thời điểm đó để xử lý vi phạm, trừ trường hợp được áp dụng hiệu lực hồi tố[9]. Vì vậy, hiện nay, Bộ pháp điển mới chỉ đáp ứng được một phần nhu cầu tra cứu, sử dụng của người dân, doanh nghiệp và các cơ quan, tổ chức.

Về nguyên tắc hiện nay, chúng ta vẫn còn 145/265 đề mục đang và chưa được pháp điển nên cần được hoàn thiện sau đó mới có thể tiếp tục nghiên cứu thực hiện việc liên kết, chỉ dẫn đến các văn bản đã hết hiệu lực nhằm tạo ra một hệ thống dữ liệu có tính liên kết cao, tạo điều kiện thuận lợi cho các chủ thể trong việc áp dụng pháp luật. Tuy nhiên, trong khoảng thời gian pháp điển 145 đề mục còn lại này thì chúng ta vẫn luôn cập nhật các QPPL mới được ban hành và loại những QPPL đã hết hiệu lực ra khỏi Bộ pháp điển nhưng nếu chỉ đơn thuần loại bỏ những QPPL này thì theo tác giả sẽ rất “lãng phí” vì chúng ta đã mất nhiều công sức để pháp điển QPPL đó. Chính vì vậy, theo ý kiến tác giả thì những QPPL nào bị loại ra khỏi Bộ pháp điển vì hết hiệu lực thì cần được nghiên cứu, sắp xếp vào một nội dung dữ liệu hết hiệu lực riêng để có thể dẫn chiếu từ QPPL đang có hiệu lực tại Bộ pháp điển sang. Như vậy, chúng ta tiến hành luôn hai việc: (i) Tiếp tục rà soát, cập nhật và xây dựng, hoàn thiện các đề mục còn lại của Bộ pháp điển; (ii) Tổng hợp được các QPPL hết hiệu lực có mối liên kết, chỉ dẫn đến Bộ pháp điển. Điều này có ý nghĩa quan trọng trong việc tiết kiệm thời gian, nguồn lực và tránh lãng phí cho hoạt động xây dựng Bộ pháp điển.

Bên cạnh đó, Bộ Tư pháp cũng cần có kế hoạch tập huấn cũng như tuyên truyền về Bộ pháp điển để nâng cao khả năng tiếp cận của Bộ pháp điển đến từng nhóm đối tượng sử dụng để Bộ pháp điển có thể được áp dụng rộng rãi trên thực tế.

Như vậy, để đưa Bộ pháp điển vào cuộc sống thì cần phải hoàn thiện hơn nữa Bộ pháp điển cả về nội dung và hình thức, cả về số lượng và chất lượng để thân thiện, tiện ích và đáp ứng tốt hơn nhu cầu tra cứu, sử dụng của người dân và các cơ quan, tổ chức.

Vũ Thị Ngọc Dung

Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh





[1]. Số liệu cập nhật đến ngày 31/5/2019, theo báo cáo của ông Đồng Ngọc Ba - Cục trưởng Cục kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật tại Hội thảo về thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả tra cứu, tìm kiếm các quy định của pháp luật trong Bộ Pháp điển Việt Nam do Cục Kiểm tra văn bản - Bộ Tư pháp tổ chức tại TP. Hồ Chí Minh ngày 25/7/2019.

[2]. Theo báo cáo của ông Đồng Ngọc Ba - Cục trưởng Cục kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật tại Hội thảo về thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả tra cứu, tìm kiếm các quy định của pháp luật trong Bộ Pháp điển Việt Nam do Cục Kiểm tra văn bản - Bộ Tư pháp tổ chức tại TP. Hồ Chí Minh ngày 25/7/2019.

[3]. Khoản 3 Điều 8 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015: “Tùy theo nội dung, văn bản quy phạm pháp luật có thể được bố cục theo phần, chương, mục, tiểu mục, điều, khoản, điểm; các phần, chương, mục, tiểu mục, điều trong văn bản quy phạm pháp luật phải có tiêu đề…”

[4]. Vũ Thị Ngọc Dung, Chuyên đề “Một số hạn chế của Bộ pháp điển gây khó khăn trong việc khai thác và sử dụng”, Kỷ yếu Hội thảo về thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả tra cứu, tìm kiếm các quy định của pháp luật trong Bộ Pháp điển Việt Nam, tổ chức tại TP. Hồ Chí Minh ngày 25/7/2019.

[5]. Khoản 1 Điều 3 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 quy định: “Quy phạm pháp luật là quy tắc xử sự chung, có hiệu lực bắt buộc chung, được áp dụng lặp đi lặp lại nhiều lần đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân trong phạm vi cả nước hoặc đơn vị hành chính nhất định, do cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền quy định trong Luật này ban hành và được Nhà nước bảo đảm thực hiện”.

[6]. Điều 4 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 chỉ liệt kê các văn bản thuộc hệ thống văn bản QPPL chứ không sắp xếp các văn bản này theo thứ bậc hiệu lực pháp lý, do đó việc xác định hiệu lực văn bản QPPL phải tuân theo nguyên tắc áp dụng pháp luật trên thực tế. Điều này cũng gây khó khăn cho công tác pháp điển.

[7]. Xem thêm: Điều 4 Luật Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015.

[8]. Theo báo cáo của ông Đồng Ngọc Ba - Cục trưởng Cục kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật tại Hội thảo về thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả tra cứu, tìm kiếm các quy định của pháp luật trong Bộ Pháp điển Việt Nam do Cục Kiểm tra văn bản - Bộ Tư pháp tổ chức tại TP.HCM ngày 25/7/2019.

[9]. Xem thêm: Điều 156 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 về áp dụng văn bản QPPL.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Trong bối cảnh tai nạn lao động vẫn diễn biến phức tạp, chuyển đổi số đang mở ra khả năng thay đổi căn bản phương thức quản trị an toàn, vệ sinh lao động (ATVSLĐ) tại doanh nghiệp. Từ số hóa hoạt động huấn luyện, cấp chứng nhận điện tử đến ứng dụng trí tuệ nhân tạo, cảm biến và robot để nhận diện, cảnh báo sớm nguy cơ, vấn đề đặt ra hiện nay là cần tiếp tục hoàn thiện hành lang pháp lý để chuyển từ quản lý mang tính thủ tục, hậu kiểm sang quản trị chủ động, lấy phòng ngừa rủi ro làm trọng tâm.
Đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

Đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

Với mục tiêu đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, thành phố Hà Nội đặt trọng tâm vào đổi mới nội dung, hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật, tăng cường ứng dụng công nghệ số và xây dựng đội ngũ làm công tác phổ biến, giáo dục pháp luật am hiểu địa bàn, phong tục, tập quán và văn hóa của người dân nơi đây.
Quan điểm, định hướng mới của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai

Quan điểm, định hướng mới của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai

Ngày 16/6/2022, Ban chấp hành trung ương Đảng khóa XIII ban hành Nghị quyết số 18-NQ/TW về "Tiếp tục đổi mới, hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý và sử dụng đất, tạo động lực đưa nước ta trở thành nước phát triển có thu nhập cao" (Nghị quyết số 18-NQ/TW). Để hiện thực hóa mục tiêu đưa đất nước trở thành nước phát triển có thu nhập cao, trong thời điểm hiện tại, nhằm phù hợp với sự phát triển chung của đất nước, Hội nghị lần thứ ba, Ban chấp hành trung ương Đảng khóa XIV đã đưa ra những quan điểm, định hướng sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan tại Nghị quyết số 21-NQ/TW ngày 28/7/2026 (Nghị quyết số 21-NQ/TW) làm kim chỉ nam cho mọi hoạt động sửa đổi chính sách pháp luật sau này. Nghị quyết số 21-NQ/TW đã thể hiện những điểm mới trong chủ trương của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan.
Luật Thủ đô năm 2026: Mở rộng cơ hội đầu tư cho nhiều dự án

Luật Thủ đô năm 2026: Mở rộng cơ hội đầu tư cho nhiều dự án

Luật Thủ đô năm 2026 được Quốc hội thông qua ngày 23/4/2026 và có hiệu lực từ ngày 01/7/2026, tiếp tục hoàn thiện các cơ chế, chính sách đặc thù nhằm xây dựng và phát triển Thủ đô. Đáng chú ý, tại Điều 26 của Luật đã thiết lập khung chính sách tương đối toàn diện về thu hút đầu tư, ưu đãi, hỗ trợ đầu tư và phát triển doanh nghiệp, mở rộng cơ hội cho nhiều dự án trên địa bàn Thành phố được tiếp cận các chính sách ưu đãi về đất đai, thuế, tín dụng, hạ tầng, phát triển nhân lực và đổi mới sáng tạo.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Tóm tắt: Trong bối cảnh hệ thống pháp luật ngày càng phức tạp và thường xuyên thay đổi, việc tiếp cận, hiểu và sử dụng pháp luật trở thành thách thức đối với người dân. Mô hình phổ biến, giáo dục pháp luật hiện nay chủ yếu tập trung vào truyền đạt văn bản, chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu hỗ trợ người dân sử dụng pháp luật trong thực tiễn. Trên cơ sở phân tích xu hướng quốc tế về tiếp cận công lý lấy người dân làm trung tâm và ứng dụng công nghệ số, nghiên cứu đề xuất chuyển từ mô hình “phổ biến pháp luật” sang “hạ tầng tuân thủ phòng ngừa”, gắn phổ biến pháp luật với nhu cầu thực tiễn, cảnh báo sớm rủi ro pháp lý và hỗ trợ tra cứu, sử dụng pháp luật hiệu quả trong môi trường số.
Nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng cho người gửi tiền ở Việt Nam

Nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng cho người gửi tiền ở Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh ngân hàng số phát triển, thông tin chưa được kiểm chứng có thể tác động nhanh đến tâm lý và hành vi của người gửi tiền. Nghiên cứu phân tích quy định pháp luật và thực tiễn phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cho thấy, hoạt động này chưa chú trọng đầy đủ đến mức độ hiểu và khả năng vận dụng pháp luật của người gửi tiền; nội dung còn thiên về tính chuyên môn; phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật và cơ chế cung cấp thông tin kịp thời còn hạn chế. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá, tích hợp thông tin pháp luật ngắn gọn vào dịch vụ ngân hàng số và tăng cường cung cấp thông tin chính thức, kịp thời nhằm bảo vệ người gửi tiền và củng cố niềm tin vào hệ thống ngân hàng.
Phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Tóm tắt: Quyền con người phản ánh sự kết tinh những giá trị nhân phẩm cao quý của nhân loại. Nghiên cứu công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người là phân tích, đánh giá phương thức thể chế hóa các chủ trương của Đảng về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đồng thời, đề xuất giải pháp khắc phục những hạn chế của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 trước thách thức mới từ công nghệ số. Trên cơ sở tổng hợp và so sánh luật học, nghiên cứu phân tích, đánh giá vai trò của công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người và thực trạng thi hành Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012. Đồng thời, nghiên cứu đánh giá tính phù hợp, khả thi của dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)* (dự thảo Luật). Từ đó, kiến nghị và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Luật Phòng, chống ma túy năm 2021 quy định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi nghiện ma túy mà không tự nguyện cai nghiện. Mặc dù không được xem là biện pháp xử lý hành chính nhưng biện pháp này mang tính cách ly người bị áp dụng khỏi cộng đồng. Để bảo vệ quyền của người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi, pháp luật cho phép các chủ thể liên quan khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành chưa quy định quyền khởi kiện hay kháng cáo đối với quyết định này. Nghiên cứu phân tích bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi, đồng thời, đề xuất giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật nhằm bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người bị áp dụng biện pháp này.
Nâng cao trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Nâng cao trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã xác định rõ trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật. Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, cải cách tư pháp và chuyển đổi số quốc gia, vai trò này ngày càng trở nên quan trọng. Nghiên cứu phân tích cơ sở chính trị, pháp lý, thực trạng quy định pháp luật và thực tiễn triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật của Tòa án nhân dân; trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện hoạt động này trong hệ thống Tòa án nhân dân.
Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Sự phát triển của nền tảng số, mạng xã hội và trí tuệ nhân tạo tạo sinh đang làm thay đổi phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật, đồng thời, đặt ra nhiều thách thức trong kiểm soát thông tin pháp luật trên môi trường số. Bên cạnh việc mở rộng khả năng tiếp cận pháp luật của người dân, tình trạng lan truyền thông tin pháp luật sai lệch, thiếu kiểm chứng hoặc được tạo sinh bởi hệ thống trí tuệ nhân tạo đang ảnh hưởng đến hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật và quyền tiếp cận thông tin pháp luật chính xác. Trên cơ sở phân tích các vấn đề lý luận, đánh giá thực trạng quy định và thực tiễn áp dụng pháp luật tại Việt Nam, nghiên cứu phân tích bất cập trong kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số và đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả quản lý và bảo đảm chính xác của thông tin pháp luật trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật.
Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 7/2026

Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 7/2026

(Cập nhật bởi LuatVietnam.vn)
Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam[1]

Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam[1]

Tóm tắt: Mô hình chính quyền địa phương hai cấp được triển khai ở Việt Nam từ ngày 01/7/2025 đánh dấu bước chuyển quan trọng trong quá trình đổi mới tổ chức bộ máy nhà nước theo hướng tinh, gọn, tăng cường phân quyền, phân cấp và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị địa phương. Nghiên cứu phân tích các cơ hội và thách thức trong quá trình triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam, làm rõ những vấn đề đặt ra trong hoàn thiện thể chế, bảo đảm nguồn lực và nâng cao năng lực quản trị địa phương, từ đó, đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam thời gian tới.
Một số bất cập của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 và kiến nghị hoàn thiện

Một số bất cập của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Sau hơn 13 năm thi hành, Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng trong triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, góp phần nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ và Nhân dân. Tuy nhiên, trước yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, chuyển đổi số và hoàn thiện thể chế theo chủ trương, định hướng của Đảng, nhiều quy định của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 bộc lộ những hạn chế, bất cập. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, tổng kết thực tiễn thi hành và bối cảnh phát triển đất nước giai đoạn mới, nghiên cứu làm rõ những bất cập về tổ chức thực hiện công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên pháp luật, đối tượng đặc thù, nội dung, hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật và sự không thống nhất của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 với một số luật liên quan. Từ đó, kiến nghị sửa đổi, bổ sung nhằm hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật và nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong bối cảnh hiện nay.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật - Yêu cầu chuyển từ phổ biến, giáo dục pháp luật hình thức sang tiếp cận dựa trên nhu cầu của người dân

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật - Yêu cầu chuyển từ phổ biến, giáo dục pháp luật hình thức sang tiếp cận dựa trên nhu cầu của người dân

Tóm tắt: Việc sửa đổi Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 là cấp thiết trước yêu cầu khắc phục tình trạng tuyên truyền thiên về hình thức, chưa gắn chặt với những vấn đề pháp lý mà người dân thực sự cần được hỗ trợ. Nghiên cứu phân tích khoảng cách giữa nguyên tắc phù hợp với nhu cầu và cơ chế nhận diện, phản ánh, đáp ứng, đo lường nhu cầu pháp lý trong dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật[1] (dự thảo Luật). Trên cơ sở phân tích quy phạm, bình luận chính sách và tiếp cận liên ngành về nhu cầu pháp lý, năng lực pháp lý, tiếp cận công lý, nghiên cứu tập trung vào các quy định về nguyên tắc, nội dung, hình thức, hướng dẫn và giải đáp pháp luật, đối tượng đặc thù, giáo dục pháp luật trong cơ sở giáo dục, trách nhiệm tổ chức thực hiện, cơ chế cấp xã, chuyển đổi số và đánh giá hiệu quả. Kết quả nghiên cứu cho thấy, dự thảo Luật đã có nhiều định hướng tích cực nhưng thiếu cơ chế khảo sát nhu cầu, thiết kế nội dung theo tình huống, chuyển tuyến hỗ trợ pháp lý và đánh giá khả năng hiểu, vận dụng pháp luật. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện các cơ chế bảo đảm cách tiếp cận lấy nhu cầu pháp lý của người dân làm trung tâm.
Chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên ở Việt Nam

Chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên ở Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển nhanh, mạnh mẽ của không gian mạng đang tác động sâu sắc đến đời sống xã hội, đồng thời, đặt ra nhiều rủi ro đối với người chưa thành niên. Trong bối cảnh đó, chuyển đổi số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật trở thành yêu cầu cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả tiếp cận pháp luật cho nhóm đối tượng này. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết của chuyển đổi số trong phổ biến, giáo dục pháp luật đối với người chưa thành niên; đánh giá thực trạng triển khai tại Việt Nam, chỉ ra những hạn chế, bất cập, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên.

Theo dõi chúng tôi trên: