Thứ năm 12/03/2026 13:48
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Bộ pháp điển - Một số điểm bất cập trong quá trình xây dựng và áp dụng trên thực tế

Việc xây dựng Bộ pháp điển được đặt ra để giải quyết tình trạng hệ thống pháp luật còn rất phức tạp với nhiều chủ thể ban hành nhiều loại văn bản quy phạm pháp luật, số lượng văn bản quy phạm pháp luật được ban hành rất lớn và có xu hướng tiếp tục gia tăng gây khó khăn cho việc áp dụng trên thực tế. Tuy nhiên, quá trình xây dựng Bộ pháp điển để đưa vào khai thác, sử dụng còn gặp phải một số bất cập. Bài viết phân tích và đưa ra một số kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng của Bộ pháp điển Việt Nam hiện nay.


1. Giới thiệu về Bộ pháp điển và tầm quan trọng của Bộ pháp điển

Ngày 16/4/2012, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã thông qua Pháp lệnh Pháp điển hệ thống quy phạm pháp luật (sau đây gọi tắt là Pháp lệnh Pháp điển), tạo cơ sở pháp lý nền tảng cho công tác pháp điển. Theo đó, pháp điển hệ thống quy phạm pháp luật (QPPL) là việc cơ quan nhà nước rà soát, tập hợp, sắp xếp các QPPL đang còn hiệu lực trong các văn bản QPPL do cơ quan nhà nước ở trung ương ban hành, trừ Hiến pháp, để xây dựng Bộ pháp điển. Việc pháp điển được thực hiện đối với các QPPL trong văn bản QPPL của cơ quan nhà nước ở trung ương. Theo Quyết định số 1267/QĐ-TTg ngày 29/7/2014 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt Đề án xây dựng Bộ pháp điển, Bộ pháp điển được xây dựng trong 10 năm (2014 - 2023), cụ thể:

Giai đoạn 1 (2014 - 2017) thực hiện pháp điển xong 08 chủ đề gồm: Dân tộc; Hành chính tư pháp; Ngân hàng, tiền tệ; Tài chính; Thống kê; Tôn giáo, tín ngưỡng; Tương trợ tư pháp; Văn thư, lưu trữ.

Giai đoạn 2 (2018 - 2020) thực hiện pháp điển xong 27 chủ đề gồm: Bưu chính, viễn thông; Bổ trợ tư pháp; Cán bộ, công chức, viên chức; Chính sách xã hội; Công nghiệp; Dân số, gia đình, trẻ em, bình đẳng giới; Dân sự; Đất đai; Doanh nghiệp, hợp tác xã; Giáo dục, đào tạo; Giao thông, vận tải; Hình sự; Kế toán, kiểm toán; Khiếu nại, tố cáo; Khoa học, công nghệ; Môi trường; Tài nguyên; Tài sản công, nợ công, dự trữ nhà nước; Thi đua, khen thưởng, các danh hiệu vinh dự nhà nước; Thi hành án; Thông tin, báo chí, xuất bản; Thuế, phí, lệ phí, các khoản thu khác; Thương mại, đầu tư, chứng khoán; Tổ chức chính trị - xã hội, hội; Văn hóa, thể thao, du lịch; Xây dựng, nhà ở; Xây dựng pháp luật và thi hành pháp luật; Đô thị.

Giai đoạn 3 (2021 - 2023) thực hiện pháp điển xong 10 chủ đề gồm: An ninh quốc gia; Bảo hiểm; Lao động; Ngoại giao, điều ước quốc tế; Nông nghiệp, nông thôn; Quốc phòng; Tổ chức bộ máy nhà nước; Tố tụng và các phương thức giải quyết tranh chấp; Trật tự an toàn xã hội; Y tế, dược.

Để tổ chức triển khai thực hiện công tác pháp điển, ngày 06/6/2014, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 843/QĐ-TTg phê duyệt Danh mục các đề mục trong mỗi chủ đề và phân công cơ quan pháp điển theo đề mục (sau đây gọi tắt là Quyết định số 843/QĐ-TTg). Theo đó, Bộ pháp điển chứa đựng 265 đề mục thuộc 45 chủ đề kể trên.

Đến nay, chúng ta đã thực hiện pháp điển xong 120/265 đề mục được Chính phủ phê duyệt và đưa vào khai thác, sử dụng. Bước đầu Bộ pháp điển đã được xã hội đón nhận tích cực, khai thác và sử dụng. Đặc biệt, các cơ quan nhà nước và một số luật sư, doanh nghiệp đã thường xuyên khai thác, sử dụng và coi Bộ pháp điển là một trong những công cụ hữu hiệu hỗ trợ giải quyết công việc. Việc xây dựng Bộ pháp điển mang lại nhiều lợi ích cho người dân và toàn xã hội, cụ thể:

Thứ nhất, Bộ pháp điển góp phần giúp người dân, doanh nghiệp hay cơ quan nhà nước dễ dàng, thuận tiện trong tìm kiếm, tra cứu cũng như quản lý các quy phạm pháp luật đang còn hiệu lực

Thực tế cho thấy, hiện nay, cả nước có 8.748 văn bản QPPL do các chủ thể có thẩm quyền ở trung ương ban hành và 52.544 văn bản QPPL do các chủ thể có thẩm quyền ở địa phương ban hành[1]. Số lượng các QPPL trong các văn bản QPPL đồ sộ, phức tạp đó được lựa chọn, sắp xếp vào các đề mục trong các chủ đề với phạm vi nội dung được xác định rõ ràng, ổn định, có tính logic và hệ thống cao tạo điều kiện thuận lợi cho việc tiếp cận, tra cứu, tìm kiếm các quy định pháp luật theo lĩnh vực cụ thể.

Bên cạnh đó, việc Bộ pháp điển lựa chọn, đưa vào đề mục những QPPL đang có hiệu lực có ý nghĩa rất lớn trong việc thi hành pháp luật bởi việc áp dụng Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 về các trường hợp khiến cho văn bản QPPL hết hiệu lực (Điều 154) đang gặp nhiều bất cập trên thực tế. Thậm chí, có câu chuyện hy hữu xảy ra đó là chính Bộ trưởng ban hành Thông tư còn không xác định được là Thông tư mình ban hành có còn hiệu lực hay không[2], vậy thì người dân, doanh nghiệp biết tìm đâu cơ sở pháp lý để áp dụng pháp luật. Hiện nay, có khá nhiều trang thông tin điện tử cung cấp dữ liệu văn bản QPPL (miễn phí hoặc có thu phí) tuy nhiên, nếu gặp phải văn bản như ví dụ trên thì những chủ thể này cũng khó xác định chính xác hiệu lực văn bản QPPL. Chính vì vậy, việc rà soát toàn bộ các văn bản QPPL để xác định văn bản nào còn hiệu lực và văn bản nào hết hiệu lực để đưa vào Bộ pháp điển có ý nghĩa rất lớn trong việc tổ chức thi hành pháp luật.

Thứ hai, việc xây dựng Bộ pháp điển góp phần nâng cao tính thống nhất, tính đồng bộ của hệ thống quy phạm pháp luật

Pháp điển là việc sắp xếp các QPPL theo một trật tự với bố cục logic từ đó phát hiện những quy định trái pháp luật, mâu thuẫn, chồng chéo, không phù hợp để có các biện pháp xử lý kịp thời. Thậm chí có cả những khoảng trống các quan hệ xã hội chưa có các QPPL quy định, điều chỉnh. Do đó, thông qua việc pháp điển sẽ giúp góp phần nâng cao tính thống nhất, tính đồng bộ của các QPPL trong hệ thống văn bản QPPL nước ta.

Thứ ba, việc xây dựng Bộ pháp điển trên cơ sở pháp điển hệ thống quy phạm pháp luật tạo thuận lợi trong quá trình xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật

Pháp điển là việc tập hợp, sắp xếp các QPPL vào từng đề mục, chủ đề theo một lĩnh vực, nhóm lĩnh vực cụ thể qua đó giúp cơ quan soạn thảo có cái nhìn tổng thể, toàn diện về thực trạng hệ thống pháp luật hiện nay. Cũng chính từ đây, các điều luật được xây dựng sẽ phù hợp và thống nhất với các quy định trong hệ thống pháp luật, đảm bảo tính hợp hiến, hợp pháp. Bộ pháp điển cũng giúp cho việc sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành mới các quy định được thực hiện một cách dễ dàng hơn trên cơ sở các quy định trong Bộ pháp điển mà không phải tiến hành rà soát, kiểm tra các văn bản phân tán trong hệ thống pháp luật như hiện nay.

Thứ tư, việc xây dựng và đưa vào sử dụng Bộ pháp điển góp phần nâng cao tính công khai, minh bạch của hệ thống pháp luật và sự tin tưởng của người dân vào hệ thống pháp luật

Bộ pháp điển là việc sắp xếp các QPPL theo một trật tự với bố cục logic, hợp lý giúp các cá nhân, tổ chức dễ dàng, thuận tiện trong tra cứ, tìm kiếm các quy định của pháp luật. Qua đó, Bộ pháp điển góp phần bảo đảm tính công khai, minh bạch của hệ thống pháp luật và nâng cao sự tin tưởng của người dân vào hệ thống pháp luật.

Đồng thời, theo Đề án xây dựng Bộ pháp điển, sau khi Chính phủ thông qua từng phần của Bộ pháp điển thì kết quả đó được đăng tải và duy trì thường xuyên, liên tục trên Cổng thông tin điện tử pháp điển và được sử dụng miễn phí. Đây là Cổng thông tin độc lập, đăng tải Bộ pháp điển điện tử, do Nhà nước giữ bản quyền và giao Bộ Tư pháp thống nhất quản lý, duy trì hoạt động. Điều này giúp cho người dân, doanh nghiệp và các cơ quan nhà nước tiếp cận hệ thống văn bản QPPL một cách nhanh chóng, chính xác, kịp thời, đầy đủ hơn mà không phải trả bất kỳ một khoản chi phí nào.

Những lợi ích mà công tác xây dựng, hoàn thiện Bộ pháp điển kể trên không chỉ có ý nghĩa lớn trong việc xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật mà nó còn giúp cho quá trình tổ chức thực thi pháp luật được thuận lợi, dễ dàng. Do đó, Bộ pháp điển có tầm quan trọng rất lớn trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

2. Một số hạn chế của Bộ pháp điển

Một là, Điều 6 Pháp lệnh Pháp điển quy định Bộ pháp điển được cấu trúc theo các chủ đề. Mỗi chủ đề có một hoặc nhiều đề mục. Trong đề mục, tùy theo nội dung có thể có phần, chương, mục, điều, khoản, điểm (không có tiểu mục). Tuy nhiên, theo quy định tại khoản 3 Điều 8 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 thì cấu trúc của văn bản có thể có tiểu mục[3]. Quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 xuất phát từ thực tiễn bởi hệ thống pháp luật hiện nay rất cồng kềnh, phức tạp nên bổ sung thêm tiểu mục là cần thiết. Chính vì vậy, để phù hợp với quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 và thuận lợi trong xây dựng Bộ pháp điển về mặt hình thức như hiện nay thì Điều 6 Pháp lệnh Pháp điển cần bổ sung thêm “tiểu mục” trong cấu trúc của Bộ pháp điển như sau: “Bộ pháp điển được cấu trúc theo các chủ đề. Mỗi chủ đề có một hoặc nhiều đề mục. Trong đề mục, tùy theo nội dung có thể có phần, chương, mục, tiểu mục, điều, khoản, điểm”.

Hai là, Điều 7 Pháp lệnh Pháp điển quy định Bộ pháp điển gồm có 45 chủ đề và 271 đề mục (Theo Quyết định số 843/QĐ-TTg). Tuy nhiên, hiện nay cấu trúc của Bộ pháp điển chưa bảo đảm sự cân đối giữa các chủ đề. Ví dụ: Có những chủ đề gồm hơn 10 đề mục, khối lượng văn bản đồ sộ lên tới hàng nghìn văn bản như chủ đề Thuế, phí, lệ phí và các khoản thu khác nhưng cũng có nhiều chủ đề có 1, 2 đề mục, chỉ có khoảng dưới 10 văn bản như chủ đề Tôn giáo, tín ngưỡng; chủ đề Dân tộc… Chính vì vậy, trong quá trình xây dựng Bộ Pháp điển, chúng ta có thể nghiên cứu việc gộp hoặc tách các chủ đề cho phù hợp. Ví dụ: Chủ đề Dân tộc gộp với chủ đề Tôn giáo, tín ngưỡng; Chủ đề Tương trợ tư pháp gộp với chủ đề Ngoại giao, điều ước quốc tế…

Ba là, các đề mục sắp xếp trong các chủ đề hiện nay cũng chưa logic, thống nhất về phạm vi QPPL điều chỉnh, ví dụ: Đề mục Đăng ký giao dịch bảo đảm và đề mục Giao dịch bảo đảm có hệ thống văn bản QPPL đều thuộc phạm vi của đề mục Dân sự và cần được pháp điển vào đề mục Dân sự, nhưng hiện nay Bộ pháp điển tách riêng làm 03 đề mục độc lập. Việc xác định phạm vi hệ thống QPPL để nhóm thành các chủ đề của Bộ pháp điển cũng chưa hợp lý, cụ thể: Đề mục Mặt trận Tổ quốc Việt Nam lại được sắp xếp cùng với các đề mục thuộc chủ đề Tổ chức bộ máy nhà nước trong khi Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là một thiết chế độc lập, không thuộc bộ máy nhà nước nên việc sắp xếp chủ đề như vậy chưa thực sự phù hợp[4].

Bốn là, việc sắp xếp các quy phạm pháp luật trong Bộ pháp điển hiện nay chưa bảo đảm tính logic, dễ tra cứu, sử dụng

- Điều 2 Pháp lệnh Pháp điển quy định: “Pháp điển hệ thống QPPL là việc cơ quan nhà nước rà soát, tập hợp, sắp xếp các QPPL đang còn hiệu lực trong các văn bản QPPL do cơ quan nhà nước ở trung ương ban hành, trừ Hiến pháp, để xây dựng Bộ pháp điển”. Như vậy, việc xây dựng Bộ pháp điển phải là pháp điển theo QPPL. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy, mặc dù chúng ta đã có khái niệm QPPL[5] nhưng việc xác định QPPL còn gây nhiều tranh cãi và với khối lượng văn bản QPPL đồ sộ như hiện nay thì việc pháp điển theo QPPL là không khả thi. Do đó, khi xây dựng Nghị định số 63/2013/NĐ-CP ngày 27/6/2013 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Pháp lệnh Pháp điển hệ thống quy phạm pháp luật (Nghị định số 63/2013/NĐ-CP) thì mô hình Bộ pháp điển được xác định là pháp điển theo điều. Xét theo nguyên tắc áp dụng pháp luật thì Pháp lệnh Pháp điển có hiệu lực pháp lý cao hơn Nghị định số 63/2013/NĐ-CP nên chúng ta phải ưu tiên áp dụng Pháp lệnh Pháp điển. Tuy nhiên, hiện nay chúng ta đang tiến hành pháp điển theo điều như vậy vô hình chung lại vi phạm quy định trong Pháp lệnh Pháp điển. Do đó, để đảm bảo tính thống nhất trong hệ thống pháp luật cũng như yêu cầu của thực tiễn thì Pháp lệnh Pháp điển cần sửa đổi thành pháp điển theo điều chứ không phải pháp điển theo QPPL như hiện nay.



- Về việc bố trí, sắp xếp các điều còn chưa phù hợp, gây khó khăn cho việc tra cứu. Theo quy định của Nghị định số 63/2013/NĐ-CP thì đơn vị nhỏ nhất của văn bản được đưa vào Bộ pháp điển là điều. Như vậy, các điều quy định về cùng một nội dung khi đưa vào Bộ pháp điển cần được sắp xếp theo thứ bậc hiệu lực pháp lý của QPPL từ cao xuống thấp. Tuy nhiên, trong một đề mục, trừ văn bản QPPL có giá trị pháp lý cao nhất thì các văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành có thể có nhiều văn bản cùng giá trị hiệu lực pháp lý[6]. Trường hợp các điều này thuộc các văn bản QPPL có cùng cấp hiệu lực thì được sắp xếp theo trật tự thời gian ban hành của văn bản. Nguyên tắc sắp xếp các QPPL như vậy gây hạn chế trong trường hợp những nội dung QPPL quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành bị sắp xếp ở xa với nội dung được quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành, đặc biệt là đối với những người dân không có nhiều kiến thức chuyên môn về pháp luật thì sẽ gặp khó khăn trong việc tra cứu, tìm kiếm quy định.

Năm là, cách thức ghi chú trong Bộ pháp điển hiện nay chưa rõ ràng, khoa học

Ghi chú của điều là việc ghi rõ từng điều của Bộ pháp điển tương ứng với điều nào trong văn bản sử dụng để pháp điển. Tại điều đầu tiên của mỗi văn bản được pháp điển thì phải ghi chú đầy đủ các thành phần quy định tại khoản 1 Điều 5 Nghị định số 63/2013/NĐ-CP; đối với các điều tiếp theo, thì chỉ ghi chú số thứ tự của điều; số, ký hiệu, thời điểm có hiệu lực của văn bản. Trường hợp nội dung của điều trong văn bản được pháp điển bị sửa đổi, bổ sung thì bổ sung phần ghi chú về nội dung sửa đổi, bổ sung, số, ký hiệu của văn bản sửa đổi, bổ sung và thời điểm có hiệu lực của văn bản. Ghi chú được đặt trong ngoặc đơn ở dòng kế tiếp sau dòng về tên gọi của điều trong Bộ pháp điển bằng chữ in nghiêng, có cỡ chữ nhỏ hơn cỡ chữ của điều được ghi chú. Điển hình là những ghi chú về nội dung sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ các QPPL thể hiện chưa cụ thể “nội dung được sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ” theo quy định tại Điều 5 Nghị định số 63/2013/NĐ-CP.

Tuy nhiên hiện nay, phần mềm pháp điển cũng chưa đáp ứng được việc ghi chú chính xác nội dung được sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ cũng như cập nhật sự thay đổi về hiệu lực của từng điều trong các văn bản QPPL. Do vậy, nhiều ghi chú cũng dễ bị lỗi thời, thiếu chính xác.

Sáu là, cách thức chỉ dẫn các nội dung có liên quan trong Bộ pháp điển chưa cụ thể, còn hình thức

Trong Bộ pháp điển, đề mục, phần, chương, mục, tiểu mục, điều được đánh số thứ tự, trường hợp có liên quan đến nội dung khác của Bộ pháp điển thì phải được chỉ dẫn. Các điều trong Bộ pháp điển được ký hiệu để phân biệt hình thức văn bản QPPL và được ghi chú để nhận biết điều của văn bản QPPL được pháp điển. Các điều quy định về cùng một nội dung nhưng không được sắp xếp với nhau mà được sắp xếp vào các vị trí xa nhau, các đề mục khác nhau thì các điều này được chỉ dẫn là “có nội dung liên quan”.

Điều 6 Nghị định số 63/2013/NĐ-CP quy định: Chỉ dẫn là việc chỉ ra các đề mục, phần, chương, mục hoặc điều của Bộ pháp điển có nội dung liên quan trực tiếp đến nhau, tùy từng trường hợp, việc chỉ dẫn được thực hiện giữa các đề mục, phần, chương, mục hoặc điều của Bộ pháp điển. Chỉ dẫn được đặt trong ngoặc đơn, ngay sau nội dung được chỉ dẫn bằng chữ in nghiêng, có cỡ chữ nhỏ hơn cỡ chữ của nội dung được chỉ dẫn. Như vậy, việc chỉ dẫn là sự xác định các nội dung trong Bộ pháp điển có liên quan đến nhau. Tuy nhiên, thực tế cho thấy các bộ hiện nay vẫn đang tiến hành xây dựng Bộ pháp điển và chúng ta mới chỉ hoàn thành được 120/265 đề mục. Điều đó đồng nghĩa với việc còn nhiều văn bản QPPL chưa được đưa vào Bộ pháp điển. Do đó, để giải quyết tình trạng này, Điều 13 Nghị định số 63/2013/NĐ-CP quy định:

(i) Trường hợp phần, chương, mục, điều của các văn bản được pháp điển có nội dung liên quan đến phần, chương, mục, điều của văn bản khác thì cơ quan thực hiện pháp điển ghi rõ số thứ tự, tên gọi của phần, chương, mục, điều, số, ký hiệu, tên gọi, ngày tháng năm ban hành của văn bản khác đó bằng chữ in nghiêng và được đặt trong ngoặc đơn vào cuối phần, chương, mục, điều của văn bản được pháp điển.

(ii) Trường hợp phần, chương, mục hoặc điều của văn bản được pháp điển có nội dung liên quan đến phần, chương, mục hoặc điều của đề mục đã có trong Bộ pháp điển thì cơ quan thực hiện pháp điển ghi rõ số thứ tự, tên gọi của phần, chương, mục hoặc điều của đề mục đó bằng chữ in nghiêng và được đặt trong ngoặc đơn, ở cuối phần, chương, mục, điều của văn bản được pháp điển.

Tuy nhiên, Pháp lệnh Pháp điển và Nghị định số 63/2013/NĐ-CP đều chưa xác định cụ thể thế nào là “nội dung có liên quan”. Do vậy, hiện nay nhiều QPPL được chỉ dẫn rất dài, liên quan đến nhiều QPPL nhưng không phân biệt được đâu là QPPL liên quan, hướng dẫn trực tiếp, đâu là QPPL liên quan gián tiếp nên không mang lại hiệu quả sử dụng khi tra cứu, áp dụng Bộ pháp điển.

Tóm lại, cấu trúc, nội dung Bộ pháp điển sắp xếp chưa thực sự hợp lý, logic nên những người dân ít hiểu biết về pháp luật và công nghệ thông tin sẽ gặp khó khăn trong việc tra cứu. Nếu không điều chỉnh cấu trúc và nội dung Bộ pháp điển để việc tra cứu dễ dàng hơn thì “tâm lý e ngại của đám đông” cũng sẽ là một rào cản khiến cho Bộ pháp điển khó có thể được sử dụng rộng rãi.

Bảy là, việc quản lý Bộ pháp điển hiện nay chưa bảo đảm cập nhật kịp thời quy phạm pháp luật được ban hành mới

Theo Pháp lệnh Pháp điển, việc cập nhật QPPL mới ban hành không chỉ được giao cho Bộ Tư pháp thực hiện mà do nhiều cơ quan thực hiện (theo thẩm quyền ban hành văn bản QPPL[7]). Bên cạnh đó, quy trình ban hành văn bản QPPL cũng như pháp điển QPPL mới còn phức tạp nên không đảm bảo được việc cập nhật QPPL mới ban hành đúng ngày QPPL đó có hiệu lực khiến Bộ pháp điển bị lỗi thời.

Trong khi đó, nguồn văn bản QPPL được sử dụng để pháp điển là từ Cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật. Hiện nay, Chính phủ giao cho Bộ Tư pháp xây dựng Cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật - ứng dụng công nghệ thông tin trong việc quản lý hệ thống văn bản QPPL. Tuy nhiên, hệ thống văn bản QPPL được đăng tải trên Cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật cũng chưa được cập nhật kịp thời, đầy đủ. Điều này ảnh hướng lớn đến tính chính xác, đầy đủ trong Bộ pháp điển.

Bất cập này xuất phát từ việc chúng ta chưa có một phần mềm để tự động cập nhật sự thay đổi của các văn bản QPPL. Thực tế cho thấy, hiện nay việc cập nhật dữ liệu vào cơ sở dữ liệu quốc gia hay thực hiện công tác pháp điển đều do con người trực tiếp làm và chỉ thực hiện trong ngày làm việc và khoảng thời gian làm việc hành chính. Điều này gây trở ngại rất lớn vì người dân có thể tiếp cận Bộ pháp điển bất cứ khoảng thời gian nào và họ có thể sẽ gặp phải trường hợp tiếp cận với những QPPL đã hết hiệu lực mà Bộ pháp điển chưa kịp cập nhật. Hiện nay, số lượng văn bản QPPL rất lớn và số lượng ngày càng tăng lên. Theo thống kê, chỉ riêng Bộ trưởng Bộ Tài chính đã ban hành hơn 400 thông tư/năm, như vậy trung bình 01 ngày làm việc phải ký ít nhất 01 thông tư[8]. Do đó, chưa tính đến các chủ thể khác ban hành văn bản QPPL mới thì chỉ riêng việc cập nhật thông tư của một bộ kể trên cũng mất rất nhiều thời gian, nguồn lực nếu chỉ dùng sức người đơn thuần.

Chính vì vậy, việc đầu tư để có một phần mềm tự động cập nhật sự thay đổi của các văn bản QPPL vào Bộ pháp điển sẽ đảm bảo Bộ pháp điển luôn mới và đáp ứng được yêu cầu của người sử dụng. Bên cạnh đó, sau khi phần mềm tự động cập nhật thì chúng ta cũng có thể tự kiểm tra lại việc cập nhật của phần mềm, từ đó đảm bảo độ chính xác và tin cậy cao hơn cho Bộ pháp điển.

Tám là, phạm vi của Bộ pháp điển chưa đáp ứng được nhu cầu khai thác, sử dụng của người dân, doanh nghiệp

Bộ pháp điển hiện nay chỉ mới dừng lại ở việc rà soát các văn bản QPPL do các chủ thể có thẩm quyền ở trung ương ban hành để đưa vào Bộ pháp điển. Tuy nhiên, các văn bản QPPL ở địa phương lại có ý nghĩa quan trọng đối với hoạt động của người dân, doanh nghiệp bởi mỗi địa phương sẽ có những chính sách đặc thù để phát triển kinh tế - xã hội được thể chế hoá trong các văn bản QPPL. Chính vì vậy, tác giả kiến nghị cần thực hiện việc rà soát thêm các văn bản QPPL ở địa phương để đưa vào Bộ pháp điển.

Ngoài ra, Bộ pháp điển hiện nay cũng chỉ tập hợp các văn bản QPPL đang còn hiệu lực. Tuy nhiên, nhu cầu của nhiều nhóm đối tượng sử dụng Bộ pháp điển như: Tòa án, Viện kiểm sát, cơ quan điều tra, luật sư… thì không chỉ dừng lại ở việc áp dụng các QPPL đang có hiệu lực mà còn áp dụng cả những văn bản mà thời điểm hiện tại đã hết hiệu lực, không còn nằm trong Bộ pháp điển, bởi nguyên tắc áp dụng pháp luật là hành vi vi phạm xảy ra tại thời điểm nào thì áp dụng văn bản QPPL đang có hiệu lực tại thời điểm đó để xử lý vi phạm, trừ trường hợp được áp dụng hiệu lực hồi tố[9]. Vì vậy, hiện nay, Bộ pháp điển mới chỉ đáp ứng được một phần nhu cầu tra cứu, sử dụng của người dân, doanh nghiệp và các cơ quan, tổ chức.

Về nguyên tắc hiện nay, chúng ta vẫn còn 145/265 đề mục đang và chưa được pháp điển nên cần được hoàn thiện sau đó mới có thể tiếp tục nghiên cứu thực hiện việc liên kết, chỉ dẫn đến các văn bản đã hết hiệu lực nhằm tạo ra một hệ thống dữ liệu có tính liên kết cao, tạo điều kiện thuận lợi cho các chủ thể trong việc áp dụng pháp luật. Tuy nhiên, trong khoảng thời gian pháp điển 145 đề mục còn lại này thì chúng ta vẫn luôn cập nhật các QPPL mới được ban hành và loại những QPPL đã hết hiệu lực ra khỏi Bộ pháp điển nhưng nếu chỉ đơn thuần loại bỏ những QPPL này thì theo tác giả sẽ rất “lãng phí” vì chúng ta đã mất nhiều công sức để pháp điển QPPL đó. Chính vì vậy, theo ý kiến tác giả thì những QPPL nào bị loại ra khỏi Bộ pháp điển vì hết hiệu lực thì cần được nghiên cứu, sắp xếp vào một nội dung dữ liệu hết hiệu lực riêng để có thể dẫn chiếu từ QPPL đang có hiệu lực tại Bộ pháp điển sang. Như vậy, chúng ta tiến hành luôn hai việc: (i) Tiếp tục rà soát, cập nhật và xây dựng, hoàn thiện các đề mục còn lại của Bộ pháp điển; (ii) Tổng hợp được các QPPL hết hiệu lực có mối liên kết, chỉ dẫn đến Bộ pháp điển. Điều này có ý nghĩa quan trọng trong việc tiết kiệm thời gian, nguồn lực và tránh lãng phí cho hoạt động xây dựng Bộ pháp điển.

Bên cạnh đó, Bộ Tư pháp cũng cần có kế hoạch tập huấn cũng như tuyên truyền về Bộ pháp điển để nâng cao khả năng tiếp cận của Bộ pháp điển đến từng nhóm đối tượng sử dụng để Bộ pháp điển có thể được áp dụng rộng rãi trên thực tế.

Như vậy, để đưa Bộ pháp điển vào cuộc sống thì cần phải hoàn thiện hơn nữa Bộ pháp điển cả về nội dung và hình thức, cả về số lượng và chất lượng để thân thiện, tiện ích và đáp ứng tốt hơn nhu cầu tra cứu, sử dụng của người dân và các cơ quan, tổ chức.

Vũ Thị Ngọc Dung

Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh





[1]. Số liệu cập nhật đến ngày 31/5/2019, theo báo cáo của ông Đồng Ngọc Ba - Cục trưởng Cục kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật tại Hội thảo về thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả tra cứu, tìm kiếm các quy định của pháp luật trong Bộ Pháp điển Việt Nam do Cục Kiểm tra văn bản - Bộ Tư pháp tổ chức tại TP. Hồ Chí Minh ngày 25/7/2019.

[2]. Theo báo cáo của ông Đồng Ngọc Ba - Cục trưởng Cục kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật tại Hội thảo về thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả tra cứu, tìm kiếm các quy định của pháp luật trong Bộ Pháp điển Việt Nam do Cục Kiểm tra văn bản - Bộ Tư pháp tổ chức tại TP. Hồ Chí Minh ngày 25/7/2019.

[3]. Khoản 3 Điều 8 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015: “Tùy theo nội dung, văn bản quy phạm pháp luật có thể được bố cục theo phần, chương, mục, tiểu mục, điều, khoản, điểm; các phần, chương, mục, tiểu mục, điều trong văn bản quy phạm pháp luật phải có tiêu đề…”

[4]. Vũ Thị Ngọc Dung, Chuyên đề “Một số hạn chế của Bộ pháp điển gây khó khăn trong việc khai thác và sử dụng”, Kỷ yếu Hội thảo về thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả tra cứu, tìm kiếm các quy định của pháp luật trong Bộ Pháp điển Việt Nam, tổ chức tại TP. Hồ Chí Minh ngày 25/7/2019.

[5]. Khoản 1 Điều 3 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 quy định: “Quy phạm pháp luật là quy tắc xử sự chung, có hiệu lực bắt buộc chung, được áp dụng lặp đi lặp lại nhiều lần đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân trong phạm vi cả nước hoặc đơn vị hành chính nhất định, do cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền quy định trong Luật này ban hành và được Nhà nước bảo đảm thực hiện”.

[6]. Điều 4 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 chỉ liệt kê các văn bản thuộc hệ thống văn bản QPPL chứ không sắp xếp các văn bản này theo thứ bậc hiệu lực pháp lý, do đó việc xác định hiệu lực văn bản QPPL phải tuân theo nguyên tắc áp dụng pháp luật trên thực tế. Điều này cũng gây khó khăn cho công tác pháp điển.

[7]. Xem thêm: Điều 4 Luật Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015.

[8]. Theo báo cáo của ông Đồng Ngọc Ba - Cục trưởng Cục kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật tại Hội thảo về thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả tra cứu, tìm kiếm các quy định của pháp luật trong Bộ Pháp điển Việt Nam do Cục Kiểm tra văn bản - Bộ Tư pháp tổ chức tại TP.HCM ngày 25/7/2019.

[9]. Xem thêm: Điều 156 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 về áp dụng văn bản QPPL.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Để bảo đảm cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân được tiến hành dân chủ, đúng pháp luật, các quy định về phiếu bầu cử cũng như nguyên tắc, trình tự bỏ phiếu đã được quy định chặt chẽ[1]. Việc nắm rõ các quy định này giúp cử tri thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ trong ngày bầu cử.
[1] Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 và Nghị quyết số 40/NQ-HĐBCQG ngày 29/9/2025 của Hội đồng bầu cử quốc gia quy định mẫu văn bản hồ sơ ứng cử và việc hồ sơ ứng cử; nội quy phòng bỏ phiếu trong công tác bầu cử ĐBQH khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031
Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Trong quá trình tổ chức bầu cử, có thể phát sinh một số tình huống đặc biệt như dịch bệnh, thiên tai, hỏa hoạn hoặc vấn đề về an ninh, trật tự. Pháp luật về bầu cử đã quy định rõ thẩm quyền và phương án xử lý nhằm bảo đảm cuộc bầu cử được tổ chức an toàn, đúng quy định và bảo đảm quyền bầu cử của cử tri.
Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Để chuẩn bị cho “Ngày hội non sông” - Ngày bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031, công tác phân chia đơn vị bầu cử cần phải được triển khai với những yêu cầu khắt khe hơn bao giờ hết với mục tiêu trọng tâm là bảo đảm cân đối, tránh chênh lệch lớn, thuận tiện cho cử tri thực hiện quyền bầu cử như: Các khu vực đô thị, khu công nghiệp có đông cử tri; các khu vực miền núi, hải đảo có ít cử tri.
Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Pháp luật quy định cụ thể về nguyên tắc bỏ phiếu, cách ghi phiếu bầu, việc viết hộ, bỏ hộ phiếu và xử lý Thẻ cử tri nhằm bảo đảm việc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân diễn ra đúng quy định.
Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Cơ chế giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân giữ vai trò quan trọng trong việc bảo đảm tính dân chủ, minh bạch và hợp pháp của quá trình bầu cử. Pháp luật Việt Nam thiết lập cơ chế này trên cơ sở kết hợp giữa các quy định đặc thù của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân với các quy định chung của pháp luật về khiếu nại, tố cáo, qua đó hình thành khung pháp lý cho việc tiếp nhận, xem xét và xử lý các khiếu nại, tố cáo phát sinh trong quá trình bầu cử.
Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Một vụ án in và phát hành sách giáo khoa giả vừa được đưa ra xét xử đã tiếp tục gióng lên hồi chuông cảnh báo về tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực xuất bản, đặc biệt là đối với sách giáo dục - mặt hàng có nhu cầu cao và ảnh hưởng trực tiếp đến hàng triệu học sinh.
Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức thống nhất vào ngày 15/3/2026 theo Nghị quyết của Quốc hội. Tuy nhiên, pháp luật cho phép tổ chức bỏ phiếu sớm trong những trường hợp đặc biệt nhằm bảo đảm quyền bầu cử của công dân không thể tham gia bỏ phiếu vào ngày chính thức. Việc tổ chức bầu cử sớm phải tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc về thẩm quyền quyết định, trình tự thủ tục, kiểm phiếu, niêm phong, bảo mật kết quả và kỷ luật thời gian bỏ phiếu theo đúng quy định của Luật Bầu cử và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Vận động bầu cử của người ứng cử là hoạt động gặp gỡ, tiếp xúc cử tri hoặc thông qua phương tiện thông tin đại chúng để người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân báo cáo với cử tri về dự kiến chương trình hành động của mình nhằm thực hiện trách nhiệm đại biểu nếu được bầu làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân và trao đổi những vấn đề mà cử tri quan tâm; tạo điều kiện để cử tri tiếp xúc với người ứng cử, hiểu rõ hơn người ứng cử; trên cơ sở đó cân nhắc, lựa chọn, bầu những người đủ tiêu chuẩn làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.
Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, yêu cầu thượng tôn Hiến pháp và pháp luật không chỉ đặt ra đối với hoạt động của bộ máy nhà nước mà trở thành chuẩn mực ứng xử phổ biến trong xã hội. Pháp luật chỉ thực sự phát huy vai trò điều chỉnh các quan hệ xã hội khi được các chủ thể tiếp nhận, tôn trọng, tuân thủ thực hiện trên tinh thần chủ động, tự giác, gắn với niềm tin vào công bằng và trật tự xã hội. Thực tiễn cho thấy, hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, nhưng tình trạng vi phạm pháp luật trong một số lĩnh vực vẫn diễn biến phức tạp; còn tồn tại khoảng trống giữa nhận thức pháp luật và hành vi tuân thủ; tâm lý tuân thủ thụ động, mang tính tình thế, phụ thuộc vào sự kiểm tra, giám sát và xử lý của cơ quan có thẩm quyền. Những biểu hiện này phản ánh việc tuân thủ pháp luật chưa thực sự trở thành chuẩn mực văn hóa trong xã hội. Vì vậy, việc nghiên cứu, nhận diện các yếu tố tác động, đánh giá đúng thực trạng, đề xuất nhiệm vụ, giải pháp xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn, góp phần thể chế hóa chủ trương của Đảng, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, mạnh, bền vững trong bối cảnh mới.
Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Tết Nguyên đán là dịp đoàn viên, nghỉ ngơi và tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí đầu năm, góp phần làm phong phú đời sống văn hóa, tinh thần của mỗi gia đình và cộng đồng. Tuy nhiên, một số hình thức vui chơi có thưởng có thể vượt ngoài khuôn khổ pháp luật nếu không được nhận diện đúng. Từ yêu cầu bảo đảm kỷ cương, pháp luật trong dịp Tết, việc làm rõ ranh giới pháp lý giữa vui xuân có thưởng và hành vi vi phạm pháp luật có ý nghĩa quan trọng.
Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết 71-NQ/TW) đặt ra những yêu cầu mang tính chiến lược đối với xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, giáo dục đại học giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành lớp trí thức mới - vừa có năng lực chuyên môn, vừa có bản lĩnh, nhân cách và tinh thần phụng sự xã hội. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật phỏng vấn Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đào Thanh Trường - Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội, xung quanh quan điểm xây dựng con người toàn diện, các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp, cũng như những định hướng tích hợp giáo dục nhân văn với khoa học, công nghệ trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Mùa xuân về không chỉ mang theo nhựa sống của thiên nhiên mà còn là thời điểm để nhìn lại những thành quả của năm qua. Xuân Bính Ngọ 2026, với Trường Cao đẳng Cơ điện Hà Nội (HCEM), là một mùa xuân đặc biệt - mùa xuân của sự cộng hưởng giữa niềm tự hào về hành trình 80 năm đất nước độc lập và quyết tâm chính trị cao để hiện thực hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị. Đây chính là “chìa khóa” để HCEM bứt phá, vươn tầm quốc tế, trở thành biểu tượng của nền giáo dục nghề nghiệp (GDNN) hiện đại trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Năm 2025 được xem là cột mốc bản lề trên hành trình đưa Việt Nam bước vào kỷ nguyên số toàn diện. Trong không khí Xuân Bính Ngọ 2026, Cục trưởng Cục Chuyển đổi số quốc gia (Bộ KH&CN) Trần Duy Ninh chia sẻ với Tạp chí Dân chủ và Pháp luật về những thành quả nổi bật, tầm nhìn, cơ hội và kỳ vọng đặt vào đội ngũ trí thức công nghệ, với khát vọng xây dựng đất nước Việt Nam hùng cường, tự chủ và thịnh vượng trên nền tảng số.
Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Nhìn lại hành trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đội ngũ doanh nhân Việt Nam tiếp tục là lực lượng năng động, sáng tạo và đóng góp quan trọng vào tăng trưởng. Tuy nhiên, bối cảnh hội nhập sâu, rộng đặt ra yêu cầu cao hơn đối với việc hoàn thiện pháp luật về kinh doanh. Nhân dịp xuân mới, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Quang Vinh - Phó Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) về kỳ vọng đổi mới và yêu cầu xây dựng hành lang pháp lý ổn định để doanh nghiệp Việt Nam tự tin phát triển trong giai đoạn mới.
Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với mục tiêu đến năm 2045 trở thành nước phát triển có thu nhập cao, đội ngũ doanh nhân Việt Nam được kỳ vọng trở thành lực lượng kiến tạo thịnh vượng quốc gia. Khát vọng ấy chỉ có thể nảy nở và lớn lên trong hệ sinh thái pháp lý minh bạch, an toàn và tạo động lực.

Theo dõi chúng tôi trên: