Thứ bảy 14/03/2026 14:39
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Bồi thường nhà nước trong hoạt động thi hành án dân sự ở Việt Nam hiện nay

Tóm tắt: Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2009 thống nhất các quy định về việc bồi thường thiệt hại cho các tổ chức, công dân do hành vi vi phạm pháp luật của người thi hành công vụ gây ra. Đặc biệt, trong lĩnh vực thi hành án dân sự, những vụ việc thi hành án có dấu hiệu vi phạm pháp luật của người thi hành công vụ có số lượng tương đối lớn. Điều này ảnh hưởng không nhỏ tới quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, công dân phải thi hành quyết định thi hành án trái luật đó. Thông qua bài viết tác giả đã chỉ ra cách hiểu thống nhất các quy định của pháp luật điều chỉnh về vấn đề này, cũng như đánh giá một cách toàn diện nội dung và quá trình thực thi pháp luật hiện hành về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong hoạt động thi hành án dân sự.

Abstract: The Law on state compensation liability of 2009 unifies provisions with respect to damage compensation for organizations, citizens caused by illegal acts of civil servants. In the area of civil judgment execution, there are, especially, cases, where civil servants might break the law with huge amounts. This has a bad impact on legitimate rights and interests of organizations and citizens who have to implement illegal execution decisions. By means of this article, the author tries to point out the universal understanding of legal provisions relating to this issue as well as to comprehensively assess the contents and the process of existing law on state compensation liability in the civil judgment execution.

1. Thực tiễn áp dụng pháp luật về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong hoạt động thi hành án dân sự

1.1. Về việc xác định đối tượng được bồi thường

Điều 2 Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2009 quy định về đối tượng được bồi thường là cá nhân, tổ chức bị thiệt hại về vật chất, tổn thất về tinh thần trong các trường hợp quy định tại Luật. Tuy nhiên, để được Nhà nước giải quyết bồi thường, người bị thiệt hại phải có đủ căn cứ thực hiện quyền yêu cầu bồi thường là văn bản xác định hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ, tiếp theo đó là một chuỗi các thủ tục như nộp hồ sơ yêu cầu bồi thường sau khi có đủ căn cứ thực hiện quyền yêu cầu bồi thường (Điều 16 Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước), thương lượng việc giải quyết bồi thường (Điều 19 Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước)… Có thể thấy, đối với trường hợp người bị thiệt hại đã chết, không thể tự thực hiện quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại của mình thì cho đến nay, pháp luật về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước (TNBTCNN) chưa đặt ra quy định để bồi thường cho thân nhân của họ. Trong khi đó, Nhà nước dân chủ là Nhà nước phải chịu trách nhiệm trước hành vi của mình do người thi hành công vụ gây ra cho người bị thiệt hại. Tuy nhiên, sau khi người bị thiệt hại qua đời, những thiệt hại về vật chất và tinh thần mà người bị thiệt hại phải gánh chịu khi còn sống cũng ảnh hưởng rất lớn đến thân nhân của họ, Nhà nước cũng chưa thực hiện được việc tự chịu trách nhiệm trước người dân đối với hành vi của mình. Đây cũng là vấn đề mà pháp luật về TNBTCNN hiện hành chưa quy định rõ, khiến cho người bị thiệt hại và thân nhân của họ sẽ phải chịu những tổn thất về vật chất và tinh thần khi người bị thiệt hại qua đời.

1.2. Về căn cứ xác định trách nhiệm bồi thường

Theo quy định của pháp luật về TNBTCNN thì một trong những căn cứ để thực hiện quyền yêu cầu bồi thường đó là khi có văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác định hành vi của người thi hành công vụ là trái pháp luật. Tuy nhiên, thực tế cho thấy, quy định này chưa thực sự tạo được thuận lợi cho người bị thiệt hại trong lĩnh vực thi hành án dân sự (THADS) thực hiện quyền yêu cầu bồi thường. Để có được văn bản xác định hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ, thì người bị thiệt hại phải trải qua rất nhiều giai đoạn phức tạp, khó khăn. Hơn nữa, các văn bản xác định hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ thường có nội dung đánh giá hành vi của người thi hành công vụ có hợp pháp và đúng với quy định của pháp luật hay không, việc người bị thiệt hại khiếu nại, tố cáo là có cơ sở hay không. Tuy nhiên, pháp luật về TNBTCNN trong hoạt động THADS chỉ quy định 03 loại văn bản xác định hoặc làm cơ sở để xác định người thi hành công vụ có hành vi trái pháp luật được quy định tại Điều 4 Thông tư liên tịch số 24/2011/TTLT-BTP-BQP ngày 15/12/2011 của Bộ Tư pháp, Bộ Quốc phòng hướng dẫn thực hiện trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong hoạt động thi hành án dân sự (Thông tư liên tịch số 24): “1. Quyết định giải quyết khiếu nại của người có thẩm quyền theo quy định tại Điều 142 Luật Thi hanh án dân sự đã có hiệu lực pháp luật; 2. Kết luận nội dung tố cáo của người có thẩm quyền theo quy định tại Điều 157 Luật Thi hành án dân sự; 3. Bản án, quyết định của Tòa án có thẩm quyền đã có hiệu lực pháp luật”. Trong khi đó, thực tế áp dụng phát sinh nhiều loại văn bản mà về mặt nội dung thì có nội dung xác định hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ, nhưng về mặt hình thức lại không phải là văn bản xác định hành vi trái pháp luật theo quy định tại Thông tư liên tịch số 24, cụ thể là: (i) Quyết định thu hồi quyết định hoặc hủy bỏ quyết định về THADS bị khiếu nại vì lý do quyết định đó được ban hành trái pháp luật (có thể sai về thẩm quyền hoặc sai về nội dung); (ii) Kết luận thanh tra cũng có thể là một trong những căn cứ để xác định hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ. Theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 50 Luật Thanh tra năm 2010 thì một trong những nội dung của kết luận thanh tra là “xác định rõ tính chất, mức độ vi phạm, nguyên nhân, trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm pháp luật”.

1.3. Về thủ tục giải quyết bồi thường

Theo quy định của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2009 thì trình tự, thủ tục giải quyết bồi thường tại cơ quan có trách nhiệm bồi thường gồm có 02 giai đoạn:

Một là: Giải quyết bồi thường tại cơ quan có trách nhiệm bồi thường.

Hai là: Trong trường hợp người bị thiệt hại không đồng ý với quyết định giải quyết bồi thường, thì họ có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết bồi thường theo thủ tục tố tụng dân sự tại Tòa án.

Thực tế cho thấy, có nhiều vụ việc mặc dù chưa được giải quyết thông qua trình tự thương lượng giữa cơ quan THADS với người bị thiệt hại nhưng người bị thiệt hại đã có đơn khởi kiện lên Tòa án yêu cầu bồi thường thiệt hại. Một số Tòa án đã tiến hành xét xử và tuyên phần trách nhiệm bồi thường đối với các cơ quan có trách nhiệm bồi thường. Tình trạng Tòa án thụ lý thẳng đơn khởi kiện yêu cầu bồi thường như trên sẽ khiến cho quy trình giải quyết bồi thường không được thực hiện đúng theo Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước, nên nguồn kinh phí chi trả bồi thường sẽ không được sử dụng từ nguồn kinh phí bồi thường nhà nước mà phải sử dụng nguồn kinh phí khác, gây bất lợi cho cơ quan THADS. Điều này tạo ra sự không trùng khớp giữa các quy định của pháp luật, dẫn tới tình trạng các cơ quan có thẩm quyền áp dụng pháp luật theo các cách khác nhau về cùng một vấn đề. Mặc dù vậy tình trạng này đến nay vẫn chưa có một biện pháp nào để giải quyết dứt điểm.

1.4. Về việc xác định thiệt hại bồi thường

Trên thực tế vẫn phát sinh nhiều trường hợp cơ quan THADS do chưa hiểu rõ các quy định của pháp luật về TNBTCNN và chưa chủ động trong việc đề nghị cơ quan quản lý nhà nước về công tác bồi thường có thẩm quyền hướng dẫn nghiệp vụ, nên các vụ việc giải quyết bồi thường trong THADS vẫn còn xảy những sai phạm, điển hình là về vấn đề xác định thiệt hại chưa đúng. Theo quy định của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước hiện hành thì người bị thiệt hại chỉ được bồi thường những thiệt hại được luật quy định từ Điều 45 đến Điều 50 và trong quá trình xác minh thiệt hại, thương lượng việc giải quyết bồi thường, cơ quan THADS chỉ được thương lượng việc bồi thường đối với những thiệt hại mà luật có quy định. Do đó, nếu người bị thiệt hại không thuộc một trong các trường hợp được bồi thường mà pháp luật quy định mà cơ quan THADS vẫn thực hiện việc thương lượng, giải quyết viêc bồi thường là trái pháp luật.

2. Giải pháp hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong hoạt động thi hành án dân sự

2.1. Giải pháp hoàn thiện xây dựng pháp luật về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong hoạt động thi hành án dân sự

Xuất phát từ những tồn tại, vướng mắc trong Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước và thực tế triển khai thực hiện, pháp luật về TNBTCNN trong hoạt động THADS đã bộc lộ những hạn chế nhất định cần sửa đổi, bổ sung cho hoàn thiện. Hiện nay một số đạo luật liên quan đến lĩnh vực bồi thường nhà nước mới đã được ban hành như: Luật Khiếu nại năm 2011; Luật Tố cáo năm 2011; Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Luật Thi hành án dân sự năm 2008, sửa đổi, bổ sung năm 2014; Luật Tố tụng Hành chính năm 2015 và Bộ luật Dân sự năm 2015. Đặc biệt năm 2013, Hiến pháp sửa đổi đã được Quốc hội thông qua, theo đó việc bảo đảm quyền con người, quyền công dân đã được đề cao. Chính vì vậy, việc ban hành Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước (sửa đổi) là hết sức cần thiết. Để bảo đảm việc thực thi pháp luật về TNBTCNN trong hoạt động THADS, tác giả xin đề xuất một số giải pháp hoàn thiện xây dựng pháp luật về TNBTCNN trong hoạt động THADS như sau:

Thứ nhất, về xây dựng pháp luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước nói chung

- Mở rộng phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước: Hiện nay, việc pháp luật về TNBTCNN chỉ quy định phạm vi TNBTCNN trong ba lĩnh vực chính là quản lý hành chính, tố tụng và thi hành án là chưa thực sự phù hợp với tinh thần Hiến pháp năm 2013. Một số hoạt động quan trọng như hoạt động ban hành văn bản quy phạm pháp luật cũng cần được đề xuất là một trong những lĩnh vực chịu sự điều chỉnh của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước. Bên cạnh đó, Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước cũng chưa đưa ra được các giới hạn, hạn chế quyền yêu cầu bồi thường với các lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe cộng đồng mà Hiến pháp năm 2013 quy định. Chính vì vậy, phạm vi điều chỉnh của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước nên có sự thay đổi theo hướng mở rộng sao cho phù hợp với Hiến pháp năm 2013 và các luật chuyên ngành.

- Mô hình cơ quan có trách nhiệm bồi thường: Trong bối cảnh hoàn thiện pháp luật về TNBTCNN mà nhất là vấn đề mở rộng phạm vi TNBTCNN theo yêu cầu của Hiến pháp năm 2013, tác giả cho rằng việc nghiên cứu mô hình cơ quan tập trung, đầu mối thực hiện TNBTCNN là cần thiết, bởi mô hình này sẽ bảo đảm thuận lợi cho người dân trong việc yêu cầu bồi thường vì sẽ không có phát sinh về tranh chấp trách nhiệm giải quyết bồi thường; bảo đảm tính chuyên nghiệp, hiệu quả trong hoạt động giải quyết bồi thường và không gây sức ép lên hoạt động nghiệp vụ thường xuyên của các cơ quan nhà nước, nhất là trong trường hợp phạm vi TNBTCNN được mở rộng[1]. Tác giả cho rằng, đây là một giải pháp hết sức hiệu quả, góp phần nâng cao trách nhiệm của cán bộ, công chức và rút ngắn thời gian giải quyết bồi thường.

- Về thanh tra, kiểm tra công tác bồi thường: Vấn đề thanh tra, kiểm tra công tác bồi thường là cần thiết. Hoạt động thực hiện TNBTCNN trong lĩnh vực THADS là hoạt động đặc thù, lấy kinh phí từ ngân sách nhà nước để chi trả tiền bồi thường. Hiện nay, khoản 6 Điều 21 Nghị định số 16/NĐ-CP ngày 03/3/2010 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước không hướng dẫn nhiệm vụ này mà chỉ mang tính định hướng chung. Do vậy, cần có những quy định cụ thể về quy trình thanh tra, kiểm tra trong Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước để nâng cao hiệu quả công tác giải quyết bồi thường và bảo đảm tính khả thi của luật trong thực tiễn.

Thứ hai, về xây dựng pháp luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong hoạt động thi hành án dân sự

- Về hồ sơ yêu cầu bồi thường: Để bảo đảm quyền yêu cầu bồi thường của người bị thiệt hại được thực hiện một cách kịp thời, cần quy định linh hoạt hơn về các tài liệu, chứng cứ có liên quan trong hồ sơ như sau:

Trường hợp người bị thiệt hại chưa thể nộp đầy đủ các tài liệu, chứng cứ theo quy định vì lý do khách quan thì người bị thiệt hại có thể bổ sung theo yêu cầu của cơ quan có trách nhiệm bồi thường trong quá trình giải quyết bồi thường;

Trường hợp người bị thiệt hại đã áp dụng các biện pháp cần thiết để thu thập tài liệu, chứng cứ mà vẫn không thể tự mình thu thập được thì có thể làm văn bản yêu cầu cơ quan có trách nhiệm bồi thường tiến hành thu thập tài liệu, chứng cứ nhằm bảo đảm cho việc giải quyết bồi thường được diễn ra đúng pháp luật.

- Về căn cứ yêu cầu bồi thường: Mở rộng căn cứ xác định hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ. Theo đó, tác giả kiến nghị bổ sung thêm các loại văn bản sau để làm căn cứ xác định hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ mà hiện nay không được quy định trong pháp luật về TNBTCNN trong hoạt động THADS, đó là: Quyết định thu hồi quyết định THADS; quyết định hủy bỏ quyết định THADS; kết luận của thanh tra.

- Về xác định thiệt hại phải bồi thường: Để thống nhất các quy định về việc xác định thiệt hại phải bồi thường giữa các lĩnh vực trong phạm vi điều chỉnh của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước và bảo đảm quyền và lợi ích của người bị thiệt hại, nên hướng dẫn bổ sung thêm quy định về thiệt hại vật chất vào văn bản hướng dẫn như Thông tư liên tịch số 24 như các chi phí thuê luật sư, chi phí đi lại, chi phí khiếu nại, tố cáo… Ngoài ra, tại Điều 47 Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2009 đã có quy định về thiệt hại do tổn thất về tinh thần, nhưng đây mới chỉ là những quy định chung, còn các quy định cụ thể về TNBTCNN trong hoạt động THADS thì chưa được đề cập tới. Vì vậy, trong các văn bản hướng dẫn nên bổ sung các quy định cụ thể các trường hợp được bồi thường do tổn thất về tinh thần bị xâm phạm để người bị thiệt hại cũng như các cơ quan THADS có thể dễ dàng áp dụng trong quá trình giải quyết bồi thường.

2.2. Giải pháp hoàn thiện áp dụng pháp luật về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong hoạt động thi hành án dân sự

Thứ nhất, về quản lý hành chính

- Tăng cường hoạt động thanh tra, giám sát: Công tác thanh tra, giám sát hoạt động giải quyết bồi thường có ý nghĩa quan trọng giúp cho hoạt động giải quyết bồi thường được diễn ra đúng pháp luật, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người bị thiệt hại. Để tăng cường hoạt động thanh tra, giám sát việc giải quyết bồi thường trong hoạt động THADS thì hàng năm, cơ quan thanh tra của Bộ Tư pháp phải xây dựng kế hoạch thanh tra, kiểm tra công tác bồi thường nhà nước cụ thể. Để bảo đảm tính khả thi của kế hoạch, cần phối hợp với cơ quan quản lý nhà nước về công tác bồi thường để nắm tình hình cụ thể trước khi xây dựng kế hoạch, bảo đảm kế hoạch đúng nội dung, tiến độ và có tính khả thi cao. Trong quá trình thanh tra, giám sát nếu phát hiện những sai phạm hay những bất cập, vướng mắc trong quy định của pháp luật về TNBTCNN cần có đề xuất sửa đổi, bổ sung kịp thời các quy định của pháp luật về TNBTCNN trong THADS bảo đảm phù hợp với chính sách pháp luật và thực tiễn thi hành.

- Tiếp tục kiện toàn tổ chức và biên chế thực hiện công tác bồi thường nhà nước: Thực tế hiện nay cho thấy hầu hết đội ngũ cán bộ, nhân viên thực hiện chức năng quản lý nhà nước về TNBTCNN trong hoạt động THADS là kiêm nhiệm. Do đó, họ không thể tập trung hoàn toàn chuyên môn vào công việc, đây là một điểm hạn chế làm cho hoạt động này kém hiệu quả. Vì vậy, cần kiện toàn tổ chức và biên chế cán bộ, công chức làm công tác chuyên môn thực hiện quản lý nhà nước về TNBTCNN trong hoạt động THADS. Mặt khác, cần thường xuyên có những hoạt động tổ chức bồi dưỡng, nâng cao nghiệp vụ cho cán bộ, công chức, viên chức thực hiện công tác chuyên môn về quản lý nhà nước về TNBTCNN trong hoạt động THADS.

- Nâng cao chất lượng cơ chế hỗ trợ người bị thiệt hại thực hiện quyền yêu cầu bồi thường trong hoạt động THADS: Trung tâm Hỗ trợ thực hiện quyền yêu cầu bồi thường thuộc Cục Bồi thường Nhà nước - Bộ Tư pháp có chức năng giải đáp vướng mắc pháp luật và hỗ trợ người bị thiệt hại thực hiện quyền yêu cầu bồi thường. Bên cạnh đó, để hỗ trợ kịp thời cho người bị thiệt hại trong việc thực hiện quyền yêu cầu bồi thường, tại địa phương, công tác cung cấp thông tin, hướng dẫn thủ tục hỗ trợ người bị thiệt hại thực hiện quyền yêu cầu bồi thường cũng đã được các Sở Tư pháp, Phòng Tư pháp triển khai thực hiện. Thông qua các hoạt động hỗ trợ của Trung tâm Hỗ trợ thực hiện quyền yêu cầu bồi thường, Sở Tư pháp và Phòng Tư pháp, người bị thiệt hại có thể hiểu rõ hơn các trình tự, thủ tục thực hiện quyền yêu cầu bồi thường, giúp cho việc thực hiện quyền yêu cầu bồi thường được diễn ra nhanh chóng, tiết kiệm, hiệu quả và đúng pháp luật. Qua đó quyền, lợi ích chính đáng của người bị thiệt hại sẽ được bảo đảm một cách kịp thời.

- Phối hợp quản lý nhà nước về công tác bồi thường: Theo quy định tại Điều 11 Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2009, Chính phủ quy định thống nhất quản lý nhà nước về công tác bồi thường trong hoạt động quản lý hành chính và thi hành án, theo đó, Bộ Tư pháp được Chính phủ giao thực hiện nhiệm vụ này. Vì vậy, để thực hiện có hiệu quả hoạt động quản lý nhà nước về công tác bồi thường trong hoạt động quản lý hành chính và thi hành án, Bộ Tư pháp phải phối hợp với các bộ, ngành, địa phương thực hiện đánh giá chuyên đề về hoạt động giải quyết bồi thường và tổ chức các hội nghị về chuyên đề bồi thường nhà nước trong từng lĩnh vực cụ thể tại một số địa phương. Việc phối hợp tổ chức các hội nghị chuyên đề về TNBTCNN giữa Cục Bồi thường nhà nước và các cơ quan, đơn vị hữu quan cần được đẩy mạnh cả về số lượng và chất lượng.

Thứ hai, về xử lý hành vi vi phạm

Hiện nay, các văn bản pháp luật chưa có các quy định cụ thể điều chỉnh vấn đề xử lý hành vi vi phạm trong công tác giải quyết yêu cầu bồi thường thiệt hại. Chính vì vậy, tác giả xin đề xuất một số ý kiến như sau:

- Trong trường hợp người thi hành công vụ là các cán bộ, công chức có hành vi cố ý làm cản trở, gây thiệt hại tới việc giải quyết yêu cầu bồi thường, tùy thuộc vào mức độ lỗi và hậu quả xảy ra, pháp luật có thể quy định một số chế tài như: Truy cứu trách nhiệm hình sự, xử lý kỷ luật (cảnh cáo, cách chức, giáng chức…), xử lý hành chính (phạt tiền, giảm lương, cắt thưởng…).

- Để chấm dứt các hành vi thiếu trách nhiệm, quan liêu của cán bộ, công chức, cơ quan nhà nước có thẩm quyền và nâng cao trách nhiệm của họ trong việc giải quyết yêu cầu bồi thường thiệt hại thì việc bồi thường phải được xác định ngay cả khi không gây hậu quả nghiêm trọng, mà chỉ cần có yếu tố gây thiệt hại là đủ. Trong đó, thiệt hại bao gồm cả chi phí đi lại, thu nhập bị mất… của người bị thiệt hại do hành vi thiếu trách nhiệm, quan liêu của cán bộ, công chức, cơ quan nhà nước gây ra trong quá trình giải quyết yêu cầu bồi thường.

Thứ ba, về tuyên truyền, phổ biến và giải thích pháp luật

- Đổi mới về nội dung, các hình thức tuyên truyền, phổ biến pháp luật: Về việc đổi mới về nội dung, các hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật cho cán bộ, công chức, viên chức và nhân dân phải bảo đảm phù hợp với từng đối tượng. Hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật cần có sự đa dạng, phong phú như: Tổ chức các cuộc thi tìm hiểu pháp luật về TNBTCNN trong hoạt động THADS; xây dựng và khai thác hệ thống tủ sách pháp luật; phổ biến, tuyên truyền thông qua các phương tiện thông tin đại chúng như báo, đài, internet…

- Nâng cao trình độ chuyên môn, kiến thức pháp luật về TNBTCNN trong hoạt động THADS cho đội ngũ báo cáo viên pháp luật: Việc tổ chức phổ biến pháp luật về TNBTCNN trong hoạt động THADS chủ yếu thông qua đội ngũ báo cáo viên. Chính vì vậy, cần quan tâm bồi dưỡng, nâng cao kiến thức chuyên môn đối với đội ngũ báo cáo viên để việc phổ biến, giáo dục pháp luật về TNBTCNN trong hoạt động THADS có thể đạt hiệu quả cao.

- Tăng cường giải thích pháp luật về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong hoạt động THADS: Cần chú trọng tăng cường giải thích pháp luật về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong hoạt động THADS đến các cơ quan nhà nước và mọi đối tượng quần chúng nhân dân. Thực tế cho thấy, trong quá trình giải quyết bồi thường, nhiều quy định của pháp luật về TNBTCNN không được hiểu một cách thống nhất, dẫn tới vụ việc không được thụ lý giải quyết hoặc việc giải quyết bị kéo dài hoặc không được giải theo trình tự, thủ tục của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước… gây tốn kém về kinh phí cho ngân sách của Nhà nước, làm giảm niềm tin của người bị thiệt hại, của xã hội vào cơ chế bồi thường của Nhà nước trong hoạt động THADS. Chính vì vậy, cần tăng cường công tác giải thích pháp luật về TNBTCNN nói chung và TNBTCNN trong hoạt động THADS nói riêng để các tổ chức, cá nhân cần phải có cùng một cách hiểu thống nhất về các quy định của pháp luật về TNBTCNN trong THADS.

Chu Anh Hùng

Bộ Tư pháp

Tài liệu tham khảo:

[1]. Nguyễn Thanh Tịnh (2014), “Một số nét khái quát về thực tiễn thi hành Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước”, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, Số chuyên đề Thực tiễn thi hành Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước, tr. 21-22, Hà Nội.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Để bảo đảm cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân được tiến hành dân chủ, đúng pháp luật, các quy định về phiếu bầu cử cũng như nguyên tắc, trình tự bỏ phiếu đã được quy định chặt chẽ[1]. Việc nắm rõ các quy định này giúp cử tri thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ trong ngày bầu cử.
[1] Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 và Nghị quyết số 40/NQ-HĐBCQG ngày 29/9/2025 của Hội đồng bầu cử quốc gia quy định mẫu văn bản hồ sơ ứng cử và việc hồ sơ ứng cử; nội quy phòng bỏ phiếu trong công tác bầu cử ĐBQH khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031
Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Trong quá trình tổ chức bầu cử, có thể phát sinh một số tình huống đặc biệt như dịch bệnh, thiên tai, hỏa hoạn hoặc vấn đề về an ninh, trật tự. Pháp luật về bầu cử đã quy định rõ thẩm quyền và phương án xử lý nhằm bảo đảm cuộc bầu cử được tổ chức an toàn, đúng quy định và bảo đảm quyền bầu cử của cử tri.
Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Để chuẩn bị cho “Ngày hội non sông” - Ngày bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031, công tác phân chia đơn vị bầu cử cần phải được triển khai với những yêu cầu khắt khe hơn bao giờ hết với mục tiêu trọng tâm là bảo đảm cân đối, tránh chênh lệch lớn, thuận tiện cho cử tri thực hiện quyền bầu cử như: Các khu vực đô thị, khu công nghiệp có đông cử tri; các khu vực miền núi, hải đảo có ít cử tri.
Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Pháp luật quy định cụ thể về nguyên tắc bỏ phiếu, cách ghi phiếu bầu, việc viết hộ, bỏ hộ phiếu và xử lý Thẻ cử tri nhằm bảo đảm việc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân diễn ra đúng quy định.
Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Cơ chế giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân giữ vai trò quan trọng trong việc bảo đảm tính dân chủ, minh bạch và hợp pháp của quá trình bầu cử. Pháp luật Việt Nam thiết lập cơ chế này trên cơ sở kết hợp giữa các quy định đặc thù của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân với các quy định chung của pháp luật về khiếu nại, tố cáo, qua đó hình thành khung pháp lý cho việc tiếp nhận, xem xét và xử lý các khiếu nại, tố cáo phát sinh trong quá trình bầu cử.
Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Một vụ án in và phát hành sách giáo khoa giả vừa được đưa ra xét xử đã tiếp tục gióng lên hồi chuông cảnh báo về tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực xuất bản, đặc biệt là đối với sách giáo dục - mặt hàng có nhu cầu cao và ảnh hưởng trực tiếp đến hàng triệu học sinh.
Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức thống nhất vào ngày 15/3/2026 theo Nghị quyết của Quốc hội. Tuy nhiên, pháp luật cho phép tổ chức bỏ phiếu sớm trong những trường hợp đặc biệt nhằm bảo đảm quyền bầu cử của công dân không thể tham gia bỏ phiếu vào ngày chính thức. Việc tổ chức bầu cử sớm phải tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc về thẩm quyền quyết định, trình tự thủ tục, kiểm phiếu, niêm phong, bảo mật kết quả và kỷ luật thời gian bỏ phiếu theo đúng quy định của Luật Bầu cử và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Vận động bầu cử của người ứng cử là hoạt động gặp gỡ, tiếp xúc cử tri hoặc thông qua phương tiện thông tin đại chúng để người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân báo cáo với cử tri về dự kiến chương trình hành động của mình nhằm thực hiện trách nhiệm đại biểu nếu được bầu làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân và trao đổi những vấn đề mà cử tri quan tâm; tạo điều kiện để cử tri tiếp xúc với người ứng cử, hiểu rõ hơn người ứng cử; trên cơ sở đó cân nhắc, lựa chọn, bầu những người đủ tiêu chuẩn làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.
Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, yêu cầu thượng tôn Hiến pháp và pháp luật không chỉ đặt ra đối với hoạt động của bộ máy nhà nước mà trở thành chuẩn mực ứng xử phổ biến trong xã hội. Pháp luật chỉ thực sự phát huy vai trò điều chỉnh các quan hệ xã hội khi được các chủ thể tiếp nhận, tôn trọng, tuân thủ thực hiện trên tinh thần chủ động, tự giác, gắn với niềm tin vào công bằng và trật tự xã hội. Thực tiễn cho thấy, hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, nhưng tình trạng vi phạm pháp luật trong một số lĩnh vực vẫn diễn biến phức tạp; còn tồn tại khoảng trống giữa nhận thức pháp luật và hành vi tuân thủ; tâm lý tuân thủ thụ động, mang tính tình thế, phụ thuộc vào sự kiểm tra, giám sát và xử lý của cơ quan có thẩm quyền. Những biểu hiện này phản ánh việc tuân thủ pháp luật chưa thực sự trở thành chuẩn mực văn hóa trong xã hội. Vì vậy, việc nghiên cứu, nhận diện các yếu tố tác động, đánh giá đúng thực trạng, đề xuất nhiệm vụ, giải pháp xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn, góp phần thể chế hóa chủ trương của Đảng, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, mạnh, bền vững trong bối cảnh mới.
Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Tết Nguyên đán là dịp đoàn viên, nghỉ ngơi và tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí đầu năm, góp phần làm phong phú đời sống văn hóa, tinh thần của mỗi gia đình và cộng đồng. Tuy nhiên, một số hình thức vui chơi có thưởng có thể vượt ngoài khuôn khổ pháp luật nếu không được nhận diện đúng. Từ yêu cầu bảo đảm kỷ cương, pháp luật trong dịp Tết, việc làm rõ ranh giới pháp lý giữa vui xuân có thưởng và hành vi vi phạm pháp luật có ý nghĩa quan trọng.
Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết 71-NQ/TW) đặt ra những yêu cầu mang tính chiến lược đối với xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, giáo dục đại học giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành lớp trí thức mới - vừa có năng lực chuyên môn, vừa có bản lĩnh, nhân cách và tinh thần phụng sự xã hội. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật phỏng vấn Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đào Thanh Trường - Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội, xung quanh quan điểm xây dựng con người toàn diện, các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp, cũng như những định hướng tích hợp giáo dục nhân văn với khoa học, công nghệ trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Mùa xuân về không chỉ mang theo nhựa sống của thiên nhiên mà còn là thời điểm để nhìn lại những thành quả của năm qua. Xuân Bính Ngọ 2026, với Trường Cao đẳng Cơ điện Hà Nội (HCEM), là một mùa xuân đặc biệt - mùa xuân của sự cộng hưởng giữa niềm tự hào về hành trình 80 năm đất nước độc lập và quyết tâm chính trị cao để hiện thực hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị. Đây chính là “chìa khóa” để HCEM bứt phá, vươn tầm quốc tế, trở thành biểu tượng của nền giáo dục nghề nghiệp (GDNN) hiện đại trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Năm 2025 được xem là cột mốc bản lề trên hành trình đưa Việt Nam bước vào kỷ nguyên số toàn diện. Trong không khí Xuân Bính Ngọ 2026, Cục trưởng Cục Chuyển đổi số quốc gia (Bộ KH&CN) Trần Duy Ninh chia sẻ với Tạp chí Dân chủ và Pháp luật về những thành quả nổi bật, tầm nhìn, cơ hội và kỳ vọng đặt vào đội ngũ trí thức công nghệ, với khát vọng xây dựng đất nước Việt Nam hùng cường, tự chủ và thịnh vượng trên nền tảng số.
Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Nhìn lại hành trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đội ngũ doanh nhân Việt Nam tiếp tục là lực lượng năng động, sáng tạo và đóng góp quan trọng vào tăng trưởng. Tuy nhiên, bối cảnh hội nhập sâu, rộng đặt ra yêu cầu cao hơn đối với việc hoàn thiện pháp luật về kinh doanh. Nhân dịp xuân mới, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Quang Vinh - Phó Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) về kỳ vọng đổi mới và yêu cầu xây dựng hành lang pháp lý ổn định để doanh nghiệp Việt Nam tự tin phát triển trong giai đoạn mới.
Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với mục tiêu đến năm 2045 trở thành nước phát triển có thu nhập cao, đội ngũ doanh nhân Việt Nam được kỳ vọng trở thành lực lượng kiến tạo thịnh vượng quốc gia. Khát vọng ấy chỉ có thể nảy nở và lớn lên trong hệ sinh thái pháp lý minh bạch, an toàn và tạo động lực.

Theo dõi chúng tôi trên: