Chủ nhật 16/08/2026 04:42
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Các giải pháp đột phá trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng ở Việt Nam hiện nay

Tóm tắt: Tham nhũng tồn tại ở mọi quốc gia, hiện diện trên tất cả các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội, không phân biệt chế độ chính trị, trình độ phát triển. Để việc đấu tranh phòng, chống tham nhũng trong bộ máy nhà nước ở nước ta có hiệu quả, cần nghiên cứu những hạn chế trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng và từ đó đưa ra các giải pháp đột phá.


Abstract: Corruption exists in every nation in all different areas of social life without distinction of political regime, development level. In order to effectively prevent, fight against corruption in our state apparatus, there is a need to study limitations in corruption prevention and fight and from there to propose breakthrough solutions.

1. Những hạn chế trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng ở Việt Nam hiện nay

Nghiên cứu công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng ở Việt Nam cho thấy còn nhiều hạn chế, bất cập như:

Thứ nhất, việc xử lý hành vi tham nhũng trong nhiều trường hợp còn chưa nghiêm, chưa kịp thời; các biện pháp hỗ trợ hoạt động tư pháp còn hạn chế, chưa đáp ứng được yêu cầu, nhất là công tác giám định tư pháp trên các lĩnh vực tài chính, ngân hàng, đầu tư xây dựng cơ bản, khoa học công nghệ... Hành vi tham nhũng ngày càng tinh vi, phức tạp, vì vậy việc phát hiện và xử lý tham nhũng gặp nhiều khó khăn. Việc tự kiểm tra, phát hiện tham nhũng trong các cơ quan, tổ chức, đơn vị còn rất yếu, một số trường hợp chưa xử lý triệt để, muốn xử lý nhẹ, xử lý nội bộ, không muốn chuyển cơ quan chức năng xem xét để xử lý theo quy định pháp luật. Một số vụ việc đình chỉ vụ án, đình chỉ bị can, miễn trách nhiệm hình sự chưa đúng quy định của pháp luật; việc thay đổi sang tội danh khác nhẹ hơn hoặc không phải tội danh về tham nhũng vẫn còn xảy ra.

Thứ hai, việc thu hồi tài sản bị chiếm đoạt, tham nhũng còn gặp rất nhiều khó khăn do một số nguyên nhân như: Chưa kiểm soát được tài sản, thu nhập của xã hội nên tài sản có nguồn gốc tham nhũng dễ dàng bị tẩu tán, không thể thu hồi được; đa số các tội phạm tham nhũng là tội phạm có tổ chức, người phạm tội thường là người có chức vụ, có trình độ chuyên môn cao, vì vậy, việc phạm tội có sự chuẩn bị kỹ càng, thủ đoạn và che giấu tội phạm tinh vi; quá trình xử lý tin báo, tố giác tội phạm thiếu chặt chẽ, trong nhiều trường hợp để tin quá hạn lâu mà không được xử lý đã tạo điều kiện cho tội phạm tham nhũng cố tình che dấu hành vi, tẩu tán tài sản… Do đó, tỷ lệ tiền, tài sản thu hồi được rất nhỏ so với tổng số thiệt hại do các đối tượng chiếm đoạt. Chẳng hạn, trong các vụ án Nguyễn Đức Kiên (bầu Kiên), Huỳnh Thị Huyền Như, Hà Văn Thắm, Vinashine, Vinalines… đã gây thiệt hại cho Nhà nước và xã hội rất lớn nhưng sau khi xét xử việc thu hồi tài sản bị tham nhũng, bị thất thoát không cao, hàng ngàn tỷ đồng của Nhà nước bị hành vi tham nhũng chiếm đoạt vẫn chưa được thu hồi. Tình trạng lợi dụng truyền thống văn hóa về tặng quà, cảm ơn để biếu xén, đưa hối lộ vì động cơ vụ lợi còn khá phổ biến. Qua theo dõi cho thấy, quy định về việc nộp lại quà tặng còn hình thức, chưa có chế tài, thiếu khả thi, việc thực hiện chưa nghiêm, hiệu quả thấp và trên thực tế cũng rất khó kiểm soát do phụ thuộc nhiều vào tính tự giác, đạo đức của cán bộ, công chức.

Thứ ba, cho đến nay, quyền tiếp cận thông tin của người dân, doanh nghiệp chưa được bảo đảm. Một số cán bộ, công chức lợi dụng quy định về bí mật nhà nước để che giấu tài sản và hành vi tham nhũng vẫn xảy ra. Nhiều quy định của Luật Phòng, chống tham nhũng về công khai, minh bạch chưa được thực hiện đầy đủ như: Công khai quy hoạch sử dụng đất; công khai dự phòng ngân sách; công khai đầu tư, mua sắm công; công khai công tác cán bộ; công khai tài sản cán bộ; công khai hoạt động thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và kết luận thanh tra; công khai, minh bạch các quyết định trong điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án...

Thứ tư, các quy định pháp luật, các chế độ, định mức, tiêu chuẩn mặc dù đã được rà soát, điều chỉnh, bổ sung thường xuyên hơn, nhưng vẫn còn nhiều nội dung chưa phù hợp với thực tế, nhất là chế độ lương, phụ cấp, công tác phí cho cán bộ, công chức, viên chức; định mức chi tiêu hành chính, định mức kinh tế - kỹ thuật… Đây là một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng nhũng nhiễu, vòi vĩnh, gây thất thoát tài sản của Nhà nước.

Thứ năm, việc kê khai tài sản, thu nhập còn nặng về hình thức; hầu hết các bản kê khai chưa được kiểm tra, xác minh, kiểm chứng; chưa giúp cho các cơ quan chức năng kiểm soát được những biến động về tài sản của người có chức vụ, quyền hạn; nhiều cơ quan, đơn vị chưa nắm đầy đủ trình tự, thủ tục kê khai và công khai; còn lúng túng trong việc hướng dẫn nguyên tắc, phạm vi biến động tài sản, loại tài sản, thu nhập phải kê khai, giải trình. Một số cơ quan, đơn vị người đứng đầu chưa thực sự quan tâm, quyết liệt trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo, chưa thực sự gương mẫu trong thực hiện việc kê khai, công khai bản kê khai tài sản, thu nhập; công tác quản lý, theo dõi việc kê khai, công khai, xác minh về tài sản, thu nhập chưa có tính hệ thống. Do đó, đến nay vẫn chưa có vụ việc tham nhũng lớn nào được phát hiện thông qua hình thức này. Việc thanh toán bằng tiền mặt vẫn còn phổ biến, gây khó khăn cho việc phát hiện các hành vi trốn thuế, rửa tiền, tham nhũng... Tuy nhiên, hành lang pháp lý trong lĩnh vực thanh toán không dùng tiền mặt chưa hoàn thiện, cơ sở hạ tầng về công nghệ chưa đáp ứng được yêu cầu.

Thứ sáu, số người đứng đầu bị xử lý trách nhiệm khi để xảy ra tham nhũng còn ít so với số vụ việc tham nhũng được phát hiện. Nguyên nhân là còn thiếu kiên quyết, nể nang, né tránh trong xử lý; chủ trương cán bộ lãnh đạo, quản lý “chủ động từ chức vì lý do trách nhiệm” theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 3 (khóa X) chưa đi vào cuộc sống.

Thứ bảy, nội dung tuyên truyền, giáo dục về phòng, chống tham nhũng chưa thật sự phong phú, đa dạng, hấp dẫn. Một bộ phận cán bộ, công chức, viên chức nhận thức về công tác phòng chống tham nhũng chưa đồng đều, thiếu tự giác trong chấp hành các quy định về phòng, chống tham nhũng. Một số báo, đài chưa có chuyên trang, chuyên mục về phòng, chống tham nhũng hoặc đã có nhưng chưa duy trì thường xuyên; số cán bộ, công chức có tâm lý thờ ơ, ngại đấu tranh với những biểu hiện tiêu cực trong nội bộ còn khá phổ biến; chưa phát huy hết vai trò, trách nhiệm của xã hội và nhân dân trong phòng chống tham nhũng. Một số nơi có tình trạng những việc làm đúng, gương người tốt không được đề cao, bảo vệ; những sai sót, vi phạm chưa được phê phán, xử lý nghiêm minh. Vai trò giám sát của nhân dân thông qua Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội chưa được phát huy mạnh mẽ. Nhìn chung, công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật về phòng, chống tham nhũng vẫn chưa tạo được sự chuyển biến căn bản về nhận thức và hành động phòng, chống tham nhũng trong bộ máy nhà nước và trong xã hội.

2. Các giải pháp đột phá trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng

Thứ nhất, phải hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền lực trong bộ máy nhà nước từ Trung ương đến địa phương

Tham nhũng bao giờ cũng gắn với những người có chức vụ, quyền hạn, nhất là những người nắm giữ quyền lực nhà nước. Vì vậy, phải xây dựng, ban hành cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước. Nếu quyền lực nhà nước được kiểm soát tốt thì không thể lợi dụng quyền lực nhà nước để tham nhũng. Chẳng hạn, cần nhanh chóng thành lập Ủy ban Bảo vệ Hiến pháp để xử lý những văn bản quy phạm pháp luật ban hành trái với Hiến pháp, trái với Luật hoặc xử lý những hành vi vi Hiến của một số cán bộ có chức quyền cao. Ban hành cơ chế để cơ quan tư pháp (Viện kiểm sát, Tòa án) kiểm soát được cơ quan hành pháp; cơ quan lập pháp (Quốc hội) kiểm soát được cơ quan hành pháp và tư pháp, ngược lại cơ quan hành pháp bằng nghiệp vụ của mình kiểm soát lại cơ quan lập pháp và tư pháp. Hoạt động của các cơ quan này đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Bộ Chính trị để đảm bảo quyền lực nhà nước được tập trung, thống nhất, qua đó, việc đấu tranh phòng, chống tham nhũng sẽ hiệu quả hơn.

Thứ hai, xử lý triệt để và nghiêm minh đối với các hành vi tham nhũng

Các vụ án tham nhũng cần được xét xử nghiêm minh, kịp thời và công khai với những mức hình phạt thích đáng đối với các hành vi và hậu quả đã gây ra, áp dụng các biện pháp trừng phạt một cách triệt để đối với các hành vi tham nhũng. Trong Bộ luật Hình sự của hầu hết các nước đều có một chương riêng quy định về tội tham nhũng, về những hành vi tham nhũng và mức hình phạt tương xứng với những hành vi ấy. Một số nước có văn bản pháp luật riêng về chống tham nhũng nhưng không phải là một đạo luật độc lập mà nó tồn tại song song bên cạnh Bộ luật Hình sự. Theo Công ước chống tham nhũng của Liên Hợp Quốc, tất cả tài sản do tham nhũng đều bị tịch thu và xử lý như sau: Trả về nước đã bị mất tài sản để nước đó trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp hoặc sung công quỹ; dành một phần chi cho các nỗ lực phòng, chống tham nhũng chung; chi một phần cho việc phát hiện, thu giữ tài sản đó. Một số nước có Luật Sung công tài sản của người bị nghi là tham nhũng nếu họ không chứng minh được nguồn gốc hợp pháp của tài sản đó. Thêm vào đó, cần đào tạo một đội ngũ thẩm phán chuyên xét xử các tội phạm tham nhũng. Đội ngũ này gồm những người thực sự trung thực, trong sạch, có bản lĩnh chính trị, có kiến thức và kinh nghiệm chuyên môn để xử lý nghiêm minh đối với các tội phạm tham nhũng. Thực tế vẫn còn những nhận thức lệch lạc, những lực cản trong việc xử lý, vẫn còn có sự “can thiệp”, sự che chắn từ bên trên, bên ngoài và ngay cả trong các cơ quan chức năng…

Thứ ba, tăng cường chế độ, chính sách về tiền lương cho cán bộ, công chức, viên chức nhà nước

Đây được xem là một phương án phòng vệ hữu hiệu đối với nạn tham nhũng. Một trong những nguyên nhân gây ra tham nhũng đó là phẩm chất đạo đức của một bộ phận cán bộ đảng viên suy thoái trước tác động của mặt trái của cơ chế thị trường bằng việc lạm dụng chức quyền để làm giàu bất chính, lãng phí của công, tư tưởng trục lợi. Cơ chế “xin - cho” được nhìn nhận là một trong những nguy cơ của tệ tham nhũng, hối lộ khi các cán bộ nhà nước có hành động ưu ái cung cấp hồ sơ, tiết lộ bí mật để nhận tiền “bồi dưỡng” hoặc sách nhiễu, gây khó dễ trong thủ tục hành chính để nhận tiền “bôi trơn”. Một trong những nguyên nhân sâu xa của những hiện tượng đó là chế độ tiền lương đối với đội ngũ cán bộ, công chức còn bất hợp lý, chưa đáp ứng được những nhu cầu cơ bản thiết yếu. Cán bộ, công chức, viên chức có nền tảng học thức cao và có mong muốn cống hiến cho đất nước thì được trả một mức lương cực kỳ khiêm tốn. Lương công chức trẻ mới vào làm việc, có cả những cán bộ trẻ du học nước ngoài có bằng cấp thạc sỹ, tiến sỹ và cả cán bộ công tác 15 năm được nhận mức lương tương đương hệ số 2,34 - 3,99. Tiền lương hết tập sự của người tốt nghiệp đại học mới đạt 3,36 triệu đồng/tháng, còn lương Bộ trưởng thì khoảng 14,4 triệu đồng/tháng.

Thứ tư, xây dựng, ban hành và hoàn thiện hệ thống pháp luật

(i) Hoàn thiện đầy đủ và chặt chẽ các quy định pháp luật về kinh tế, tài chính, đất đai, tài nguyên môi trường, văn hóa, giáo dục, y tế, xây dựng, lao động… để bịt kín các “lỗ hổng” của pháp luật làm cho người có ý muốn tham nhũng không thể tham nhũng được; (ii) Hoàn thiện các quy định pháp luật hình sự, phải có chế tài đặc biệt cứng rắn để người có điều kiện tham nhũng sợ không dám tham nhũng. Ví dụ: Án chung thân không giảm án…; (iii) Quy định hành vi đưa hối lộ của pháp nhân cho cán bộ, công chức nhà nước là tội phạm tham nhũng trong Bộ luật Hình sự.

Thứ năm, quy định trách nhiệm cụ thể của người đứng đầu để xảy ra tham nhũng

Quy định cụ thể, chi tiết trách nhiệm của người đứng đầu đối với tài sản của Nhà nước giao cho đơn vị quản lý. Cụ thể hóa quy định người đứng đầu bị xử lý khi đơn vị có hành vi tham nhũng. Ví dụ: Quy định cụ thể về báo cáo sai sự thật, dẫn đến không phát hiện được hành vi tham nhũng…

Thứ sáu, nâng cao trình độ năng lực, bản lĩnh và có chế độ bảo vệ đãi ngộ phù hợp đối với những cán bộ, công chức làm công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng

Thực hiện tốt việc đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ năng lực chuyên môn, nghiệp vụ cho những cán bộ, công chức thực hiện nghĩa vụ đấu tranh phòng, chống tham nhũng; rèn luyện bản lĩnh chính trị, không khoan nhượng trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng; có chế độ đãi ngộ phù hợp, khen thưởng, đề bạt kịp thời những cán bộ, công chức có thành tích trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng.

Thứ bảy, truy xét đến cùng tài sản tham nhũng để thu hồi cho Nhà nước

Hiện nay, tài sản tham nhũng được biến tướng dưới rất nhiều hình thức, chuyển giao và cất giấu rất tinh vi. Vì vậy, phải truy xét đến cùng tài sản này để thu hồi cho Nhà nước, qua đó để làm gương cho người khác đang có ý định tham nhũng. Chẳng hạn, nghiên cứu phương thức thu hồi tài sản cho Nhà nước theo hình thức khởi kiện dân sự. Ví dụ: Đòi bồi thường thiệt hại do hành vi tham nhũng gây ra, khởi kiện để vô hiệu hóa các hợp đồng có tham nhũng hoặc buộc những cán bộ, công chức có chức vụ, quyền hạn khi có khối tài sản tăng lên một cách nhanh chóng và có khối lượng lớn phải chứng minh nguồn gốc hợp pháp của tài sản, nếu không chứng minh được thì xử lý theo pháp luật.

Thứ tám, xây dựng cơ quan phòng, chống tham nhũng

Học tập kinh nghiệm của Singapore và một số nước trên thế giới, ở Việt Nam, để đấu tranh phòng, chống tham nhũng có hiệu quả, cần xây dựng cơ quan phòng, chống tham nhũng riêng. Theo chúng tôi, có hai phương án sau:

Phương án 1: Xây dựng các cơ quan phòng, chống tham nhũng ở cả ba hệ thống cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp. Ba cơ quan này có quyền thanh tra, kiểm tra những hành vi có dấu hiệu tham nhũng trong hệ thống cơ quan mình từ Trung ương đến địa phương và có quyền kiểm tra, thanh tra chéo, chẳng hạn cơ quan phòng, chống tham nhũng của cơ quan lập pháp có quyền kiểm tra, thanh tra cơ quan hành pháp. Cơ quan phòng, chống tham nhũng của cơ quan hành pháp có quyền thanh tra, kiểm tra hành vi có dấu hiệu tham nhũng của cơ quan tư pháp và ngược lại. Ba cơ quan này có ba người đứng đầu là Chủ tịch Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao. Ba cơ quan này trực thuộc Hội đồng phòng, chống tham nhũng gồm có 06 người là Tổng bí thư, Chủ tịch nước, Chủ tịch Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao. Trong đó, Tổng bí thư làm Chủ tịch Hội đồng; Chủ tịch nước làm Phó Chủ tịch Thường trực; Chủ tịch Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao là các Phó Chủ tịch. Khi quyết định các vấn đề quan trọng, lấy ý kiến theo đa số; khi số phiếu ngang nhau thì theo quyết định của những người có quan điểm phù hợp với Tổng bí thư.

Phương án 2: Thành lập một cơ quan phòng, chống tham nhũng trực thuộc Tổng bí thư. Cơ quan này có quyền thanh tra, kiểm tra, khởi tố các hành vi có dấu hiệu tham nhũng đối với tất cả các cán bộ, công chức trong bộ máy nhà nước và hệ thống chính trị từ Trung ương đến địa phương. Những người làm việc trong các cơ quan này phải có trình độ, năng lực chuyên môn nghiệp sâu trong nhiều lĩnh vực, có phẩm chất đạo đức tốt, trung thành tuyệt đối với Đảng, Nhà nước và nhân dân; có bản lĩnh chính trị vững vàng, sẵn sàng đối mặt với những khó khăn, thách thức và nguy hiểm trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng.

Nếu chúng ta thành lập được các cơ quan phòng, chống tham nhũng như nêu trên sẽ góp phần quan trọng vào việc đấu tranh phòng, chống tham nhũng ở Việt Nam hiện nay.

PGS.TS. Nguyễn Cảnh Quý

Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh



Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Tóm tắt: Trong bối cảnh hệ thống pháp luật ngày càng phức tạp và thường xuyên thay đổi, việc tiếp cận, hiểu và sử dụng pháp luật trở thành thách thức đối với người dân. Mô hình phổ biến, giáo dục pháp luật hiện nay chủ yếu tập trung vào truyền đạt văn bản, chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu hỗ trợ người dân sử dụng pháp luật trong thực tiễn. Trên cơ sở phân tích xu hướng quốc tế về tiếp cận công lý lấy người dân làm trung tâm và ứng dụng công nghệ số, nghiên cứu đề xuất chuyển từ mô hình “phổ biến pháp luật” sang “hạ tầng tuân thủ phòng ngừa”, gắn phổ biến pháp luật với nhu cầu thực tiễn, cảnh báo sớm rủi ro pháp lý và hỗ trợ tra cứu, sử dụng pháp luật hiệu quả trong môi trường số.
Nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng cho người gửi tiền ở Việt Nam

Nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng cho người gửi tiền ở Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh ngân hàng số phát triển, thông tin chưa được kiểm chứng có thể tác động nhanh đến tâm lý và hành vi của người gửi tiền. Nghiên cứu phân tích quy định pháp luật và thực tiễn phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cho thấy, hoạt động này chưa chú trọng đầy đủ đến mức độ hiểu và khả năng vận dụng pháp luật của người gửi tiền; nội dung còn thiên về tính chuyên môn; phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật và cơ chế cung cấp thông tin kịp thời còn hạn chế. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá, tích hợp thông tin pháp luật ngắn gọn vào dịch vụ ngân hàng số và tăng cường cung cấp thông tin chính thức, kịp thời nhằm bảo vệ người gửi tiền và củng cố niềm tin vào hệ thống ngân hàng.
Phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Tóm tắt: Quyền con người phản ánh sự kết tinh những giá trị nhân phẩm cao quý của nhân loại. Nghiên cứu công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người là phân tích, đánh giá phương thức thể chế hóa các chủ trương của Đảng về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đồng thời, đề xuất giải pháp khắc phục những hạn chế của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 trước thách thức mới từ công nghệ số. Trên cơ sở tổng hợp và so sánh luật học, nghiên cứu phân tích, đánh giá vai trò của công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người và thực trạng thi hành Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012. Đồng thời, nghiên cứu đánh giá tính phù hợp, khả thi của dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)* (dự thảo Luật). Từ đó, kiến nghị và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Luật Phòng, chống ma túy năm 2021 quy định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi nghiện ma túy mà không tự nguyện cai nghiện. Mặc dù không được xem là biện pháp xử lý hành chính nhưng biện pháp này mang tính cách ly người bị áp dụng khỏi cộng đồng. Để bảo vệ quyền của người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi, pháp luật cho phép các chủ thể liên quan khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành chưa quy định quyền khởi kiện hay kháng cáo đối với quyết định này. Nghiên cứu phân tích bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi, đồng thời, đề xuất giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật nhằm bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người bị áp dụng biện pháp này.
Nâng cao trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Nâng cao trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã xác định rõ trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật. Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, cải cách tư pháp và chuyển đổi số quốc gia, vai trò này ngày càng trở nên quan trọng. Nghiên cứu phân tích cơ sở chính trị, pháp lý, thực trạng quy định pháp luật và thực tiễn triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật của Tòa án nhân dân; trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện hoạt động này trong hệ thống Tòa án nhân dân.
Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Sự phát triển của nền tảng số, mạng xã hội và trí tuệ nhân tạo tạo sinh đang làm thay đổi phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật, đồng thời, đặt ra nhiều thách thức trong kiểm soát thông tin pháp luật trên môi trường số. Bên cạnh việc mở rộng khả năng tiếp cận pháp luật của người dân, tình trạng lan truyền thông tin pháp luật sai lệch, thiếu kiểm chứng hoặc được tạo sinh bởi hệ thống trí tuệ nhân tạo đang ảnh hưởng đến hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật và quyền tiếp cận thông tin pháp luật chính xác. Trên cơ sở phân tích các vấn đề lý luận, đánh giá thực trạng quy định và thực tiễn áp dụng pháp luật tại Việt Nam, nghiên cứu phân tích bất cập trong kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số và đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả quản lý và bảo đảm chính xác của thông tin pháp luật trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật.
Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 7/2026

Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 7/2026

(Cập nhật bởi LuatVietnam.vn)
Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam[1]

Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam[1]

Tóm tắt: Mô hình chính quyền địa phương hai cấp được triển khai ở Việt Nam từ ngày 01/7/2025 đánh dấu bước chuyển quan trọng trong quá trình đổi mới tổ chức bộ máy nhà nước theo hướng tinh, gọn, tăng cường phân quyền, phân cấp và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị địa phương. Nghiên cứu phân tích các cơ hội và thách thức trong quá trình triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam, làm rõ những vấn đề đặt ra trong hoàn thiện thể chế, bảo đảm nguồn lực và nâng cao năng lực quản trị địa phương, từ đó, đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam thời gian tới.
Một số bất cập của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 và kiến nghị hoàn thiện

Một số bất cập của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Sau hơn 13 năm thi hành, Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng trong triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, góp phần nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ và Nhân dân. Tuy nhiên, trước yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, chuyển đổi số và hoàn thiện thể chế theo chủ trương, định hướng của Đảng, nhiều quy định của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 bộc lộ những hạn chế, bất cập. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, tổng kết thực tiễn thi hành và bối cảnh phát triển đất nước giai đoạn mới, nghiên cứu làm rõ những bất cập về tổ chức thực hiện công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên pháp luật, đối tượng đặc thù, nội dung, hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật và sự không thống nhất của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 với một số luật liên quan. Từ đó, kiến nghị sửa đổi, bổ sung nhằm hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật và nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong bối cảnh hiện nay.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật - Yêu cầu chuyển từ phổ biến, giáo dục pháp luật hình thức sang tiếp cận dựa trên nhu cầu của người dân

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật - Yêu cầu chuyển từ phổ biến, giáo dục pháp luật hình thức sang tiếp cận dựa trên nhu cầu của người dân

Tóm tắt: Việc sửa đổi Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 là cấp thiết trước yêu cầu khắc phục tình trạng tuyên truyền thiên về hình thức, chưa gắn chặt với những vấn đề pháp lý mà người dân thực sự cần được hỗ trợ. Nghiên cứu phân tích khoảng cách giữa nguyên tắc phù hợp với nhu cầu và cơ chế nhận diện, phản ánh, đáp ứng, đo lường nhu cầu pháp lý trong dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật[1] (dự thảo Luật). Trên cơ sở phân tích quy phạm, bình luận chính sách và tiếp cận liên ngành về nhu cầu pháp lý, năng lực pháp lý, tiếp cận công lý, nghiên cứu tập trung vào các quy định về nguyên tắc, nội dung, hình thức, hướng dẫn và giải đáp pháp luật, đối tượng đặc thù, giáo dục pháp luật trong cơ sở giáo dục, trách nhiệm tổ chức thực hiện, cơ chế cấp xã, chuyển đổi số và đánh giá hiệu quả. Kết quả nghiên cứu cho thấy, dự thảo Luật đã có nhiều định hướng tích cực nhưng thiếu cơ chế khảo sát nhu cầu, thiết kế nội dung theo tình huống, chuyển tuyến hỗ trợ pháp lý và đánh giá khả năng hiểu, vận dụng pháp luật. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện các cơ chế bảo đảm cách tiếp cận lấy nhu cầu pháp lý của người dân làm trung tâm.
Chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên ở Việt Nam

Chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên ở Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển nhanh, mạnh mẽ của không gian mạng đang tác động sâu sắc đến đời sống xã hội, đồng thời, đặt ra nhiều rủi ro đối với người chưa thành niên. Trong bối cảnh đó, chuyển đổi số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật trở thành yêu cầu cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả tiếp cận pháp luật cho nhóm đối tượng này. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết của chuyển đổi số trong phổ biến, giáo dục pháp luật đối với người chưa thành niên; đánh giá thực trạng triển khai tại Việt Nam, chỉ ra những hạn chế, bất cập, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật đối với viên chức tại các cơ sở giáo dục công lập

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật đối với viên chức tại các cơ sở giáo dục công lập

Tóm tắt: Pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật đối với viên chức tại các cơ sở giáo dục công lập là một bộ phận của pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật, có vai trò quan trọng trong xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Trên cơ sở làm rõ khái niệm, đặc trưng và các tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thiện, nghiên cứu phân tích thực trạng pháp luật hiện hành, chỉ ra những kết quả đạt được và các hạn chế. Từ đó, nghiên cứu đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật đối với viên chức tại các cơ sở giáo dục công lập, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Hoàn thiện pháp luật để thúc đẩy hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật trên môi trường số cho người cao tuổi

Hoàn thiện pháp luật để thúc đẩy hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật trên môi trường số cho người cao tuổi

Tóm tắt: Chuyển đổi số đặt ra yêu cầu cấp thiết cần đổi mới hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật, nhất là đối với các nhóm đối tượng đặc thù có năng lực số hạn chế. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trên môi trường số trên cơ sở chủ trương chính sách của Đảng, Nhà nước và yêu cầu của chuyển đổi số; đánh giá thực trạng quy định của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 và dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)* (dự thảo Luật). Thông qua trường hợp cảnh báo về “hợp đồng kỳ nghỉ”, nghiên cứu làm rõ những hạn chế trong việc tiếp cận thông tin pháp luật của người cao tuổi trên môi trường số, từ đó, chỉ ra những bất cập của pháp luật hiện hành. Trên cơ sở tham khảo kinh nghiệm quốc tế, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện các quy định pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trên môi trường số.
Nguyên tắc “6 rõ” trong tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật

Nguyên tắc “6 rõ” trong tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật

Trong đợt tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật năm 2026 - một nhiệm vụ trọng yếu được triển khai theo Kết luận số 09-KL/TW ngày 10/3/2026 của Bộ Chính trị về hoàn thiện cấu trúc hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới - nguyên tắc “6 rõ” đã được xác lập như một chuẩn mực kỹ thuật và quản trị cốt lõi. Nội dung của nguyên tắc này bao gồm: rõ người, rõ việc, rõ thời gian, rõ trách nhiệm, rõ thẩm quyền và rõ kết quả.
Nâng cao nhận thức, chung tay đẩy lùi tội phạm mua bán người

Nâng cao nhận thức, chung tay đẩy lùi tội phạm mua bán người

Ngày 30/7 hằng năm được Đại hội đồng Liên hợp quốc chọn là Ngày Thế giới phòng, chống mua bán người (World Day Against Trafficking in Persons) nhằm nâng cao nhận thức của cộng đồng về những hậu quả nghiêm trọng của tội phạm mua bán người, đồng thời kêu gọi các quốc gia tăng cường hợp tác, triển khai các giải pháp phòng ngừa, đấu tranh và bảo vệ nạn nhân.

Theo dõi chúng tôi trên: