Thứ sáu 01/05/2026 10:32
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Các giải pháp đột phá trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng ở Việt Nam hiện nay

Tóm tắt: Tham nhũng tồn tại ở mọi quốc gia, hiện diện trên tất cả các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội, không phân biệt chế độ chính trị, trình độ phát triển. Để việc đấu tranh phòng, chống tham nhũng trong bộ máy nhà nước ở nước ta có hiệu quả, cần nghiên cứu những hạn chế trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng và từ đó đưa ra các giải pháp đột phá.


Abstract: Corruption exists in every nation in all different areas of social life without distinction of political regime, development level. In order to effectively prevent, fight against corruption in our state apparatus, there is a need to study limitations in corruption prevention and fight and from there to propose breakthrough solutions.

1. Những hạn chế trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng ở Việt Nam hiện nay

Nghiên cứu công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng ở Việt Nam cho thấy còn nhiều hạn chế, bất cập như:

Thứ nhất, việc xử lý hành vi tham nhũng trong nhiều trường hợp còn chưa nghiêm, chưa kịp thời; các biện pháp hỗ trợ hoạt động tư pháp còn hạn chế, chưa đáp ứng được yêu cầu, nhất là công tác giám định tư pháp trên các lĩnh vực tài chính, ngân hàng, đầu tư xây dựng cơ bản, khoa học công nghệ... Hành vi tham nhũng ngày càng tinh vi, phức tạp, vì vậy việc phát hiện và xử lý tham nhũng gặp nhiều khó khăn. Việc tự kiểm tra, phát hiện tham nhũng trong các cơ quan, tổ chức, đơn vị còn rất yếu, một số trường hợp chưa xử lý triệt để, muốn xử lý nhẹ, xử lý nội bộ, không muốn chuyển cơ quan chức năng xem xét để xử lý theo quy định pháp luật. Một số vụ việc đình chỉ vụ án, đình chỉ bị can, miễn trách nhiệm hình sự chưa đúng quy định của pháp luật; việc thay đổi sang tội danh khác nhẹ hơn hoặc không phải tội danh về tham nhũng vẫn còn xảy ra.

Thứ hai, việc thu hồi tài sản bị chiếm đoạt, tham nhũng còn gặp rất nhiều khó khăn do một số nguyên nhân như: Chưa kiểm soát được tài sản, thu nhập của xã hội nên tài sản có nguồn gốc tham nhũng dễ dàng bị tẩu tán, không thể thu hồi được; đa số các tội phạm tham nhũng là tội phạm có tổ chức, người phạm tội thường là người có chức vụ, có trình độ chuyên môn cao, vì vậy, việc phạm tội có sự chuẩn bị kỹ càng, thủ đoạn và che giấu tội phạm tinh vi; quá trình xử lý tin báo, tố giác tội phạm thiếu chặt chẽ, trong nhiều trường hợp để tin quá hạn lâu mà không được xử lý đã tạo điều kiện cho tội phạm tham nhũng cố tình che dấu hành vi, tẩu tán tài sản… Do đó, tỷ lệ tiền, tài sản thu hồi được rất nhỏ so với tổng số thiệt hại do các đối tượng chiếm đoạt. Chẳng hạn, trong các vụ án Nguyễn Đức Kiên (bầu Kiên), Huỳnh Thị Huyền Như, Hà Văn Thắm, Vinashine, Vinalines… đã gây thiệt hại cho Nhà nước và xã hội rất lớn nhưng sau khi xét xử việc thu hồi tài sản bị tham nhũng, bị thất thoát không cao, hàng ngàn tỷ đồng của Nhà nước bị hành vi tham nhũng chiếm đoạt vẫn chưa được thu hồi. Tình trạng lợi dụng truyền thống văn hóa về tặng quà, cảm ơn để biếu xén, đưa hối lộ vì động cơ vụ lợi còn khá phổ biến. Qua theo dõi cho thấy, quy định về việc nộp lại quà tặng còn hình thức, chưa có chế tài, thiếu khả thi, việc thực hiện chưa nghiêm, hiệu quả thấp và trên thực tế cũng rất khó kiểm soát do phụ thuộc nhiều vào tính tự giác, đạo đức của cán bộ, công chức.

Thứ ba, cho đến nay, quyền tiếp cận thông tin của người dân, doanh nghiệp chưa được bảo đảm. Một số cán bộ, công chức lợi dụng quy định về bí mật nhà nước để che giấu tài sản và hành vi tham nhũng vẫn xảy ra. Nhiều quy định của Luật Phòng, chống tham nhũng về công khai, minh bạch chưa được thực hiện đầy đủ như: Công khai quy hoạch sử dụng đất; công khai dự phòng ngân sách; công khai đầu tư, mua sắm công; công khai công tác cán bộ; công khai tài sản cán bộ; công khai hoạt động thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và kết luận thanh tra; công khai, minh bạch các quyết định trong điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án...

Thứ tư, các quy định pháp luật, các chế độ, định mức, tiêu chuẩn mặc dù đã được rà soát, điều chỉnh, bổ sung thường xuyên hơn, nhưng vẫn còn nhiều nội dung chưa phù hợp với thực tế, nhất là chế độ lương, phụ cấp, công tác phí cho cán bộ, công chức, viên chức; định mức chi tiêu hành chính, định mức kinh tế - kỹ thuật… Đây là một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng nhũng nhiễu, vòi vĩnh, gây thất thoát tài sản của Nhà nước.

Thứ năm, việc kê khai tài sản, thu nhập còn nặng về hình thức; hầu hết các bản kê khai chưa được kiểm tra, xác minh, kiểm chứng; chưa giúp cho các cơ quan chức năng kiểm soát được những biến động về tài sản của người có chức vụ, quyền hạn; nhiều cơ quan, đơn vị chưa nắm đầy đủ trình tự, thủ tục kê khai và công khai; còn lúng túng trong việc hướng dẫn nguyên tắc, phạm vi biến động tài sản, loại tài sản, thu nhập phải kê khai, giải trình. Một số cơ quan, đơn vị người đứng đầu chưa thực sự quan tâm, quyết liệt trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo, chưa thực sự gương mẫu trong thực hiện việc kê khai, công khai bản kê khai tài sản, thu nhập; công tác quản lý, theo dõi việc kê khai, công khai, xác minh về tài sản, thu nhập chưa có tính hệ thống. Do đó, đến nay vẫn chưa có vụ việc tham nhũng lớn nào được phát hiện thông qua hình thức này. Việc thanh toán bằng tiền mặt vẫn còn phổ biến, gây khó khăn cho việc phát hiện các hành vi trốn thuế, rửa tiền, tham nhũng... Tuy nhiên, hành lang pháp lý trong lĩnh vực thanh toán không dùng tiền mặt chưa hoàn thiện, cơ sở hạ tầng về công nghệ chưa đáp ứng được yêu cầu.

Thứ sáu, số người đứng đầu bị xử lý trách nhiệm khi để xảy ra tham nhũng còn ít so với số vụ việc tham nhũng được phát hiện. Nguyên nhân là còn thiếu kiên quyết, nể nang, né tránh trong xử lý; chủ trương cán bộ lãnh đạo, quản lý “chủ động từ chức vì lý do trách nhiệm” theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 3 (khóa X) chưa đi vào cuộc sống.

Thứ bảy, nội dung tuyên truyền, giáo dục về phòng, chống tham nhũng chưa thật sự phong phú, đa dạng, hấp dẫn. Một bộ phận cán bộ, công chức, viên chức nhận thức về công tác phòng chống tham nhũng chưa đồng đều, thiếu tự giác trong chấp hành các quy định về phòng, chống tham nhũng. Một số báo, đài chưa có chuyên trang, chuyên mục về phòng, chống tham nhũng hoặc đã có nhưng chưa duy trì thường xuyên; số cán bộ, công chức có tâm lý thờ ơ, ngại đấu tranh với những biểu hiện tiêu cực trong nội bộ còn khá phổ biến; chưa phát huy hết vai trò, trách nhiệm của xã hội và nhân dân trong phòng chống tham nhũng. Một số nơi có tình trạng những việc làm đúng, gương người tốt không được đề cao, bảo vệ; những sai sót, vi phạm chưa được phê phán, xử lý nghiêm minh. Vai trò giám sát của nhân dân thông qua Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội chưa được phát huy mạnh mẽ. Nhìn chung, công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật về phòng, chống tham nhũng vẫn chưa tạo được sự chuyển biến căn bản về nhận thức và hành động phòng, chống tham nhũng trong bộ máy nhà nước và trong xã hội.

2. Các giải pháp đột phá trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng

Thứ nhất, phải hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền lực trong bộ máy nhà nước từ Trung ương đến địa phương

Tham nhũng bao giờ cũng gắn với những người có chức vụ, quyền hạn, nhất là những người nắm giữ quyền lực nhà nước. Vì vậy, phải xây dựng, ban hành cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước. Nếu quyền lực nhà nước được kiểm soát tốt thì không thể lợi dụng quyền lực nhà nước để tham nhũng. Chẳng hạn, cần nhanh chóng thành lập Ủy ban Bảo vệ Hiến pháp để xử lý những văn bản quy phạm pháp luật ban hành trái với Hiến pháp, trái với Luật hoặc xử lý những hành vi vi Hiến của một số cán bộ có chức quyền cao. Ban hành cơ chế để cơ quan tư pháp (Viện kiểm sát, Tòa án) kiểm soát được cơ quan hành pháp; cơ quan lập pháp (Quốc hội) kiểm soát được cơ quan hành pháp và tư pháp, ngược lại cơ quan hành pháp bằng nghiệp vụ của mình kiểm soát lại cơ quan lập pháp và tư pháp. Hoạt động của các cơ quan này đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Bộ Chính trị để đảm bảo quyền lực nhà nước được tập trung, thống nhất, qua đó, việc đấu tranh phòng, chống tham nhũng sẽ hiệu quả hơn.

Thứ hai, xử lý triệt để và nghiêm minh đối với các hành vi tham nhũng

Các vụ án tham nhũng cần được xét xử nghiêm minh, kịp thời và công khai với những mức hình phạt thích đáng đối với các hành vi và hậu quả đã gây ra, áp dụng các biện pháp trừng phạt một cách triệt để đối với các hành vi tham nhũng. Trong Bộ luật Hình sự của hầu hết các nước đều có một chương riêng quy định về tội tham nhũng, về những hành vi tham nhũng và mức hình phạt tương xứng với những hành vi ấy. Một số nước có văn bản pháp luật riêng về chống tham nhũng nhưng không phải là một đạo luật độc lập mà nó tồn tại song song bên cạnh Bộ luật Hình sự. Theo Công ước chống tham nhũng của Liên Hợp Quốc, tất cả tài sản do tham nhũng đều bị tịch thu và xử lý như sau: Trả về nước đã bị mất tài sản để nước đó trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp hoặc sung công quỹ; dành một phần chi cho các nỗ lực phòng, chống tham nhũng chung; chi một phần cho việc phát hiện, thu giữ tài sản đó. Một số nước có Luật Sung công tài sản của người bị nghi là tham nhũng nếu họ không chứng minh được nguồn gốc hợp pháp của tài sản đó. Thêm vào đó, cần đào tạo một đội ngũ thẩm phán chuyên xét xử các tội phạm tham nhũng. Đội ngũ này gồm những người thực sự trung thực, trong sạch, có bản lĩnh chính trị, có kiến thức và kinh nghiệm chuyên môn để xử lý nghiêm minh đối với các tội phạm tham nhũng. Thực tế vẫn còn những nhận thức lệch lạc, những lực cản trong việc xử lý, vẫn còn có sự “can thiệp”, sự che chắn từ bên trên, bên ngoài và ngay cả trong các cơ quan chức năng…

Thứ ba, tăng cường chế độ, chính sách về tiền lương cho cán bộ, công chức, viên chức nhà nước

Đây được xem là một phương án phòng vệ hữu hiệu đối với nạn tham nhũng. Một trong những nguyên nhân gây ra tham nhũng đó là phẩm chất đạo đức của một bộ phận cán bộ đảng viên suy thoái trước tác động của mặt trái của cơ chế thị trường bằng việc lạm dụng chức quyền để làm giàu bất chính, lãng phí của công, tư tưởng trục lợi. Cơ chế “xin - cho” được nhìn nhận là một trong những nguy cơ của tệ tham nhũng, hối lộ khi các cán bộ nhà nước có hành động ưu ái cung cấp hồ sơ, tiết lộ bí mật để nhận tiền “bồi dưỡng” hoặc sách nhiễu, gây khó dễ trong thủ tục hành chính để nhận tiền “bôi trơn”. Một trong những nguyên nhân sâu xa của những hiện tượng đó là chế độ tiền lương đối với đội ngũ cán bộ, công chức còn bất hợp lý, chưa đáp ứng được những nhu cầu cơ bản thiết yếu. Cán bộ, công chức, viên chức có nền tảng học thức cao và có mong muốn cống hiến cho đất nước thì được trả một mức lương cực kỳ khiêm tốn. Lương công chức trẻ mới vào làm việc, có cả những cán bộ trẻ du học nước ngoài có bằng cấp thạc sỹ, tiến sỹ và cả cán bộ công tác 15 năm được nhận mức lương tương đương hệ số 2,34 - 3,99. Tiền lương hết tập sự của người tốt nghiệp đại học mới đạt 3,36 triệu đồng/tháng, còn lương Bộ trưởng thì khoảng 14,4 triệu đồng/tháng.

Thứ tư, xây dựng, ban hành và hoàn thiện hệ thống pháp luật

(i) Hoàn thiện đầy đủ và chặt chẽ các quy định pháp luật về kinh tế, tài chính, đất đai, tài nguyên môi trường, văn hóa, giáo dục, y tế, xây dựng, lao động… để bịt kín các “lỗ hổng” của pháp luật làm cho người có ý muốn tham nhũng không thể tham nhũng được; (ii) Hoàn thiện các quy định pháp luật hình sự, phải có chế tài đặc biệt cứng rắn để người có điều kiện tham nhũng sợ không dám tham nhũng. Ví dụ: Án chung thân không giảm án…; (iii) Quy định hành vi đưa hối lộ của pháp nhân cho cán bộ, công chức nhà nước là tội phạm tham nhũng trong Bộ luật Hình sự.

Thứ năm, quy định trách nhiệm cụ thể của người đứng đầu để xảy ra tham nhũng

Quy định cụ thể, chi tiết trách nhiệm của người đứng đầu đối với tài sản của Nhà nước giao cho đơn vị quản lý. Cụ thể hóa quy định người đứng đầu bị xử lý khi đơn vị có hành vi tham nhũng. Ví dụ: Quy định cụ thể về báo cáo sai sự thật, dẫn đến không phát hiện được hành vi tham nhũng…

Thứ sáu, nâng cao trình độ năng lực, bản lĩnh và có chế độ bảo vệ đãi ngộ phù hợp đối với những cán bộ, công chức làm công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng

Thực hiện tốt việc đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ năng lực chuyên môn, nghiệp vụ cho những cán bộ, công chức thực hiện nghĩa vụ đấu tranh phòng, chống tham nhũng; rèn luyện bản lĩnh chính trị, không khoan nhượng trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng; có chế độ đãi ngộ phù hợp, khen thưởng, đề bạt kịp thời những cán bộ, công chức có thành tích trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng.

Thứ bảy, truy xét đến cùng tài sản tham nhũng để thu hồi cho Nhà nước

Hiện nay, tài sản tham nhũng được biến tướng dưới rất nhiều hình thức, chuyển giao và cất giấu rất tinh vi. Vì vậy, phải truy xét đến cùng tài sản này để thu hồi cho Nhà nước, qua đó để làm gương cho người khác đang có ý định tham nhũng. Chẳng hạn, nghiên cứu phương thức thu hồi tài sản cho Nhà nước theo hình thức khởi kiện dân sự. Ví dụ: Đòi bồi thường thiệt hại do hành vi tham nhũng gây ra, khởi kiện để vô hiệu hóa các hợp đồng có tham nhũng hoặc buộc những cán bộ, công chức có chức vụ, quyền hạn khi có khối tài sản tăng lên một cách nhanh chóng và có khối lượng lớn phải chứng minh nguồn gốc hợp pháp của tài sản, nếu không chứng minh được thì xử lý theo pháp luật.

Thứ tám, xây dựng cơ quan phòng, chống tham nhũng

Học tập kinh nghiệm của Singapore và một số nước trên thế giới, ở Việt Nam, để đấu tranh phòng, chống tham nhũng có hiệu quả, cần xây dựng cơ quan phòng, chống tham nhũng riêng. Theo chúng tôi, có hai phương án sau:

Phương án 1: Xây dựng các cơ quan phòng, chống tham nhũng ở cả ba hệ thống cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp. Ba cơ quan này có quyền thanh tra, kiểm tra những hành vi có dấu hiệu tham nhũng trong hệ thống cơ quan mình từ Trung ương đến địa phương và có quyền kiểm tra, thanh tra chéo, chẳng hạn cơ quan phòng, chống tham nhũng của cơ quan lập pháp có quyền kiểm tra, thanh tra cơ quan hành pháp. Cơ quan phòng, chống tham nhũng của cơ quan hành pháp có quyền thanh tra, kiểm tra hành vi có dấu hiệu tham nhũng của cơ quan tư pháp và ngược lại. Ba cơ quan này có ba người đứng đầu là Chủ tịch Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao. Ba cơ quan này trực thuộc Hội đồng phòng, chống tham nhũng gồm có 06 người là Tổng bí thư, Chủ tịch nước, Chủ tịch Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao. Trong đó, Tổng bí thư làm Chủ tịch Hội đồng; Chủ tịch nước làm Phó Chủ tịch Thường trực; Chủ tịch Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao là các Phó Chủ tịch. Khi quyết định các vấn đề quan trọng, lấy ý kiến theo đa số; khi số phiếu ngang nhau thì theo quyết định của những người có quan điểm phù hợp với Tổng bí thư.

Phương án 2: Thành lập một cơ quan phòng, chống tham nhũng trực thuộc Tổng bí thư. Cơ quan này có quyền thanh tra, kiểm tra, khởi tố các hành vi có dấu hiệu tham nhũng đối với tất cả các cán bộ, công chức trong bộ máy nhà nước và hệ thống chính trị từ Trung ương đến địa phương. Những người làm việc trong các cơ quan này phải có trình độ, năng lực chuyên môn nghiệp sâu trong nhiều lĩnh vực, có phẩm chất đạo đức tốt, trung thành tuyệt đối với Đảng, Nhà nước và nhân dân; có bản lĩnh chính trị vững vàng, sẵn sàng đối mặt với những khó khăn, thách thức và nguy hiểm trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng.

Nếu chúng ta thành lập được các cơ quan phòng, chống tham nhũng như nêu trên sẽ góp phần quan trọng vào việc đấu tranh phòng, chống tham nhũng ở Việt Nam hiện nay.

PGS.TS. Nguyễn Cảnh Quý

Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh



Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định và tổ chức thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Kiến nghị hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định và tổ chức thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 là đạo luật quan trọng nhằm cụ thể hóa quyền tiếp cận thông tin của công dân theo Hiến pháp năm 2013[*], góp phần nâng cao tính công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Sau 08 năm thi hành, bên cạnh những kết quả đạt được, thực tiễn cho thấy còn bộc lộ một số hạn chế, bất cập trong quy định pháp luật và tổ chức thi hành, đặc biệt, liên quan đến phạm vi thông tin, trách nhiệm cung cấp thông tin, trình tự, thủ tục và điều kiện bảo đảm thực hiện quyền. Trên cơ sở nhận diện các vướng mắc, bất cập, nghiên cứu đề xuất định hướng sửa đổi, bổ sung Luật theo hướng bảo đảm tính đồng bộ với hệ thống pháp luật hiện hành, phù hợp với yêu cầu chuyển đổi số và tổ chức bộ máy nhà nước, đồng thời kiến nghị các giải pháp nâng cao hiệu quả tổ chức thi hành, qua đó góp phần bảo đảm tốt hơn quyền tiếp cận thông tin của công dân và xây dựng nền hành chính công khai, minh bạch.
Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018) sau hơn 08 năm thi hành đã bộc lộ nhiều bất cập trước sự vận động nhanh chóng của thực tiễn, đặc biệt là sự xuất hiện của các hình thức hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng và các quan hệ tôn giáo có yếu tố nước ngoài ngày càng phức tạp. Vì vậy, việc tăng cường quản lý nhà nước đối với các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng là yêu cầu cấp thiết không chỉ bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân mà còn nhằm giữ vững an ninh, trật tự xã hội và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới.
Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Thẩm quyền ban hành VBQPPL là nội dung trọng tâm nhằm bảo đảm mỗi loại VBQPPL được ban hành bởi đúng cơ quan, đúng cấp, vừa phù hợp với phạm vi pháp lý, vừa hạn chế rủi ro và xung đột giữa các văn bản.
Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Việc ban hành Luật Ban hành VBQPPL số 64/2025/QH15 được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 87/2025/QH15 và các nghị định hướng dẫn thi hành có ý nghĩa đặc biệt trong bối cảnh đổi mới tư duy xây dựng pháp luật, gắn kết chặt chẽ giữa xây dựng và thi hành pháp luật.
Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Bài viết phân tích quy trình xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ của Quốc hội và quy trình xây dựng chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội, từ đó, đưa ra một số lưu ý nhằm nâng cao hiệu quả việc thực hiện hai quy trình này.
Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Tóm tắt: Bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra góp phần bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp cần miễm trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra để bảo vệ lợi ích hợp pháp của các nhà sản xuất kinh doanh. Bài viết nghiên cứu những trường hợp miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023, đồng thời chỉ ra ưu, nhược điểm và hạn chế của Luật, từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Trong bối cảnh nhiều thách thức, đội ngũ luật sư với kiến thức chuyên môn và kỹ năng nghề nghiệp của mình, đóng vai trò then chốt trong việc nâng cao chất lượng, hiệu quả trợ giúp pháp lý.
Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Những năm qua, công tác trợ giúp pháp lý trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận. Nhiều vụ việc được trợ giúp pháp lý kịp thời, góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người nghèo, người có công với cách mạng và các nhóm yếu thế khác.
Ứng dụng công nghệ số, nền tảng trực tuyến, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động trợ giúp pháp lý

Ứng dụng công nghệ số, nền tảng trực tuyến, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động trợ giúp pháp lý

Những nỗ lực số hóa hồ sơ, vận hành Hệ thống quản lý trợ giúp pháp lý, kết nối dữ liệu dân cư, phát triển tư vấn trực tuyến… đã mở ra hướng tiếp cận mới, góp phần nâng cao chất lượng và tính minh bạch của dịch vụ trợ giúp pháp lý.
Tăng cường hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế trong tố tụng hình sự

Tăng cường hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế trong tố tụng hình sự

Trong tiến trình cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, việc bảo đảm quyền con người luôn là sợi chỉ đỏ xuyên suốt, đặc biệt, với đối tượng yếu thế, yêu cầu này càng trở nên cấp thiết và nhân văn. Trong tố tụng hình sự (TTHS), đối tượng yếu thế với tư cách bị hại, người làm chứng hay bị can, bị cáo, đã và đang phải đối mặt với hệ thống tư pháp hình sự. Đối tượng yếu thế có được tiếp cận công lý bình đẳng hay không phụ thuộc vào sự công tâm, chuyên nghiệp và nhạy cảm của các cơ quan trong hoạt động tố tụng, trong đó có vai trò của hoạt động trợ giúp pháp lý.
Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo trong bối cảnh mới

Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo trong bối cảnh mới

Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và thúc đẩy phát triển bền vững, hoạt động trợ giúp pháp lý đóng vai trò quan trọng trong việc bảo đảm công bằng xã hội và tiếp cận công lý cho người dân, đặc biệt là người nghèo thuộc nhóm đối tượng yếu thế.
Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Đây là giải pháp quan trọng nhằm khắc phục khó khăn, vướng mắc, nâng cao chất lượng tổ chức thi hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo.
Ưu điểm, hạn chế và một số vấn đề chính cần rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Ưu điểm, hạn chế và một số vấn đề chính cần rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 đã góp phần quan trọng trong việc bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của cá nhân, tổ chức, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đối với lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo. Tuy nhiên, thực tiễn triển khai Luật cũng bộc lộ những bất cập, hạn chế cần sửa đổi, hoàn thiện nhằm đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới.
Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là một trong những loại tội phạm có diễn biến ngày càng phức tạp, đa dạng và tinh vi. Phương thức thực hiện tội phạm không ngừng biến đổi, đặc biệt là việc sử dụng công nghệ cao để phạm tội, gây thiệt hại lớn đối với tài sản và tâm lý hoang mang cho người dân, ảnh hưởng đến trật tự, an toàn xã hội. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng các quy định của Bộ luật Hình sự về tội này vẫn còn tồn tại một số vướng mắc, bất cập từ chính quy định của pháp luật.
Xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Bài viết làm rõ sự cần thiết của việc xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên bứt phá, phát triển mới của dân tộc, theo tinh thần Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Đại hội XIV).

Theo dõi chúng tôi trên: