Thứ năm 15/01/2026 05:24
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Các giải pháp đột phá trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng ở Việt Nam hiện nay

Tóm tắt: Tham nhũng tồn tại ở mọi quốc gia, hiện diện trên tất cả các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội, không phân biệt chế độ chính trị, trình độ phát triển. Để việc đấu tranh phòng, chống tham nhũng trong bộ máy nhà nước ở nước ta có hiệu quả, cần nghiên cứu những hạn chế trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng và từ đó đưa ra các giải pháp đột phá.


Abstract: Corruption exists in every nation in all different areas of social life without distinction of political regime, development level. In order to effectively prevent, fight against corruption in our state apparatus, there is a need to study limitations in corruption prevention and fight and from there to propose breakthrough solutions.

1. Những hạn chế trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng ở Việt Nam hiện nay

Nghiên cứu công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng ở Việt Nam cho thấy còn nhiều hạn chế, bất cập như:

Thứ nhất, việc xử lý hành vi tham nhũng trong nhiều trường hợp còn chưa nghiêm, chưa kịp thời; các biện pháp hỗ trợ hoạt động tư pháp còn hạn chế, chưa đáp ứng được yêu cầu, nhất là công tác giám định tư pháp trên các lĩnh vực tài chính, ngân hàng, đầu tư xây dựng cơ bản, khoa học công nghệ... Hành vi tham nhũng ngày càng tinh vi, phức tạp, vì vậy việc phát hiện và xử lý tham nhũng gặp nhiều khó khăn. Việc tự kiểm tra, phát hiện tham nhũng trong các cơ quan, tổ chức, đơn vị còn rất yếu, một số trường hợp chưa xử lý triệt để, muốn xử lý nhẹ, xử lý nội bộ, không muốn chuyển cơ quan chức năng xem xét để xử lý theo quy định pháp luật. Một số vụ việc đình chỉ vụ án, đình chỉ bị can, miễn trách nhiệm hình sự chưa đúng quy định của pháp luật; việc thay đổi sang tội danh khác nhẹ hơn hoặc không phải tội danh về tham nhũng vẫn còn xảy ra.

Thứ hai, việc thu hồi tài sản bị chiếm đoạt, tham nhũng còn gặp rất nhiều khó khăn do một số nguyên nhân như: Chưa kiểm soát được tài sản, thu nhập của xã hội nên tài sản có nguồn gốc tham nhũng dễ dàng bị tẩu tán, không thể thu hồi được; đa số các tội phạm tham nhũng là tội phạm có tổ chức, người phạm tội thường là người có chức vụ, có trình độ chuyên môn cao, vì vậy, việc phạm tội có sự chuẩn bị kỹ càng, thủ đoạn và che giấu tội phạm tinh vi; quá trình xử lý tin báo, tố giác tội phạm thiếu chặt chẽ, trong nhiều trường hợp để tin quá hạn lâu mà không được xử lý đã tạo điều kiện cho tội phạm tham nhũng cố tình che dấu hành vi, tẩu tán tài sản… Do đó, tỷ lệ tiền, tài sản thu hồi được rất nhỏ so với tổng số thiệt hại do các đối tượng chiếm đoạt. Chẳng hạn, trong các vụ án Nguyễn Đức Kiên (bầu Kiên), Huỳnh Thị Huyền Như, Hà Văn Thắm, Vinashine, Vinalines… đã gây thiệt hại cho Nhà nước và xã hội rất lớn nhưng sau khi xét xử việc thu hồi tài sản bị tham nhũng, bị thất thoát không cao, hàng ngàn tỷ đồng của Nhà nước bị hành vi tham nhũng chiếm đoạt vẫn chưa được thu hồi. Tình trạng lợi dụng truyền thống văn hóa về tặng quà, cảm ơn để biếu xén, đưa hối lộ vì động cơ vụ lợi còn khá phổ biến. Qua theo dõi cho thấy, quy định về việc nộp lại quà tặng còn hình thức, chưa có chế tài, thiếu khả thi, việc thực hiện chưa nghiêm, hiệu quả thấp và trên thực tế cũng rất khó kiểm soát do phụ thuộc nhiều vào tính tự giác, đạo đức của cán bộ, công chức.

Thứ ba, cho đến nay, quyền tiếp cận thông tin của người dân, doanh nghiệp chưa được bảo đảm. Một số cán bộ, công chức lợi dụng quy định về bí mật nhà nước để che giấu tài sản và hành vi tham nhũng vẫn xảy ra. Nhiều quy định của Luật Phòng, chống tham nhũng về công khai, minh bạch chưa được thực hiện đầy đủ như: Công khai quy hoạch sử dụng đất; công khai dự phòng ngân sách; công khai đầu tư, mua sắm công; công khai công tác cán bộ; công khai tài sản cán bộ; công khai hoạt động thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và kết luận thanh tra; công khai, minh bạch các quyết định trong điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án...

Thứ tư, các quy định pháp luật, các chế độ, định mức, tiêu chuẩn mặc dù đã được rà soát, điều chỉnh, bổ sung thường xuyên hơn, nhưng vẫn còn nhiều nội dung chưa phù hợp với thực tế, nhất là chế độ lương, phụ cấp, công tác phí cho cán bộ, công chức, viên chức; định mức chi tiêu hành chính, định mức kinh tế - kỹ thuật… Đây là một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng nhũng nhiễu, vòi vĩnh, gây thất thoát tài sản của Nhà nước.

Thứ năm, việc kê khai tài sản, thu nhập còn nặng về hình thức; hầu hết các bản kê khai chưa được kiểm tra, xác minh, kiểm chứng; chưa giúp cho các cơ quan chức năng kiểm soát được những biến động về tài sản của người có chức vụ, quyền hạn; nhiều cơ quan, đơn vị chưa nắm đầy đủ trình tự, thủ tục kê khai và công khai; còn lúng túng trong việc hướng dẫn nguyên tắc, phạm vi biến động tài sản, loại tài sản, thu nhập phải kê khai, giải trình. Một số cơ quan, đơn vị người đứng đầu chưa thực sự quan tâm, quyết liệt trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo, chưa thực sự gương mẫu trong thực hiện việc kê khai, công khai bản kê khai tài sản, thu nhập; công tác quản lý, theo dõi việc kê khai, công khai, xác minh về tài sản, thu nhập chưa có tính hệ thống. Do đó, đến nay vẫn chưa có vụ việc tham nhũng lớn nào được phát hiện thông qua hình thức này. Việc thanh toán bằng tiền mặt vẫn còn phổ biến, gây khó khăn cho việc phát hiện các hành vi trốn thuế, rửa tiền, tham nhũng... Tuy nhiên, hành lang pháp lý trong lĩnh vực thanh toán không dùng tiền mặt chưa hoàn thiện, cơ sở hạ tầng về công nghệ chưa đáp ứng được yêu cầu.

Thứ sáu, số người đứng đầu bị xử lý trách nhiệm khi để xảy ra tham nhũng còn ít so với số vụ việc tham nhũng được phát hiện. Nguyên nhân là còn thiếu kiên quyết, nể nang, né tránh trong xử lý; chủ trương cán bộ lãnh đạo, quản lý “chủ động từ chức vì lý do trách nhiệm” theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 3 (khóa X) chưa đi vào cuộc sống.

Thứ bảy, nội dung tuyên truyền, giáo dục về phòng, chống tham nhũng chưa thật sự phong phú, đa dạng, hấp dẫn. Một bộ phận cán bộ, công chức, viên chức nhận thức về công tác phòng chống tham nhũng chưa đồng đều, thiếu tự giác trong chấp hành các quy định về phòng, chống tham nhũng. Một số báo, đài chưa có chuyên trang, chuyên mục về phòng, chống tham nhũng hoặc đã có nhưng chưa duy trì thường xuyên; số cán bộ, công chức có tâm lý thờ ơ, ngại đấu tranh với những biểu hiện tiêu cực trong nội bộ còn khá phổ biến; chưa phát huy hết vai trò, trách nhiệm của xã hội và nhân dân trong phòng chống tham nhũng. Một số nơi có tình trạng những việc làm đúng, gương người tốt không được đề cao, bảo vệ; những sai sót, vi phạm chưa được phê phán, xử lý nghiêm minh. Vai trò giám sát của nhân dân thông qua Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội chưa được phát huy mạnh mẽ. Nhìn chung, công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật về phòng, chống tham nhũng vẫn chưa tạo được sự chuyển biến căn bản về nhận thức và hành động phòng, chống tham nhũng trong bộ máy nhà nước và trong xã hội.

2. Các giải pháp đột phá trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng

Thứ nhất, phải hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền lực trong bộ máy nhà nước từ Trung ương đến địa phương

Tham nhũng bao giờ cũng gắn với những người có chức vụ, quyền hạn, nhất là những người nắm giữ quyền lực nhà nước. Vì vậy, phải xây dựng, ban hành cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước. Nếu quyền lực nhà nước được kiểm soát tốt thì không thể lợi dụng quyền lực nhà nước để tham nhũng. Chẳng hạn, cần nhanh chóng thành lập Ủy ban Bảo vệ Hiến pháp để xử lý những văn bản quy phạm pháp luật ban hành trái với Hiến pháp, trái với Luật hoặc xử lý những hành vi vi Hiến của một số cán bộ có chức quyền cao. Ban hành cơ chế để cơ quan tư pháp (Viện kiểm sát, Tòa án) kiểm soát được cơ quan hành pháp; cơ quan lập pháp (Quốc hội) kiểm soát được cơ quan hành pháp và tư pháp, ngược lại cơ quan hành pháp bằng nghiệp vụ của mình kiểm soát lại cơ quan lập pháp và tư pháp. Hoạt động của các cơ quan này đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Bộ Chính trị để đảm bảo quyền lực nhà nước được tập trung, thống nhất, qua đó, việc đấu tranh phòng, chống tham nhũng sẽ hiệu quả hơn.

Thứ hai, xử lý triệt để và nghiêm minh đối với các hành vi tham nhũng

Các vụ án tham nhũng cần được xét xử nghiêm minh, kịp thời và công khai với những mức hình phạt thích đáng đối với các hành vi và hậu quả đã gây ra, áp dụng các biện pháp trừng phạt một cách triệt để đối với các hành vi tham nhũng. Trong Bộ luật Hình sự của hầu hết các nước đều có một chương riêng quy định về tội tham nhũng, về những hành vi tham nhũng và mức hình phạt tương xứng với những hành vi ấy. Một số nước có văn bản pháp luật riêng về chống tham nhũng nhưng không phải là một đạo luật độc lập mà nó tồn tại song song bên cạnh Bộ luật Hình sự. Theo Công ước chống tham nhũng của Liên Hợp Quốc, tất cả tài sản do tham nhũng đều bị tịch thu và xử lý như sau: Trả về nước đã bị mất tài sản để nước đó trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp hoặc sung công quỹ; dành một phần chi cho các nỗ lực phòng, chống tham nhũng chung; chi một phần cho việc phát hiện, thu giữ tài sản đó. Một số nước có Luật Sung công tài sản của người bị nghi là tham nhũng nếu họ không chứng minh được nguồn gốc hợp pháp của tài sản đó. Thêm vào đó, cần đào tạo một đội ngũ thẩm phán chuyên xét xử các tội phạm tham nhũng. Đội ngũ này gồm những người thực sự trung thực, trong sạch, có bản lĩnh chính trị, có kiến thức và kinh nghiệm chuyên môn để xử lý nghiêm minh đối với các tội phạm tham nhũng. Thực tế vẫn còn những nhận thức lệch lạc, những lực cản trong việc xử lý, vẫn còn có sự “can thiệp”, sự che chắn từ bên trên, bên ngoài và ngay cả trong các cơ quan chức năng…

Thứ ba, tăng cường chế độ, chính sách về tiền lương cho cán bộ, công chức, viên chức nhà nước

Đây được xem là một phương án phòng vệ hữu hiệu đối với nạn tham nhũng. Một trong những nguyên nhân gây ra tham nhũng đó là phẩm chất đạo đức của một bộ phận cán bộ đảng viên suy thoái trước tác động của mặt trái của cơ chế thị trường bằng việc lạm dụng chức quyền để làm giàu bất chính, lãng phí của công, tư tưởng trục lợi. Cơ chế “xin - cho” được nhìn nhận là một trong những nguy cơ của tệ tham nhũng, hối lộ khi các cán bộ nhà nước có hành động ưu ái cung cấp hồ sơ, tiết lộ bí mật để nhận tiền “bồi dưỡng” hoặc sách nhiễu, gây khó dễ trong thủ tục hành chính để nhận tiền “bôi trơn”. Một trong những nguyên nhân sâu xa của những hiện tượng đó là chế độ tiền lương đối với đội ngũ cán bộ, công chức còn bất hợp lý, chưa đáp ứng được những nhu cầu cơ bản thiết yếu. Cán bộ, công chức, viên chức có nền tảng học thức cao và có mong muốn cống hiến cho đất nước thì được trả một mức lương cực kỳ khiêm tốn. Lương công chức trẻ mới vào làm việc, có cả những cán bộ trẻ du học nước ngoài có bằng cấp thạc sỹ, tiến sỹ và cả cán bộ công tác 15 năm được nhận mức lương tương đương hệ số 2,34 - 3,99. Tiền lương hết tập sự của người tốt nghiệp đại học mới đạt 3,36 triệu đồng/tháng, còn lương Bộ trưởng thì khoảng 14,4 triệu đồng/tháng.

Thứ tư, xây dựng, ban hành và hoàn thiện hệ thống pháp luật

(i) Hoàn thiện đầy đủ và chặt chẽ các quy định pháp luật về kinh tế, tài chính, đất đai, tài nguyên môi trường, văn hóa, giáo dục, y tế, xây dựng, lao động… để bịt kín các “lỗ hổng” của pháp luật làm cho người có ý muốn tham nhũng không thể tham nhũng được; (ii) Hoàn thiện các quy định pháp luật hình sự, phải có chế tài đặc biệt cứng rắn để người có điều kiện tham nhũng sợ không dám tham nhũng. Ví dụ: Án chung thân không giảm án…; (iii) Quy định hành vi đưa hối lộ của pháp nhân cho cán bộ, công chức nhà nước là tội phạm tham nhũng trong Bộ luật Hình sự.

Thứ năm, quy định trách nhiệm cụ thể của người đứng đầu để xảy ra tham nhũng

Quy định cụ thể, chi tiết trách nhiệm của người đứng đầu đối với tài sản của Nhà nước giao cho đơn vị quản lý. Cụ thể hóa quy định người đứng đầu bị xử lý khi đơn vị có hành vi tham nhũng. Ví dụ: Quy định cụ thể về báo cáo sai sự thật, dẫn đến không phát hiện được hành vi tham nhũng…

Thứ sáu, nâng cao trình độ năng lực, bản lĩnh và có chế độ bảo vệ đãi ngộ phù hợp đối với những cán bộ, công chức làm công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng

Thực hiện tốt việc đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ năng lực chuyên môn, nghiệp vụ cho những cán bộ, công chức thực hiện nghĩa vụ đấu tranh phòng, chống tham nhũng; rèn luyện bản lĩnh chính trị, không khoan nhượng trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng; có chế độ đãi ngộ phù hợp, khen thưởng, đề bạt kịp thời những cán bộ, công chức có thành tích trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng.

Thứ bảy, truy xét đến cùng tài sản tham nhũng để thu hồi cho Nhà nước

Hiện nay, tài sản tham nhũng được biến tướng dưới rất nhiều hình thức, chuyển giao và cất giấu rất tinh vi. Vì vậy, phải truy xét đến cùng tài sản này để thu hồi cho Nhà nước, qua đó để làm gương cho người khác đang có ý định tham nhũng. Chẳng hạn, nghiên cứu phương thức thu hồi tài sản cho Nhà nước theo hình thức khởi kiện dân sự. Ví dụ: Đòi bồi thường thiệt hại do hành vi tham nhũng gây ra, khởi kiện để vô hiệu hóa các hợp đồng có tham nhũng hoặc buộc những cán bộ, công chức có chức vụ, quyền hạn khi có khối tài sản tăng lên một cách nhanh chóng và có khối lượng lớn phải chứng minh nguồn gốc hợp pháp của tài sản, nếu không chứng minh được thì xử lý theo pháp luật.

Thứ tám, xây dựng cơ quan phòng, chống tham nhũng

Học tập kinh nghiệm của Singapore và một số nước trên thế giới, ở Việt Nam, để đấu tranh phòng, chống tham nhũng có hiệu quả, cần xây dựng cơ quan phòng, chống tham nhũng riêng. Theo chúng tôi, có hai phương án sau:

Phương án 1: Xây dựng các cơ quan phòng, chống tham nhũng ở cả ba hệ thống cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp. Ba cơ quan này có quyền thanh tra, kiểm tra những hành vi có dấu hiệu tham nhũng trong hệ thống cơ quan mình từ Trung ương đến địa phương và có quyền kiểm tra, thanh tra chéo, chẳng hạn cơ quan phòng, chống tham nhũng của cơ quan lập pháp có quyền kiểm tra, thanh tra cơ quan hành pháp. Cơ quan phòng, chống tham nhũng của cơ quan hành pháp có quyền thanh tra, kiểm tra hành vi có dấu hiệu tham nhũng của cơ quan tư pháp và ngược lại. Ba cơ quan này có ba người đứng đầu là Chủ tịch Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao. Ba cơ quan này trực thuộc Hội đồng phòng, chống tham nhũng gồm có 06 người là Tổng bí thư, Chủ tịch nước, Chủ tịch Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao. Trong đó, Tổng bí thư làm Chủ tịch Hội đồng; Chủ tịch nước làm Phó Chủ tịch Thường trực; Chủ tịch Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao là các Phó Chủ tịch. Khi quyết định các vấn đề quan trọng, lấy ý kiến theo đa số; khi số phiếu ngang nhau thì theo quyết định của những người có quan điểm phù hợp với Tổng bí thư.

Phương án 2: Thành lập một cơ quan phòng, chống tham nhũng trực thuộc Tổng bí thư. Cơ quan này có quyền thanh tra, kiểm tra, khởi tố các hành vi có dấu hiệu tham nhũng đối với tất cả các cán bộ, công chức trong bộ máy nhà nước và hệ thống chính trị từ Trung ương đến địa phương. Những người làm việc trong các cơ quan này phải có trình độ, năng lực chuyên môn nghiệp sâu trong nhiều lĩnh vực, có phẩm chất đạo đức tốt, trung thành tuyệt đối với Đảng, Nhà nước và nhân dân; có bản lĩnh chính trị vững vàng, sẵn sàng đối mặt với những khó khăn, thách thức và nguy hiểm trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng.

Nếu chúng ta thành lập được các cơ quan phòng, chống tham nhũng như nêu trên sẽ góp phần quan trọng vào việc đấu tranh phòng, chống tham nhũng ở Việt Nam hiện nay.

PGS.TS. Nguyễn Cảnh Quý

Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh



Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Việc điều chỉnh cơ cấu và phân bổ giới thiệu người ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) được thực hiện trên cơ sở điều chỉnh lần thứ nhất của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về cơ cấu, thành phần và số lượng được phân bổ cho từng cơ quan, tổ chức, đơn vị. Trên cơ sở đó, Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tổ chức hội nghị hiệp thương có trách nhiệm thông báo phân bổ và hướng dẫn nội dung, trình tự, thủ tục giới thiệu người ứng cử, bảo đảm việc lập hồ sơ ứng cử được thực hiện theo quy định pháp luật.
Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Từ năm 2026, các quy định liên quan đến thu nhập từ kinh doanh, từ tiền lương, tiền công của cá nhân cư trú tại Luật Thuế thu nhập cá nhân số 109/2025/QH15 có hiệu lực, với nhiều chính sách mới như tăng mức giảm trừ gia cảnh lên 15,5 triệu đồng, nâng ngưỡng doanh thu chịu thuế của hộ, cá nhân kinh doanh lên 500 triệu đồng/năm giúp giảm gánh nặng đối với người nộp thuế.
Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Luật Thương mại điện tử số 122/2025/QH15 được Quốc hội thông qua ngày 10/12/2025, gồm 07 chương, 41 điều, được xây dựng theo định hướng kiến tạo phát triển, tăng cường hiệu quả quản lý và bảo vệ lợi ích chính đáng của doanh nghiệp, người tiêu dùng với nhiều nội dung mới, nổi bật. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2026.
Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Hội đồng nhân dân (HĐND) cấp tỉnh, cấp xã và bố trí đại biểu HĐND hoạt động chuyên trách nhiệm kỳ 2026 - 2031 là nội dung quan trọng nhằm bảo đảm tổ chức bộ máy HĐND các cấp tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu sắp xếp đơn vị hành chính và định hướng cải cách của Đảng và Nhà nước. Những quy định này được thực hiện thống nhất theo Nghị quyết số 106/2025/UBTVQH15 ngày 16/10/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) và các văn bản có liên quan.
Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là một trong những quyền chính trị cơ bản của công dân, đồng thời là khâu có ý nghĩa quyết định đối với chất lượng hoạt động của cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Pháp luật về bầu cử không chỉ bảo đảm quyền ứng cử của công dân mà còn đặt ra những tiêu chuẩn, điều kiện, giới hạn và cơ chế sàng lọc chặt chẽ nhằm lựa chọn được những người đủ đức, đủ tài, xứng đáng đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân.
Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức theo các quy định chặt chẽ của Hiến pháp và pháp luật về bầu cử, trong đó xác định rõ tổng số đại biểu được bầu, cơ cấu, thành phần người ứng cử cũng như nguyên tắc phân bổ đại biểu ở từng địa phương. Bài viết làm rõ số lượng ĐBQH khóa XVI dự kiến được bầu, các yêu cầu về tỷ lệ đại diện của phụ nữ, người dân tộc thiểu số và những nguyên tắc cụ thể để xác định số lượng đại biểu HĐND các cấp, qua đó giúp cử tri hiểu rõ hơn cơ sở pháp lý và ý nghĩa của việc bảo đảm tính đại diện, dân chủ trong bầu cử.
Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Theo quy định tại Điều 7 Hiến pháp năm 2013 và Điều 1 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015, việc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tiến hành theo các nguyên tắc bầu cử phổ thông; nguyên tắc bình đẳng trong bầu cử; nguyên tắc bầu cử trực tiếp; nguyên tắc bỏ phiếu kín. Việc quán triệt và thực hiện nghiêm các nguyên tắc này không chỉ bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân, mà còn là thước đo quan trọng để đánh giá một cuộc bầu cử dân chủ, đúng pháp luật.
Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là những người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân trong bộ máy quyền lực nhà nước. Trên cơ sở Hiến pháp năm 2013, được sửa đổi, bổ sung năm 2025, Luật Tổ chức Quốc hội và Luật Tổ chức chính quyền địa phương quy định rõ hệ thống quyền hạn, trách nhiệm cũng như cơ chế miễn trừ đối với đại biểu nhằm bảo đảm thực hiện đầy đủ chức năng lập pháp, giám sát, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và địa phương, đồng thời tăng cường trách nhiệm của đại biểu dân cử trước cử tri và xã hội.
Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số là yêu cầu cấp thiết trong tiến trình xây dựng xã hội phát triển toàn diện và bền vững ở Việt Nam hiện nay. Trên cơ sở phân tích lý luận và khảo sát thực tiễn tại tỉnh Gia Lai, nơi có 24,76% dân số là người dân tộc thiểu số thuộc 44 thành phần, bài viết đánh giá việc thực hiện quyền này theo khung phân tích của Bình luận chung số 21 của Liên hợp quốc, gồm ba tiêu chí: tính sẵn có, khả năng tiếp cận và tính chấp nhận được. Kết quả cho thấy, còn tồn tại hạn chế về thiết chế văn hóa cơ sở, chênh lệch vùng miền và mức độ tham gia còn hình thức. Từ đó, bài viết đề xuất giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả, bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số tại tỉnh Gia Lai.
Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu cải cách toàn diện, đẩy mạnh hội nhập quốc tế và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, việc nâng cao vai trò lãnh đạo toàn diện, trực tiếp của Đảng đối với hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp có ý nghĩa chiến lược và cấp thiết.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bài viết nêu lên vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước và đề xuất một số giải pháp nâng cao vai trò của Bộ Tư pháp trong giai đoạn mới.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Trong quá trình phát triển của đất nước, đặc biệt, trong 10 năm gần đây, với sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế - xã hội Việt Nam, việc xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật là công tác đặc biệt quan trọng. Với sự nỗ lực không ngừng, Bộ Tư pháp đã cùng các bộ, ngành làm tốt công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và đưa pháp luật vào cuộc sống, góp phần quan trọng trong thực hiện thành công công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế, giữ vững chủ quyền quốc gia, an ninh, trật tự xã hội, nâng cao đời sống vật chất và văn hóa, tinh thần của Nhân dân, bảo đảm công bằng xã hội, xây dựng xã hội dân chủ, văn minh theo đường lối của Đảng và Nhà nước. Để đạt được những thành tựu đó, nhiều hoạt động đã được triển khai đồng bộ, từ công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL); đặc biệt, đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực làm công tác xây dựng, thi hành pháp luật. Bộ Tư pháp đã chủ động, tích cực phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, trong đó có Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trong công tác xây dựng thể chế, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác pháp chế.
Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Với chức năng là cơ quan của Chính phủ, thực hiện quản lý nhà nước về xây dựng và thi hành pháp luật, Bộ Tư pháp đã và đang đóng góp, góp phần quan trọng trong kiến tạo nền tảng pháp lý vững chắc, phục vụ mục tiêu phát triển đất nước; đồng thời, đóng vai trò chủ đạo trong xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ pháp luật, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và thúc đẩy tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Những kết quả đạt được thể hiện qua các nội dung chính sau:
Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Ngày 01/01/2004, tỉnh Lai Châu chính thức được chia tách thành tỉnh Điện Biên và Lai Châu. Đây cũng là thời điểm Sở Tư pháp tỉnh Lai Châu (mới) được thành lập và đi vào hoạt động. Trải qua hơn 21 năm xây dựng và phát triển, ngành Tư pháp tỉnh Lai Châu đã vượt qua khó khăn, thử thách, ngày càng lớn mạnh và khẳng định được vai trò, vị thế của mình.
Công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế - Những khó khăn, vướng mắc và kiến nghị hoàn thiện thể chế từ góc nhìn của luật sư

Công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế - Những khó khăn, vướng mắc và kiến nghị hoàn thiện thể chế từ góc nhìn của luật sư

Trợ giúp pháp lý (TGPL) là một trong những chính sách xã hội có ý nghĩa nhân văn sâu sắc của Đảng và Nhà nước ta trong việc bảo đảm quyền được tiếp cận công lý bình đẳng của mọi tầng lớp Nhân dân, đặc biệt là nhóm những người yếu thế trong xã hội. Thông qua các hoạt động TGPL, người yếu thế trong xã hội được cung cấp, sử dụng dịch vụ pháp lý miễn phí khi có tranh chấp, góp phần nâng cao ý thức pháp luật và phòng ngừa vi phạm pháp luật. Trong hoạt động TGPL, đội ngũ luật sư đóng vai trò then chốt, là lực lượng trực tiếp thực hiện việc tư vấn, đại diện và bào chữa cho các đối tượng yếu thế. Tuy nhiên, thực tế cho thấy công tác TGPL còn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc, cả về cơ chế, nguồn lực và phương thức triển khai.

Theo dõi chúng tôi trên: