Thứ ba 22/09/2026 20:13
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Các giấy phép sản xuất và kinh doanh đồ uống có cồn - Kinh nghiệm quốc tế và khuyến nghị đối với Việt Nam

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu hệ thống giấy phép về sản xuất và kinh doanh đồ uống có cồn ở một số quốc gia, từ đó rút ra một số bài học kinh nghiệm cho Việt Nam trong quá trình xây dựng hệ thống các giấy phép sản xuất và kinh doanh rượu hiện nay

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu hệ thống giấy phép về sản xuất và kinh doanh đồ uống có cồn ở một số quốc gia, từ đó rút ra một số bài học kinh nghiệm cho Việt Nam trong quá trình xây dựng hệ thống các giấy phép sản xuất và kinh doanh rượu hiện nay.

Abstract: The article studies the licensing system for the production and trading of alcoholic beverages in some countries, thereby drawing some lessons for Vietnam in the process of building the license system on producing and trading wine today.

1. Mục tiêu quản lý của các giấy phép sản xuất, kinh doanh đồ uống có cồn

Hệ thống các giấy phép kinh doanh là một trong số các hình thức pháp lý của các điều kiện kinh doanh. Một điều kiện kinh doanh tốt phải xác định rõ mục tiêu quản lý mà nó hướng tới. Thông thường, các mục tiêu mà các điều kiện kinh doanh hướng tới chủ yếu là bảo vệ sức khỏe cộng đồng, bảo vệ môi trường, bảo vệ an ninh quốc gia và phân bổ hợp lý nguồn tài nguyên thiên nhiên. Đây đều là những lợi ích công mà Nhà nước có thẩm quyền thực hiện các biện pháp quản lý. Về bản chất, đây là giới hạn của việc thực hiện quyền tự do kinh doanh, khi Nhà nước nhân danh trật tự công, các lợi ích công, lợi ích xã hội, đạo đức… để “can thiệp” vào quá trình thực thi quyền tự do kinh doanh của doanh nghiệp. Các trường hợp “can thiệp” này không chỉ đòi hỏi về tính chính đáng của mục đích - mục tiêu rõ ràng, mà nó còn đòi hỏi về “sự cân xứng”, nghĩa là sự phù hợp của giới hạn, mức độ giới hạn, sự cân bằng giữa lợi ích thu được và thiệt hại từ các biện pháp “can thiệp”.

Chính sách quản lý rượu ở góc độ toàn cầu đưa ra rất nhiều biện pháp can thiệp vào tính sẵn có của rượu (Availability of alcohol). Tính sẵn có của đồ uống có cồn được hiểu là sự dễ dàng hoặc thuận tiện của việc có thể mua và tiêu dùng rượu[1]. Thông thường, các quy định nhằm hạn chế tính sẵn có của đồ uống có cồn tập trung vào việc hạn chế số lượng và địa điểm các cửa hàng bán lẻ rượu, quy định về số giờ, ngày mà rượu có thể bán, đưa ra giới hạn về độ tuổi uống rượu hoặc hạn chế uống tại những nơi công cộng… Tuy nhiên, trong số các biện pháp đó thì biện pháp liên quan trực tiếp đến các chủ thể sản xuất và kinh doanh trong nền kinh tế nhằm hạn chế tính sẵn có của rượu sẽ thường được áp dụng hai mô hình quản lý đó là quản lý kiểu độc quyền hoặc quản lý theo hệ thống giấy phép. Hệ thống độc quyền tồn tại khi Chính phủ duy trì kiểm soát độc quyền trên thị trường đồ uống có cồn và nó xảy ra ở tất cả cấp độ, từ nhập khẩu, sản xuất, phân phối, bán lẻ và xuất khẩu. Tuy nhiên, phần lớn các quốc gia sử dụng hệ thống giấy phép làm công cụ để kiểm soát ngành công nghiệp sản xuất và kinh doanh đồ uống có cồn[2]. Như vậy, có thể thấy, mục tiêu pháp lý của các giấy phép về sản xuất và kinh doanh đồ uống có cồn là việc giới hạn quyền tự do kinh doanh của doanh nghiệp nhằm làm giảm tính sẵn có của đồ uống có cồn. Mặc dù, không phải lúc nào hệ thống cấp phép kinh doanh đồ uống có cồn cũng hiệu quả[3], tuy nhiên, rõ ràng việc tạo ra các giấy phép kinh doanh đồ uống có cồn cũng góp phần không nhỏ vào việc giảm nguồn cung so với trường hợp không tồn tại hệ thống giấy phép. Như vậy, có thể thấy, mục tiêu lớn nhất của việc xây dựng hệ thống giấy phép kinh doanh chính là làm giảm tính sẵn có của đồ uống có cồn.

Tuy nhiên, khi so sánh giữa mục tiêu pháp lý với hệ thống giấy phép sản xuất, kinh doanh rượu của Việt Nam hiện nay lại cho thấy nhiều điểm khác biệt. ở Việt Nam, rượu và bia là hai loại đồ uống có cồn chịu sự kiểm soát từ phía Nhà nước bằng Luật Phòng chống tác hại rượu, bia năm 2019 và Nghị định số 105/2017/NĐ-CP về kinh doanh rượu và các văn bản pháp luật có liên quan. Ví dụ: Giấy phép về phân phối rượu quy định các điều kiện phân phối rượu tại Điều 11 Nghị định số 105/2017/NĐ-CP về kinh doanh rượu như sau: “1. Là doanh nghiệp được thành lập theo quy định của pháp luật; 2. Có quyền sử dụng hợp pháp kho hàng hoặc hệ thống kho hàng với tổng diện tích sàn sử dụng từ 150 m2 trở lên; 3. Rượu dự kiến kinh doanh phải bảo đảm điều kiện về an toàn thực phẩm theo quy định; 4. Có hệ thống phân phối rượu trên địa bàn từ 02 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trở lên; tại địa bàn mỗi tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương phải có ít nhất 01 thương nhân bán buôn rượu; 5. Có văn bản giới thiệu hoặc hợp đồng nguyên tắc của thương nhân sản xuất rượu, thương nhân phân phối rượu khác hoặc nhà cung cấp rượu ở nước ngoài; 6. Bảo đảm tuân thủ đầy đủ các yêu cầu điều kiện về phòng cháy chữa cháy, bảo vệ môi trường theo quy định”.

Có thể thấy rằng, một số điều kiện kinh doanh trong giấy phép phân phối rượu không gắn liền với mục tiêu làm giảm tính sẵn có của rượu và có khả năng can thiệp vào tự do kinh doanh của các chủ thể kinh doanh. Ví dụ, điều kiện về có quyền sử dụng hợp pháp kho hàng hoặc hệ thống kho hàng với tổng diện tích sàn sử dụng từ 150 m2 trở lên hoặc điều kiện về có hệ thống phân phối rượu trên địa bàn từ 02 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trở lên, tại địa bàn mỗi tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương phải có ít nhất 01 thương nhân bán buôn rượu, mặc dù, mục tiêu của nhà lập pháp là tạo ra những điều kiện về kỹ thuật và vật lý nhằm gây khó khăn cho doanh nghiệp trong việc gia nhập thị trường phân phối (quy định về diện tích kho hàng, quy định về hệ thống phân phối), từ đó, nhằm giảm sự gia nhập thị trường của các chủ thể kinh doanh, tuy nhiên, nếu phân tích nội dung của từng điều kiện kinh doanh có thể thấy, các giới hạn tối thiểu về diện tích kho hàng và hệ thống phân phối lại cho phép thị trường chỉ chấp nhận những nhà sản xuất, những nhà phân phối với quy mô lớn và có năng lực, điều này dường như là đi ngược lại với mục tiêu ban đầu là nhằm làm giảm sự có mặt của đồ uống có cồn trên thị trường, đồng thời tạo ra một vị thế thị trường không bình đẳng giữa chủ thể gia nhập thị trường và các chủ thể kinh doanh hiện đã có trên thị trường. Biện pháp này tác động trực tiếp đến quy tắc cạnh tranh, vốn là quy tắc nền tảng của nền kinh tế thị trường. Hoặc điều kiện có văn bản giới thiệu hoặc hợp đồng nguyên tắc của thương nhân sản xuất rượu, thương nhân phân phối rượu khác hoặc nhà cung cấp rượu ở nước ngoài cũng là điều kiện không có liên hệ với mục tiêu là kiểm soát nguồn cung, phân phối và cung cấp rượu, mặt khác, nó còn thể hiện sự can thiệp không chính đáng vào hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp vì các hợp đồng hay hợp đồng nguyên tắc của thương nhân với các đối tác của mình là những bí mật kinh doanh quan trọng của doanh nghiệp. Do đó, có thể thấy, các điều kiện về sản xuất và kinh doanh rượu, bia của Việt Nam hiện nay chưa đạt được mục tiêu pháp lý mà các thông lệ quốc tế về chính sách làm giảm tính sẵn có đối với đồ uống có cồn đặt ra.

2. Các loại giấy phép về sản xuất và kinh doanh rượu

2.1. Các loại giấy phép về sản xuất rượu

Ở Cannada, hoạt động sản xuất đồ uống có cồn phải được sự cho phép của Canada Revenue Agency theo quy định tại Excise Act 2001 - quy định chung về quá trình sản xuất rượu[4]. Ngoài ra, người sản xuất rượu còn phải đáp ứng yêu cầu của Luật về dán nhãn và đóng gói sản phẩm đồ uống (Consumer Packaging and Food Labelling Act) và các đạo luật liên quan đến nhập khẩu các chất gây nghiện (Importation of intoxicating Liquors Act) và Luật Thương mại đồ uống có cồn (Spirit Drinks Trade Act).

Các vấn đề về sức khỏe và chất lượng của rượu trong quá trình sản xuất sẽ được kiểm soát bởi Food and Drug Act và theo các nguyên tắc hướng dẫn của CFIA (cơ quan kiểm tra, thanh tra thực phẩm của Canada). Ví dụ, điều kiện sản xuất rượu của Canada[5] có các quy định rất chặt chẽ về hành vi sử dụng rượu tại nơi sản xuất rượu: Mỗi giấy phép sản xuất rượu chỉ cấp riêng cho từng địa điểm sản xuất. Không có phép bất kỳ người nào sử dụng rượu tại khu vực sản xuất (trừ trường hợp thử mẫu rượu và được quy định một cách rất chặt chẽ, đồng thời phải được cấp phép ngoài giấy phép sản xuất rượu)[6].

Các điều kiện về chất lượng và liên quan đến sức khỏe sẽ được kiểm soát bởi Food and Drug Act. Theo đó, các điều kiện này sẽ viện dẫn đến các điều kiện vệ sinh an toàn thực phẩm trong quá trình sản xuất, bảo quản, đóng góp và lưu kho. Điều kiện vệ sinh không an toàn sẽ được giải thích là các điều kiện hoặc hoàn cảnh có thể gây ô nhiễm với bụi bẩn hoặc tạp chất, ảnh hưởng tới sức khỏe con người. Nói cách khác, các quy định không can thiệp trực tiếp vào dây chuyền máy móc, thiết bị công nghiệp, quy trình công nghệ sản xuất rượu hoặc người có liên quan đến quy trình sản xuất mà điều chỉnh hoàn toàn bởi các quy định về chất lượng an toàn thực phẩm rượu sau khi sản xuất.

Ở Mỹ, tùy thuộc vào nồng độ đồ uống có cồn mà giấy phép sản xuất cấp cho các cơ sở sản xuất (Manufacrer) đồ uống có cồn được phân thành các loại: Giấy phép sản xuất rượu mạnh (Spirit) và rượu (Wine) (hạng A); giấy phép sản xuất bia (hạng B); giấy phép sản xuất các loại đồ uống mà tỷ lệ cao nhất có cồn là 5% (hạng C).

Ở Việt Nam, các điều kiện sản xuất rượu công nghiệp quy định tại Điều 8 Nghị định số 105/2017/NĐ-CP và Điều 15 Luật Phòng, chống tác hại của rượu, bia năm 2019. Cụ thể, để sản xuất rượu, các doanh nghiệp phải đáp ứng các điều kiện sau: “Điều 15. Quản lý kinh doanh rượu:

1. Điều kiện cấp phép sản xuất rượu công nghiệp có độ cồn từ 5,5 độ trở lên bao gồm: a) Doanh nghiệp được thành lập theo quy định của pháp luật; b) Có dây chuyền máy móc, thiết bị công nghiệp, quy trình công nghệ sản xuất rượu đáp ứng quy mô dự kiến sản xuất; c) Bảo đảm điều kiện về an toàn thực phẩm và bảo vệ môi trường theo quy định của pháp luật; d) Có nhân viên kỹ thuật có trình độ, chuyên môn phù hợp với ngành, nghề sản xuất rượu.

2. Điều kiện cấp phép sản xuất rượu thủ công có độ cồn từ 5,5 độ trở lên nhằm mục đích kinh doanh, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều này, bao gồm: a) Doanh nghiệp, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã hoặc hộ kinh doanh được thành lập theo quy định của pháp luật; b) Bảo đảm điều kiện về an toàn thực phẩm theo quy ánh của pháp luật”.

Ngoài các quy định trên, Luật An toàn thực phẩm năm 2010 của Việt Nam cũng điều chỉnh các điều kiện an toàn thực phẩm, trong đó có sản phẩm rượu. Ví dụ, tuân thủ các điều kiện về công nghệ (có đủ trang thiết bị phù hợp để xử lý nguyên liệu, chế biến, đóng gói, bảo quản và vận chuyển các loại thực phẩm khác nhau; có đủ trang thiết bị, dụng cụ, phương tiện rửa và khử trùng, nước sát trùng, thiết bị phòng, chống côn trùng và động vật gây hại), tuân thủ các điều kiện về bảo vệ môi trường và tuân thủ các quy định về sức khỏe, kiến thức, thực hành của người trực tiếp sản xuất (Điều 19 Luật An toàn thực phẩm năm 2010). Nói cách khác, kiểm soát chất lượng rượu đã được điều chỉnh bởi Luật An toàn thực phẩm năm 2010. Các điều kiện này đều thể hiện đầy đủ trong giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện an toàn thực phẩm mà bất kỳ doanh nghiệp sản xuất rượu nào cũng phải có. Do đó, có thể thấy, các điều kiện để cấp phép sản xuất rượu hiện nay của Việt Nam đang có sự trùng lặp với giấy chứng nhận đủ điều kiện an toàn thực phẩm, vì vậy, cần có sự rà soát lại các loại giấy phép về sản xuất rượu nhằm thống nhất các quy phạm pháp luật điều chỉnh, đồng thời, đạt được mục tiêu kiểm soát hoạt động sản xuất rượu hiện nay.

2.2. Các loại giấy phép về kinh doanh rượu

Ở Canada, việc phân loại các giấy phép liên quan đến kinh doanh rượu chỉ dựa vào một tiêu chí là có hay không có sự tiêu dùng tại chỗ hoặc trong các trường hợp đặc biệt (occasional license) và tiếp cận theo hướng địa điểm xảy ra hành vi để đạt được mục tiêu là hạn chế tính sẵn có của rượu. Ví dụ, giấy phép bán rượu tiêu dùng tại chỗ chỉ được cấp cho một số địa điểm nhất định được phép bán rượu tiêu dùng tại chỗ như nhà hàng, quán bar… Nếu không phải ở những địa điểm này thì chủ thể kinh doanh không thể bán rượu tiêu dùng tại chỗ. Bên cạnh giấy phép bán rượu tiêu dùng tại chỗ, Canada quy định về giấy phép bán rượu không tiêu dùng tại chỗ (áp dụng cho các hành vi bán nhưng không tiêu dùng tại chỗ, tức là không gắn với địa điểm tiêu dùng tại chỗ cụ thể). Đó có thể là hành vi phân phối, bán buôn, bán lẻ mà Nhà nước không cần thiết phải can thiệp trực tiếp vào các khâu của quá trình kinh doanh hàng hóa. Ngoài hai loại giấy phép cơ bản nêu trên, Canada còn quy định về giấy phép áp dụng cho các câu lạc bộ (gồm hành vi bán và tiêu dùng của các cá nhân là thành viên của câu lạc bộ nào đó) và giấy phép tạm thời cho một hoạt động hoặc sự kiện nào đó (occasional license) cho phép việc bán và tiêu dùng đồ uống có cồn trong một số trường hợp đặc biệt.

Ở Mỹ, có các loại giấy phép liên quan đồ uống có cồn như sau[7]: (i) Giấy phép bán buôn: Bán đồ uống có cồn cho những người được cấp phép để bán lại; (ii) Giấy phép bản lẻ không tiêu dùng tại chỗ: Là nơi mà đồ uống có cồn có thể mua nhưng chỉ được tiêu dùng ở những địa điểm được cho phép hoặc một trong internet mua bán rượu trực tuyến; (iii) Giấy phép bán lẻ tiêu dùng tại chỗ: Là một địa điểm mà rượu được mua và tiêu dùng gồm nhà hàng, câu lạc bộ, nhà nghỉ, khách sạn, rạp hát, bảo tàng, các trung tâm thể thao, tàu vận chuyển hành khách, tàu điện; (iv) Giấy phép cấp cho các sự kiện ẩm thực: Việc mua và phục vụ đồ uống có cồn trong một sự kiện ẩm thực là một phần việc chuẩn bị và phục vụ đồ ăn của người được cấp phép tổ chức; (v) Giấy phép hội chợ: Là giấy phép tạm thời cho phép hành vi bán và phục vụ đồ uống có cồn trong thời gian nhiều nhất có thể là 04 ngày tại những địa điểm công cộng, khu picnic…; (vi) Giấy phép cấp cho người quản lý: Là giấy phép cấp cho người quản lý một hoặc nhiều các địa điểm thuộc phân loại ABC; (vii) Giấy phép cho Solicitor: Giấy phép vận chuyển các mẫu đồ uống có cồn đến các cơ sở thuộc phân loại ABC thay mặt cho một nhà cung cấp (vendor) và đặt hàng thay mặt cho nhà cung cấp đó.

Đồng thời, Mỹ phân loại các loại đồ uống có cồn mà một cơ sở (Establishment) có thể bán[8]: (i) Cơ sở bán buôn (Wholesaler) hạng A được phép phân phối và bán rượu mạnh, rượu và bia nhưng hạng B thì chỉ được phép phân phối bia và rượu, không được phân phối rượu mạnh; (ii) Cơ sở bán lẻ (Off-premises Retailer) hạng A cho phép bán tại các cửa hàng rượu mạnh, rượu và bia; hạng B chỉ được bán rượu và bia; (iii) Cơ sở bán internet hạng A được phép bán lẻ trực tuyến (không có địa điểm mà hoàn toàn bán trên môi trường internet) rượu mạnh, rượu và bia; bán rượu và bia thì thuộc hạng B; (iv) Cơ sở bán lẻ tiêu dùng tại chỗ (On-premises Relailer) hạng C được phép bán rượu mạnh, rượu và bia tại các nhà hàng, câu lạc bộ… Nếu là hạng D chỉ được phép bán rượu và bia. Phân hạng này cũng áp dụng tương tự đối với các câu lạc bộ có sử dụng đồ uống có cồn, các khu vực phục vụ ăn uống trên tàu hoặc thuyền; (v) Giấy phép tạm thời: Tạm thời cho phép bán và tiêu dùng đồ uống có cồn trong thời nhiều nhất là 04 ngày tại các buổi tiệc, picnic, hội chợ hoặc các sự kiện tụ tập công cộng khác. Giấy phép phân thành hạng F (áp dụng đối với bia và rượu) và G (áp dụng đối với rượu mạnh, rượu và bia); (vi) Giấy phép cho Festival (Festival License): Tạm thời cho phép bán và tiêu dùng trong các sự kiện thể thao, văn hóa, hoặc sự kiện biểu diễn nghệ thuật trong thời gian tối đa là 15 ngày. Giấy phép này phân thành hạng H (rượu và bia) và I (rượu mạnh, rượu và bia); (vii) Giấy phép cho hoạt động đánh giá thị trường: Cho phép các nhà sản xuất, nơi chưng cất rượu hoạt động như một nhà cung cấp để thử nghiệm sản phẩm mà nó sản xuất ra. Giấy phép này phân thành hạng J (rượu và bia) và K (rượu mạnh, rượu và bia).

Như vậy, có thể thấy, hệ thống giấy phép về kinh doanh rượu của Mỹ tiếp cận theo hướng giới hạn quyền kinh doanh của các chủ thể bằng cách quy định hành vi bán và tiêu dùng chỉ được diễn ra ở những địa điểm, sự kiện cụ thể, tức là hạn chế sự hiện diện đồ uống có cồn bằng cách giới hạn về không gian và thời gian diễn ra hành vi bán hoặc tiêu dùng. Phương thức này giúp cho các quy định không can thiệp trực tiếp vào cách mà các thương nhân hoạt động, tổ chức hệ thống phân phối mà chỉ can thiệp các địa điểm và thời điểm diễn ra hành vi bán và tiêu dùng. Đây là một cách tiếp cận hiệu quả để thiết lập hệ thống các giấy phép về kinh doanh rượu. Cách tiếp cận theo hệ thống giấy phép sẽ cho phép các chủ thể liên quan biết mình được thực hiện những quyền và nghĩa vụ gì chứ không phải thiết lập các điều kiện là yêu cầu từng loại giấy phép bởi thực tiễn điều chỉnh điều kiện sản xuất và kinh doanh rượu được kiểm soát bằng rất nhiều các quy định pháp luật chuyên ngành và trong suốt quá trình sản xuất kinh doanh, mà trung tâm là các quy định về an toàn thực phẩm và các quy định dán nhãn hàng hóa.

Trong khi đó, ở Việt Nam, hoạt động kinh doanh rượu được phân thành các loại giấy phép gồm giấy phép phân phối, bán buôn, bán lẻ và bán lẻ tiêu dùng tại chỗ[9] với các điều kiện kinh doanh cụ thể như sau:

(i) Là doanh nghiệp, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã hoặc hộ kinh doanh được thành lập theo quy định của pháp luật.

(ii) Có quyền sử dụng hợp pháp địa điểm kinh doanh cố định, địa chỉ rõ ràng và có quyền sử dụng hợp pháp kho hàng hoặc hệ thống kho hàng với tổng diện tích sàn sử dụng từ 150 m2 trở lên (đối với phân phối) hoặc từ 50 m2 trở lên (đối với bán buôn).

(iii) Có văn bản giới thiệu hoặc hợp đồng nguyên tắc để chứng minh rượu mà doanh nghiệp phân phối, bán buôn, bán lẻ, bán lẻ tiêu dùng tại chỗ được cung cấp bởi các thương nhân có có giấy phép sản xuất, phân phối, bán buôn hoặc bán lẻ rượu. Cụ thể hơn, thương nhân phân phối phải có văn bản giới thiệu hoặc hợp đồng nguyên tắc của thương nhân sản xuất rượu, thương nhân phân phối rượu khác hoặc nhà cung cấp rượu ở nước ngoài; thương nhân bán buôn phải có văn bản giới thiệu hoặc hợp đồng nguyên tắc của thương nhân sản xuất rượu, thương nhân phân phối rượu hoặc thương nhân bán buôn rượu khác; thương nhân bán lẻ phải có văn bản giới thiệu hoặc hợp đồng nguyên tắc của thương nhân sản xuất rượu, thương nhân phân phối rượu hoặc thương nhân bán buôn rượu.

(iv) Rượu dự kiến kinh doanh phải bảo đảm điều kiện về an toàn thực phẩm theo quy định.

(v) Đối với thương nhân phân phối phải có hệ thống phân phối rượu trên địa bàn từ 02 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trở lên; tại địa bàn mỗi tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương phải có ít nhất 01 thương nhân bán buôn. Nếu là bán buôn thì phải có hệ thống bán buôn rượu trên địa bàn tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, nơi thương nhân đặt trụ sở chính với ít nhất 03 thương nhân bán lẻ rượu.

(vi) Bảo đảm tuân thủ đầy đủ các yêu cầu điều kiện về phòng cháy chữa cháy, bảo vệ môi trường theo quy định.

Mặc dù, các điều kiện để cấp giấy phép phân phối, bán buôn, bán lẻ và bán lẻ tiêu dùng tại chỗ là rất khác nhau, tuy nhiên, khi quy định về quyền của thương nhân sau khi có giấy phép dường như lại không có sự khác nhau[10], cụ thể:

(i) Thương nhân phân phối và bán buôn rượu ngoài việc thực hiện hoạt động phân phối và bán buôn ra còn có thể trực tiếp bản lẻ rượu, bán rượu tiêu dùng tại chỗ tại các địa điểm kinh doanh của thương nhân trên phạm vi địa bàn các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương được cấp phép.

(ii) Thương nhân bán lẻ ngoài việc trực tiếp cho người mua tại các địa điểm kinh doanh của thương nhân theo nội dung ghi trong giấy phép, còn có thể bán rượu cho thương nhân bán rượu tiêu dùng tại chỗ (không phải người tiêu dùng cuối cùng).

Có thể thấy, ở Việt Nam, do cách tiếp cận theo hướng thiết lập các điều kiện gây khó khăn trong việc gia nhập thị trường nên hệ thống giấy phép sản xuất và kinh doanh rượu của Việt Nam tiếp cận theo từng phân đoạn kinh doanh từ sản xuất, nhập khẩu, phân phối, bán buôn, bán lẻ, bán lẻ và tiêu dùng tại chỗ và xuất khẩu nên các giấy phép cũng được thiết kế tương ứng tương đương với từng giai đoạn kinh doanh. Hệ thống kinh doanh rượu được phân cấp theo: Nhập khẩu, phân phối, bán buôn (trực thuộc hệ thống thương nhân phân phối hoặc sản xuất rượu), bán lẻ (trực thuộc hệ thống thương nhân bán buôn). Tương ứng với mỗi hình thức phân phối sẽ là các quyền mua bán sản phẩm rượu bị giới hạn (thương nhân bán lẻ sản phẩm rượu được mua sản phẩm rượu từ thương nhân bán buôn sản phẩm rượu để bán; thương nhân bán buôn được mua sản phẩm rượu từ tổ chức, cá nhân sản xuất rượu hoặc của doanh nghiệp phân phối sản phẩm rượu; thương nhân phân phối sản phẩm rượu được mua sản phẩm rượu từ tổ chức, cá nhân sản xuất rượu hoặc thương nhân phân phối sản phẩm rượu khác hoặc thương nhân nhập khẩu sản phẩm rượu trực tiếp từ thương nhân nước ngoài; thương nhân phân phối, thương nhân bán buôn sản phẩm rượu chỉ được bán sản phẩm rượu cho các thương nhân có giấy phép kinh doanh sản phẩm rượu thuộc hệ thống phân phối của mình trong phạm vi địa bàn được cấp phép). Điều này cho thấy, phần lớn các điều kiện kinh doanh đều chưa gắn kết với mục tiêu là làm giảm tính sẵn có của rượu và thậm chí còn tạo ra sự áp đặt từ phía Nhà nước lên hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Do đó, Việt Nam muốn tạo lập một thị trường kinh doanh rượu thực sự bình đẳng, đồng thời đạt được mục tiêu của quản lý nhà nước trong việc kiểm soát và làm giảm tính sẵn có của đồ uống có cồn, cần thiết phải có sự đột phá trong phương pháp tiếp cận xây dựng các điều kiện kinh doanh rượu.

ThS. Nguyễn Thu Dung

Viện Nhà nước và Pháp luật



[1]. Esa Osterberg, Availability of Alcohol, http://www.euro.who.int/_data/assets/pdf_file/0011/191369/9-Availability-of-alcohol.pdf?ua=1, truy cập ngày 02/10/2019.

[2]. WHO (2018), Alcohol Policy Report , tr. 100.

[3]. Trên thực tế, nghiên cứu về mối tác động giữa các giấy phép về sản xuất và kinh doanh với sự gia tăng hiện diện đồ uống có cồn thì không phải ở quốc gia nào cũng cho thấy mối liên hệ tích cực bởi việc gia tăng sự hiện diện đồ uống có cồn sẽ đơn giản đồng nghĩa với việc gia tăng số lượng giấy phép4 (WHO (2018), Alcohol Policy Report 2018, tr. 100).

[4]. http://www.ylc.yk.ca/liquor_manufacturing.html, truy cập ngày 01/10/2019.

[5]. https://lgcamb.ca/liquor/manufacturer-licences/manufacturer/, truy cập ngày 01/10/2019.

[6]. https://lgcamb.ca/liquor/manufacturer-licences/manufacturer/, truy cập ngày 01/10/2019.

[7]. https://abra.dc.gov/page/types-abc-licenses-endorsements-and-permits, truy cập ngày 02/10/2019.

[8]. https://abra.dc.gov/page/types-abc-licenses-endorsements-and-permits, truy cập ngày 01/10/2019.

[9]. Các điều 11, 12, 13, 14 Nghị định số 105/2017/NĐ-CP ngày 14/9/2017 của Chính phủ về kinh doanh rượu.

[10]. Điều 18 Nghị định số 105/2017/NĐ-CP ngày 14/9/2017 của Chính phủ về kinh doanh rượu.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2026 được ban hành với nhiều điểm mới nhằm khắc phục những khó khăn, vướng mắc của Luật hiện hành; đổi mới hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật theo hướng lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm; bảo đảm quyền tiếp cận pháp luật, quyền tham gia góp ý, phản ánh, kiến nghị về chính sách, pháp luật; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo; đồng thời góp phần xây dựng văn hóa thượng tôn pháp luật và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chủ trương khởi nghiệp sáng tạo tại Việt Nam được Đảng và Nhà nước nhận thức, định hướng trong sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư khi nền sản xuất toàn cầu có sự kết hợp của các công nghệ hiện đại như trí tuệ nhân tạo, Internet of Things (IoT), robot tự động, dữ liệu lớn và nhiều công nghệ tiên tiến khác. Để thúc đẩy, tạo động lực cho cá nhân, tổ chức phát huy đam mê khởi nghiệp sáng tạo, tối đa hóa năng lực, nguồn lực, cống hiến trí tuệ cho sự phát triển chung của đất nước, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế- xã hội, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã từng bước đề ra chủ trương, chính sách pháp luật, chiến lược lâu dài nhằm kiến tạo hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo. Từ định hướng chiến lược tại Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân, đến việc thể chế hóa chủ trương của Đảng trong Luật Khoa học, Công nghệ và đổi mới sáng tạo năm 2025 và Chính phủ cụ thể hóa thông qua Nghị quyết số 86/NQ-CP ban hành Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo. Những chủ trương, chính sách đã góp phần thúc đẩy khởi nghiệp sáng tạo trong hệ thống kinh tế tư nhân trở thành một động lực phát triển quan trọng của đất nước trong kỷ nguyên số.
Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô số 02/2026/QH16 được Quốc hội khóa XVI thông qua ngày 23/4/2026, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026, thay thế Luật Thủ đô số 39/2024/QH15. Với 09 chương, 36 điều, Luật Thủ đô năm 2026 tiếp tục thể chế hóa chủ trương xây dựng Thủ đô Hà Nội trở thành trung tâm chính trị, hành chính quốc gia, trung tâm lớn về kinh tế, văn hóa, khoa học, giáo dục, đào tạo và đổi mới sáng tạo; đồng thời tạo dựng một không gian pháp lý mới với mức độ phân quyền, phân cấp và trao quyền mạnh mẽ hơn cho Thành phố.
Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Tại Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI đã thông qua Luật Phát triển đô thị số 18/2026/QH16, Luật có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/10/2026. Luật được kết cấu gồm 05 chương, 66 điều quy định các cơ chế, chính sách nhằm tạo lập hành lang pháp lý ổn định, đồng bộ, đột phá và khả thi để thúc đẩy phát triển Thành phố Hồ Chí Minh, phát triển đô thị đặc biệt khác, thành phố khác và khu kinh tế đặc biệt; bảo đảm cơ sở pháp lý cho việc áp dụng các cơ chế, chính sách đặc thù, vượt trội phù hợp với điều kiện, yêu cầu phát triển và năng lực thực thi của từng địa phương; qua đó khai thác hiệu quả tiềm năng, lợi thế, tạo không gian phát triển mới, thu hút nguồn lực đầu tư chất lượng cao và hình thành các động lực tăng trưởng mới.
Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Trên cơ sở kế thừa những quy định của Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013 đã được thực tiễn chứng minh là phù hợp, Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026 đồng thời bổ sung nhiều quy định để tháo gỡ những vướng mắc, bất cập, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, tạo cơ sở pháp lý đầy đủ, đồng bộ cho công tác hòa giải ở cơ sở.
Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chuyển đổi số trong hoạt động ngân hàng đã làm thay đổi căn bản phương thức xác lập và thực hiện các hợp đồng, giao dịch. Nhiều giao dịch được thực hiện hoàn toàn trên môi trường điện tử thông qua Internet Banking, Mobile Banking, eKYC, chữ ký điện tử, xác thực OTP và các hệ thống ngân hàng lõi (Core Banking). Khi phát sinh tranh chấp, chứng cứ không chỉ là hồ sơ giấy mà còn là dữ liệu điện tử được lưu giữ trên các hệ thống thông tin của ngân hàng và của khách hàng. Mặc dù Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015) và Luật Giao dịch điện tử năm 2023 đã thiết lập cơ sở pháp lý quan trọng cho việc thừa nhận dữ liệu điện tử là nguồn chứng cứ. Tuy nhiên, việc xác định giá trị chứng minh của loại chứng cứ này vẫn còn nhiều khoảng trống cần tiếp tục hoàn thiện.
Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Ngày 25/6/2025, Quốc hội khóa XV đã thông qua Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 (Luật số 89/2025/QH15) đánh dấu bước quan trọng trong tư duy lập pháp, quản lý của Nhà nước đối với hệ thống ngân sách nhà nước, đáp ứng yêu cầu tổ chức mô hình chính quyền địa phương hai cấp trên phạm vi toàn quốc. Bài viết đề cập nội dung của Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 gắn với việc tổ chức mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, làm rõ những kết quả từ việc sửa đổi Luật phù hợp với thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội, tổ chức bộ máy hành chính hiện nay.
THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

Trong cấu trúc an ninh phi truyền thống hiện đại, an ninh năng lượng đóng vai trò là “mạch máu” sống còn, quyết định sức bền kinh tế và vị thế quốc gia. Bước vào giai đoạn 2026 - 2030, trước yêu cầu bứt phá tăng trưởng GDP ở mức hai con số gắn liền với cam kết lịch sử phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050, Việt Nam đứng trước bài toán vừa bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng trước biến động địa chính trị toàn cầu, vừa chủ động chuyển dịch năng lượng xanh theo chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước.
Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp, cải cách thủ tục hành chính tiếp tục được đẩy mạnh gắn với chuyển đổi số, phân cấp, phân quyền và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Kết quả thực hiện trong tháng 8/2026 cho thấy nhiều chuyển biến tích cực, đồng thời đặt ra yêu cầu tiếp tục đồng bộ dữ liệu, hoàn thiện quy trình và nâng cao hiệu quả phối hợp trong cải cách thủ tục hành chính.
Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp về tình hình, kết quả cải cách thủ tục hành chính (TTHC) tháng 8 và nhiệm vụ trọng tâm tháng 9/2026, cải cách TTHC đang chuyển sang một giai đoạn mới, trong đó dữ liệu và công nghệ số ngày càng giữ vai trò quan trọng trong quản trị và tổ chức thực hiện. Việc khai thác, kết nối, chia sẻ dữ liệu để tái cấu trúc quy trình, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục đang từng bước làm thay đổi phương thức quản lý, hướng tới nền hành chính hiện đại, hiệu quả, phục vụ tốt hơn người dân và doanh nghiệp.
Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bài viết phân tích yêu cầu tái cấu trúc phương thức bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong điều kiện tiếp tục tinh gọn tổ chức bộ máy và đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia. Từ cách tiếp cận hệ thống, bài viết làm rõ sự dịch chuyển từ bảo vệ bằng tuyên truyền tuyến tính sang bảo vệ bằng năng lực thể chế hóa, năng lực quản trị và hiệu quả tổ chức thực hiện; đồng thời phân tích vai trò của Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 66-NQ/TW) và Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 57-NQ/TW) như hai trục lớn của quá trình tái cấu trúc này. Trên cơ sở đó, bài viết khảo sát thực tiễn thi hành án dân sự, qua đó cho thấy “gọn hơn về tổ chức, mạnh hơn về quản trị” không chỉ là yêu cầu cải cách hành chính, mà còn là một phương thức củng cố niềm tin của Nhân dân vào hệ thống chính trị.
THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả không chỉ là giảm bớt hóa đơn tiền điện, mà còn trở thành “chìa khóa” bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, bảo vệ môi trường và hướng tới tăng trưởng xanh. Đứng trước những biến động phức tạp của chuỗi cung ứng toàn cầu, sự ra đời của các văn bản chỉ đạo chiến lược như Chỉ thị số 09/CT-TTg, Chỉ thị số 10/CT-TTg và Công điện số 27/CĐ-TTg từ Chính phủ đang tạo ra những bước ngoặt lớn. Cuộc cách mạng này đòi hỏi sự đồng bộ từ hoàn thiện hành lang pháp lý, đổi mới công nghệ, đến sự thay đổi tư duy và hành động của mỗi người dân, doanh nghiệp.
“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 2)

“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 2)

Du lịch xanh, du lịch bền vững đã trở thành xu hướng phổ biến tại Việt Nam, nhưng để tiến tới mục tiêu "du lịch Net Zero", ngành Du lịch cần có nhiều thay đổi theo chiều sâu: từ việc xây dựng những sản phẩm xanh sang xây dựng những doanh nghiệp lữ hành thực sự bền vững. Đây là cả một quá trình bởi phát triển "du lịch Net Zero" không chỉ liên quan đến môi trường mà còn đòi hỏi sự thay đổi đồng bộ về mô hình kinh doanh, sản phẩm, công nghệ, nhân lực, quan hệ với cộng đồng và cách thức ứng xử với các giá trị văn hóa.
“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 1)

“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 1)

Du lịch Việt Nam đang đứng trước một giai đoạn phát triển mới, trong đó yêu cầu tăng trưởng không thể tách rời nhiệm vụ bảo tồn và phát huy những giá trị làm nên bản sắc dân tộc. Nếu thiên nhiên tạo nên diện mạo của đất nước thì văn hóa chính là chiều sâu, là ký ức, là “hồn cốt” để Việt Nam trở thành một điểm đến khác biệt trong mắt du khách trong nước và quốc tế. Bởi vậy, phát triển du lịch hôm nay không chỉ là câu chuyện về lượng khách, doanh thu hay số lượng cơ sở lưu trú, mà còn là câu chuyện về cách gìn giữ di sản, bảo vệ cảnh quan, duy trì lối sống cộng đồng và trao truyền những giá trị văn hóa Việt Nam cho các thế hệ mai sau. Trong câu chuyện đó, doanh nghiệp lữ hành đóng vai trò trung tâm, là “cầu nối” đưa văn hoá Việt Nam đến với du khách.
Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Trong bối cảnh tai nạn lao động vẫn diễn biến phức tạp, chuyển đổi số đang mở ra khả năng thay đổi căn bản phương thức quản trị an toàn, vệ sinh lao động (ATVSLĐ) tại doanh nghiệp. Từ số hóa hoạt động huấn luyện, cấp chứng nhận điện tử đến ứng dụng trí tuệ nhân tạo, cảm biến và robot để nhận diện, cảnh báo sớm nguy cơ, vấn đề đặt ra hiện nay là cần tiếp tục hoàn thiện hành lang pháp lý để chuyển từ quản lý mang tính thủ tục, hậu kiểm sang quản trị chủ động, lấy phòng ngừa rủi ro làm trọng tâm.

Theo dõi chúng tôi trên: