Chủ nhật 31/05/2026 16:40
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Các mô hình người dân tham gia hoạt động xét xử của Tòa án trên thế giới và gợi mở cho Việt Nam

Việc người dân tham gia vào hoạt động xét xử của Tòa án được nhiều quốc gia thừa nhận và xây dựng nhiều mô hình khác nhau. Thông qua bài viết này, tác giả phân tích các mô hình người dân tham gia vào hoạt động xét xử của Tòa án ở một số quốc gia, từ đó, đưa ra một số gợi mở cho mô hình này ở Việt Nam.



1. Các mô hình người dân tham gia vào hoạt động xét xử của Tòa án trên thế giới
Việc người dân tham gia vào hoạt động xét xử của Tòa án được nhiều quốc gia thừa nhận và xây dựng nhiều mô hình khác nhau, trong đó, có hai mô hình tiêu biểu là bồi thẩm và hội thẩm, cụ thể:
Một là, mô hình bồi thẩm đoàn: Bồi thẩm viên được chọn từ công dân để tham gia hoạt động xét xử, họ có đặc quyền là quyết định có tội hay không có tội đối với người bị cáo buộc, nếu bồi thẩm đoàn quyết định là có tội, thì thẩm phán mới tiếp tục xét xử bằng việc luận tội và đưa ra phán quyết. Mô hình này được áp dụng ở Anh, Canada, Hoa Kỳ, Úc, New Zealand và hơn 40 quốc gia khác, nhiều nước trong số đó trước đây vốn là một phần của Vương quốc Anh, chịu sự ảnh hưởng của pháp luật Anh, bao gồm cả quy định về bồi thẩm. Sau khi độc lập, một số lượng lớn quốc gia thuộc địa đã bỏ đi chế định bồi thẩm vì cho rằng, nó gắn liền với chế độ áp bức thực dân, bên cạnh đó, cũng có nhiều quốc gia vẫn duy trì và hợp thức hóa thành một một phần quy định của pháp luật quốc gia mình. Mặc dù bồi thẩm chủ yếu được thấy trong hệ thống thông luật (common law) nhưng một số quốc gia thuộc hệ thống luật dân sự (civil law) cũng có mô hình bồi thẩm như Tây Ban Nha hay Áo. Bồi thẩm đoàn được cách ly cẩn thận từ các thẩm phán trong quá trình nghị án, tuy nhiên, thẩm phán vẫn đóng một vai trò quan trọng trong việc chủ tọa bồi thẩm đoàn, phán quyết về việc chấp nhận bằng chứng, cung cấp các quy tắc pháp lý cho bồi thẩm đoàn và trong một số lĩnh vực pháp lý hướng dẫn tìm hiểu thực tế bằng cách bình luận trên các bằng chứng hoặc bằng cách hướng dẫn những nhận định đặc biệt[1]. Có thể thấy, với mô hình bồi thẩm đoàn, thẩm phán và bồi thẩm không cùng làm một việc mà có sự “phân vai” cũng như phân chia giai đoạn thực hiện công việc một cách rõ ràng trong quá trình xét xử, do vậy, bồi thẩm và thẩm phán là độc lập với nhau. Ở mô hình này, bồi thẩm không nhất thiết phải giỏi về pháp luật hay trình độ chuyên môn, mà quan trọng nhất, bồi thẩm chính là những công dân bình thường, bằng lương tri của mình đánh giá một người là có tội hay không, người bị xét xử nếu được coi là có tội, có nghĩa là việc luận tội dựa trên tiền đề “không còn nghi ngờ gì nữa”. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng mô hình này cũng có một số hạn chế. Ở Anh, cái nôi của phiên tòa bồi thẩm đoàn chỉ có 1% các vụ án dân sự và 5% các vụ án hình sự là do bồi thẩm đoàn quyết định. Những phiên tòa chỉ do thẩm phán xét xử mà không có bồi thẩm đoàn mất ít thời gian hơn, đỡ tốn kém hơn và vì phiên tòa mở công khai trước công chúng và có thể xử lại trước các Tòa án phúc thẩm, nên được nhiều người coi là công bằng, hiệu quả. Hay bồi thẩm viên rất không kiên định nên có thể bỏ qua luật lệ, khi họ quyết định rằng, một bị cáo có lý do đúng để làm những gì họ đã làm hoặc họ có thể bị những luật sư xảo trá thao túng[2].
Hai là, mô hình hội thẩm: Mô hình này đặc trưng cho các quốc gia theo hệ thống civil law và có thể chia thành 03 biến thể:
(i) Mô hình hội thẩm cổ điển của Đức[3]: Hội đồng xét xử có một thẩm phán chuyên nghiệp và hai hội thẩm, số lượng có thể nhiều hơn tùy vào tính chất của vụ án. Điểm đặc biệt của mô hình này là hội thẩm được bổ nhiệm và được xem là thành viên của Tòa án, hội thẩm ngồi ở hội đồng xét xử cùng với các thẩm phán chuyên nghiệp. Việc hình thành hội thẩm ở Đức được thực hiện qua các bước giới thiệu và lựa chọn cẩn thận bởi các tổ chức chính trị. Danh sách họ đề cử gấp đôi so với số lượng dự kiến. Trên cơ sở đó, một hội đồng sẽ được thành lập gồm 01 thẩm phán, 01 nhân viên hành chính và 10 người có uy tín do chính quyền địa phương chỉ định sẽ chọn các hội thẩm từ danh sách ứng cử viên này. Việc làm này được tiến hành định kỳ 04 năm/lần[4]. Điều đáng nói là hội thẩm ở Đức ngồi chung hội đồng với thẩm phán nhưng không phải lúc nào cũng cần sự tham gia của hội thẩm. Thông thường, những vụ án có sự tham gia của hội thẩm là những vụ cần sự góp mặt của hội thẩm để giúp vụ án được xét xử công bằng và toàn diện hơn. Ví dụ: Tội gián điệp được xét xử sơ thẩm ở Toà án tối cao thì không cần có hội thẩm, những vụ án đơn giản, mức hình phạt từ 02 năm tù trở xuống ở các Toà sơ cấp cũng không cần có hội thẩm tham gia[5].
(ii) Mô hình hội thẩm của Pháp[6]: Mặc dù hội đồng xét xử cũng bao gồm thẩm phán và hội thẩm, nhưng số lượng tham gia nhiều hơn của Đức. Ví dụ, trong vụ án hình sự nghiêm trọng, thành phần sẽ là 03 thẩm phán và 09 hội thẩm, xét xử phúc thẩm có 03 thẩm phán và 12 hội thẩm[7]. Hội thẩm trong vụ án phúc thẩm hoạt động tập thể và quyết định theo đa số, có thể tiến hành kiểm tra các chứng cứ trong vụ án. Điểm khác biệt so với mô hình của Đức là ở Pháp, hội thẩm được chọn ngẫu nhiên trong số công dân bất kỳ, họ không phải là thành viên của Tòa án và trong suốt quá trình xét xử, họ được ngồi cách ly với các thẩm phán chuyên nghiệp, thẩm phán và hội thẩm chỉ ngồi lại với nhau ở giai đoạn nghị án. Đây là một giải pháp giúp hội thẩm có thể độc lập hơn trong mô hình xét xử cộng tác.
(iii) Mô hình “hội thẩm chuyên gia”[8]: Khác với hai mô hình trên, trong mô hình này, thành phần hội thẩm được chọn từ các chuyên gia có liên quan đến các vấn đề trong vụ án, họ sẽ ngồi với một hoặc một số thẩm phán để cùng đưa ra kết quả. Ví dụ ở Croatia, nếu vụ án liên quan đến bị cáo là người vị thành niên, thì thành phần hội thẩm có thể là giáo viên, giáo sư hoặc người khác có kinh nghiệm liên quan đến giáo dục vị thành niên.
Có thể thấy, so với mô hình bồi thẩm đoàn, thì tính độc lập của hội thẩm khó được bảo đảm vì họ thực hiện công việc xét xử giống thẩm phán nhưng kiến thức pháp lý thì không bằng. Tuy nhiên, ưu điểm của mô hình này là thể hiện mức độ tham gia của người dân sâu sắc hơn, không chỉ dừng lại ở việc dùng lương tri để đánh giá một người có tội hay không có tội, mà còn được tham gia vào quá trình định tội gì và mức phạt ra sao.
Như vậy, đa số các nước đều ghi nhận sự tham gia của người dân trong hoạt động xét xử, điều này chứng minh ý nghĩa và vai trò quan trọng của người dân trong hoạt động xét xử, cụ thể:
- Cơ chế hội thẩm và bồi thẩm đoàn là một cơ chế bảo đảm dân chủ trong hoạt động xét xử. Có thể nói, một trong những yếu tố để đánh giá sự dân chủ đó chính là mức độ tham gia của người dân trong hoạt động quản lý nhà nước và xã hội. Việc tham gia xét xử sẽ giúp người dân ý thức hơn quyền làm chủ của mình, thấy được trách nhiệm của mình đối với công việc của Nhà nước. “Nhiệm vụ của bồi thẩm đoàn còn là trách nhiệm chủ yếu của công dân. Tầm quan trọng của nó đứng hàng thứ hai, chỉ sau việc bầu cử”[9]. Mô hình bồi thẩm đoàn hay mô hình hội thẩm đều cho thấy, người dân có quyền quyết định rất cao trong hoạt động xét xử. Với mô hình bồi thẩm đoàn, trong vụ án hình sự, thẩm phán chỉ được tiếp tục giải quyết vụ án nếu bồi thẩm đoàn cho rằng hành vi đó là có tội. Với mô hình hội thẩm thì thành phần hội thẩm thường nhiều hơn so với thẩm phán và theo nguyên tắc thảo luận tập thể quyết định theo đa số, thì hội thẩm chính là chủ thể có ưu thế trong việc quyết định. Điều này không chỉ thể hiện quyền làm chủ mà còn thể hiện ý thức, trách nhiệm làm chủ của người dân đối với nhà nước và xã hội. Sự tham gia của người dân dưới mô hình bồi thẩm đoàn hoặc hội thẩm còn là cơ sở để củng cố lòng tin của người dân vào chính quyền, quyền làm chủ của người dân không chỉ ở những công dân bình thường, mà phải được bảo đảm ngay cả những công dân đang bị xét xử.
- Sự hiện diện của hội thẩm và bồi thẩm đoàn bảo đảm hoạt động xét xử được khách quan và hiệu quả. Điều này được thể hiện rất rõ trong mô hình tòa án cộng tác. Xét xử vốn là công việc của nhà nước, là hoạt động mang tính chuyên môn của thẩm phán - những người am hiểu pháp luật, thế nhưng hoạt động xét xử thực tế rất phức tạp, không chỉ là hoạt động đòi hỏi người xét xử có chuyên môn nghiệp vụ cao, am hiểu quy định pháp luật mà còn phải am hiểu cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, phải có kinh nghiệm hoạt động xã hội hay kiến thức thực tế… Một hội đồng sẽ khó có thể xét xử đúng người, đúng tội đối với một hành vi phạm tội liên quan đến lĩnh vực công nghệ khi bản thân các thành viên hội đồng xét xử lại không hiểu biết về lĩnh vực này, mô hình hội thẩm với những chuyên gia chính là người bổ khuyết cho thẩm phán những yếu tố đó. Bản chất của chế định hội thẩm tham gia xét xử không phải ở chỗ thiếu sự tham gia của hội thẩm vào hoạt động xét xử của Tòa án sẽ tạo ra nguy cơ lạm quyền của các thẩm phán chuyên nghiệp, mà chính là ở chỗ hội thẩm bổ sung những kinh nghiệm và tri thức nghề nghiệp cho các thẩm phán bằng kinh nghiệm sống và tri thức của mình[10]. “Hội thẩm có thể phản ảnh một cách khách quan cách nhìn nhận về sự kiện, vụ việc từ suy nghĩ, tâm tư của quần chúng nhân dân, chứ không phải từ góc độ của một luật gia thuần túy”[11]. Để bảo đảm được điều này, một số quốc gia quy định tiêu chuẩn để được chọn làm hội thẩm phải là những chuyên gia về những lĩnh vực liên quan đến các vấn đề của vụ án.
- Sự tham gia của hội thẩm và bồi thẩm góp phần bảo đảm công lý trong xét xử. Trong cơ chế phân chia quyền lực, Tòa án được xác định là cơ quan tư pháp, chức năng thực hiện quyền tư pháp của Tòa án được hầu hết các quốc gia nhận thức chính là bảo vệ công lý[12]. Công lý có vai trò quan trọng trong việc tiết chế, giữ cho mỗi thành viên của xã hội không có hành vi làm phương hại đến người khác. Vì vậy, nghĩa vụ đầu tiên của mỗi cộng đồng xã hội là phải công nhận và bảo vệ các giá trị nền tảng của công lý[13]. Điều đó có nghĩa là, công lý là quy tắc có tính tuân thủ trên cả pháp luật, pháp luật có thể phản ánh tính công bằng, đúng đắn nhưng không phải lúc nào pháp luật cũng làm được điều đó, tính đúng đắn phải được quyết định bởi quan niệm xã hội trong bối cảnh cụ thể. Sự phán xét của xã hội chính là yếu tố quan trọng để phản ánh tính công lý trong xét xử. Ngay cả mô hình hội thẩm, việc quy định số lượng hội thẩm thường nhiều hơn thẩm phán và xét xử theo nguyên tắc thảo luận tập thể, quyết định theo đa số chính là thể hiện quyết định cao nhất vẫn thuộc về xã hội.
2. Một số gợi mở trong hoàn thiện chế định hội thẩm ở Việt Nam
Có thể thấy rằng, sự lựa chọn mô hình bồi thẩm hay hội thẩm phụ thuộc khá nhiều vào quan điểm chính trị, pháp lý thậm chí cả truyền thống, văn hóa của mỗi quốc gia. Nhưng dù sự tham gia của người dân có được thể hiện dưới mô hình nào, thì điều quan trọng là phải phát huy được các vai trò nêu trên. Mỗi mô hình đều có những ưu điểm và hạn chế, do vậy lựa chọn mô hình nào thì phải khắc phục những điểm hạn chế và phát huy những ưu điểm của mô hình đó.
Nếu xét theo cách phân chia các mô hình người dân tham gia vào hoạt động xét xử nêu trên, thì Việt Nam lựa chọn mô hình hội thẩm, là mô hình được đa số các nước theo hệ thống civil law lựa chọn. Theo quy định pháp luật về hội thẩm hiện hành, có thể thấy, trong các mô hình hội thẩm đã phân tích ở trên, cơ bản mô hình hội thẩm của Việt Nam có điểm tương đồng với mô hình hội thẩm cổ điển của Đức, thể hiện ở cách thức hình thành và quá trình tham gia xét xử của hội thẩm. Ví dụ: Việc hình thành hội thẩm của Việt Nam cũng trải qua sự giới thiệu từ tổ chức chính trị xã hội là Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và được bầu bởi chính quyền địa phương là Hội đồng nhân dân[14] và cũng trải qua nhiệm kỳ khá dài. Trong quá trình xét xử, hội thẩm ngồi cùng với thẩm phán và cùng đưa ra phán quyết. Có thể thấy, mức độ tham gia của người dân trong hoạt động xét xử trong mô hình hội thẩm cổ điển của Đức rất cao khi không có sự phân biệt nào giữa hội thẩm và thẩm phán trong quá trình xét xử và số lượng hội thẩm bao giờ cũng nhiều hơn thẩm phán. Tuy vậy, với mô hình này cũng có một số hạn chế mà các mô hình hội thẩm còn lại phần nào có thể khắc phục được, đó là:
Thứ nhất, việc quy định hội thẩm và thẩm phán cùng ngồi xét xử sẽ không bảo đảm nguyên tắc xét xử độc lập. Đây là nguyên tắc vô cùng quan trọng để bảo đảm tính khách quan trong hoạt động xét xử, qua đó thể hiện vai trò bảo vệ công lý của Toà án. Thông thường, hội thẩm hay bị lệ thuộc vào ý chí của thẩm phán bởi thẩm phán là những người được đào tạo bài bản về nghiệp vụ xét xử cũng như khả năng am hiểu pháp luật sẽ cao hơn. Do đó, để khắc phục được hạn chế này, chúng ta nên học hỏi mô hình hội thẩm của Pháp về việc bố trí hội thẩm có sự cách ly với thẩm phán trong quá trình xét xử. Họ sẽ có sự chủ động trong quan điểm xét xử và chỉ gặp thẩm phán ở giai đoạn nghị án để đưa ra biểu quyết cuối cùng. Điều này bảo đảm sự độc lập nhất định cho Hội thẩm. Tuy nhiên muốn Hội thẩm có thể thực hiện được nhiệm vụ xét xử một cách độc lập thì xét thấy cần phải gia tăng số lượng hội thẩm tham gia xét xử trong một vụ án. Chẳng hạn như ở Pháp số lượng hội thẩm với những vụ án thông thường là 09 thành viên, trường hợp đặc biệt có thể lên tới 12 thành viên.
Thứ hai, quy định hiện hành chưa tạo ra sự linh hoạt trong việc lựa chọn hội thẩm. Số lượng hội thẩm nhân dân được xác định từ trước, không phải được lựa chọn ngẫu nhiên khi có vụ án cần xét xử. Không những vậy, nhiệm kỳ của các hội thẩm tương đối dài (nhiệm kỳ của hội thẩm nhân dân theo nhiệm kỳ Hội đồng nhân dân, nhiệm kỳ hội thẩm quân nhân là 05 năm kể từ ngày cử). Quy định này sẽ dẫn đến trong một số trường hợp, hội thẩm không đáp ứng được nhu cầu xét xử. Về vấn đề này, Việt Nam có thể học tập kinh nghiệm của những nước có mô hình hội thẩm “các chuyên gia”, khi có những vụ án liên quan đến các lĩnh vực đòi hỏi phải có sự tư vấn của chuyên gia, thì những chuyên gia đó sẽ là hội thẩm. Theo đó, Việt Nam cần có quy định về cách thức hình thành hội thẩm linh hoạt hơn. Có thể quy định nhiệm kỳ của hội thẩm ngắn hơn để luôn có sự bổ sung, đa dạng thành phần tham gia làm hội thẩm hoặc có thể quy định thêm trong trường hợp cần thiết, hội thẩm có thể được chỉ định là các chuyên gia trên cơ sở đề xuất của Toà án và được sự phê duyệt của Hội đồng nhân dân bên cạnh những hội thẩm được hình thành bằng con đường truyền thống.
Tóm lại, mỗi mô hình hội thẩm đều có ưu điểm và hạn chế nhất định, cần phải xem xét để vận dụng những ưu điểm của các mô hình hội thẩm, qua đó, có thể nghiên cứu bổ sung để hoàn thiện chế định hội thẩm ở Việt Nam.

TS. Thái Thị Thu Trang
ThS. Nguyễn Thị Quỳnh Trang
Đại học Luật Hà Nội



[1]. Valerie P. HansJury (2008), Jury Systems around the word, Cornell Law Faculty Publications, p.278-279.
[2]. Melvin Urofsky, Các quyền con người được hiến pháp bảo đảm - Tự do cá nhân và Tuyên ngôn nhân quyền, tr. 96. Nguồn: Trung tâm Hoa Kỳ, Phòng Thông tin - Văn hóa, Đại sứ quán Hoa Kỳ.
[3]. The classic German or Sch¨offen collaborative court model.
[4]. Xem: Lay Participation in Germany, nguồn: https://www.cairn.info/revue-internationale-de-droit-penal-2001-1-page-181.htm#pa4, truy cập ngày 10/4/2020.
[5]. Lay Participation in Germany, nguồn: https://www.cairn.info/revue-internationale-de-droit-penal-2001-1-page-181.htm#pa4, truy cập ngày 10/4/2020.
[6]. The French collaborative court model.
[7]. Jury Systems Around the World, tr. 279.
[8]. The expert assessor collaborative court model.
[9]. Theo Melvin Urofsky, tlđd, tr. 86.
[10]. Sổ tay Hội thẩm - Bộ Tư pháp, Hà Nội, 1998, tr8.
[11]. Sổ tay Hội thẩm - Bộ Tư pháp - Trường Đào tạo các chức danh tư pháp, Hà Nội, 2000, tr.13.
[12]. Theo GS.TS. Nguyễn Đăng Dung, Tư pháp trong tiếng Anh là “justice” được lý giải là “việc sử dụng quyền lực bảo vệ những gì đúng đắn, công bằng, hợp pháp”. Nguồn: Nguyễn Đăng Dung, Thể chế tư pháp trong nhà nước pháp quyền, Nxb. Tư pháp, 2004, tr.11.
[13]. “Tòa án nhân dân và nhiệm vụ ‘bảo vệ công lý’”, ThS. Nguyễn Xuân Tùng, nguồn: http://moj.gov.vn/qt/tintuc/Pages/nghien-cuu-trao-doi, truy cập: 10/4/2019.
[14]. Khoản 1 Điều 86 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Công tác kiểm tra, giám sát Đảng ủy cấp xã tại Hà Nội hiện nay

Công tác kiểm tra, giám sát Đảng ủy cấp xã tại Hà Nội hiện nay

Đổi mới công tác kiểm tra, giám sát không chỉ dừng lại ở việc xử lý vi phạm mà cốt lõi là để cảnh báo, phòng ngừa và kiến tạo sự phát triển. Trước thực trạng 70% cán bộ kiểm tra cấp xã còn lúng túng về nghiệp vụ và áp lực từ việc thiếu vắng sự giám sát của Hội đồng nhân dân tại các xã, phường, Hà Nội đang nỗ lực tìm kiếm những mô hình mới như "giám sát dữ liệu số" hay cơ chế bảo vệ cán bộ "dám nói, dám làm". Đây chính là chìa khóa để bảo đảm bộ máy chính quyền Thủ đô vận hành liêm chính và hiệu quả sau khi tinh gọn.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định và tổ chức thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Kiến nghị hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định và tổ chức thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 là đạo luật quan trọng nhằm cụ thể hóa quyền tiếp cận thông tin của công dân theo Hiến pháp năm 2013[*], góp phần nâng cao tính công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Sau 08 năm thi hành, bên cạnh những kết quả đạt được, thực tiễn cho thấy còn bộc lộ một số hạn chế, bất cập trong quy định pháp luật và tổ chức thi hành, đặc biệt, liên quan đến phạm vi thông tin, trách nhiệm cung cấp thông tin, trình tự, thủ tục và điều kiện bảo đảm thực hiện quyền. Trên cơ sở nhận diện các vướng mắc, bất cập, nghiên cứu đề xuất định hướng sửa đổi, bổ sung Luật theo hướng bảo đảm tính đồng bộ với hệ thống pháp luật hiện hành, phù hợp với yêu cầu chuyển đổi số và tổ chức bộ máy nhà nước, đồng thời kiến nghị các giải pháp nâng cao hiệu quả tổ chức thi hành, qua đó góp phần bảo đảm tốt hơn quyền tiếp cận thông tin của công dân và xây dựng nền hành chính công khai, minh bạch.
Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018) sau hơn 08 năm thi hành đã bộc lộ nhiều bất cập trước sự vận động nhanh chóng của thực tiễn, đặc biệt là sự xuất hiện của các hình thức hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng và các quan hệ tôn giáo có yếu tố nước ngoài ngày càng phức tạp. Vì vậy, việc tăng cường quản lý nhà nước đối với các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng là yêu cầu cấp thiết không chỉ bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân mà còn nhằm giữ vững an ninh, trật tự xã hội và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới.
Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Thẩm quyền ban hành VBQPPL là nội dung trọng tâm nhằm bảo đảm mỗi loại VBQPPL được ban hành bởi đúng cơ quan, đúng cấp, vừa phù hợp với phạm vi pháp lý, vừa hạn chế rủi ro và xung đột giữa các văn bản.
Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Việc ban hành Luật Ban hành VBQPPL số 64/2025/QH15 được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 87/2025/QH15 và các nghị định hướng dẫn thi hành có ý nghĩa đặc biệt trong bối cảnh đổi mới tư duy xây dựng pháp luật, gắn kết chặt chẽ giữa xây dựng và thi hành pháp luật.
Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Bài viết phân tích quy trình xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ của Quốc hội và quy trình xây dựng chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội, từ đó, đưa ra một số lưu ý nhằm nâng cao hiệu quả việc thực hiện hai quy trình này.
Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Tóm tắt: Bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra góp phần bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp cần miễm trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra để bảo vệ lợi ích hợp pháp của các nhà sản xuất kinh doanh. Bài viết nghiên cứu những trường hợp miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023, đồng thời chỉ ra ưu, nhược điểm và hạn chế của Luật, từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Trong bối cảnh nhiều thách thức, đội ngũ luật sư với kiến thức chuyên môn và kỹ năng nghề nghiệp của mình, đóng vai trò then chốt trong việc nâng cao chất lượng, hiệu quả trợ giúp pháp lý.
Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Những năm qua, công tác trợ giúp pháp lý trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận. Nhiều vụ việc được trợ giúp pháp lý kịp thời, góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người nghèo, người có công với cách mạng và các nhóm yếu thế khác.
Ứng dụng công nghệ số, nền tảng trực tuyến, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động trợ giúp pháp lý

Ứng dụng công nghệ số, nền tảng trực tuyến, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động trợ giúp pháp lý

Những nỗ lực số hóa hồ sơ, vận hành Hệ thống quản lý trợ giúp pháp lý, kết nối dữ liệu dân cư, phát triển tư vấn trực tuyến… đã mở ra hướng tiếp cận mới, góp phần nâng cao chất lượng và tính minh bạch của dịch vụ trợ giúp pháp lý.
Tăng cường hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế trong tố tụng hình sự

Tăng cường hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế trong tố tụng hình sự

Trong tiến trình cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, việc bảo đảm quyền con người luôn là sợi chỉ đỏ xuyên suốt, đặc biệt, với đối tượng yếu thế, yêu cầu này càng trở nên cấp thiết và nhân văn. Trong tố tụng hình sự (TTHS), đối tượng yếu thế với tư cách bị hại, người làm chứng hay bị can, bị cáo, đã và đang phải đối mặt với hệ thống tư pháp hình sự. Đối tượng yếu thế có được tiếp cận công lý bình đẳng hay không phụ thuộc vào sự công tâm, chuyên nghiệp và nhạy cảm của các cơ quan trong hoạt động tố tụng, trong đó có vai trò của hoạt động trợ giúp pháp lý.
Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo trong bối cảnh mới

Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo trong bối cảnh mới

Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và thúc đẩy phát triển bền vững, hoạt động trợ giúp pháp lý đóng vai trò quan trọng trong việc bảo đảm công bằng xã hội và tiếp cận công lý cho người dân, đặc biệt là người nghèo thuộc nhóm đối tượng yếu thế.
Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Đây là giải pháp quan trọng nhằm khắc phục khó khăn, vướng mắc, nâng cao chất lượng tổ chức thi hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo.
Ưu điểm, hạn chế và một số vấn đề chính cần rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Ưu điểm, hạn chế và một số vấn đề chính cần rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 đã góp phần quan trọng trong việc bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của cá nhân, tổ chức, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đối với lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo. Tuy nhiên, thực tiễn triển khai Luật cũng bộc lộ những bất cập, hạn chế cần sửa đổi, hoàn thiện nhằm đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới.
Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là một trong những loại tội phạm có diễn biến ngày càng phức tạp, đa dạng và tinh vi. Phương thức thực hiện tội phạm không ngừng biến đổi, đặc biệt là việc sử dụng công nghệ cao để phạm tội, gây thiệt hại lớn đối với tài sản và tâm lý hoang mang cho người dân, ảnh hưởng đến trật tự, an toàn xã hội. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng các quy định của Bộ luật Hình sự về tội này vẫn còn tồn tại một số vướng mắc, bất cập từ chính quy định của pháp luật.

Theo dõi chúng tôi trên: