Thứ tư 13/05/2026 21:07
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Các quy định bảo vệ quyền con người trong Luật Tố cáo năm 2018

Tóm tắt: Bài viết phân tích những điểm tiến bộ của Luật Tố cáo năm 2018 trong việc ghi nhận và bảo vệ quyền con người trong tố cáo.

Tóm tắt: Bài viết phân tích những điểm tiến bộ của Luật Tố cáo năm 2018 trong việc ghi nhận và bảo vệ quyền con người trong tố cáo.

Abstract: The paper analyzes progressive points of the 2018 Denunciation Law in acknowledging and protecting human rights in denunciations.


1. Luật Tố cáo năm 2018 ghi nhận “tố cáo” là quyền con người

Luật Tố cáo năm 2011 được Quốc hội khóa XIII, kỳ họp thứ 2 thông qua ngày 11/11/2011, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2012. Sau 06 năm triển khai thi hành, Luật Tố cáo năm 2011 đã chứng tỏ những giá trị nhất định trong việc đảm bảo quyền tố cáo của công dân, góp phần hoàn thiện khung pháp lý về vấn đề này. Tuy nhiên, trước những đòi hỏi từ thực tiễn, Luật Tố cáo năm 2011 đã bộc lộ những hạn chế cần phải tiếp tục sửa đổi, bổ sung. Do vậy, ngày 12/6/2018, Quốc hội khóa XIV, kỳ họp thứ 5 đã thông qua Luật Tố cáo mới thay thế cho Luật Tố cáo năm 2011. Một trong những điểm mới rất tiến bộ của Luật Tố cáo năm 2018 so với Luật Tố cáo năm 2011 là đã nâng quyền tố cáo từ quyền công dân lên một tầm mới là quyền con người.

Khoản 1 Điều 2 Luật Tố cáo năm 2011 quy định “tố cáo là việc công dân theo thủ tục do Luật này quy định báo cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền biết về hành vi vi phạm pháp luật của bất cứ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức”. Quy định này cho thấy, Luật Tố cáo năm 2011 quy định “tố cáo” là đặc quyền dành riêng cho công dân, tức là những ai mang quốc tịch Việt Nam[1]. Điều này được tái khẳng định qua quy định “người tố cáo là công dân thực hiện quyền tố cáo”[2]. Tuy nhiên, khoản 1 Điều 3 Luật Tố cáo năm 2011 lại quy định “việc tố cáo của cá nhân nước ngoài đang cư trú tại Việt Nam và giải quyết tố cáo hành vi vi phạm pháp luật của cơ quan, tổ chức, cá nhân nước ngoài tại Việt Nam được áp dụng theo quy định của Luật này, trừ trường hợp điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định khác”. Phân tích kỹ quy định này có thể thấy, Luật Tố cáo năm 2011 đã gián tiếp thừa nhận “cá nhân nước ngoài đang cư trú tại Việt Nam” cũng có quyền tố cáo.

Như vậy, tự thân Luật Tố cáo năm 2011 đã mâu thuẫn khi các điều khoản có sự quy định khác nhau về quyền tố cáo. Điều này hoàn toàn không phù hợp với nguyên tắc xây dựng văn bản quy phạm pháp luật được quy định tại Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 đó là “bảo đảm tính hợp hiến, tính hợp pháp và tính thống nhất của văn bản quy phạm pháp luật trong hệ thống pháp luật”[3]. Đồng thời, cách quy định về quyền tố cáo chỉ thuộc về công dân như quy định tại khoản 1, khoản 4 Điều 2 Luật Tố cáo năm 2011 đã vô tình làm giảm ý nghĩa của việc tố cáo bởi mục đích của tố cáo là “báo cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền biết về hành vi vi phạm pháp luật của bất cứ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức” nên không chỉ có công dân mà những cá nhân khác cũng có thể thực hiện quyền này. Bên cạnh đó, việc giới hạn quyền tố cáo chỉ thuộc về công dân Việt Nam trong Luật Tố cáo năm 2011 cũng làm giảm hiệu quả của việc đấu tranh, phòng chống vi phạm pháp luật của các cơ quan, tổ chức, cá nhân bởi người nước ngoài, người không quốc tịch cư trú và làm việc tại Việt Nam dù biết được hành vi vi phạm pháp luật cũng không thể thực hiện việc tố cáo vì không được Luật Tố cáo năm 2011 quy định.

Khắc phục bất cập này, Luật Tố cáo năm 2018 đã thể hiện sự đột phá khi “mạnh dạn” ghi nhận quyền tố cáo không chỉ dành riêng cho công dân mà thuộc về mọi người. Cụ thể, khoản 1 Điều 2 Luật Tố cáo năm 2018 quy định “tố cáo là việc cá nhân theo thủ tục quy định của Luật này báo cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền biết về hành vi vi phạm pháp luật của bất kỳ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân”. Bên cạnh đó, Luật Tố cáo năm 2018 cũng đã mở rộng đối tượng “người tố cáo” so với Luật Tố cáo năm 2011 qua quy định “người tố cáo là cá nhân thực hiện việc tố cáo”[4]. Như vậy, theo quy định của Luật Tố cáo năm 2018 thì “cá nhân” có thể thực hiện quyền tố cáo tại Việt Nam bao gồm công dân Việt Nam, người nước ngoài và người không có quốc tịch[5]. Điều này cho thấy sự đột phá của Luật Tố cáo năm 2018 khi nâng “quyền tố cáo” từ quyền hiến định dành cho công dân Việt Nam lên thành quyền con người. Điểm mới này của Luật Tố cáo năm 2018 cũng là sự cụ thể hóa điểm tiến bộ của Hiến pháp năm 2013 khi ghi nhận quyền tố cáo là quyền con người chứ không chỉ là quyền công dân qua quy định “mọi người có quyền khiếu nại, tố cáo với cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền về những việc làm trái pháp luật của cơ quan, tổ chức, cá nhân”[6].

2. Luật Tố cáo năm 2018 cụ thể hóa quy định về bảo vệ người tố cáo

Một trong những vấn đề rất quan trọng liên quan đến quyền con người được ghi nhận trong Luật Tố cáo năm 2011 và Luật Tố cáo năm 2018 là vấn đề bảo vệ người tố cáo. Luật Tố cáo năm 2011 quy định về bảo vệ người tố cáo tại Chương 5 từ Điều 34 đến Điều 40. Tuy nhiên, các quy định về bảo vệ người tố cáo khó thực hiện, chưa tạo ra cơ chế pháp lý đầy đủ để bảo vệ người tố cáo một cách hiệu quả và thực chất. Do vậy, cần có các quy định pháp luật cụ thể, chi tiết nhằm bảo vệ kịp thời, hiệu quả người tố cáo và người thân thích của người tố cáo. Luật Tố cáo năm 2018 quy định về bảo vệ người tố cáo tại Chương 6 từ Điều 47 đến Điều 58. So với Luật Tố cáo năm 2011 thì Luật Tố cáo năm 2018 đã bổ sung những quy định quan trọng thể hiện sự tiến bộ trong việc bảo vệ người tố cáo, nâng cao hiệu quả bảo vệ người tố cáo trên thực tế, thể hiện qua các điểm sau:

Thứ nhất, Luật Tố cáo năm 2018 đã quy định rõ đối tượng được bảo vệ

Luật Tố cáo năm 2011 quy định đối tượng bảo vệ gồm có: (i) Người tố cáo và (ii) Người thân thích của người tố cáo[7]. Mặc dù có quy định về đối tượng bảo vệ, tuy nhiên, cách quy định của Luật Tố cáo năm 2011 còn chưa cụ thể khi không giải thích rõ “người thân thích của người tố cáo” là những đối tượng nào, từ đó gây ra nhiều khó khăn cho các cơ quan có thẩm quyền trong việc xác định đối tượng được bảo vệ. Khắc phục bất cập này, Luật Tố cáo năm 2018 đã quy định rất rõ các đối tượng được bảo vệ gồm: (i) Người tố cáo và (ii) Vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người tố cáo[8]. Như vậy, có thể thấy rằng, Luật Tố cáo năm 2018 đã giải thích rõ đối tượng “người thân thích của người tố cáo” thuộc đối tượng bảo vệ trong Luật Tố cáo năm 2011 gồm “vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người tố cáo”. Quy định cụ thể và rõ ràng như vậy sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho các cơ quan có thẩm quyền trong việc xác định đối tượng bảo vệ cũng như triển khai các biện pháp bảo vệ phù hợp.

Thứ hai, Luật Tố cáo năm 2018 đã quy định rõ cơ quan có thẩm quyền áp dụng biện pháp bảo vệ

Một trong những “thiếu sót” của Luật Tố cáo năm 2011 là không quy định cụ thể cơ quan có thẩm quyền áp dụng các biện pháp bảo vệ, dẫn đến người được bảo vệ không xác định được cơ quan có thẩm quyền bảo vệ để đề nghị thực hiện việc bảo vệ, đồng thời cơ quan có thẩm quyền bảo vệ cũng không xác định được đối tượng và phạm vi bảo vệ của mình, từ đó làm giảm hiệu quả của việc bảo vệ. Để khắc phục điều này, Luật Tố cáo năm 2018 đã bổ sung quy định về các cơ quan có thẩm quyền áp dụng biện pháp bảo vệ để xác định rõ chủ thể có thẩm quyền cũng như phạm vi bảo vệ của từng chủ thể đó (Điều 49 Luật Tố cáo năm 2018).

Thứ ba, Luật Tố cáo năm 2018 quy định cụ thể trình tự, thủ tục bảo vệ

Để việc triển khai thực hiện các biện pháp bảo vệ được thống nhất, Luật Tố cáo năm 2018 đã bổ sung các quy định về trình tự, thủ tục bảo vệ (các điều 50, 51 và 52). Đây là quy định mới so với Luật Tố cáo năm 2011 khi đạo luật này không có quy định về trình tự, thủ tục yêu cầu cũng như triển khai thực hiện các biện pháp bảo vệ.

Thứ tư, Luật Tố cáo năm 2018 quy định chi tiết các biện pháp bảo vệ

Luật Tố cáo năm 2011 quy định các biện pháp bảo vệ người tố cáo và người thân thích của họ gồm: Bảo vệ bí mật thông tin về người tố cáo; bảo vệ người tố cáo tại nơi công tác, làm việc; bảo vệ người tố cáo tại nơi cư trú và bảo vệ tính mạng, sức khỏe, tài sản, danh dự, nhân phẩm, uy tín của người tố cáo[9]. Luật Tố cáo năm 2018 tiếp tục kế thừa quy định về 03 biện pháp[10] bảo vệ đối với đối tượng được bảo vệ trong Luật Tố cáo năm 2011, đồng thời có sự bổ sung các giải pháp bảo vệ trong từng biện pháp, cụ thể:

Đối với biện pháp bảo vệ bí mật thông tin: Luật Tố cáo năm 2018 bổ sung nội dung: (i) Lược bỏ họ tên, địa chỉ, bút tích, các thông tin cá nhân khác của người tố cáo ra khỏi đơn tố cáo và các tài liệu, chứng cứ kèm theo để quản lý theo chế độ mật khi giao cơ quan, tổ chức, cá nhân xác minh nội dung tố cáo; (ii) Bố trí thời gian, địa điểm, lựa chọn phương thức làm việc phù hợp để bảo vệ bí mật thông tin cho người tố cáo khi làm việc trực tiếp với người bị tố cáo, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan[11].

Đối với biện pháp bảo vệ vị trí công tác, việc làm: Luật Tố cáo năm 2018 đã có sự tách bạch các biện pháp bảo vệ vị trí công tác, việc làm của 02 nhóm đối tượng: (i) Người được bảo vệ là cán bộ, công chức, viên chức và (ii) Người được bảo vệ là người làm việc theo hợp đồng lao động. Trong đó, các biện pháp bảo vệ đối với người được bảo vệ là cán bộ, công chức, viên chức kế thừa các biện pháp bảo vệ vị trí công tác, việc làm tại Luật Tố cáo năm 2011[12]. Đồng thời, Luật Tố cáo năm 2018 đã bổ sung các biện pháp bảo vệ vị trí công tác, việc làm đối với người được bảo vệ là người làm việc theo hợp đồng lao động gồm các biện pháp: (i) Yêu cầu người sử dụng lao động chấm dứt hành vi vi phạm; khôi phục vị trí việc làm, các khoản thu nhập và lợi ích hợp pháp khác từ việc làm cho người được bảo vệ; (ii) Xử lý theo thẩm quyền hoặc kiến nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xử lý hành vi vi phạm theo quy định của pháp luật[13].

Đối với biện pháp bảo vệ tính mạng, sức khỏe, tài sản, danh dự, nhân phẩm: Luật Tố cáo năm 2018 bổ sung các giải pháp mới gồm: (i) Đưa người được bảo vệ đến nơi an toàn và (ii) Yêu cầu người có hành vi xâm hại hoặc đe dọa xâm hại đến tính mạng, sức khỏe, tài sản, danh dự, nhân phẩm của người được bảo vệ chấm dứt hành vi vi phạm[14].

3. Luật Tố cáo năm 2018 có những quy định bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người bị tố cáo

Bên cạnh quy định vấn đề bảo vệ người tố cáo và người thân thích của họ, Luật Tố cáo năm 2018 còn thể hiện tính nhân văn qua việc kế thừa và bổ sung các quy định mới nhằm bảo về quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tố cáo.

Thứ nhất, Luật Tố cáo năm 2018 tiếp tục kế thừa Luật Tố cáo năm 2011 khi quy định nguyên tắc giải quyết tố cáo “việc giải quyết tố cáo phải bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tố cáo trong quá trình giải quyết tố cáo”[15]. Người bị tố cáo là cơ quan, tổ chức, cá nhân có hành vi bị tố cáo, tức là có hành vi vi phạm pháp luật trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ hoặc có hành vi vi phạm pháp luật về quản lý nhà nước trong các lĩnh vực. Mặc dù người bị tố cáo có thể là người có hành vi vi phạm pháp luật và có thể bị áp dụng các chế tài pháp lý tương ứng sau khi có kết luận giải quyết tố cáo, tuy nhiên, người bị tố cáo vẫn được pháp luật bảo đảm các quyền và lợi ích hợp pháp của họ qua việc quy định nguyên tắc nói trên. Đồng thời, quy định cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền khi tiếp nhận, giải quyết tố cáo có trách nhiệm bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tố cáo khi chưa có kết luận nội dung tố cáo của người giải quyết tố cáo[16]. Bên cạnh đó, người bị tố cáo còn được Luật Tố cáo năm 2018 quy định rất nhiều quyền trong quá trình giải quyết tố cáo[17]. Điều này thể hiện tính nhân văn và tư tưởng bảo vệ quyền con người của Luật Tố cáo năm 2018.

Thứ hai, Luật Tố cáo năm 2018 quy định một nội dung mới so với Luật Tố cáo năm 2011 đó là quy định về rút tố cáo. Theo đó, người tố cáo có quyền rút toàn bộ nội dung tố cáo hoặc một phần nội dung tố cáo trước khi người giải quyết tố cáo ra kết luận nội dung tố cáo. Việc rút tố cáo phải được thực hiện bằng văn bản. Trường hợp người tố cáo rút một phần nội dung tố cáo thì phần còn lại được tiếp tục giải quyết theo quy định của Luật này; trường hợp người tố cáo rút toàn bộ nội dung tố cáo thì người giải quyết tố cáo ra quyết định đình chỉ việc giải quyết tố cáo. Trường hợp nhiều người cùng tố cáo mà có một hoặc một số người tố cáo rút tố cáo thì tố cáo vẫn tiếp tục được giải quyết theo quy định. Trường hợp người tố cáo rút tố cáo mà người giải quyết tố cáo xét thấy hành vi bị tố cáo có dấu hiệu vi phạm pháp luật hoặc có căn cứ xác định việc rút tố cáo do bị đe dọa, mua chuộc hoặc người tố cáo lợi dụng việc tố cáo để vu khống, xúc phạm, gây thiệt hại cho người bị tố cáo thì vụ việc tố cáo vẫn phải được giải quyết. Đồng thời, để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tố cáo, Luật Tố cáo năm 2018 quy định người tố cáo rút tố cáo nhưng có căn cứ xác định người tố cáo lợi dụng việc tố cáo để vu khống, xúc phạm, gây thiệt hại cho người bị tố cáo thì vẫn phải chịu trách nhiệm về hành vi tố cáo của mình, nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật[18].

Thứ ba, khi xử lý kết luận nội dung tố cáo của người giải quyết tố cáo, Luật Tố cáo năm 2018 quy định trường hợp kết luận người bị tố cáo không vi phạm pháp luật trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ thì khôi phục quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tố cáo bị xâm phạm do việc tố cáo không đúng sự thật gây ra; xử lý theo thẩm quyền hoặc kiến nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xử lý người cố ý tố cáo sai sự thật.

4. Kết luận

Việc ghi nhận quyền tố cáo dưới góc độ quyền con người là một điểm tiến bộ vượt bậc của Luật Tố cáo năm 2018, thể hiện sự phát triển và hội nhập trong tư duy lập pháp của các nhà làm luật. Qua những nội dung đã phân tích, có thể thấy, Luật Tố cáo năm 2018 đã xây dựng được khung pháp lý khá đầy đủ trong việc ghi nhận và bảo vệ quyền con người trong tố cáo, thực hiện mục tiêu phát hiện, ngăn chặn và xử lý kịp thời các hành vi vi phạm pháp luật của các cơ quan, tổ chức, cá nhân; đồng thời, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các cá nhân, tổ chức có liên quan đến việc tố cáo và giải quyết tố cáo.

ThS. Nguyễn Nhật Khanh

Nguyễn Thị Kim Duyên

Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh









[1]. Điều 17 Hiến pháp năm 2013 quy định: “Công dân nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là người có quốc tịch Việt Nam”.

[2]. Khoản 4 Điều 2 Luật Tố cáo năm 2011.

[3]. Khoản 1 Điều 5 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015.

[4]. Khoản 4 Điều 2 Luật Tố cáo năm 2018.

[5]. Theo Điều 3 Luật Quốc tịch năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014) thì “quốc tịch nước ngoài là quốc tịch của một nước khác không phải là quốc tịch Việt Nam”, còn “người không quốc tịch là người không có quốc tịch Việt Nam và cũng không có quốc tịch nước ngoài”.

[6]. Khoản 1 Điều 30 Hiến pháp năm 2013.

[7]. Khoản 2 Điều 34 Luật Tố cáo năm 2011.

[8]. Khoản 1 Điều 47 Luật Tố cáo năm 2018.

[9]. Điều 36 đến Điều 39 Luật Tố cáo năm 2011.

[10]. Luật Tố cáo năm 2018 bỏ quy định về biện pháp bảo vệ tại nơi cư trú theo Điều 38 Luật Tố cáo năm 2011.

[11]. Khoản 2, 3 Điều 56 Luật Tố cáo năm 2018.

[12]. Khoản 4 Điều 37 Luật Tố cáo năm 2011, khoản 1 Điều 57 Luật Tố cáo năm 2018.

[13]. Khoản 2 Điều 57 Luật Tố cáo năm 2018.

[14]. Khoản 1, 4 Điều 58 Luật Tố cáo năm 2018.

[15]. Khoản 2 Điều 4 Luật Tố cáo năm 2018.

[16]. Điểm b khoản 1 Điều 5 Luật Tố cáo năm 2018.

[17]. Khoản 1 Điều 10 Luật Tố cáo năm 2018.

[18]. Điều 33 Luật Tố cáo năm 2018.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định và tổ chức thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Kiến nghị hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định và tổ chức thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 là đạo luật quan trọng nhằm cụ thể hóa quyền tiếp cận thông tin của công dân theo Hiến pháp năm 2013[*], góp phần nâng cao tính công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Sau 08 năm thi hành, bên cạnh những kết quả đạt được, thực tiễn cho thấy còn bộc lộ một số hạn chế, bất cập trong quy định pháp luật và tổ chức thi hành, đặc biệt, liên quan đến phạm vi thông tin, trách nhiệm cung cấp thông tin, trình tự, thủ tục và điều kiện bảo đảm thực hiện quyền. Trên cơ sở nhận diện các vướng mắc, bất cập, nghiên cứu đề xuất định hướng sửa đổi, bổ sung Luật theo hướng bảo đảm tính đồng bộ với hệ thống pháp luật hiện hành, phù hợp với yêu cầu chuyển đổi số và tổ chức bộ máy nhà nước, đồng thời kiến nghị các giải pháp nâng cao hiệu quả tổ chức thi hành, qua đó góp phần bảo đảm tốt hơn quyền tiếp cận thông tin của công dân và xây dựng nền hành chính công khai, minh bạch.
Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018) sau hơn 08 năm thi hành đã bộc lộ nhiều bất cập trước sự vận động nhanh chóng của thực tiễn, đặc biệt là sự xuất hiện của các hình thức hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng và các quan hệ tôn giáo có yếu tố nước ngoài ngày càng phức tạp. Vì vậy, việc tăng cường quản lý nhà nước đối với các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng là yêu cầu cấp thiết không chỉ bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân mà còn nhằm giữ vững an ninh, trật tự xã hội và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới.
Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Thẩm quyền ban hành VBQPPL là nội dung trọng tâm nhằm bảo đảm mỗi loại VBQPPL được ban hành bởi đúng cơ quan, đúng cấp, vừa phù hợp với phạm vi pháp lý, vừa hạn chế rủi ro và xung đột giữa các văn bản.
Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Việc ban hành Luật Ban hành VBQPPL số 64/2025/QH15 được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 87/2025/QH15 và các nghị định hướng dẫn thi hành có ý nghĩa đặc biệt trong bối cảnh đổi mới tư duy xây dựng pháp luật, gắn kết chặt chẽ giữa xây dựng và thi hành pháp luật.
Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Bài viết phân tích quy trình xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ của Quốc hội và quy trình xây dựng chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội, từ đó, đưa ra một số lưu ý nhằm nâng cao hiệu quả việc thực hiện hai quy trình này.
Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Tóm tắt: Bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra góp phần bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp cần miễm trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra để bảo vệ lợi ích hợp pháp của các nhà sản xuất kinh doanh. Bài viết nghiên cứu những trường hợp miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023, đồng thời chỉ ra ưu, nhược điểm và hạn chế của Luật, từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Trong bối cảnh nhiều thách thức, đội ngũ luật sư với kiến thức chuyên môn và kỹ năng nghề nghiệp của mình, đóng vai trò then chốt trong việc nâng cao chất lượng, hiệu quả trợ giúp pháp lý.
Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Những năm qua, công tác trợ giúp pháp lý trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận. Nhiều vụ việc được trợ giúp pháp lý kịp thời, góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người nghèo, người có công với cách mạng và các nhóm yếu thế khác.
Ứng dụng công nghệ số, nền tảng trực tuyến, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động trợ giúp pháp lý

Ứng dụng công nghệ số, nền tảng trực tuyến, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động trợ giúp pháp lý

Những nỗ lực số hóa hồ sơ, vận hành Hệ thống quản lý trợ giúp pháp lý, kết nối dữ liệu dân cư, phát triển tư vấn trực tuyến… đã mở ra hướng tiếp cận mới, góp phần nâng cao chất lượng và tính minh bạch của dịch vụ trợ giúp pháp lý.
Tăng cường hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế trong tố tụng hình sự

Tăng cường hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế trong tố tụng hình sự

Trong tiến trình cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, việc bảo đảm quyền con người luôn là sợi chỉ đỏ xuyên suốt, đặc biệt, với đối tượng yếu thế, yêu cầu này càng trở nên cấp thiết và nhân văn. Trong tố tụng hình sự (TTHS), đối tượng yếu thế với tư cách bị hại, người làm chứng hay bị can, bị cáo, đã và đang phải đối mặt với hệ thống tư pháp hình sự. Đối tượng yếu thế có được tiếp cận công lý bình đẳng hay không phụ thuộc vào sự công tâm, chuyên nghiệp và nhạy cảm của các cơ quan trong hoạt động tố tụng, trong đó có vai trò của hoạt động trợ giúp pháp lý.
Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo trong bối cảnh mới

Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo trong bối cảnh mới

Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và thúc đẩy phát triển bền vững, hoạt động trợ giúp pháp lý đóng vai trò quan trọng trong việc bảo đảm công bằng xã hội và tiếp cận công lý cho người dân, đặc biệt là người nghèo thuộc nhóm đối tượng yếu thế.
Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Đây là giải pháp quan trọng nhằm khắc phục khó khăn, vướng mắc, nâng cao chất lượng tổ chức thi hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo.
Ưu điểm, hạn chế và một số vấn đề chính cần rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Ưu điểm, hạn chế và một số vấn đề chính cần rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 đã góp phần quan trọng trong việc bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của cá nhân, tổ chức, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đối với lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo. Tuy nhiên, thực tiễn triển khai Luật cũng bộc lộ những bất cập, hạn chế cần sửa đổi, hoàn thiện nhằm đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới.
Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là một trong những loại tội phạm có diễn biến ngày càng phức tạp, đa dạng và tinh vi. Phương thức thực hiện tội phạm không ngừng biến đổi, đặc biệt là việc sử dụng công nghệ cao để phạm tội, gây thiệt hại lớn đối với tài sản và tâm lý hoang mang cho người dân, ảnh hưởng đến trật tự, an toàn xã hội. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng các quy định của Bộ luật Hình sự về tội này vẫn còn tồn tại một số vướng mắc, bất cập từ chính quy định của pháp luật.
Xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Bài viết làm rõ sự cần thiết của việc xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên bứt phá, phát triển mới của dân tộc, theo tinh thần Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Đại hội XIV).

Theo dõi chúng tôi trên: