Thứ ba 25/08/2026 17:57
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Các quy định bảo vệ quyền con người trong Luật Tố cáo năm 2018

Tóm tắt: Bài viết phân tích những điểm tiến bộ của Luật Tố cáo năm 2018 trong việc ghi nhận và bảo vệ quyền con người trong tố cáo.

Tóm tắt: Bài viết phân tích những điểm tiến bộ của Luật Tố cáo năm 2018 trong việc ghi nhận và bảo vệ quyền con người trong tố cáo.

Abstract: The paper analyzes progressive points of the 2018 Denunciation Law in acknowledging and protecting human rights in denunciations.


1. Luật Tố cáo năm 2018 ghi nhận “tố cáo” là quyền con người

Luật Tố cáo năm 2011 được Quốc hội khóa XIII, kỳ họp thứ 2 thông qua ngày 11/11/2011, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2012. Sau 06 năm triển khai thi hành, Luật Tố cáo năm 2011 đã chứng tỏ những giá trị nhất định trong việc đảm bảo quyền tố cáo của công dân, góp phần hoàn thiện khung pháp lý về vấn đề này. Tuy nhiên, trước những đòi hỏi từ thực tiễn, Luật Tố cáo năm 2011 đã bộc lộ những hạn chế cần phải tiếp tục sửa đổi, bổ sung. Do vậy, ngày 12/6/2018, Quốc hội khóa XIV, kỳ họp thứ 5 đã thông qua Luật Tố cáo mới thay thế cho Luật Tố cáo năm 2011. Một trong những điểm mới rất tiến bộ của Luật Tố cáo năm 2018 so với Luật Tố cáo năm 2011 là đã nâng quyền tố cáo từ quyền công dân lên một tầm mới là quyền con người.

Khoản 1 Điều 2 Luật Tố cáo năm 2011 quy định “tố cáo là việc công dân theo thủ tục do Luật này quy định báo cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền biết về hành vi vi phạm pháp luật của bất cứ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức”. Quy định này cho thấy, Luật Tố cáo năm 2011 quy định “tố cáo” là đặc quyền dành riêng cho công dân, tức là những ai mang quốc tịch Việt Nam[1]. Điều này được tái khẳng định qua quy định “người tố cáo là công dân thực hiện quyền tố cáo”[2]. Tuy nhiên, khoản 1 Điều 3 Luật Tố cáo năm 2011 lại quy định “việc tố cáo của cá nhân nước ngoài đang cư trú tại Việt Nam và giải quyết tố cáo hành vi vi phạm pháp luật của cơ quan, tổ chức, cá nhân nước ngoài tại Việt Nam được áp dụng theo quy định của Luật này, trừ trường hợp điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định khác”. Phân tích kỹ quy định này có thể thấy, Luật Tố cáo năm 2011 đã gián tiếp thừa nhận “cá nhân nước ngoài đang cư trú tại Việt Nam” cũng có quyền tố cáo.

Như vậy, tự thân Luật Tố cáo năm 2011 đã mâu thuẫn khi các điều khoản có sự quy định khác nhau về quyền tố cáo. Điều này hoàn toàn không phù hợp với nguyên tắc xây dựng văn bản quy phạm pháp luật được quy định tại Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 đó là “bảo đảm tính hợp hiến, tính hợp pháp và tính thống nhất của văn bản quy phạm pháp luật trong hệ thống pháp luật”[3]. Đồng thời, cách quy định về quyền tố cáo chỉ thuộc về công dân như quy định tại khoản 1, khoản 4 Điều 2 Luật Tố cáo năm 2011 đã vô tình làm giảm ý nghĩa của việc tố cáo bởi mục đích của tố cáo là “báo cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền biết về hành vi vi phạm pháp luật của bất cứ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức” nên không chỉ có công dân mà những cá nhân khác cũng có thể thực hiện quyền này. Bên cạnh đó, việc giới hạn quyền tố cáo chỉ thuộc về công dân Việt Nam trong Luật Tố cáo năm 2011 cũng làm giảm hiệu quả của việc đấu tranh, phòng chống vi phạm pháp luật của các cơ quan, tổ chức, cá nhân bởi người nước ngoài, người không quốc tịch cư trú và làm việc tại Việt Nam dù biết được hành vi vi phạm pháp luật cũng không thể thực hiện việc tố cáo vì không được Luật Tố cáo năm 2011 quy định.

Khắc phục bất cập này, Luật Tố cáo năm 2018 đã thể hiện sự đột phá khi “mạnh dạn” ghi nhận quyền tố cáo không chỉ dành riêng cho công dân mà thuộc về mọi người. Cụ thể, khoản 1 Điều 2 Luật Tố cáo năm 2018 quy định “tố cáo là việc cá nhân theo thủ tục quy định của Luật này báo cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền biết về hành vi vi phạm pháp luật của bất kỳ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân”. Bên cạnh đó, Luật Tố cáo năm 2018 cũng đã mở rộng đối tượng “người tố cáo” so với Luật Tố cáo năm 2011 qua quy định “người tố cáo là cá nhân thực hiện việc tố cáo”[4]. Như vậy, theo quy định của Luật Tố cáo năm 2018 thì “cá nhân” có thể thực hiện quyền tố cáo tại Việt Nam bao gồm công dân Việt Nam, người nước ngoài và người không có quốc tịch[5]. Điều này cho thấy sự đột phá của Luật Tố cáo năm 2018 khi nâng “quyền tố cáo” từ quyền hiến định dành cho công dân Việt Nam lên thành quyền con người. Điểm mới này của Luật Tố cáo năm 2018 cũng là sự cụ thể hóa điểm tiến bộ của Hiến pháp năm 2013 khi ghi nhận quyền tố cáo là quyền con người chứ không chỉ là quyền công dân qua quy định “mọi người có quyền khiếu nại, tố cáo với cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền về những việc làm trái pháp luật của cơ quan, tổ chức, cá nhân”[6].

2. Luật Tố cáo năm 2018 cụ thể hóa quy định về bảo vệ người tố cáo

Một trong những vấn đề rất quan trọng liên quan đến quyền con người được ghi nhận trong Luật Tố cáo năm 2011 và Luật Tố cáo năm 2018 là vấn đề bảo vệ người tố cáo. Luật Tố cáo năm 2011 quy định về bảo vệ người tố cáo tại Chương 5 từ Điều 34 đến Điều 40. Tuy nhiên, các quy định về bảo vệ người tố cáo khó thực hiện, chưa tạo ra cơ chế pháp lý đầy đủ để bảo vệ người tố cáo một cách hiệu quả và thực chất. Do vậy, cần có các quy định pháp luật cụ thể, chi tiết nhằm bảo vệ kịp thời, hiệu quả người tố cáo và người thân thích của người tố cáo. Luật Tố cáo năm 2018 quy định về bảo vệ người tố cáo tại Chương 6 từ Điều 47 đến Điều 58. So với Luật Tố cáo năm 2011 thì Luật Tố cáo năm 2018 đã bổ sung những quy định quan trọng thể hiện sự tiến bộ trong việc bảo vệ người tố cáo, nâng cao hiệu quả bảo vệ người tố cáo trên thực tế, thể hiện qua các điểm sau:

Thứ nhất, Luật Tố cáo năm 2018 đã quy định rõ đối tượng được bảo vệ

Luật Tố cáo năm 2011 quy định đối tượng bảo vệ gồm có: (i) Người tố cáo và (ii) Người thân thích của người tố cáo[7]. Mặc dù có quy định về đối tượng bảo vệ, tuy nhiên, cách quy định của Luật Tố cáo năm 2011 còn chưa cụ thể khi không giải thích rõ “người thân thích của người tố cáo” là những đối tượng nào, từ đó gây ra nhiều khó khăn cho các cơ quan có thẩm quyền trong việc xác định đối tượng được bảo vệ. Khắc phục bất cập này, Luật Tố cáo năm 2018 đã quy định rất rõ các đối tượng được bảo vệ gồm: (i) Người tố cáo và (ii) Vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người tố cáo[8]. Như vậy, có thể thấy rằng, Luật Tố cáo năm 2018 đã giải thích rõ đối tượng “người thân thích của người tố cáo” thuộc đối tượng bảo vệ trong Luật Tố cáo năm 2011 gồm “vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người tố cáo”. Quy định cụ thể và rõ ràng như vậy sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho các cơ quan có thẩm quyền trong việc xác định đối tượng bảo vệ cũng như triển khai các biện pháp bảo vệ phù hợp.

Thứ hai, Luật Tố cáo năm 2018 đã quy định rõ cơ quan có thẩm quyền áp dụng biện pháp bảo vệ

Một trong những “thiếu sót” của Luật Tố cáo năm 2011 là không quy định cụ thể cơ quan có thẩm quyền áp dụng các biện pháp bảo vệ, dẫn đến người được bảo vệ không xác định được cơ quan có thẩm quyền bảo vệ để đề nghị thực hiện việc bảo vệ, đồng thời cơ quan có thẩm quyền bảo vệ cũng không xác định được đối tượng và phạm vi bảo vệ của mình, từ đó làm giảm hiệu quả của việc bảo vệ. Để khắc phục điều này, Luật Tố cáo năm 2018 đã bổ sung quy định về các cơ quan có thẩm quyền áp dụng biện pháp bảo vệ để xác định rõ chủ thể có thẩm quyền cũng như phạm vi bảo vệ của từng chủ thể đó (Điều 49 Luật Tố cáo năm 2018).

Thứ ba, Luật Tố cáo năm 2018 quy định cụ thể trình tự, thủ tục bảo vệ

Để việc triển khai thực hiện các biện pháp bảo vệ được thống nhất, Luật Tố cáo năm 2018 đã bổ sung các quy định về trình tự, thủ tục bảo vệ (các điều 50, 51 và 52). Đây là quy định mới so với Luật Tố cáo năm 2011 khi đạo luật này không có quy định về trình tự, thủ tục yêu cầu cũng như triển khai thực hiện các biện pháp bảo vệ.

Thứ tư, Luật Tố cáo năm 2018 quy định chi tiết các biện pháp bảo vệ

Luật Tố cáo năm 2011 quy định các biện pháp bảo vệ người tố cáo và người thân thích của họ gồm: Bảo vệ bí mật thông tin về người tố cáo; bảo vệ người tố cáo tại nơi công tác, làm việc; bảo vệ người tố cáo tại nơi cư trú và bảo vệ tính mạng, sức khỏe, tài sản, danh dự, nhân phẩm, uy tín của người tố cáo[9]. Luật Tố cáo năm 2018 tiếp tục kế thừa quy định về 03 biện pháp[10] bảo vệ đối với đối tượng được bảo vệ trong Luật Tố cáo năm 2011, đồng thời có sự bổ sung các giải pháp bảo vệ trong từng biện pháp, cụ thể:

Đối với biện pháp bảo vệ bí mật thông tin: Luật Tố cáo năm 2018 bổ sung nội dung: (i) Lược bỏ họ tên, địa chỉ, bút tích, các thông tin cá nhân khác của người tố cáo ra khỏi đơn tố cáo và các tài liệu, chứng cứ kèm theo để quản lý theo chế độ mật khi giao cơ quan, tổ chức, cá nhân xác minh nội dung tố cáo; (ii) Bố trí thời gian, địa điểm, lựa chọn phương thức làm việc phù hợp để bảo vệ bí mật thông tin cho người tố cáo khi làm việc trực tiếp với người bị tố cáo, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan[11].

Đối với biện pháp bảo vệ vị trí công tác, việc làm: Luật Tố cáo năm 2018 đã có sự tách bạch các biện pháp bảo vệ vị trí công tác, việc làm của 02 nhóm đối tượng: (i) Người được bảo vệ là cán bộ, công chức, viên chức và (ii) Người được bảo vệ là người làm việc theo hợp đồng lao động. Trong đó, các biện pháp bảo vệ đối với người được bảo vệ là cán bộ, công chức, viên chức kế thừa các biện pháp bảo vệ vị trí công tác, việc làm tại Luật Tố cáo năm 2011[12]. Đồng thời, Luật Tố cáo năm 2018 đã bổ sung các biện pháp bảo vệ vị trí công tác, việc làm đối với người được bảo vệ là người làm việc theo hợp đồng lao động gồm các biện pháp: (i) Yêu cầu người sử dụng lao động chấm dứt hành vi vi phạm; khôi phục vị trí việc làm, các khoản thu nhập và lợi ích hợp pháp khác từ việc làm cho người được bảo vệ; (ii) Xử lý theo thẩm quyền hoặc kiến nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xử lý hành vi vi phạm theo quy định của pháp luật[13].

Đối với biện pháp bảo vệ tính mạng, sức khỏe, tài sản, danh dự, nhân phẩm: Luật Tố cáo năm 2018 bổ sung các giải pháp mới gồm: (i) Đưa người được bảo vệ đến nơi an toàn và (ii) Yêu cầu người có hành vi xâm hại hoặc đe dọa xâm hại đến tính mạng, sức khỏe, tài sản, danh dự, nhân phẩm của người được bảo vệ chấm dứt hành vi vi phạm[14].

3. Luật Tố cáo năm 2018 có những quy định bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người bị tố cáo

Bên cạnh quy định vấn đề bảo vệ người tố cáo và người thân thích của họ, Luật Tố cáo năm 2018 còn thể hiện tính nhân văn qua việc kế thừa và bổ sung các quy định mới nhằm bảo về quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tố cáo.

Thứ nhất, Luật Tố cáo năm 2018 tiếp tục kế thừa Luật Tố cáo năm 2011 khi quy định nguyên tắc giải quyết tố cáo “việc giải quyết tố cáo phải bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tố cáo trong quá trình giải quyết tố cáo”[15]. Người bị tố cáo là cơ quan, tổ chức, cá nhân có hành vi bị tố cáo, tức là có hành vi vi phạm pháp luật trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ hoặc có hành vi vi phạm pháp luật về quản lý nhà nước trong các lĩnh vực. Mặc dù người bị tố cáo có thể là người có hành vi vi phạm pháp luật và có thể bị áp dụng các chế tài pháp lý tương ứng sau khi có kết luận giải quyết tố cáo, tuy nhiên, người bị tố cáo vẫn được pháp luật bảo đảm các quyền và lợi ích hợp pháp của họ qua việc quy định nguyên tắc nói trên. Đồng thời, quy định cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền khi tiếp nhận, giải quyết tố cáo có trách nhiệm bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tố cáo khi chưa có kết luận nội dung tố cáo của người giải quyết tố cáo[16]. Bên cạnh đó, người bị tố cáo còn được Luật Tố cáo năm 2018 quy định rất nhiều quyền trong quá trình giải quyết tố cáo[17]. Điều này thể hiện tính nhân văn và tư tưởng bảo vệ quyền con người của Luật Tố cáo năm 2018.

Thứ hai, Luật Tố cáo năm 2018 quy định một nội dung mới so với Luật Tố cáo năm 2011 đó là quy định về rút tố cáo. Theo đó, người tố cáo có quyền rút toàn bộ nội dung tố cáo hoặc một phần nội dung tố cáo trước khi người giải quyết tố cáo ra kết luận nội dung tố cáo. Việc rút tố cáo phải được thực hiện bằng văn bản. Trường hợp người tố cáo rút một phần nội dung tố cáo thì phần còn lại được tiếp tục giải quyết theo quy định của Luật này; trường hợp người tố cáo rút toàn bộ nội dung tố cáo thì người giải quyết tố cáo ra quyết định đình chỉ việc giải quyết tố cáo. Trường hợp nhiều người cùng tố cáo mà có một hoặc một số người tố cáo rút tố cáo thì tố cáo vẫn tiếp tục được giải quyết theo quy định. Trường hợp người tố cáo rút tố cáo mà người giải quyết tố cáo xét thấy hành vi bị tố cáo có dấu hiệu vi phạm pháp luật hoặc có căn cứ xác định việc rút tố cáo do bị đe dọa, mua chuộc hoặc người tố cáo lợi dụng việc tố cáo để vu khống, xúc phạm, gây thiệt hại cho người bị tố cáo thì vụ việc tố cáo vẫn phải được giải quyết. Đồng thời, để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tố cáo, Luật Tố cáo năm 2018 quy định người tố cáo rút tố cáo nhưng có căn cứ xác định người tố cáo lợi dụng việc tố cáo để vu khống, xúc phạm, gây thiệt hại cho người bị tố cáo thì vẫn phải chịu trách nhiệm về hành vi tố cáo của mình, nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật[18].

Thứ ba, khi xử lý kết luận nội dung tố cáo của người giải quyết tố cáo, Luật Tố cáo năm 2018 quy định trường hợp kết luận người bị tố cáo không vi phạm pháp luật trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ thì khôi phục quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tố cáo bị xâm phạm do việc tố cáo không đúng sự thật gây ra; xử lý theo thẩm quyền hoặc kiến nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xử lý người cố ý tố cáo sai sự thật.

4. Kết luận

Việc ghi nhận quyền tố cáo dưới góc độ quyền con người là một điểm tiến bộ vượt bậc của Luật Tố cáo năm 2018, thể hiện sự phát triển và hội nhập trong tư duy lập pháp của các nhà làm luật. Qua những nội dung đã phân tích, có thể thấy, Luật Tố cáo năm 2018 đã xây dựng được khung pháp lý khá đầy đủ trong việc ghi nhận và bảo vệ quyền con người trong tố cáo, thực hiện mục tiêu phát hiện, ngăn chặn và xử lý kịp thời các hành vi vi phạm pháp luật của các cơ quan, tổ chức, cá nhân; đồng thời, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các cá nhân, tổ chức có liên quan đến việc tố cáo và giải quyết tố cáo.

ThS. Nguyễn Nhật Khanh

Nguyễn Thị Kim Duyên

Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh









[1]. Điều 17 Hiến pháp năm 2013 quy định: “Công dân nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là người có quốc tịch Việt Nam”.

[2]. Khoản 4 Điều 2 Luật Tố cáo năm 2011.

[3]. Khoản 1 Điều 5 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015.

[4]. Khoản 4 Điều 2 Luật Tố cáo năm 2018.

[5]. Theo Điều 3 Luật Quốc tịch năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014) thì “quốc tịch nước ngoài là quốc tịch của một nước khác không phải là quốc tịch Việt Nam”, còn “người không quốc tịch là người không có quốc tịch Việt Nam và cũng không có quốc tịch nước ngoài”.

[6]. Khoản 1 Điều 30 Hiến pháp năm 2013.

[7]. Khoản 2 Điều 34 Luật Tố cáo năm 2011.

[8]. Khoản 1 Điều 47 Luật Tố cáo năm 2018.

[9]. Điều 36 đến Điều 39 Luật Tố cáo năm 2011.

[10]. Luật Tố cáo năm 2018 bỏ quy định về biện pháp bảo vệ tại nơi cư trú theo Điều 38 Luật Tố cáo năm 2011.

[11]. Khoản 2, 3 Điều 56 Luật Tố cáo năm 2018.

[12]. Khoản 4 Điều 37 Luật Tố cáo năm 2011, khoản 1 Điều 57 Luật Tố cáo năm 2018.

[13]. Khoản 2 Điều 57 Luật Tố cáo năm 2018.

[14]. Khoản 1, 4 Điều 58 Luật Tố cáo năm 2018.

[15]. Khoản 2 Điều 4 Luật Tố cáo năm 2018.

[16]. Điểm b khoản 1 Điều 5 Luật Tố cáo năm 2018.

[17]. Khoản 1 Điều 10 Luật Tố cáo năm 2018.

[18]. Điều 33 Luật Tố cáo năm 2018.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Trong bối cảnh tai nạn lao động vẫn diễn biến phức tạp, chuyển đổi số đang mở ra khả năng thay đổi căn bản phương thức quản trị an toàn, vệ sinh lao động (ATVSLĐ) tại doanh nghiệp. Từ số hóa hoạt động huấn luyện, cấp chứng nhận điện tử đến ứng dụng trí tuệ nhân tạo, cảm biến và robot để nhận diện, cảnh báo sớm nguy cơ, vấn đề đặt ra hiện nay là cần tiếp tục hoàn thiện hành lang pháp lý để chuyển từ quản lý mang tính thủ tục, hậu kiểm sang quản trị chủ động, lấy phòng ngừa rủi ro làm trọng tâm.
Đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

Đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

Với mục tiêu đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, thành phố Hà Nội đặt trọng tâm vào đổi mới nội dung, hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật, tăng cường ứng dụng công nghệ số và xây dựng đội ngũ làm công tác phổ biến, giáo dục pháp luật am hiểu địa bàn, phong tục, tập quán và văn hóa của người dân nơi đây.
Quan điểm, định hướng mới của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai

Quan điểm, định hướng mới của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai

Ngày 16/6/2022, Ban chấp hành trung ương Đảng khóa XIII ban hành Nghị quyết số 18-NQ/TW về "Tiếp tục đổi mới, hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý và sử dụng đất, tạo động lực đưa nước ta trở thành nước phát triển có thu nhập cao" (Nghị quyết số 18-NQ/TW). Để hiện thực hóa mục tiêu đưa đất nước trở thành nước phát triển có thu nhập cao, trong thời điểm hiện tại, nhằm phù hợp với sự phát triển chung của đất nước, Hội nghị lần thứ ba, Ban chấp hành trung ương Đảng khóa XIV đã đưa ra những quan điểm, định hướng sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan tại Nghị quyết số 21-NQ/TW ngày 28/7/2026 (Nghị quyết số 21-NQ/TW) làm kim chỉ nam cho mọi hoạt động sửa đổi chính sách pháp luật sau này. Nghị quyết số 21-NQ/TW đã thể hiện những điểm mới trong chủ trương của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan.
Luật Thủ đô năm 2026: Mở rộng cơ hội đầu tư cho nhiều dự án

Luật Thủ đô năm 2026: Mở rộng cơ hội đầu tư cho nhiều dự án

Luật Thủ đô năm 2026 được Quốc hội thông qua ngày 23/4/2026 và có hiệu lực từ ngày 01/7/2026, tiếp tục hoàn thiện các cơ chế, chính sách đặc thù nhằm xây dựng và phát triển Thủ đô. Đáng chú ý, tại Điều 26 của Luật đã thiết lập khung chính sách tương đối toàn diện về thu hút đầu tư, ưu đãi, hỗ trợ đầu tư và phát triển doanh nghiệp, mở rộng cơ hội cho nhiều dự án trên địa bàn Thành phố được tiếp cận các chính sách ưu đãi về đất đai, thuế, tín dụng, hạ tầng, phát triển nhân lực và đổi mới sáng tạo.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Tóm tắt: Trong bối cảnh hệ thống pháp luật ngày càng phức tạp và thường xuyên thay đổi, việc tiếp cận, hiểu và sử dụng pháp luật trở thành thách thức đối với người dân. Mô hình phổ biến, giáo dục pháp luật hiện nay chủ yếu tập trung vào truyền đạt văn bản, chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu hỗ trợ người dân sử dụng pháp luật trong thực tiễn. Trên cơ sở phân tích xu hướng quốc tế về tiếp cận công lý lấy người dân làm trung tâm và ứng dụng công nghệ số, nghiên cứu đề xuất chuyển từ mô hình “phổ biến pháp luật” sang “hạ tầng tuân thủ phòng ngừa”, gắn phổ biến pháp luật với nhu cầu thực tiễn, cảnh báo sớm rủi ro pháp lý và hỗ trợ tra cứu, sử dụng pháp luật hiệu quả trong môi trường số.
Nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng cho người gửi tiền ở Việt Nam

Nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng cho người gửi tiền ở Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh ngân hàng số phát triển, thông tin chưa được kiểm chứng có thể tác động nhanh đến tâm lý và hành vi của người gửi tiền. Nghiên cứu phân tích quy định pháp luật và thực tiễn phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cho thấy, hoạt động này chưa chú trọng đầy đủ đến mức độ hiểu và khả năng vận dụng pháp luật của người gửi tiền; nội dung còn thiên về tính chuyên môn; phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật và cơ chế cung cấp thông tin kịp thời còn hạn chế. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá, tích hợp thông tin pháp luật ngắn gọn vào dịch vụ ngân hàng số và tăng cường cung cấp thông tin chính thức, kịp thời nhằm bảo vệ người gửi tiền và củng cố niềm tin vào hệ thống ngân hàng.
Phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Tóm tắt: Quyền con người phản ánh sự kết tinh những giá trị nhân phẩm cao quý của nhân loại. Nghiên cứu công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người là phân tích, đánh giá phương thức thể chế hóa các chủ trương của Đảng về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đồng thời, đề xuất giải pháp khắc phục những hạn chế của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 trước thách thức mới từ công nghệ số. Trên cơ sở tổng hợp và so sánh luật học, nghiên cứu phân tích, đánh giá vai trò của công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người và thực trạng thi hành Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012. Đồng thời, nghiên cứu đánh giá tính phù hợp, khả thi của dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)* (dự thảo Luật). Từ đó, kiến nghị và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Luật Phòng, chống ma túy năm 2021 quy định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi nghiện ma túy mà không tự nguyện cai nghiện. Mặc dù không được xem là biện pháp xử lý hành chính nhưng biện pháp này mang tính cách ly người bị áp dụng khỏi cộng đồng. Để bảo vệ quyền của người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi, pháp luật cho phép các chủ thể liên quan khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành chưa quy định quyền khởi kiện hay kháng cáo đối với quyết định này. Nghiên cứu phân tích bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi, đồng thời, đề xuất giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật nhằm bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người bị áp dụng biện pháp này.
Nâng cao trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Nâng cao trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã xác định rõ trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật. Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, cải cách tư pháp và chuyển đổi số quốc gia, vai trò này ngày càng trở nên quan trọng. Nghiên cứu phân tích cơ sở chính trị, pháp lý, thực trạng quy định pháp luật và thực tiễn triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật của Tòa án nhân dân; trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện hoạt động này trong hệ thống Tòa án nhân dân.
Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Sự phát triển của nền tảng số, mạng xã hội và trí tuệ nhân tạo tạo sinh đang làm thay đổi phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật, đồng thời, đặt ra nhiều thách thức trong kiểm soát thông tin pháp luật trên môi trường số. Bên cạnh việc mở rộng khả năng tiếp cận pháp luật của người dân, tình trạng lan truyền thông tin pháp luật sai lệch, thiếu kiểm chứng hoặc được tạo sinh bởi hệ thống trí tuệ nhân tạo đang ảnh hưởng đến hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật và quyền tiếp cận thông tin pháp luật chính xác. Trên cơ sở phân tích các vấn đề lý luận, đánh giá thực trạng quy định và thực tiễn áp dụng pháp luật tại Việt Nam, nghiên cứu phân tích bất cập trong kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số và đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả quản lý và bảo đảm chính xác của thông tin pháp luật trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật.
Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 7/2026

Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 7/2026

(Cập nhật bởi LuatVietnam.vn)
Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam[1]

Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam[1]

Tóm tắt: Mô hình chính quyền địa phương hai cấp được triển khai ở Việt Nam từ ngày 01/7/2025 đánh dấu bước chuyển quan trọng trong quá trình đổi mới tổ chức bộ máy nhà nước theo hướng tinh, gọn, tăng cường phân quyền, phân cấp và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị địa phương. Nghiên cứu phân tích các cơ hội và thách thức trong quá trình triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam, làm rõ những vấn đề đặt ra trong hoàn thiện thể chế, bảo đảm nguồn lực và nâng cao năng lực quản trị địa phương, từ đó, đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam thời gian tới.
Một số bất cập của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 và kiến nghị hoàn thiện

Một số bất cập của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Sau hơn 13 năm thi hành, Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng trong triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, góp phần nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ và Nhân dân. Tuy nhiên, trước yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, chuyển đổi số và hoàn thiện thể chế theo chủ trương, định hướng của Đảng, nhiều quy định của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 bộc lộ những hạn chế, bất cập. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, tổng kết thực tiễn thi hành và bối cảnh phát triển đất nước giai đoạn mới, nghiên cứu làm rõ những bất cập về tổ chức thực hiện công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên pháp luật, đối tượng đặc thù, nội dung, hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật và sự không thống nhất của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 với một số luật liên quan. Từ đó, kiến nghị sửa đổi, bổ sung nhằm hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật và nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong bối cảnh hiện nay.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật - Yêu cầu chuyển từ phổ biến, giáo dục pháp luật hình thức sang tiếp cận dựa trên nhu cầu của người dân

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật - Yêu cầu chuyển từ phổ biến, giáo dục pháp luật hình thức sang tiếp cận dựa trên nhu cầu của người dân

Tóm tắt: Việc sửa đổi Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 là cấp thiết trước yêu cầu khắc phục tình trạng tuyên truyền thiên về hình thức, chưa gắn chặt với những vấn đề pháp lý mà người dân thực sự cần được hỗ trợ. Nghiên cứu phân tích khoảng cách giữa nguyên tắc phù hợp với nhu cầu và cơ chế nhận diện, phản ánh, đáp ứng, đo lường nhu cầu pháp lý trong dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật[1] (dự thảo Luật). Trên cơ sở phân tích quy phạm, bình luận chính sách và tiếp cận liên ngành về nhu cầu pháp lý, năng lực pháp lý, tiếp cận công lý, nghiên cứu tập trung vào các quy định về nguyên tắc, nội dung, hình thức, hướng dẫn và giải đáp pháp luật, đối tượng đặc thù, giáo dục pháp luật trong cơ sở giáo dục, trách nhiệm tổ chức thực hiện, cơ chế cấp xã, chuyển đổi số và đánh giá hiệu quả. Kết quả nghiên cứu cho thấy, dự thảo Luật đã có nhiều định hướng tích cực nhưng thiếu cơ chế khảo sát nhu cầu, thiết kế nội dung theo tình huống, chuyển tuyến hỗ trợ pháp lý và đánh giá khả năng hiểu, vận dụng pháp luật. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện các cơ chế bảo đảm cách tiếp cận lấy nhu cầu pháp lý của người dân làm trung tâm.
Chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên ở Việt Nam

Chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên ở Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển nhanh, mạnh mẽ của không gian mạng đang tác động sâu sắc đến đời sống xã hội, đồng thời, đặt ra nhiều rủi ro đối với người chưa thành niên. Trong bối cảnh đó, chuyển đổi số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật trở thành yêu cầu cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả tiếp cận pháp luật cho nhóm đối tượng này. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết của chuyển đổi số trong phổ biến, giáo dục pháp luật đối với người chưa thành niên; đánh giá thực trạng triển khai tại Việt Nam, chỉ ra những hạn chế, bất cập, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên.

Theo dõi chúng tôi trên: