Thứ bảy 14/03/2026 19:35
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Các trường hợp loại trừ trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng thương mại theo pháp luật Việt Nam và so sánh với pháp luật Cộng hòa Pháp

Cùng với các chế tài do vi phạm nghĩa vụ hợp đồng dân sự và thương mại, pháp luật cũng quy định một số trường hợp loại trừ trách nhiệm do vi phạm hợp đồng, trong đó có loại trừ trách nhiệm bồi thường thiệt hại. Bài viết phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật Việt Nam về vấn đề này và so sánh với pháp luật của Cộng hòa Pháp để thấy điểm tương đồng, khác biệt.


1. Tính chất pháp lý của loại trừ trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm nghĩa vụ từ hợp đồng

Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm nghĩa vụ là hậu quả pháp lý bất lợi mà bên vi phạm nghĩa vụ phải gánh chịu khi không thực hiện, thực hiện không đúng, không đầy đủ nghĩa vụ, dẫn đến những tổn thất về vật chất hoặc tinh thần cho bên mang quyền. Theo tinh thần Bộ luật Dân sự năm 2015, yếu tố lỗi không còn là điều kiện bắt buộc đặt ra đối với trách nhiệm bồi thường thiệt hại. Do đó, khi xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại, việc chứng minh lỗi không cần được đặt ra. Tuy nhiên, trường hợp bên vi phạm nghĩa vụ muốn thoát khỏi trách nhiệm bồi thường thì họ phải chứng minh được họ không có lỗi trong việc gây ra thiệt hại như thiệt hại xảy ra do sự kiện bất khả kháng, tình thế cấp thiết, do lỗi của người bị thiệt hại[1]… Việc áp dụng trách nhiệm bồi thường luôn hướng tới việc bù đắp tổn thất mà người có quyền phải gánh chịu. Tuy nhiên, trong điều kiện và hoàn cảnh đặc biệt khó khăn cũng như chấp hành chủ trương, chính sách của Nhà nước dẫn đến chủ thể có nghĩa vụ đã không thể thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trước chủ thể mang quyền. Để giải trừ trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho họ, pháp luật quy định một số trường hợp, theo đó, bên vi phạm không phải gánh chịu những hậu quả bất lợi do bị áp dụng các hình thức chế tài dân sự, thương mại, đó là các trường hợp loại trách nhiệm do vi phạm nghĩa vụ trong hợp đồng thương mại.

Hiện nay, trong các văn bản pháp luật, việc sử dụng thuật ngữ “loại trừ” hay “miễn trừ” là không thống nhất. Về bản chất, việc một bên vi phạm không phải gánh chịu trách nhiệm bồi thường khi có thiệt hại xảy ra trong một số trường hợp không phải là căn cứ để “miễn trừ” hoàn toàn hay một phần trách nhiệm bồi thường thiệt hại. Cần phải hiểu rằng, mặc dù bên vi phạm nghĩa vụ đã gây thiệt hại cho chủ thể có quyền nhưng theo quy định của pháp luật hoặc các bên thỏa thuận không phát sinh trách nhiệm pháp lý (giải thoát khỏi trách nhiệm pháp lý), không phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại của họ, có nghĩa là trách nhiệm bồi thường thiệt hại được loại trừ (không cấu thành trách nhiệm). Tinh thần này cũng được xác định rất rõ trong Bộ luật Dân sự Cộng hòa Pháp: “Việc không thể thực hiện nghĩa vụ sẽ giải phóng nghĩa vụ cho bên con nợ nếu đó là trường hợp bất khả kháng và tình trạng không thể thực hiện đó là vĩnh viễn, trừ trường hợp bên con nợ có thỏa thuận chịu trách nhiệm, hoặc đã được thông báo nhắc nhở từ trước”[2]. Còn đối với “miễn trừ” nghĩa là trên thực tế đã xảy ra sự vi phạm nghĩa vụ theo hợp đồng và có gây thiệt hại, nhưng không rơi vào các trường hợp được pháp luật loại trừ trách nhiệm, được bên bị thiệt hại đã miễn cho bên kia không phải chịu trách nhiệm về vi phạm đó của mình theo thỏa thuận trong hợp đồng hoặc quy định của pháp luật. Theo đó, có thể hiểu, miễn trừ là miễn cho khỏi phải chấp hành; loại trừ là loại bỏ, làm cho mất đi, không kể đến vì đã được quy định từ trước.

Miễn trừ trách nhiệm dân sự trong hợp đồng là việc người có quyền trong hợp đồng cho phép bên chủ thể vi phạm nghĩa vụ gây thiệt hại không bị áp dụng một phần hoặc toàn bộ các chế tài nhằm khôi phục tình trạng ban đầu về tài sản và nhân thân cho bên chủ thể bị vi phạm. Bản chất của loại trừ trách nhiệm dân sự là việc bên chủ thể vi phạm nghĩa vụ đáng lẽ phải gánh chịu toàn bộ và đầy đủ trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho bên bị vi phạm, tuy nhiên, vì thiệt hại xảy ra trong những điều kiện, hoàn cảnh nhất định mà bên vi phạm nghĩa vụ được loại trừ toàn bộ hoặc một phần trách nhiệm bồi thường thiệt hại đó.

Từ những lý giải trên đây, có thể đưa ra khái niệm: “Loại trừ trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm nghĩa vụ trong hợp đồng là việc các bên thỏa thuận hoặc pháp luật quy định về các căn cứ loại trừ trách nhiệm bồi thường thiệt hại mà theo đó, bên chủ thể vi phạm nghĩa vụ gây thiệt hại không bị áp dụng biện pháp khôi phục một phần hoặc toàn bộ tình trạng ban đầu về tài sản cho bên có quyền”.

2. Các trường hợp loại trừ trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm nghĩa vụ từ hợp đồng

Về nguyên tắc, cá nhân, pháp nhân phải tự chịu trách nhiệm về việc không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ dân sự. Khi yêu cầu bồi thường thiệt hại, bên bị vi phạm phải chứng minh các điều kiện làm căn cứ yêu cầu bồi thường[3]. Tuy nhiên, trong những điều kiện và hoàn cảnh nhất định, chủ thể vi phạm nghĩa vụ không phải tuân theo nguyên tắc luật định. Điều này đã được cụ thể hóa thành quy định liên quan đến các trường hợp bên vi phạm nghĩa vụ không phải bồi thường thiệt hại như sau: “Trường hợp bên có nghĩa vụ không thực hiện đúng nghĩa vụ do sự kiện bất khả kháng thì không phải chịu trách nhiệm dân sự, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác. Bên có nghĩa vụ không phải chịu trách nhiệm dân sự nếu chứng minh được nghĩa vụ không thực hiện được là hoàn toàn do lỗi của bên có quyền”[4]. Trong khi đó, Luật Thương mại năm 2005 lại quy định bốn căn cứ miễn trừ trách nhiệm dân sự trong hợp đồng, bao gồm: Thỏa thuận của các chủ thể trong hợp đồng, sự kiện bất khả kháng, hành vi vi phạm của một bên hoàn toàn do lỗi của bên kia và hành vi vi phạm của một bên do thực hiện quyết định của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền mà các bên không thể biết được vào thời điểm giao kết hợp đồng[5]. Bộ luật Lao động năm 2012 quy định: “… Trường hợp có hợp đồng trách nhiệm thì phải bồi thường theo hợp đồng trách nhiệm; trường hợp do thiên tai, hỏa hoạn, địch họa, dịch bệnh, thảm họa, sự kiện xảy ra khách quan không thể lường trước được và không thể khắc phục được mặc dù đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết và khả năng cho phép thì không phải bồi thường”[6].

Như vậy, giữa quy định của Bộ luật Dân sự với Luật Thương mại và Bộ luật Lao động liên quan tới vấn đề miễn trừ, loại trừ trách nhiệm trong hợp đồng không thống nhất với nhau. Trong khi đồng bộ hóa luật tư ở Việt Nam hiện nay là rất cần thiết và quan trọng. Theo quy định của các văn bản pháp luật trên đây, bên vi phạm nghĩa vụ không phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong các trường hợp sau:

Thứ nhất, bên có nghĩa vụ không thực hiện đúng nghĩa vụ do sự kiện bất khả kháng

Theo quy định tại khoản 1 Điều 156 Bộ luật Dân sự năm 2015: “Sự kiện bất khả kháng là sự kiện xảy ra một cách khách quan không thể lường trước được và không thể khắc phục được mặc dù đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết và khả năng cho phép”. Quy định này được hiểu, một sự kiện xảy ra trên thực tế phải thỏa mãn các điều kiện như sau mới được coi là sự kiện bất khả kháng: (i) Sự kiện đó phải là sự kiện xảy ra một cách khách quan. Tính khách quan của sự kiện thể hiện ở chỗ nó phát sinh hay không phát sinh không phụ thuộc vào ý chí của bất cứ chủ thể nào. Nếu bên có nghĩa vụ hoặc bất cứ bên nào tác động khiến cho sự kiện xảy ra trái với tính khách quan thì coi như sự kiện đó không xảy ra. Ví dụ, sự kiện bão, lụt, động đất…; (ii) Bên có nghĩa vụ không thể lường trước được về việc sự kiện đó có xảy ra hay không. Đây là yếu tố thể hiện tính đột ngột, bất ngờ của sự kiện được coi là bất khả kháng kéo đến có thể kể đến như lốc xoáy bất ngờ, mưa đá, động đất núi lửa, sóng thần...; (iii) Bên có nghĩa vụ đã áp dụng mọi biện pháp và khả năng cho phép nhưng vẫn không thể khắc phục được sự vi phạm nghĩa vụ.

Bộ luật Dân sự Cộng hòa Pháp quy định: “Trường hợp bất khả kháng được xác định khi có một sự kiện nằm ngoài khả năng kiểm soát của bên con nợ, bên con nợ không thể được thông báo một cách hợp lý ở thời điểm ký kết hợp đồng và tác động của sự kiện đó không thể tránh khỏi bằng các biện pháp phù hợp, cản trở việc thực hiện hợp đồng của bên con nợ. Nếu việc cản trở là tạm thời, việc thực hiện nghĩa vụ hợp đồng được tạm hoãn trừ trường hợp sự chậm trễ đi kèm không phải là lý do để hủy bỏ hợp đồng. Nếu việc cản trở là vĩnh viễn, hợp đồng sẽ mặc nhiên được hủy bỏ và các bên được giải phóng khỏi các nghĩa vụ theo các điều kiện được quy định tại các điều 1351 và 1351-1”[7]. Đối với pháp luật Cộng hòa Pháp, để một sự kiện được coi là bất khả kháng cần phải chứng minh sự kiện đó thỏa mãn một số điều kiện nhất định như: Sự kiện nằm ngoài khả năng kiểm soát, tác động của sự kiện đó không thể tránh khỏi bằng các biện pháp phù hợp, cản trở việc thực hiện hợp đồng của bên con nợ, không thể cưỡng lại[8]… Bộ luật Dân sự Cộng hòa Pháp còn quy định các khoản bồi thường thiệt hại trong trường hợp bất khả kháng được xác định là một sự kiện nằm ngoài tầm kiểm soát của con nợ, vào thời điểm đó không thể lường trước một cách hợp lý về việc ký kết hợp đồng, những ảnh hưởng không thể tránh được bằng các biện pháp thích hợp và điều này ngăn cản con nợ thực hiện tốt nghĩa vụ của mình[9]... Ngoài ra, Bộ luật này còn quy định cho trường hợp cụ thể về trách nhiệm bồi thường sẽ được loại trừ khi phần nghĩa vụ không được thực hiện, hoặc chậm thực hiện nghĩa vụ nếu chứng minh được việc thực hiện nghĩa vụ đã bị cản trở bởi một sự việc bất khả kháng: “Bên con nợ phải bồi thường cho những thiệt hại nếu có, hoặc trên cơ sở phần nghĩa vụ không được thực hiện, hoặc trên cơ sở chậm thực hiện nghĩa vụ nếu không chứng minh được rằng việc thực hiện nghĩa vụ đã bị cản trở bởi một sự việc bất khả kháng”[10].

Theo pháp luật Việt Nam, khái niệm sự kiện bất khả kháng được quy định còn sơ sài, không có một quy định cụ thể nào trong chế định nghĩa vụ và hợp đồng về sự kiện bất khả kháng. Khoản 1 Điều 156 Bộ luật Dân sự năm 2015 chỉ đặt ra quy định sự kiện bất khả kháng liên quan đến phần thời hiệu, cụ thể là để xác định thời gian không tính vào thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự, thời hiệu yêu cầu giải quyết việc dân sự chứ không phải là một quy định cụ thể hoặc khái niệm cụ thể về sự kiện bất khả kháng. Luật Thương mại năm 2005 cũng không có quy định nào đề cập cụ thể về khái niệm sự kiện bất khả kháng. Tại các Điều 294, 295 và 296 Luật Thương mại năm 2005 quy định về sự kiện bất khả kháng, tuy nhiên, theo hướng khi có sự kiện bất khả kháng xảy ra, bên vi phạm hợp đồng phải có sự thông báo ngay cho bên kia về trường hợp loại trừ trách nhiệm trong một khoảng thời gian thích hợp, nếu không thì vẫn phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại. Trên cơ sở tham chiếu quy định pháp luật Cộng hòa Pháp, pháp luật Việt Nam cần phải có một số sửa đổi, bổ sung về sự kiện bất khả kháng đối với các nội dung đã được đề cập ở các mục trên, đặc biệt là Bộ luật Dân sự năm 2015, Luật Thương mại năm 2005 liên quan trực tiếp đến các trường hợp loại trừ trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm nghĩa vụ trong hợp đồng để đảm bảo tính tập trung và rõ ràng trong quy định về trường hợp loại trừ trách nhiệm bồi thường do sự kiện bất khả kháng.

Thứ hai, bên có nghĩa vụ không thực hiện được nghĩa vụ hoàn toàn do lỗi của bên có quyền

Việc thực hiện đúng nghĩa vụ không chỉ phụ thuộc vào bên có nghĩa vụ mà trong nhiều trường hợp còn phụ thuộc vào bên có quyền. Điều này thể hiện ở sự thiện chí của bên có quyền trong việc hỗ trợ bên có nghĩa vụ thực hiện đúng nghĩa vụ của mình. Mọi sự bất hợp tác của bên có quyền đều có thể khiến cho bên có nghĩa vụ gặp khó khăn trong việc thực hiện nghĩa vụ của mình. Ví dụ, bên có nghĩa vụ thực hiện đúng nghĩa vụ về thời hạn, địa điểm nhưng bên có quyền chậm tiếp nhận việc thực hiện nghĩa vụ khiến cho bên có nghĩa vụ không thể hoàn thành được nghĩa vụ của mình. Trong nhiều trường hợp, sự vi phạm nghĩa vụ xảy ra hoàn toàn do lỗi của bên có quyền. Đây là quy định phù hợp, bởi vì về nguyên tắc, không thể buộc một chủ thể không có lỗi phải gánh chịu trách nhiệm do lỗi của chủ thể khác gây ra. Pháp luật của Cộng hòa Pháp cũng quy định căn cứ để loại trừ trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong trường hợp này phải là do lỗi của bên bị vi phạm. Theo Điều 1110 Bộ luật Dân sự quy định: “Lỗi là một căn cứ để hủy bỏ một thỏa thuận khi nó dựa vào chính bản chất của đối tượng nó hướng tới”. Bên cạnh yếu tố lỗi, liên quan đến các vấn đề trong hợp đồng, các Điều 1142, 1147, 1150 và 1151 của Bộ luật Dân sự nước này quy định rằng, bên bị vi phạm chỉ được phục hồi thiệt hại khi các thiệt hại đó được gây ra trực tiếp do hành vi vi phạm hoặc trì hoãn thực hiện nghĩa vụ hợp đồng của bên vi phạm. Để có thể bồi thường, bên bị vi phạm phải chứng minh rằng các thiệt hại phát sinh là hậu quả trực tiếp từ hành vi vi phạm của bên kia về nghĩa vụ trong hợp đồng. Số tiền thiệt hại được bồi thường sẽ không vượt quá số tiền chứng minh được. Điều này pháp luật Việt Nam cũng có sự tương đồng. Luật Thương mại năm 2005 quy định bên bị phạm được loại trừ trách nhiệm khi hành vi vi phạm của một bên hoàn toàn do lỗi của bên kia. Bộ luật Dân sự năm 2015 cũng quy định bên có nghĩa vụ không phải chịu trách nhiệm dân sự nếu chứng minh được nghĩa vụ không thực hiện được hoàn toàn do lỗi của bên có quyền.

Bộ luật Dân sự Cộng hòa Pháp mặc dù đã trải qua một số sửa đổi và tái cấu trúc đáng kể liên quan đến luật hợp đồng, nhưng không thay đổi các nguyên tắc áp dụng đối với việc loại trừ trách nhiệm bồi thường thiệt hại do lỗi của bên có quyền. Có thể xem xét các trường hợp loại trừ trách nhiệm do bên có quyền có lỗi như sau:

(i) Loại trừ trách nhiệm bồi thường thiệt hại do lỗi hoàn toàn của bên có quyền. Trong trường hợp này, bên gây ra thiệt hại sẽ được loại trừ trách nhiệm bồi thường bởi nguyên nhân chính gây ra thiệt hại nằm ở phía bên có quyền. Hiện nay, ở Việt Nam, tại khoản 3 Điều 351 Bộ luật Dân sự năm 2015 cũng có quy định tương tự.

(ii) Loại trừ trách nhiệm bồi thường thiệt hại do lỗi một phần của bên có quyền. Với trường hợp này, Tòa án vẫn loại trừ một phần trách nhiệm cho bên có nghĩa vụ. Tuy nhiên, hiện nay pháp luật Việt Nam không có quy định nào rõ ràng về lỗi của hai bên (tức là bên có quyền cũng có một phần lỗi). Trong Bộ luật Dân sự năm 2015 và Luật Thương mại năm 2005 chỉ đề cập đến loại trừ trách nhiệm dân sự do có sự kiện bất khả kháng, do quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền hay khi bên có quyền có lỗi, không thực hiện đúng hợp đồng.

Tiếp cận pháp luật của Pháp, có thể thấy rằng, quốc gia này có những quy định cụ thể về trách nhiệm bồi thường thiệt hoặc loại trừ nghĩa vụ bồi thường thiệt hại theo một khung pháp lý thống nhất. Đối với Việt Nam, chế định này được quy định “rải rác” tại Bộ luật Dân sự và Luật Thương mại, nhưng đều không có quy định cụ thể về trường hợp không thực hiện đúng hợp đồng do lỗi của hai bên. Điều này dẫn tới việc xét xử của Tòa án sẽ gặp khó khăn, ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của các chủ thể. Vì vậy, pháp luật Việt Nam cần:

(i) Có sự thống nhất giữa các ngành luật, tạo nên khung pháp lý chung về loại trừ trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng do lỗi của bên bị vi phạm. Nên hiệu chỉnh Bộ luật Dân sự theo tính chất định hướng cho các văn bản luật chuyên ngành khác;

(ii) Có quy định điều chỉnh chung về trách nhiệm hạn chế thiệt hại trong tất cả các hợp đồng theo tinh thần của Điều 362 Bộ luật Dân sự năm 2015.

Thứ ba, loại trừ trách nhiệm do các bên thỏa thuận

Xuất phát từ việc tôn trọng nguyên tắc tự do ý chí, tự do thỏa thuận của các bên trong hợp đồng, Luật Thương mại năm 2005 đã trao quyền chủ động cho các bên khi tham gia giao kết hợp đồng. Cụ thể, mọi nội dung của hợp đồng đều do các bên thỏa thuận và nếu không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái với đạo đức xã hội thì những thỏa thuận đó đều có giá trị pháp lý, ngay cả việc các bên tự thỏa thuận trong hợp đồng những điều kiện để miễn trừ trách nhiệm đối với hành vi vi phạm hợp đồng thỏa mãn các điều kiện ấy. Như vậy, pháp luật đã coi yếu tố “thỏa thuận” của các bên là một trong những căn cứ miễn trách nhiệm pháp lý nói chung cho bên vi phạm hợp đồng[11]. Có khá nhiều trường hợp, một trong các bên tham gia hợp đồng lợi dụng về điều khoản miễn trừ trách nhiệm bồi thường thiệt hại để cố ý vi phạm hợp đồng gây thiệt hại cho bên kia. Trong khi tinh thần Điều 294 Luật Thương mại năm 2005 chỉ đơn giản là công nhận trường hợp miễn trách nhiệm hợp đồng đã được các bên thỏa thuận trước, bên vi phạm sẽ được giải thoát khỏi trách nhiệm của mình, bất kể sự vi phạm nghĩa vụ đó là cố ý hay vô ý. Điều này có thể gây ra sự bất bình đẳng giữa các bên trong quan hệ hợp đồng dân sự cũng như thương mại. Khác với Việt Nam, trong vấn đề này, pháp luật Cộng hòa Pháp trong thời gian dài không công nhận giá trị pháp lý của các thỏa thuận nhằm loại trừ trách nhiệm do vi phạm nghĩa vụ hợp đồng. Cơ sở của việc không công nhận xuất phát từ quan điểm cho rằng, trách nhiệm do vi phạm hợp đồng được xác định trên cơ sở lỗi, nếu có lỗi không thể được loại trừ, bởi vì, nếu ngược lại thì sẽ mâu thuẫn với bản chất của nghĩa vụ hợp đồng. Trong Bộ luật Dân sự Cộng hòa Pháp không có một quy định nào điều chỉnh thỏa thuận hạn chế hay loại trừ trách nhiệm do vi phạm hợp đồng.

Tuy nhiên, việc áp dụng rộng rãi các thỏa thuận về loại trừ trách nhiệm trong quan hệ dân sự, trong hoạt động thương mại, dẫn đến sự cần thiết phải giải quyết vấn đề về hậu quả pháp lý của các thỏa thuận đó. Năm 1959, Tòa thượng thẩm quy định rằng, các thỏa thuận về loại trừ trách nhiệm được coi là có giá trị pháp lý, nếu chúng không loại trừ trách nhiệm do lỗi cố ý hay vô ý nghiêm trọng. Điều này có nghĩa là, nếu sự vi phạm hợp đồng là cố ý thì thỏa thuận loại trừ trách nhiệm sẽ không có giá trị pháp lý. Hiện nay, nguyên tắc này được Cộng hòa Pháp lấy làm nền tảng để xây dựng cách tiếp cận của pháp luật đối với các thỏa thuận loại trừ trách nhiệm do vi phạm hợp đồng. Trong Bộ luật Dân sự Cộng hòa Pháp, mức bồi thường thiệt hại cũng có thể do các bên thỏa thuận trong hợp đồng, đồng thời, mức thỏa thuận này có thể bị thay đổi bởi Toà án nếu mức thỏa thuận đó quá thấp hoặc quá cao so với tổn thất thực tế[12]. Vì vậy, pháp luật Việt Nam cần phải bổ sung những điều kiện nhất định để đảm bảo sự tôn trọng của các bên trong hợp đồng và hạn chế việc bên có lợi thế hơn trong giao kết hợp đồng lợi dụng căn cứ loại trừ trách nhiệm do các bên thỏa thuận trong hợp đồng để đặt ra những trường hợp loại trừ trách nhiệm có lợi cho mình. Điều này phù hợp với sự phát triển của pháp luật quốc tế và thực tiễn giao kết hợp đồng của các quốc gia. Ngoài ra, nhằm vừa đảm bảo tôn trọng sự tự do thỏa thuận giữa các bên, vừa hạn chế một bên lợi dụng căn cứ này để trốn tránh trách nhiệm hợp đồng. Theo đó, một thỏa thuận về căn cứ loại trừ trách nhiệm do vi phạm hợp đồng chỉ có giá trị pháp lý nếu như nó không phải là vi phạm do cố ý.

Thứ tư, loại trừ trách nhiệm bồi thường thiệt hại do phải thực hiện quyết định của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền[13]

Quyết định của cơ quan nhà nước sẽ là mệnh lệnh, được ban hành bởi các chủ thể quản lý của nhà nước theo một thể thức nhất định nhằm thực hiện một mục đích hoặc một công việc nào đó. Quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền là kết quả của một hoạt động nhất định, mang tính quyền lực nhà nước, buộc cá nhân, tổ chức phải có trách nhiệm tuân theo.

Bộ luật Dân sự năm 2015 và Luật Thương mại năm 2005 thiếu đồng bộ trong quy định về các trường hợp loại trừ trách nhiệm bồi thường thiệt hại do thực hiện quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Trường hợp này chỉ được dự liệu trong Luật Thương mại năm 2005, không được quy định trong Bộ luật Dân sự năm 2015. Tuy nhiên, về nguyên tắc, khi có quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền dẫn đến hệ quả không thể thực hiện đúng các nghĩa vụ trong hợp đồng sẽ được loại trừ trách nhiệm dân sự. Đồng thời, quy định của pháp luật hiện hành không quy định rõ những trách nhiệm dân sự nào sẽ được loại trừ, phần chung về hợp đồng thương mại hay nghĩa vụ dân sự cũng không thể hiện rõ mức thiệt hại nào thì bên có nghĩa vụ sẽ được loại trừ.

Qua nghiên cứu và quan sát các hoạt động thực tiễn, có thể đưa ra các trường hợp được loại trừ trách nhiệm do phải thực hiện quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền để từ đó có cách nhìn tổng quan và chính xác hơn về vấn đề này. Đó là: (i) Quyết định của cơ quan có thẩm quyền tác động trực tiếp đến đối tượng của hợp đồng, khiến đối tượng trong hợp đồng không còn; (ii) Quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền làm thay đổi chủ thể hợp đồng, làm hai bên không thể đạt được mục đích như khi giao kết hợp đồng.

Tóm lại, với các nội dung được phân tích ở trên cho thấy, quy định về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm nghĩa vụ trong hợp đồng theo pháp luật Việt Nam và pháp luật của Cộng hoà Pháp có những điểm tương đồng và khác biệt cơ bản. Sự khác biệt trong quy định của pháp luật hai quốc gia không phải là yếu tố thể hiện trình độ lập pháp của mỗi nước, mà nó thể hiện sự phù hợp của quy định pháp luật với thực tiễn đời sống xã hội. Bởi vậy, một trong những cách thức và giải pháp để Việt Nam khắc phục được tình trạng này là nghiên cứu kinh nghiệm xây dựng pháp luật quốc tế và pháp luật của các quốc gia trên thế giới. Đặc biệt, Việt Nam đang trong thời kỳ chú trọng đồng bộ hóa luật tư.

ThS. Đinh Văn Cường

NCS. Đại học Luật Hà Nội





[1]. Nguyễn Văn Cừ, Trần Thị Huệ, Bình luận khoa học Bộ luật Dân sự năm 2015 của nước CHXHCN Việt Nam, Nxb. Công an nhân dân, năm 2017, tr. 541, 542...

[2]. Điều 1351 của Bộ luật Dân sự Cộng hòa Pháp sửa đổi theo phê chuẩn của Luật số 2018-287 ngày 20/4/2018.

[3]. Nguyễn Văn Hợi, Phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng theo pháp luật Việt Nam và pháp luật Cộng hòa Pháp, Tạp chí Nghề luật, số 5, tháng 5 năm 2019, tr. 32.

[4]. Khoản 2 và khoản 3 Điều 351 Bộ luật Dân sự năm 2015.

[5]. Khoản 1 Điều 294 Luật Thương mại năm 2005.

[6]. Khoản 1 Điều 130 Bộ luật Lao động năm 2012.

[7]. Điều 1218 của Bộ luật Dân sự Cộng hòa Pháp sửa đổi theo phê chuẩn của Luật số 2018-287 ngày 20/4/2018

[8]. Đoạn 1, Điều 1218 của Bộ luật Dân sự Cộng hòa Pháp (tlđd).

[9]. Điều 1218 của Bộ luật Dân sự Cộng hòa Pháp (tlđd).

[10]. Điều 1231-1 Bộ luật Dân sự Cộng hòa Pháp (tlđd).

[11]. Điểm a khoản 1 Điều 294 Luật Thương mại năm 2005.

[12]. TS. Nguyễn Văn Hợi, Phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng theo pháp luật Việt Nam và pháp luật Cộng hòa Pháp, Tạp chí Nghề luật, số 5, tháng 5 năm 2019, tr. 33.

[13]. Điểm d khoản 1 Điều 294 Luật Thương mại năm 2005.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Để bảo đảm cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân được tiến hành dân chủ, đúng pháp luật, các quy định về phiếu bầu cử cũng như nguyên tắc, trình tự bỏ phiếu đã được quy định chặt chẽ[1]. Việc nắm rõ các quy định này giúp cử tri thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ trong ngày bầu cử.
[1] Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 và Nghị quyết số 40/NQ-HĐBCQG ngày 29/9/2025 của Hội đồng bầu cử quốc gia quy định mẫu văn bản hồ sơ ứng cử và việc hồ sơ ứng cử; nội quy phòng bỏ phiếu trong công tác bầu cử ĐBQH khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031
Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Trong quá trình tổ chức bầu cử, có thể phát sinh một số tình huống đặc biệt như dịch bệnh, thiên tai, hỏa hoạn hoặc vấn đề về an ninh, trật tự. Pháp luật về bầu cử đã quy định rõ thẩm quyền và phương án xử lý nhằm bảo đảm cuộc bầu cử được tổ chức an toàn, đúng quy định và bảo đảm quyền bầu cử của cử tri.
Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Để chuẩn bị cho “Ngày hội non sông” - Ngày bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031, công tác phân chia đơn vị bầu cử cần phải được triển khai với những yêu cầu khắt khe hơn bao giờ hết với mục tiêu trọng tâm là bảo đảm cân đối, tránh chênh lệch lớn, thuận tiện cho cử tri thực hiện quyền bầu cử như: Các khu vực đô thị, khu công nghiệp có đông cử tri; các khu vực miền núi, hải đảo có ít cử tri.
Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Pháp luật quy định cụ thể về nguyên tắc bỏ phiếu, cách ghi phiếu bầu, việc viết hộ, bỏ hộ phiếu và xử lý Thẻ cử tri nhằm bảo đảm việc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân diễn ra đúng quy định.
Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Cơ chế giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân giữ vai trò quan trọng trong việc bảo đảm tính dân chủ, minh bạch và hợp pháp của quá trình bầu cử. Pháp luật Việt Nam thiết lập cơ chế này trên cơ sở kết hợp giữa các quy định đặc thù của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân với các quy định chung của pháp luật về khiếu nại, tố cáo, qua đó hình thành khung pháp lý cho việc tiếp nhận, xem xét và xử lý các khiếu nại, tố cáo phát sinh trong quá trình bầu cử.
Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Một vụ án in và phát hành sách giáo khoa giả vừa được đưa ra xét xử đã tiếp tục gióng lên hồi chuông cảnh báo về tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực xuất bản, đặc biệt là đối với sách giáo dục - mặt hàng có nhu cầu cao và ảnh hưởng trực tiếp đến hàng triệu học sinh.
Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức thống nhất vào ngày 15/3/2026 theo Nghị quyết của Quốc hội. Tuy nhiên, pháp luật cho phép tổ chức bỏ phiếu sớm trong những trường hợp đặc biệt nhằm bảo đảm quyền bầu cử của công dân không thể tham gia bỏ phiếu vào ngày chính thức. Việc tổ chức bầu cử sớm phải tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc về thẩm quyền quyết định, trình tự thủ tục, kiểm phiếu, niêm phong, bảo mật kết quả và kỷ luật thời gian bỏ phiếu theo đúng quy định của Luật Bầu cử và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Vận động bầu cử của người ứng cử là hoạt động gặp gỡ, tiếp xúc cử tri hoặc thông qua phương tiện thông tin đại chúng để người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân báo cáo với cử tri về dự kiến chương trình hành động của mình nhằm thực hiện trách nhiệm đại biểu nếu được bầu làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân và trao đổi những vấn đề mà cử tri quan tâm; tạo điều kiện để cử tri tiếp xúc với người ứng cử, hiểu rõ hơn người ứng cử; trên cơ sở đó cân nhắc, lựa chọn, bầu những người đủ tiêu chuẩn làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.
Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, yêu cầu thượng tôn Hiến pháp và pháp luật không chỉ đặt ra đối với hoạt động của bộ máy nhà nước mà trở thành chuẩn mực ứng xử phổ biến trong xã hội. Pháp luật chỉ thực sự phát huy vai trò điều chỉnh các quan hệ xã hội khi được các chủ thể tiếp nhận, tôn trọng, tuân thủ thực hiện trên tinh thần chủ động, tự giác, gắn với niềm tin vào công bằng và trật tự xã hội. Thực tiễn cho thấy, hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, nhưng tình trạng vi phạm pháp luật trong một số lĩnh vực vẫn diễn biến phức tạp; còn tồn tại khoảng trống giữa nhận thức pháp luật và hành vi tuân thủ; tâm lý tuân thủ thụ động, mang tính tình thế, phụ thuộc vào sự kiểm tra, giám sát và xử lý của cơ quan có thẩm quyền. Những biểu hiện này phản ánh việc tuân thủ pháp luật chưa thực sự trở thành chuẩn mực văn hóa trong xã hội. Vì vậy, việc nghiên cứu, nhận diện các yếu tố tác động, đánh giá đúng thực trạng, đề xuất nhiệm vụ, giải pháp xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn, góp phần thể chế hóa chủ trương của Đảng, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, mạnh, bền vững trong bối cảnh mới.
Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Tết Nguyên đán là dịp đoàn viên, nghỉ ngơi và tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí đầu năm, góp phần làm phong phú đời sống văn hóa, tinh thần của mỗi gia đình và cộng đồng. Tuy nhiên, một số hình thức vui chơi có thưởng có thể vượt ngoài khuôn khổ pháp luật nếu không được nhận diện đúng. Từ yêu cầu bảo đảm kỷ cương, pháp luật trong dịp Tết, việc làm rõ ranh giới pháp lý giữa vui xuân có thưởng và hành vi vi phạm pháp luật có ý nghĩa quan trọng.
Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết 71-NQ/TW) đặt ra những yêu cầu mang tính chiến lược đối với xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, giáo dục đại học giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành lớp trí thức mới - vừa có năng lực chuyên môn, vừa có bản lĩnh, nhân cách và tinh thần phụng sự xã hội. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật phỏng vấn Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đào Thanh Trường - Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội, xung quanh quan điểm xây dựng con người toàn diện, các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp, cũng như những định hướng tích hợp giáo dục nhân văn với khoa học, công nghệ trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Mùa xuân về không chỉ mang theo nhựa sống của thiên nhiên mà còn là thời điểm để nhìn lại những thành quả của năm qua. Xuân Bính Ngọ 2026, với Trường Cao đẳng Cơ điện Hà Nội (HCEM), là một mùa xuân đặc biệt - mùa xuân của sự cộng hưởng giữa niềm tự hào về hành trình 80 năm đất nước độc lập và quyết tâm chính trị cao để hiện thực hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị. Đây chính là “chìa khóa” để HCEM bứt phá, vươn tầm quốc tế, trở thành biểu tượng của nền giáo dục nghề nghiệp (GDNN) hiện đại trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Năm 2025 được xem là cột mốc bản lề trên hành trình đưa Việt Nam bước vào kỷ nguyên số toàn diện. Trong không khí Xuân Bính Ngọ 2026, Cục trưởng Cục Chuyển đổi số quốc gia (Bộ KH&CN) Trần Duy Ninh chia sẻ với Tạp chí Dân chủ và Pháp luật về những thành quả nổi bật, tầm nhìn, cơ hội và kỳ vọng đặt vào đội ngũ trí thức công nghệ, với khát vọng xây dựng đất nước Việt Nam hùng cường, tự chủ và thịnh vượng trên nền tảng số.
Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Nhìn lại hành trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đội ngũ doanh nhân Việt Nam tiếp tục là lực lượng năng động, sáng tạo và đóng góp quan trọng vào tăng trưởng. Tuy nhiên, bối cảnh hội nhập sâu, rộng đặt ra yêu cầu cao hơn đối với việc hoàn thiện pháp luật về kinh doanh. Nhân dịp xuân mới, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Quang Vinh - Phó Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) về kỳ vọng đổi mới và yêu cầu xây dựng hành lang pháp lý ổn định để doanh nghiệp Việt Nam tự tin phát triển trong giai đoạn mới.
Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với mục tiêu đến năm 2045 trở thành nước phát triển có thu nhập cao, đội ngũ doanh nhân Việt Nam được kỳ vọng trở thành lực lượng kiến tạo thịnh vượng quốc gia. Khát vọng ấy chỉ có thể nảy nở và lớn lên trong hệ sinh thái pháp lý minh bạch, an toàn và tạo động lực.

Theo dõi chúng tôi trên: