Thứ năm 11/12/2025 03:46
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Các yếu tố tác động đến giáo dục pháp luật cho người lao động trong doanh nghiệp

Các yếu tố tác động đến giáo dục pháp luật cho người lao động trong doanh nghiệp

Bài viết phân tích sự ảnh hưởng của các yếu tố chủ quan và khách quan, khía cạnh tích cực và tiêu cực đến công tác giáo dục pháp luật cho người lao động làm cơ sở khoa học, thực tiễn để xây dựng các giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả của công tác này.

1. Sự tác động của bối cảnh hội nhập và các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới

Những năm gần đây, trong tiến trình thực hiện các chủ trương mới của Đảng về hội nhập quốc tế, Việt Nam đã tham gia nhiều hiệp định thương mại tự do (FTA) thế hệ mới. Trước hết, Hiệp định Đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) được Quốc hội Việt Nam chính thức thông qua Nghị quyết phê chuẩn ngày 12/11/2018 và có hiệu lực từ tháng 01/2019. Tiếp đến, ngày 08/6/2020, Quốc hội Việt Nam đã bỏ phiếu phê chuẩn Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam - Liên minh châu Âu (EU) (EVFTA) với tỷ lệ 100% đại biểu có mặt biểu quyết tán thành và Hiệp định có hiệu lực vào ngày 01/8/2020. Như vậy, Việt Nam đứng trước những cơ hội như việc mở rộng thị trường xuất khẩu được coi như là một chiến lược dài hạn nhằm giúp doanh nghiệp Việt Nam tham gia sâu vào chuỗi giá trị khu vực, nâng cao năng lực sản xuất, xuất khẩu và cạnh tranh. Đồng thời, giúp doanh nghiệp Việt Nam có điều kiện để phát triển hoạt động sản xuất, kinh doanh và khẳng định vị thế mới của mình trên trường quốc tế. Điều này đặc biệt có ý nghĩa khi mà những lợi thế cạnh tranh như giá nhân công rẻ, lợi thế tài nguyên hiện đã dần bị thu hẹp, không có tính bền vững, trong khi những yếu tố như thương hiệu, chất lượng sản phẩm cần một chiến lược phát triển và thời gian. EVFTA là một FTA thế hệ mới, mang lại nhiều tác động tích cực đến nhiều mặt của nền kinh tế Việt Nam, qua đó tác động đến tăng trưởng xuất nhập khẩu của Việt Nam với thị trường Liên minh châu Âu như: Mở cửa thị trường EU cho hàng hóa Việt Nam; thu hút đầu tư, phát triển sản xuất trong nước; phát triển công nghiệp hỗ trợ; chuyển dịch cơ cấu sản xuất, xuất khẩu; tạo thêm việc làm, nâng cao năng suất lao động… Với những cơ hội và không ít thách thức, đòi hỏi các doanh nghiệp phải nỗ lực, cụ thể là người sử dụng lao động (NSDLĐ), người lao động (NLĐ) cần trang bị cho mình các thông tin, kiến thức pháp luật, kiến thức về chuyên môn, nghiệp vụ, nâng cao năng lực, tạo môi trường tốt để có thể thu hút các nhà đầu tư trong nước và quốc tế. Trách nhiệm của các chủ thể giáo dục pháp luật (GDPL) là trang bị những kiến thức pháp luật cần thiết cho NLĐ để họ có thể tạo dựng được cơ hội của mình, phát huy năng lực nhằm đáp ứng được yêu cầu công việc và sự cạnh tranh của thị trường lao động ngày càng cao.

2. Yếu tố hệ thống pháp luật liên quan đến giáo dục pháp luật nói chung và giáo dục pháp luật cho người lao động nói riêng

Nền tảng pháp lý vững mạnh là yếu tố quan trọng bảo đảm GDPL cho NLĐ được triển khai thông suốt và hiệu quả trong thực tế. Công tác GDPL sẽ được triển khai thuận lợi hơn rất nhiều nếu như luôn có một hệ thống pháp luật minh bạch, rõ ràng, khả thi, không chồng chéo, mâu thuẫn. Đối với hệ thống quy định pháp luật về GDPL nói chung và những quy định về GDPL cho NLĐ nói riêng hiện nay tương đối đầy đủ. Thể chế công tác phổ biến, GDPL đã được ban hành theo hướng đề cao trách nhiệm tự nghiên cứu, học tập pháp luật của công dân, Nhà nước tạo mọi điều kiện thuận lợi cho công dân tìm hiểu pháp luật; quy định rõ trách nhiệm của các bộ, ngành, địa phương trong công tác phổ biến, GDPL; xây dựng các thiết chế và nguồn nhân lực, các điều kiện bảo đảm để hỗ trợ cho công tác này, góp phần đưa công tác GDPL nói chung và GDPL cho NLĐ nói riêng được triển khai thống nhất, sâu rộng trên toàn quốc.

3. Yếu tố về chương trình, kế hoạch, công tác tổ chức giáo dục pháp luật cho người lao động

Yếu tố về chương trình, kế hoạch, công tác tổ chức GDPL cho NLĐ giữ một vai trò vô cùng quan trọng tạo nên sự thành công của công tác GDPL. Công tác GDPL chỉ được tổ chức hiệu quả khi bắt nguồn trên cơ sở có kế hoạch, chương trình GDPL khả thi, có mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp, phân công trách nhiệm thực hiện cụ thể, rõ ràng và được bố trí nguồn lực thực hiện. Điều này tránh cho công tác GDPL triển khai không có định hướng, không trọng tâm, trọng điểm, không phù hợp với yêu cầu của NLĐ, tình hình thực tiễn của từng đối tượng, địa bàn. Nếu tổ chức GDPL không nhận được sự quan tâm của các cấp ủy đảng, chính quyền, ban, ngành, đoàn thể; chủ thể GDPL không có nhận thức và tư duy đúng đắn, bám sát nhu cầu của cuộc sống; nội dung pháp luật được lựa chọn không phù hợp với nhu cầu của đối tượng được GDPL; hình thức GDPL triển khai hời hợt, không trọng tâm, trọng điểm, không phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh, nhận thức, môi trường sống của NLĐ, với điều kiện của doanh nghiệp, địa phương; chủ thể GDPL thiếu kiến thức pháp luật, thiếu kỹ năng, phương pháp; nguồn lực và các điều kiện khác không bảo đảm; thiếu sự hỗ trợ của NSDLĐ, cán bộ công đoàn, NLĐ… thì công tác tổ chức GDPL sẽ không thể hiệu quả, từ đó, tác động tiêu cực, gây lãng phí thời gian, nguồn lực, niềm tin, tình cảm của NLĐ đối với công tác GDPL, với các chủ thể GDPL. Nếu như yếu tố này được thực hiện đúng đắn từ nhận thức, tư duy đến hành động sẽ giữ vai trò quyết định tạo nên thành công, hiệu quả cho công tác GDPL đối với NLĐ.

4. Yếu tố về kỹ năng, phương pháp của các chủ thể giáo dục pháp luật

Để truyền tải được kiến thức, thông tin pháp luật, thực tiễn thi hành pháp luật, kỹ năng sử dụng pháp luật trong bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình thì các chủ thể GDPL không chỉ là người hiểu biết về kiến thức pháp luật và các vấn đề nêu trên mà cần biết kết hợp, sử dụng nhuần nhuyễn kỹ năng, phương pháp trong GDPL nói chung và GDPL cho NLĐ nói riêng. Yếu tố về kỹ năng, phương pháp của các chủ thể GDPL luôn có vai trò song hành cùng với sự hiểu biết về kiến thức pháp luật để tạo nên tính hiệu quả của công tác GDPL. Phương pháp GDPL cần sử dụng hài hòa với phương pháp vận động, thuyết phục, tương tác hai chiều, rèn luyện, thực hành pháp luật, phương pháp sử dụng công cụ hỗ trợ… Kỹ năng, phương pháp GDPL cần được đổi mới theo hướng lấy NLĐ làm trung tâm. Cần chú ý tới đặc điểm của đối tượng tham gia các buổi GDPL để xác định hình thức, kỹ năng, phương pháp truyền tải phù hợp.

5. Yếu tố xuất phát từ người lao động, chủ thể giáo dục pháp luật

5.1. Về nhận thức của chủ thể giáo dục pháp luật và người lao động

Thứ nhất, về nhận thức của chủ thể GDPL, trong thời gian qua, các cơ quan, tổ chức, các chủ thể thực hiện GDPL đa số đã nhận thức rõ vị trí, vai trò của công tác này đối với người dân nói chung và NLĐ nói riêng, từ đó đã có sự quan tâm trong chỉ đạo, điều hành, hoàn thiện thể chế về công tác GDPL, phổ biến GDPL, tổ chức thực hiện và bố trí các nguồn lực, điều kiện bảo đảm cho công tác này. Tuy nhiên, vẫn còn một số nơi, bộ phận cấp ủy, chính quyền địa phương chưa thực sự nhận thức đầy đủ, toàn diện về công tác này, từ đó dẫn tới thiếu sự quan tâm, thiếu chủ động, sáng tạo và quyết liệt trong chỉ đạo, điều hành, bố trí nguồn lực và tổ chức thực hiện.

Thứ hai, về NLĐ - đối tượng được GDPL, qua tìm hiểu trên thực tế và nhiều cuộc khảo sát cho thấy rằng, nhận thức nói chung và nhận thức về pháp luật nói riêng của NLĐ vẫn còn rất hạn chế. Điều đó xuất phát từ nhiều nguyên nhân, trong đó có những nguyên nhân như: Điều kiện kinh tế khó khăn, thời gian làm việc căng thẳng, có quá nhiều những lo toan cho cuộc sống, trình độ học vấn thường chỉ tốt nghiệp phổ thông trung học, đồng thời, họ chưa được giáo dục đầy đủ về ý nghĩa, vai trò, giá trị của pháp luật và quy định pháp luật thực định liên quan trực tiếp đến cuộc sống của họ, chính vì vậy, họ chưa có nhận thức đầy đủ về vai trò của pháp luật trong cuộc sống, chưa nhận thức được tầm quan trọng trong việc chủ động tìm hiểu cũng như có sự hợp tác tích cực với các chủ thể GDPL trong tiếp cận với pháp luật.

5.2. Về trình độ học vấn

Thứ nhất, về trình độ học vấn của chủ thể GDPL, trình độ học vấn có ảnh hưởng quyết định đối với chất lượng, hiệu quả của công tác GDPL, đặc biệt trong yêu cầu, bối cảnh hiện nay. Chủ thể GDPL có trình độ học vấn không đơn thuần chỉ là người có hiểu biết kiến thức chung, hiểu biết về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, phong tục tập quán, yếu tố tâm lý con người… mà còn phải là người có hiểu biết, nắm vững kiến thức pháp luật và kiến thức pháp luật chuyên ngành mình đang đảm nhiệm; bên cạnh đó, đối với công tác GDPL, trình độ học vấn còn thể hiện ở kỹ năng, nghiệp vụ thực hiện GDPL của các chủ thể. Như vậy, xây dựng, củng cố, kiện toàn, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực thực hiện công tác GDPL cho NLĐ trong doanh nghiệp là một yêu cầu, nhiệm vụ cấp thiết đối với các cơ quan chức năng có nhiệm vụ GDPL nói chung và GDPL cho NLĐ nói riêng.

Thứ hai, về trình độ học vấn của NLĐ trong doanh nghiệp, để tiếp nhận được kiến thức pháp luật, hiểu được giá trị, vai trò, ý nghĩa của pháp luật nói chung và những quy định pháp luật liên quan mật thiết đến cuộc sống của NLĐ nói riêng thì trình độ học vấn có ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả, chất lượng trong tiếp nhận GDPL của họ. Trình độ học vấn sẽ là yếu tố cơ bản giúp NLĐ biết chủ động trong tìm hiểu pháp luật ở các kênh khác nhau; biết tìm đến những địa chỉ tin cậy trong GDPL để giải quyết các vướng mắc pháp lý của mình; biết chắt lọc, tiếp nhận thông tin pháp lý chính thống, từ chối, phản ứng, đấu tranh đối với những luận điệu xuyên tạc chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước; tiếp nhận, hiểu được kiến thức pháp luật mà chủ thể GDPL mang lại, từ đó biết vận dụng kiến thức pháp luật để có nhận thức, hành vi xử sự hợp pháp trong cuộc sống.

5.3. Về nhu cầu tìm hiểu pháp luật của người lao động

Qua thực tiễn thấy rằng, ý thức pháp luật của NLĐ ngày một nâng cao, nhu cầu tìm hiểu pháp luật, đặc biệt là tìm hiểu pháp luật lao động và những văn bản pháp luật có liên quan trực tiếp đến NLĐ là rất lớn. Nhiều cuộc khảo sát cho thấy, NLĐ mong muốn được tìm hiểu các văn bản pháp luật về Bộ luật Lao động, Luật Bảo hiểm xã hội, Luật Bảo hiểm y tế, Luật Công đoàn, Luật Khiếu nại, Luật Tố cáo, Bộ luật Dân sự...; các quy định về hợp đồng lao động, việc làm, tiền lương, giải quyết tranh chấp lao động; các quy định về quyền của NLĐ và trình tự, thủ tục để bảo đảm quyền... Trước nhu cầu tìm hiểu pháp luật của NLĐ như vậy đặt ra nhiều thách thức đối với công tác GDPL. Trong đó, GDPL cho NLĐ cần có nhiều đổi mới, sáng tạo về tư duy, cách nghĩ, cách làm; luôn bám sát nhu cầu tìm hiểu pháp luật của NLĐ, nắm bắt những vấn đề nổi cộm, còn nhiều vướng mắc, xung đột đang xảy ra trong đời sống của NLĐ, trong mối quan hệ giữa NLĐ, NSDLĐ, cán bộ công đoàn để GDPL được kịp thời; chủ thể GDPL cần nâng cao năng lực, kiến thức pháp luật, kỹ năng, nghiệp vụ để có thể đáp ứng được nhu cầu tìm hiểu pháp luật và yêu cầu ngày càng cao trong công tác GDPL.

6. Các yếu tố về môi trường kinh tế - xã hội, chính trị - xã hội và văn hóa - xã hội

Hoạt động GDPL hay bất kỳ hoạt động nào khác luôn diễn ra trong một môi trường không gian xã hội nhất định, phụ thuộc và chịu ảnh hưởng bởi các điều kiện chủ quan và các điều kiện khách quan như kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội... Nhìn trên phương diện này, các yếu tố khách quan ảnh hưởng đến NLĐ trong doanh nghiệp bao gồm môi trường kinh tế - xã hội, môi trường chính trị - xã hội và môi trường văn hóa - xã hội.

6.1. Môi trường kinh tế - xã hội

Môi trường kinh tế - xã hội hiểu theo nghĩa rộng bao gồm tổng thể các điều kiện về kinh tế - xã hội, hệ thống các chính sách kinh tế, chính sách xã hội cũng như quá trình tổ chức thực hiện, triển khai thực hiện trong xã hội. Môi trường kinh tế - xã hội phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững, tăng trưởng kinh tế đi đôi với tiến bộ, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường sẽ là điều kiện thuận lợi để tiến hành các hoạt động GDPL cho NLĐ trong doanh nghiệp, đáp ứng yêu cầu, mục đích đề ra, đạt chất lượng, hiệu quả. Ngược lại, khi nền kinh tế - xã hội phát triển chậm, có nhiều khó khăn, thiếu bền vững sẽ có ảnh hưởng tiêu cực tới chất lượng, hiệu quả của hoạt động GDPL cho đối tượng này.

Điều kiện kinh tế - xã hội có ảnh hưởng rất quan trọng tới hoạt động GDPL cho NLĐ trong doanh nghiệp, tác động đến thái độ, nhận thức và các điều kiện hỗ trợ cho họ trong tiếp cận với GDPL. Khi nền kinh tế - xã hội phát triển, đời sống vật chất, lợi ích kinh tế của các tầng lớp nhân dân nói chung, của NLĐ nói riêng được bảo đảm thì NLĐ sẽ có điều kiện ổn định về kinh tế bản thân, gia đình; họ sẽ được học, được nâng cao trình độ học vấn, có điều kiện tiếp cận với nhiều loại hình giáo dục, đào tạo, thông tin chính thống, chuẩn xác... góp phần nâng cao nhận thức, hiểu biết... từ đó, có thái độ, tình cảm, niềm tin vào chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; niềm tin vào tính nghiêm minh, sự thực thi của pháp luật và hiệu lực, hiệu quả của bộ máy nhà nước… tất cả các yếu tố trên góp phần cho NLĐ trong doanh nghiệp chủ động, tự giác, phối hợp và hưởng ứng tích cực trong tham gia hoạt động GDPL nhằm nâng cao hiểu biết pháp luật. Nếu kinh tế kém phát triển, cuộc sống của NLĐ gặp nhiều khó khăn, họ sẽ không có tâm trí và điều kiện để quan tâm tới vấn đề GDPL. Kinh tế phát triển, nguồn thu ngân sách nhà nước nói chung, của các doanh nghiệp nói riêng sẽ gia tăng, bền vững, đây là điều kiện bảo đảm rất quan trọng thúc đẩy công tác GDPL cho NLĐ trong doanh nghiệp được thực hiện đáp ứng yêu cầu, mục đích đề ra. Kinh tế phát triển, đồng nghĩa với việc doanh nghiệp phát triển, doanh nghiệp vững mạnh thì họ mới quan tâm đến các chính sách, chế độ đối với NLĐ, trong đó có chính sách xóa nghèo, xóa mù pháp luật, hợp tác với các chủ thể GDPL từ phía Nhà nước, các tổ chức chính trị, xã hội và tổ chức, cá nhân bên ngoài xã hội thực hiện GDPL cho NLĐ.

6.2. Môi trường chính trị - xã hội

Môi trường chính trị - xã hội là toàn bộ các yếu tố tạo nên đời sống chính trị của đất nước, của mỗi địa phương ở từng giai đoạn lịch sử nhất định, bao gồm môi trường chính trị, hệ thống các chuẩn mực chính trị, chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và quá trình tổ chức thực hiện chúng; các quan hệ chính trị và ý thức chính trị; hoạt động của hệ thống chính trị; cùng với đó là nền dân chủ xã hội và bầu không khí chính trị - xã hội[1]. Các yếu tố chính trị - xã hội đó có ảnh hưởng mạnh mẽ tới hiệu quả của hoạt động thực hiện pháp luật của các chủ thể pháp luật, trong đó có NLĐ.

Môi trường chính trị - xã hội của đất nước ta trong những năm qua luôn ổn định, phát triển bền vững chính là điều kiện thuận lợi đối với hoạt động GDPL nói chung và GDPL cho NLĐ nói riêng. Môi trường chính trị - xã hội đó sẽ góp phần củng cố ý thức và niềm tin chính trị của NLĐ đối với sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước, vào thể chế, chính sách, vào các cơ quan bảo vệ pháp luật, thực thi pháp luật, tin tưởng vào việc tổ chức thực thi pháp luật vào cuộc sống. Niềm tin đó sẽ giúp NLĐ có tâm thế, thái độ tích cực trong chủ động tìm hiểu, tuân thủ pháp luật và hưởng ứng, hợp tác, phối hợp với các chủ thể GDPL. Ngược lại, nếu không có môi trường chính trị - xã hội ổn định, phát triển bền vững thì đây chính là một trong những nguyên nhân gây ra khủng hoảng niềm tin của cán bộ, đảng viên, người dân, doanh nghiệp và NLĐ. Niềm tin giảm sút, NLĐ sẽ không hợp tác, phối hợp với các cơ quan chức năng, các chủ thể GDPL trong việc tìm hiểu và tuân thủ pháp luật.

6.3. Môi trường văn hóa - xã hội

Điều kiện về văn hóa, xã hội, giáo dục, khoa học và công nghệ có tác động mạnh mẽ đến chất lượng GDPL cho NLĐ. Văn hóa là toàn bộ những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra thông qua hoạt động thực tiễn. Văn hóa là nền tảng tinh thần và là động lực phát triển của xã hội[2]. Xây dựng nền văn hóa lành mạnh, hiện đại, mang đậm bản sắc dân tộc tạo điều kiện giữ gìn nhân cách, suy nghĩ, lối sống tích cực, văn minh của NLĐ. Văn hóa trong lối sống của từng cá nhân sẽ góp phần xây dựng văn hóa cộng đồng, xã hội. Trên nền tảng văn hóa xã hội, văn hóa của NLĐ, ở họ sẽ được bồi dưỡng, hình thành văn hóa pháp lý, hình thành thói quen tích cực “sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật”. Nếu văn hóa được coi là nền tảng, là nội lực của sự phát triển thì văn hóa pháp luật được xem là nội lực để hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập quốc tế hiện nay. Văn hóa pháp luật vừa là một lĩnh vực biểu hiện của văn hóa xã hội nhưng đồng thời cũng là sản phẩm của văn hóa xã hội, chịu sự tác động của các yếu tố như phương thức sản xuất, hệ tư tưởng, văn hóa, đạo đức, lối sống, phong tục tập quán; sự hình thành văn hóa pháp luật của một quốc gia không thể không chịu sự chi phối của văn hóa - xã hội.

Như vậy, các yếu tố tác động và công tác GDPL cho NLĐ trong doanh nghiệp luôn có mối quan hệ biện chứng; sẽ có tác động trực tiếp hoặc gián tiếp, ảnh hưởng tiêu cực hoặc tích cực đến thái độ, nhận thức, hành vi và các điều kiện hỗ trợ cho NLĐ trong tiếp cận với GDPL. Do đó, các chủ thể GDPL, chủ thể được GDPL cũng như các chủ thể có liên quan khác cần có những giải pháp cải thiện, phát huy vai trò của các yếu tố này để có thể mang lại hiệu quả cao, tạo nên những giá trị mong muốn nhất đối với công tác GDPL cho NLĐ, đáp ứng yêu cầu thực tiễn và bối cảnh trong giai đoạn mới.

TS. Ngô Quỳnh Hoa

Phó Cục trưởng Cục Phổ biến, giáo dục pháp luật, Bộ Tư pháp

[1]. Phan Hồng Dương (2014), Giáo dục pháp luật cho sinh viên các trường Đại học không chuyên luật ở Việt Nam, Luận án tiến sĩ Luật học, Học viện Khoa học xã hội, Hà Nội, tr. 1.

[2]. Dương Thành Trung (2015), Giáo dục pháp luật cho đồng bào dân tộc Khmer ở vùng đồng bằng sông Cửu Long Việt Nam, Luận án tiến sĩ Luật học, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội, tr. 65.

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 1 (Số 386), tháng 8/2023)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bài viết nêu lên vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước và đề xuất một số giải pháp nâng cao vai trò của Bộ Tư pháp trong giai đoạn mới.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Trong quá trình phát triển của đất nước, đặc biệt, trong 10 năm gần đây, với sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế - xã hội Việt Nam, việc xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật là công tác đặc biệt quan trọng. Với sự nỗ lực không ngừng, Bộ Tư pháp đã cùng các bộ, ngành làm tốt công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và đưa pháp luật vào cuộc sống, góp phần quan trọng trong thực hiện thành công công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế, giữ vững chủ quyền quốc gia, an ninh, trật tự xã hội, nâng cao đời sống vật chất và văn hóa, tinh thần của Nhân dân, bảo đảm công bằng xã hội, xây dựng xã hội dân chủ, văn minh theo đường lối của Đảng và Nhà nước. Để đạt được những thành tựu đó, nhiều hoạt động đã được triển khai đồng bộ, từ công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL); đặc biệt, đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực làm công tác xây dựng, thi hành pháp luật. Bộ Tư pháp đã chủ động, tích cực phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, trong đó có Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trong công tác xây dựng thể chế, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác pháp chế.
Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Với chức năng là cơ quan của Chính phủ, thực hiện quản lý nhà nước về xây dựng và thi hành pháp luật, Bộ Tư pháp đã và đang đóng góp, góp phần quan trọng trong kiến tạo nền tảng pháp lý vững chắc, phục vụ mục tiêu phát triển đất nước; đồng thời, đóng vai trò chủ đạo trong xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ pháp luật, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và thúc đẩy tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Những kết quả đạt được thể hiện qua các nội dung chính sau:
Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Ngày 01/01/2004, tỉnh Lai Châu chính thức được chia tách thành tỉnh Điện Biên và Lai Châu. Đây cũng là thời điểm Sở Tư pháp tỉnh Lai Châu (mới) được thành lập và đi vào hoạt động. Trải qua hơn 21 năm xây dựng và phát triển, ngành Tư pháp tỉnh Lai Châu đã vượt qua khó khăn, thử thách, ngày càng lớn mạnh và khẳng định được vai trò, vị thế của mình.
Công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế - Những khó khăn, vướng mắc và kiến nghị hoàn thiện thể chế từ góc nhìn của luật sư

Công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế - Những khó khăn, vướng mắc và kiến nghị hoàn thiện thể chế từ góc nhìn của luật sư

Trợ giúp pháp lý (TGPL) là một trong những chính sách xã hội có ý nghĩa nhân văn sâu sắc của Đảng và Nhà nước ta trong việc bảo đảm quyền được tiếp cận công lý bình đẳng của mọi tầng lớp Nhân dân, đặc biệt là nhóm những người yếu thế trong xã hội. Thông qua các hoạt động TGPL, người yếu thế trong xã hội được cung cấp, sử dụng dịch vụ pháp lý miễn phí khi có tranh chấp, góp phần nâng cao ý thức pháp luật và phòng ngừa vi phạm pháp luật. Trong hoạt động TGPL, đội ngũ luật sư đóng vai trò then chốt, là lực lượng trực tiếp thực hiện việc tư vấn, đại diện và bào chữa cho các đối tượng yếu thế. Tuy nhiên, thực tế cho thấy công tác TGPL còn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc, cả về cơ chế, nguồn lực và phương thức triển khai.
Nâng cao hiệu quả tích hợp nội dung bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong học phần “Thực tiễn và kinh nghiệm xây dựng, phát triển địa phương – ngành – đoàn thể” thuộc chương trình Trung cấp lý luận chính trị

Nâng cao hiệu quả tích hợp nội dung bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong học phần “Thực tiễn và kinh nghiệm xây dựng, phát triển địa phương – ngành – đoàn thể” thuộc chương trình Trung cấp lý luận chính trị

Việc tích hợp nội dung bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong giảng dạy chương trình Trung cấp lý luận chính trị là yêu cầu tất yếu, góp phần trực tiếp vào việc xây dựng bản lĩnh chính trị, củng cố niềm tin và năng lực tư duy lý luận cho đội ngũ cán bộ đương chức và dự nguồn cấp cơ sở. Trên cơ sở thực tiễn công tác giảng dạy và yêu cầu đổi mới giáo dục lý luận chính trị, cần đề ra giải pháp nâng cao hiệu quả tích hợp nội dung bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong học phần “Thực tiễn và kinh nghiệm xây dựng, phát triển địa phương – ngành – đoàn thể” thuộc chương trình Trung cấp lý luận chính trị (Học phần) tại Trường Chính trị tỉnh Phú Thọ.
Thực tiễn thi hành Luật Tương trợ tư pháp phần về dân sự

Thực tiễn thi hành Luật Tương trợ tư pháp phần về dân sự

Sau hơn 17 năm thi hành, Luật Tương trợ tư pháp năm 2007, thực tiễn đời sống xã hội đang đặt ra nhiều yêu cầu mới đối với hoạt động TTTP về dân sự. Do đó, việc tổng kết thực tiễn thực hiện Luật Tương trợ tư pháp năm 2007 là cần thiết, từ đó, đánh giá những điểm còn hạn chế so với yêu cầu thực tiễn, làm cơ sở đề xuất hoàn thiện pháp luật TTTP về dân sự trong bối cảnh mới.
Đào tạo pháp luật vì cộng đồng và định hướng phát triển trong giai đoạn mới

Đào tạo pháp luật vì cộng đồng và định hướng phát triển trong giai đoạn mới

Trường Cao đẳng Luật miền Bắc được nâng cấp từ Trường Trung cấp Luật Thái Nguyên theo Quyết định số 869/QĐ-LĐTBXH ngày 10/7/2020 của Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội (nay là Bộ Nội vụ), đã kế thừa hơn một thập kỷ kinh nghiệm đào tạo và bồi dưỡng cán bộ pháp lý cấp cơ sở, đặc biệt, tại khu vực trung du và miền núi phía Bắc.
Hoạt động ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số tại Bộ, ngành Tư pháp - Thực trạng và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Hoạt động ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số tại Bộ, ngành Tư pháp - Thực trạng và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Bộ Tư pháp đã trang bị, bổ sung, ứng dụng các công nghệ mới như máy chủ ảo hóa, lưu trữ SAN; máy chủ ứng dụng, máy chủ cơ sở dữ liệu cho Trung tâm dữ liệu điện tử để đáp ứng yêu cầu quản lý, vận hành và hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp.
Công tác hành chính tư pháp - Thành tựu và định hướng phát triển trong thời gian tới

Công tác hành chính tư pháp - Thành tựu và định hướng phát triển trong thời gian tới

Bài viết về những thành tựu nổi bật và định hướng phát triển công tác hành chính tư pháp trong thời gian tới.
Phát huy vai trò là diễn đàn khoa học trong xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong kỷ nguyên mới

Phát huy vai trò là diễn đàn khoa học trong xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong kỷ nguyên mới

Tạp chí Dân chủ và Pháp luật (Tạp chí) là cơ quan ngôn luận của Bộ Tư pháp, có chức năng thông tin về khoa học pháp lý, thông tin lý luận, nghiệp vụ và thực tiễn trong xây dựng, thi hành pháp luật và công tác tư pháp của Bộ, ngành Tư pháp; tuyên truyền, phổ biến chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước theo quy định pháp luật; đồng thời, là diễn đàn trao đổi học thuật, thực tiễn và chính sách trong lĩnh vực pháp luật[1].
Báo Pháp luật Việt Nam với sứ mệnh truyền thông tư pháp, pháp luật, vì Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Báo Pháp luật Việt Nam với sứ mệnh truyền thông tư pháp, pháp luật, vì Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Báo Pháp luật Việt Nam là cơ quan ngôn luận của Bộ Tư pháp, thực hiện chức năng thông tin về các hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp và các vấn đề chính trị, kinh tế, văn hoá xã hội trong nước và quốc tế; truyền thông, phổ biến chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, hoạt động xây dựng, thi hành pháp luật và công tác tư pháp phục vụ yêu cầu quản lý của Bộ Tư pháp, đáp ứng nhu cầu của xã hội về thông tin, nghiên cứu, tìm hiểu pháp luật và hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp, góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý nhà nước bằng pháp luật, phát huy dân chủ, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam; tham gia định hướng tư tưởng, phản biện xã hội, khơi dậy lòng yêu nước, tinh thần đoàn kết và tự lực, tự cường của Nhân dân, đồng hành với an sinh xã hội.
Cơ cấu tổ chức và chức năng, nhiệm vụ của Hội đồng bầu cử quốc gia

Cơ cấu tổ chức và chức năng, nhiệm vụ của Hội đồng bầu cử quốc gia

Để bảo đảm cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân nhiệm kỳ 2026-2031 được tiến hành dân chủ, đúng pháp luật và thống nhất trên phạm vi cả nước, Hội đồng bầu cử quốc gia (HĐBCQG) được thành lập, giữ vai trò tổ chức bầu cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH); chỉ đạo và hướng dẫn công tác bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND). Việc tìm hiểu cơ cấu tổ chức, chức năng, nhiệm vụ của HĐBCQG có ý nghĩa quan trọng, góp phần nâng cao nhận thức, trách nhiệm của cán bộ, đảng viên và cử tri thực hiện quyền làm chủ của mình, đồng thời giúp cơ quan, tổ chức và cá nhân có liên quan thực hiện tốt nhiệm vụ trong công tác bầu cử.
Thành tựu và định hướng phát triển công tác kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật, pháp điển hệ thống quy phạm pháp luật, xử lý vi phạm hành chính và tổ chức thi hành pháp luật trong kỷ nguyên mới

Thành tựu và định hướng phát triển công tác kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật, pháp điển hệ thống quy phạm pháp luật, xử lý vi phạm hành chính và tổ chức thi hành pháp luật trong kỷ nguyên mới

Bài viết phân tích một số thành tựu và định hướng phát triển công tác kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật, pháp điển hệ thống quy phạm pháp luật, xử lý vi phạm hành chính và tổ chức thi hành pháp luật trong kỷ nguyên mới của Cục Kiểm tra văn bản và Quản lý xử lý vi phạm hành chính, Bộ Tư pháp.
Công tác nghiên cứu khoa học pháp lý của Bộ, ngành Tư pháp - Thành tựu đạt được và những yêu cầu trong kỷ nguyên vươn mình của đất nước

Công tác nghiên cứu khoa học pháp lý của Bộ, ngành Tư pháp - Thành tựu đạt được và những yêu cầu trong kỷ nguyên vươn mình của đất nước

Trong những năm qua, hoạt động nghiên cứu khoa học của Bộ Tư pháp đã khẳng định được vai trò cung cấp cơ sở lý luận và thực tiễn, giúp Lãnh đạo Bộ tham mưu với các cấp có thẩm quyền xây dựng các chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước về công tác pháp luật, tư pháp, về xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của Nhân dân, do Nhân dân và vì Nhân dân, dưới sự lãnh đạo của Đảng.

Theo dõi chúng tôi trên: