Bài viết phân tích sự ảnh hưởng của các yếu tố chủ quan và khách quan, khía cạnh tích cực và tiêu cực đến công tác giáo dục pháp luật cho người lao động làm cơ sở khoa học, thực tiễn để xây dựng các giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả của công tác này.
1. Sự tác động của bối cảnh hội nhập và các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới
Những năm gần đây, trong tiến trình thực hiện các chủ trương mới của Đảng về hội nhập quốc tế, Việt Nam đã tham gia nhiều hiệp định thương mại tự do (FTA) thế hệ mới. Trước hết, Hiệp định Đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) được Quốc hội Việt Nam chính thức thông qua Nghị quyết phê chuẩn ngày 12/11/2018 và có hiệu lực từ tháng 01/2019. Tiếp đến, ngày 08/6/2020, Quốc hội Việt Nam đã bỏ phiếu phê chuẩn Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam - Liên minh châu Âu (EU) (EVFTA) với tỷ lệ 100% đại biểu có mặt biểu quyết tán thành và Hiệp định có hiệu lực vào ngày 01/8/2020. Như vậy, Việt Nam đứng trước những cơ hội như việc mở rộng thị trường xuất khẩu được coi như là một chiến lược dài hạn nhằm giúp doanh nghiệp Việt Nam tham gia sâu vào chuỗi giá trị khu vực, nâng cao năng lực sản xuất, xuất khẩu và cạnh tranh. Đồng thời, giúp doanh nghiệp Việt Nam có điều kiện để phát triển hoạt động sản xuất, kinh doanh và khẳng định vị thế mới của mình trên trường quốc tế. Điều này đặc biệt có ý nghĩa khi mà những lợi thế cạnh tranh như giá nhân công rẻ, lợi thế tài nguyên hiện đã dần bị thu hẹp, không có tính bền vững, trong khi những yếu tố như thương hiệu, chất lượng sản phẩm cần một chiến lược phát triển và thời gian. EVFTA là một FTA thế hệ mới, mang lại nhiều tác động tích cực đến nhiều mặt của nền kinh tế Việt Nam, qua đó tác động đến tăng trưởng xuất nhập khẩu của Việt Nam với thị trường Liên minh châu Âu như: Mở cửa thị trường EU cho hàng hóa Việt Nam; thu hút đầu tư, phát triển sản xuất trong nước; phát triển công nghiệp hỗ trợ; chuyển dịch cơ cấu sản xuất, xuất khẩu; tạo thêm việc làm, nâng cao năng suất lao động… Với những cơ hội và không ít thách thức, đòi hỏi các doanh nghiệp phải nỗ lực, cụ thể là người sử dụng lao động (NSDLĐ), người lao động (NLĐ) cần trang bị cho mình các thông tin, kiến thức pháp luật, kiến thức về chuyên môn, nghiệp vụ, nâng cao năng lực, tạo môi trường tốt để có thể thu hút các nhà đầu tư trong nước và quốc tế. Trách nhiệm của các chủ thể giáo dục pháp luật (GDPL) là trang bị những kiến thức pháp luật cần thiết cho NLĐ để họ có thể tạo dựng được cơ hội của mình, phát huy năng lực nhằm đáp ứng được yêu cầu công việc và sự cạnh tranh của thị trường lao động ngày càng cao.
2. Yếu tố hệ thống pháp luật liên quan đến giáo dục pháp luật nói chung và giáo dục pháp luật cho người lao động nói riêng
Nền tảng pháp lý vững mạnh là yếu tố quan trọng bảo đảm GDPL cho NLĐ được triển khai thông suốt và hiệu quả trong thực tế. Công tác GDPL sẽ được triển khai thuận lợi hơn rất nhiều nếu như luôn có một hệ thống pháp luật minh bạch, rõ ràng, khả thi, không chồng chéo, mâu thuẫn. Đối với hệ thống quy định pháp luật về GDPL nói chung và những quy định về GDPL cho NLĐ nói riêng hiện nay tương đối đầy đủ. Thể chế công tác phổ biến, GDPL đã được ban hành theo hướng đề cao trách nhiệm tự nghiên cứu, học tập pháp luật của công dân, Nhà nước tạo mọi điều kiện thuận lợi cho công dân tìm hiểu pháp luật; quy định rõ trách nhiệm của các bộ, ngành, địa phương trong công tác phổ biến, GDPL; xây dựng các thiết chế và nguồn nhân lực, các điều kiện bảo đảm để hỗ trợ cho công tác này, góp phần đưa công tác GDPL nói chung và GDPL cho NLĐ nói riêng được triển khai thống nhất, sâu rộng trên toàn quốc.
3. Yếu tố về chương trình, kế hoạch, công tác tổ chức giáo dục pháp luật cho người lao động
Yếu tố về chương trình, kế hoạch, công tác tổ chức GDPL cho NLĐ giữ một vai trò vô cùng quan trọng tạo nên sự thành công của công tác GDPL. Công tác GDPL chỉ được tổ chức hiệu quả khi bắt nguồn trên cơ sở có kế hoạch, chương trình GDPL khả thi, có mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp, phân công trách nhiệm thực hiện cụ thể, rõ ràng và được bố trí nguồn lực thực hiện. Điều này tránh cho công tác GDPL triển khai không có định hướng, không trọng tâm, trọng điểm, không phù hợp với yêu cầu của NLĐ, tình hình thực tiễn của từng đối tượng, địa bàn. Nếu tổ chức GDPL không nhận được sự quan tâm của các cấp ủy đảng, chính quyền, ban, ngành, đoàn thể; chủ thể GDPL không có nhận thức và tư duy đúng đắn, bám sát nhu cầu của cuộc sống; nội dung pháp luật được lựa chọn không phù hợp với nhu cầu của đối tượng được GDPL; hình thức GDPL triển khai hời hợt, không trọng tâm, trọng điểm, không phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh, nhận thức, môi trường sống của NLĐ, với điều kiện của doanh nghiệp, địa phương; chủ thể GDPL thiếu kiến thức pháp luật, thiếu kỹ năng, phương pháp; nguồn lực và các điều kiện khác không bảo đảm; thiếu sự hỗ trợ của NSDLĐ, cán bộ công đoàn, NLĐ… thì công tác tổ chức GDPL sẽ không thể hiệu quả, từ đó, tác động tiêu cực, gây lãng phí thời gian, nguồn lực, niềm tin, tình cảm của NLĐ đối với công tác GDPL, với các chủ thể GDPL. Nếu như yếu tố này được thực hiện đúng đắn từ nhận thức, tư duy đến hành động sẽ giữ vai trò quyết định tạo nên thành công, hiệu quả cho công tác GDPL đối với NLĐ.
4. Yếu tố về kỹ năng, phương pháp của các chủ thể giáo dục pháp luật
Để truyền tải được kiến thức, thông tin pháp luật, thực tiễn thi hành pháp luật, kỹ năng sử dụng pháp luật trong bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình thì các chủ thể GDPL không chỉ là người hiểu biết về kiến thức pháp luật và các vấn đề nêu trên mà cần biết kết hợp, sử dụng nhuần nhuyễn kỹ năng, phương pháp trong GDPL nói chung và GDPL cho NLĐ nói riêng. Yếu tố về kỹ năng, phương pháp của các chủ thể GDPL luôn có vai trò song hành cùng với sự hiểu biết về kiến thức pháp luật để tạo nên tính hiệu quả của công tác GDPL. Phương pháp GDPL cần sử dụng hài hòa với phương pháp vận động, thuyết phục, tương tác hai chiều, rèn luyện, thực hành pháp luật, phương pháp sử dụng công cụ hỗ trợ… Kỹ năng, phương pháp GDPL cần được đổi mới theo hướng lấy NLĐ làm trung tâm. Cần chú ý tới đặc điểm của đối tượng tham gia các buổi GDPL để xác định hình thức, kỹ năng, phương pháp truyền tải phù hợp.
5. Yếu tố xuất phát từ người lao động, chủ thể giáo dục pháp luật
5.1. Về nhận thức của chủ thể giáo dục pháp luật và người lao động
Thứ nhất, về nhận thức của chủ thể GDPL, trong thời gian qua, các cơ quan, tổ chức, các chủ thể thực hiện GDPL đa số đã nhận thức rõ vị trí, vai trò của công tác này đối với người dân nói chung và NLĐ nói riêng, từ đó đã có sự quan tâm trong chỉ đạo, điều hành, hoàn thiện thể chế về công tác GDPL, phổ biến GDPL, tổ chức thực hiện và bố trí các nguồn lực, điều kiện bảo đảm cho công tác này. Tuy nhiên, vẫn còn một số nơi, bộ phận cấp ủy, chính quyền địa phương chưa thực sự nhận thức đầy đủ, toàn diện về công tác này, từ đó dẫn tới thiếu sự quan tâm, thiếu chủ động, sáng tạo và quyết liệt trong chỉ đạo, điều hành, bố trí nguồn lực và tổ chức thực hiện.
Thứ hai, về NLĐ - đối tượng được GDPL, qua tìm hiểu trên thực tế và nhiều cuộc khảo sát cho thấy rằng, nhận thức nói chung và nhận thức về pháp luật nói riêng của NLĐ vẫn còn rất hạn chế. Điều đó xuất phát từ nhiều nguyên nhân, trong đó có những nguyên nhân như: Điều kiện kinh tế khó khăn, thời gian làm việc căng thẳng, có quá nhiều những lo toan cho cuộc sống, trình độ học vấn thường chỉ tốt nghiệp phổ thông trung học, đồng thời, họ chưa được giáo dục đầy đủ về ý nghĩa, vai trò, giá trị của pháp luật và quy định pháp luật thực định liên quan trực tiếp đến cuộc sống của họ, chính vì vậy, họ chưa có nhận thức đầy đủ về vai trò của pháp luật trong cuộc sống, chưa nhận thức được tầm quan trọng trong việc chủ động tìm hiểu cũng như có sự hợp tác tích cực với các chủ thể GDPL trong tiếp cận với pháp luật.
5.2. Về trình độ học vấn
Thứ nhất, về trình độ học vấn của chủ thể GDPL, trình độ học vấn có ảnh hưởng quyết định đối với chất lượng, hiệu quả của công tác GDPL, đặc biệt trong yêu cầu, bối cảnh hiện nay. Chủ thể GDPL có trình độ học vấn không đơn thuần chỉ là người có hiểu biết kiến thức chung, hiểu biết về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, phong tục tập quán, yếu tố tâm lý con người… mà còn phải là người có hiểu biết, nắm vững kiến thức pháp luật và kiến thức pháp luật chuyên ngành mình đang đảm nhiệm; bên cạnh đó, đối với công tác GDPL, trình độ học vấn còn thể hiện ở kỹ năng, nghiệp vụ thực hiện GDPL của các chủ thể. Như vậy, xây dựng, củng cố, kiện toàn, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực thực hiện công tác GDPL cho NLĐ trong doanh nghiệp là một yêu cầu, nhiệm vụ cấp thiết đối với các cơ quan chức năng có nhiệm vụ GDPL nói chung và GDPL cho NLĐ nói riêng.
Thứ hai, về trình độ học vấn của NLĐ trong doanh nghiệp, để tiếp nhận được kiến thức pháp luật, hiểu được giá trị, vai trò, ý nghĩa của pháp luật nói chung và những quy định pháp luật liên quan mật thiết đến cuộc sống của NLĐ nói riêng thì trình độ học vấn có ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả, chất lượng trong tiếp nhận GDPL của họ. Trình độ học vấn sẽ là yếu tố cơ bản giúp NLĐ biết chủ động trong tìm hiểu pháp luật ở các kênh khác nhau; biết tìm đến những địa chỉ tin cậy trong GDPL để giải quyết các vướng mắc pháp lý của mình; biết chắt lọc, tiếp nhận thông tin pháp lý chính thống, từ chối, phản ứng, đấu tranh đối với những luận điệu xuyên tạc chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước; tiếp nhận, hiểu được kiến thức pháp luật mà chủ thể GDPL mang lại, từ đó biết vận dụng kiến thức pháp luật để có nhận thức, hành vi xử sự hợp pháp trong cuộc sống.
5.3. Về nhu cầu tìm hiểu pháp luật của người lao động
Qua thực tiễn thấy rằng, ý thức pháp luật của NLĐ ngày một nâng cao, nhu cầu tìm hiểu pháp luật, đặc biệt là tìm hiểu pháp luật lao động và những văn bản pháp luật có liên quan trực tiếp đến NLĐ là rất lớn. Nhiều cuộc khảo sát cho thấy, NLĐ mong muốn được tìm hiểu các văn bản pháp luật về Bộ luật Lao động, Luật Bảo hiểm xã hội, Luật Bảo hiểm y tế, Luật Công đoàn, Luật Khiếu nại, Luật Tố cáo, Bộ luật Dân sự...; các quy định về hợp đồng lao động, việc làm, tiền lương, giải quyết tranh chấp lao động; các quy định về quyền của NLĐ và trình tự, thủ tục để bảo đảm quyền... Trước nhu cầu tìm hiểu pháp luật của NLĐ như vậy đặt ra nhiều thách thức đối với công tác GDPL. Trong đó, GDPL cho NLĐ cần có nhiều đổi mới, sáng tạo về tư duy, cách nghĩ, cách làm; luôn bám sát nhu cầu tìm hiểu pháp luật của NLĐ, nắm bắt những vấn đề nổi cộm, còn nhiều vướng mắc, xung đột đang xảy ra trong đời sống của NLĐ, trong mối quan hệ giữa NLĐ, NSDLĐ, cán bộ công đoàn để GDPL được kịp thời; chủ thể GDPL cần nâng cao năng lực, kiến thức pháp luật, kỹ năng, nghiệp vụ để có thể đáp ứng được nhu cầu tìm hiểu pháp luật và yêu cầu ngày càng cao trong công tác GDPL.
6. Các yếu tố về môi trường kinh tế - xã hội, chính trị - xã hội và văn hóa - xã hội
Hoạt động GDPL hay bất kỳ hoạt động nào khác luôn diễn ra trong một môi trường không gian xã hội nhất định, phụ thuộc và chịu ảnh hưởng bởi các điều kiện chủ quan và các điều kiện khách quan như kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội... Nhìn trên phương diện này, các yếu tố khách quan ảnh hưởng đến NLĐ trong doanh nghiệp bao gồm môi trường kinh tế - xã hội, môi trường chính trị - xã hội và môi trường văn hóa - xã hội.
6.1. Môi trường kinh tế - xã hội
Môi trường kinh tế - xã hội hiểu theo nghĩa rộng bao gồm tổng thể các điều kiện về kinh tế - xã hội, hệ thống các chính sách kinh tế, chính sách xã hội cũng như quá trình tổ chức thực hiện, triển khai thực hiện trong xã hội. Môi trường kinh tế - xã hội phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững, tăng trưởng kinh tế đi đôi với tiến bộ, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường sẽ là điều kiện thuận lợi để tiến hành các hoạt động GDPL cho NLĐ trong doanh nghiệp, đáp ứng yêu cầu, mục đích đề ra, đạt chất lượng, hiệu quả. Ngược lại, khi nền kinh tế - xã hội phát triển chậm, có nhiều khó khăn, thiếu bền vững sẽ có ảnh hưởng tiêu cực tới chất lượng, hiệu quả của hoạt động GDPL cho đối tượng này.
Điều kiện kinh tế - xã hội có ảnh hưởng rất quan trọng tới hoạt động GDPL cho NLĐ trong doanh nghiệp, tác động đến thái độ, nhận thức và các điều kiện hỗ trợ cho họ trong tiếp cận với GDPL. Khi nền kinh tế - xã hội phát triển, đời sống vật chất, lợi ích kinh tế của các tầng lớp nhân dân nói chung, của NLĐ nói riêng được bảo đảm thì NLĐ sẽ có điều kiện ổn định về kinh tế bản thân, gia đình; họ sẽ được học, được nâng cao trình độ học vấn, có điều kiện tiếp cận với nhiều loại hình giáo dục, đào tạo, thông tin chính thống, chuẩn xác... góp phần nâng cao nhận thức, hiểu biết... từ đó, có thái độ, tình cảm, niềm tin vào chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; niềm tin vào tính nghiêm minh, sự thực thi của pháp luật và hiệu lực, hiệu quả của bộ máy nhà nước… tất cả các yếu tố trên góp phần cho NLĐ trong doanh nghiệp chủ động, tự giác, phối hợp và hưởng ứng tích cực trong tham gia hoạt động GDPL nhằm nâng cao hiểu biết pháp luật. Nếu kinh tế kém phát triển, cuộc sống của NLĐ gặp nhiều khó khăn, họ sẽ không có tâm trí và điều kiện để quan tâm tới vấn đề GDPL. Kinh tế phát triển, nguồn thu ngân sách nhà nước nói chung, của các doanh nghiệp nói riêng sẽ gia tăng, bền vững, đây là điều kiện bảo đảm rất quan trọng thúc đẩy công tác GDPL cho NLĐ trong doanh nghiệp được thực hiện đáp ứng yêu cầu, mục đích đề ra. Kinh tế phát triển, đồng nghĩa với việc doanh nghiệp phát triển, doanh nghiệp vững mạnh thì họ mới quan tâm đến các chính sách, chế độ đối với NLĐ, trong đó có chính sách xóa nghèo, xóa mù pháp luật, hợp tác với các chủ thể GDPL từ phía Nhà nước, các tổ chức chính trị, xã hội và tổ chức, cá nhân bên ngoài xã hội thực hiện GDPL cho NLĐ.
6.2. Môi trường chính trị - xã hội
Môi trường chính trị - xã hội là toàn bộ các yếu tố tạo nên đời sống chính trị của đất nước, của mỗi địa phương ở từng giai đoạn lịch sử nhất định, bao gồm môi trường chính trị, hệ thống các chuẩn mực chính trị, chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và quá trình tổ chức thực hiện chúng; các quan hệ chính trị và ý thức chính trị; hoạt động của hệ thống chính trị; cùng với đó là nền dân chủ xã hội và bầu không khí chính trị - xã hội[1]. Các yếu tố chính trị - xã hội đó có ảnh hưởng mạnh mẽ tới hiệu quả của hoạt động thực hiện pháp luật của các chủ thể pháp luật, trong đó có NLĐ.
Môi trường chính trị - xã hội của đất nước ta trong những năm qua luôn ổn định, phát triển bền vững chính là điều kiện thuận lợi đối với hoạt động GDPL nói chung và GDPL cho NLĐ nói riêng. Môi trường chính trị - xã hội đó sẽ góp phần củng cố ý thức và niềm tin chính trị của NLĐ đối với sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước, vào thể chế, chính sách, vào các cơ quan bảo vệ pháp luật, thực thi pháp luật, tin tưởng vào việc tổ chức thực thi pháp luật vào cuộc sống. Niềm tin đó sẽ giúp NLĐ có tâm thế, thái độ tích cực trong chủ động tìm hiểu, tuân thủ pháp luật và hưởng ứng, hợp tác, phối hợp với các chủ thể GDPL. Ngược lại, nếu không có môi trường chính trị - xã hội ổn định, phát triển bền vững thì đây chính là một trong những nguyên nhân gây ra khủng hoảng niềm tin của cán bộ, đảng viên, người dân, doanh nghiệp và NLĐ. Niềm tin giảm sút, NLĐ sẽ không hợp tác, phối hợp với các cơ quan chức năng, các chủ thể GDPL trong việc tìm hiểu và tuân thủ pháp luật.
6.3. Môi trường văn hóa - xã hội
Điều kiện về văn hóa, xã hội, giáo dục, khoa học và công nghệ có tác động mạnh mẽ đến chất lượng GDPL cho NLĐ. Văn hóa là toàn bộ những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra thông qua hoạt động thực tiễn. Văn hóa là nền tảng tinh thần và là động lực phát triển của xã hội[2]. Xây dựng nền văn hóa lành mạnh, hiện đại, mang đậm bản sắc dân tộc tạo điều kiện giữ gìn nhân cách, suy nghĩ, lối sống tích cực, văn minh của NLĐ. Văn hóa trong lối sống của từng cá nhân sẽ góp phần xây dựng văn hóa cộng đồng, xã hội. Trên nền tảng văn hóa xã hội, văn hóa của NLĐ, ở họ sẽ được bồi dưỡng, hình thành văn hóa pháp lý, hình thành thói quen tích cực “sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật”. Nếu văn hóa được coi là nền tảng, là nội lực của sự phát triển thì văn hóa pháp luật được xem là nội lực để hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập quốc tế hiện nay. Văn hóa pháp luật vừa là một lĩnh vực biểu hiện của văn hóa xã hội nhưng đồng thời cũng là sản phẩm của văn hóa xã hội, chịu sự tác động của các yếu tố như phương thức sản xuất, hệ tư tưởng, văn hóa, đạo đức, lối sống, phong tục tập quán; sự hình thành văn hóa pháp luật của một quốc gia không thể không chịu sự chi phối của văn hóa - xã hội.
Như vậy, các yếu tố tác động và công tác GDPL cho NLĐ trong doanh nghiệp luôn có mối quan hệ biện chứng; sẽ có tác động trực tiếp hoặc gián tiếp, ảnh hưởng tiêu cực hoặc tích cực đến thái độ, nhận thức, hành vi và các điều kiện hỗ trợ cho NLĐ trong tiếp cận với GDPL. Do đó, các chủ thể GDPL, chủ thể được GDPL cũng như các chủ thể có liên quan khác cần có những giải pháp cải thiện, phát huy vai trò của các yếu tố này để có thể mang lại hiệu quả cao, tạo nên những giá trị mong muốn nhất đối với công tác GDPL cho NLĐ, đáp ứng yêu cầu thực tiễn và bối cảnh trong giai đoạn mới.
TS. Ngô Quỳnh Hoa
Phó Cục trưởng Cục Phổ biến, giáo dục pháp luật, Bộ Tư pháp
[1]. Phan Hồng Dương (2014), Giáo dục pháp luật cho sinh viên các trường Đại học không chuyên luật ở Việt Nam, Luận án tiến sĩ Luật học, Học viện Khoa học xã hội, Hà Nội, tr. 1.
[2]. Dương Thành Trung (2015), Giáo dục pháp luật cho đồng bào dân tộc Khmer ở vùng đồng bằng sông Cửu Long Việt Nam, Luận án tiến sĩ Luật học, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội, tr. 65.
(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 1 (Số 386), tháng 8/2023)