Thứ bảy 10/10/2026 06:06
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Các yếu tố xã hội tác động đến hoạt động thực hiện pháp luật về phòng, chống tham nhũng ở nước ta hiện nay

Bài viết phân tích sự tác động của các yếu tố xã hội đến hoạt động thực hiện pháp luật, từ đó, vận dụng phân tích sự tác động này vào hoạt động thực hiện pháp luật về phòng, chống tham nhũng ở nước ta hiện nay.

Ở Việt Nam, trong thời gian qua, những kết quả đạt được trong công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực là rất quan trọng. Nhiều vụ việc, vụ án tham nhũng đã được đưa ra xét xử, từ đó, tham nhũng đang từng bước được kiềm chế, qua đó góp phần giữ vững ổn định chính trị, phát triển kinh tế - xã hội, củng cố niềm tin của nhân dân vào Đảng, Nhà nước.

Trong giai đoạn 2012 - 2022, cấp ủy, ủy ban kiểm tra các cấp đã thi hành kỷ luật 2.740 tổ chức đảng, hơn 167.700 cán bộ, đảng viên, trong đó có 7.390 đảng viên bị kỷ luật do tham nhũng; đã kỷ luật 170 cán bộ thuộc diện Trung ương quản lý, trong đó có 04 Ủy viên Bộ Chính trị, nguyên Ủy viên Bộ Chính trị; 29 Ủy viên Trung ương, nguyên Ủy viên Trung ương; 50 sĩ quan cấp tướng trong lực lượng vũ trang[1]. Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018 được ban hành gồm 10 chương với 96 điều, thay thế Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2005 (được sửa đổi, bổ sung một số điều vào các năm 2007, 2012). Triển khai Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018 cho thấy, nhiều quy định đã đi vào thực tiễn cuộc sống giúp “tham nhũng được kiềm chế, từng bước ngăn chặn và có chiều hướng thuyên giảm, tính từ đầu nhiệm kỳ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII đến nay, Trung ương đã thi hành kỷ luật hơn 90 cán bộ thuộc diện Trung ương quản lý, trong đó có 21 đồng chí Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng (02 Ủy viên Bộ Chính trị), 22 sĩ quan cấp tướng trong lực lượng vũ trang”. Những tháng đầu năm 2020, Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng yêu cầu tập trung đưa ra xét xử sơ thẩm 10 vụ án nghiêm trọng, phức tạp được dư luận xã hội quan tâm[2].

Bên cạnh những kết quả đạt được, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng cũng đánh giá công tác phòng, chống tham nhũng vẫn còn những hạn chế, tồn tại là: “Một số bộ, ban, ngành, địa phương chưa có quyết tâm cao, chưa có sự chuyển biến mạnh. Việc phát hiện, xử lý tham nhũng vẫn còn hạn chế; tỷ lệ thu hồi tài sản tham nhũng, thất thoát còn thấp; việc tự kiểm tra, tự phát hiện và xử lý tham nhũng trong nội bộ, cơ quan, đơn vị còn là khâu yếu. Tình trạng nhũng nhiễu, tiêu cực trong khu vực hành chính, dịch vụ công chưa được ngăn chặn có hiệu quả. Tham nhũng trên một số lĩnh vực vẫn nghiêm trọng, phức tạp, với những biểu hiện ngày càng tinh vi, xảo trá, gây bức xúc trong xã hội. Tham nhũng, tiêu cực vẫn là một trong những “kẻ thù hung ác”, nguy cơ đe dọa sự tồn vong của Đảng và chế độ ta”[3].

Qua các vụ việc tham nhũng bị phát hiện cho thấy, quy mô và độ tinh vi trong các vụ án tham nhũng cũng ngày càng tinh vi, phức tạp với những diễn biến nhanh, khó lường. Tình hình thế giới và khu vực trong thời gian tới, cũng như tình hình trong nước cho thấy công tác phòng, chống tiêu cực còn tiếp tục phải đối mặt với nhiều khó khăn, cần có những giải pháp căn cơ, đột phá để đẩy lùi được tham nhũng, tiêu cực.

Pháp luật về phòng, chống tham nhũng đã và đang đi vào thực tiễn cuộc sống xã hội. Có nhiều yếu tố ảnh hưởng tới việc thực hiện pháp luật, trong đó, các yếu tố về xã hội có sự tác động rất đáng kể đến quá trình thực hiện pháp luật nói chung và pháp luật về phòng, chống tham nhũng nói riêng. Những yếu tố xã hội quan trọng tác động đến quá trình này bao gồm:

1. Yếu tố kinh tế

Yếu tố kinh tế hiểu theo nghĩa rộng bao gồm tổng thể các điều kiện, hoàn cảnh về kinh tế - xã hội, hệ thống chính sách kinh tế, chính sách xã hội và việc triển khai thực hiện, áp dụng chúng trong lĩnh vực xã hội. Yếu tố kinh tế là nền tảng của sự nhận thức hiểu biết pháp luật và thực hiện pháp luật nên có tác động mạnh mẽ tới hoạt động thực hiện pháp luật của các chủ thể pháp luật[4].

Theo khoản 1 Điều 3 Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018, tham nhũng là hành vi của người có chức vụ, quyền hạn lợi dụng chức vụ, quyền hạn đó để vụ lợi. Chúng ta thấy rằng, phần lớn các trường hợp tham nhũng đều nhằm đến mục đích hưởng lợi bất chính. Tham nhũng là những hành vi vụ lợi cá nhân, trong đó, vấn đề lợi ích vật chất được đặt lên hàng đầu. Do đó, yếu tố kinh tế là yếu tố có tác động không nhỏ đến việc thực hiện pháp luật về phòng, chống tham nhũng.

Mọi người dân, trong đó có đội ngũ cán bộ, công chức, đều cần có kinh tế để duy trì sự sống và các nhu cầu cuộc sống. Do đó, khi cuộc sống không được bảo đảm về mặt kinh tế thì cán bộ, công chức, viên chức khó có khả năng duy trì sự liêm chính, mà họ sẽ tìm cách để có thêm thu nhập, bổng lộc từ việc thực thi công vụ.

Môi trường kinh tế thiếu minh bạch sẽ là cơ hội để tham nhũng phát triển. Thực tiễn cuộc sống cho thấy, trong các lĩnh vực về kinh tế dễ dẫn đến các tội phạm liên quan đến tham nhũng. Theo Báo cáo của Chính phủ gửi Quốc hội về công tác phòng, chống tội phạm và vi phạm pháp luật năm 2022, từ ngày 01/10/2021 đến ngày 30/9/2022 đã phát hiện 5.117 vụ phạm tội về trật tự quản lý kinh tế, giảm 36,68%, trong đó khởi tố 2.390 vụ với 4.135 bị can; phát hiện 523 vụ phạm tội về tham nhũng và chức vụ, tăng 40,97%, trong đó khởi tố 501 vụ với 1.211 bị can. Trong 2.390 vụ về kinh tế thì số vụ việc về tham nhũng bị khởi tố chiếm gần 25%. Điều này cho thấy, tỷ lệ các vụ việc về tham nhũng trên tỷ lệ các vụ việc về kinh tế chiếm tỷ trọng rất cao, bởi lẽ lĩnh vực kinh tế là lĩnh vực gắn liền với lợi ích vật chất, vì vậy, các quy định về quản lý kinh tế càng chặt chẽ thì càng hạn chế được tham nhũng, khi các quy định về quản lý kinh tế càng có nhiều kẽ hở thì tham nhũng càng dễ phát sinh. Do đó, pháp luật điều chỉnh các quan hệ kinh tế có tác động đến việc thực hiện pháp luật về phòng, chống tham nhũng.

Đối với những người thực hiện công tác phòng, chống tham nhũng cũng sẽ thực hiện tốt hơn công tác này nếu như họ được bảo đảm các quyền lợi về kinh tế và về tinh thần. Khi vấn đề kinh tế của những người tham gia phòng, chống tham nhũng được bảo đảm sẽ giúp họ tránh việc bị “sa lầy”, “bị thoái hóa” trong thực hiện nhiệm vụ. Như vậy, việc bảo đảm về kinh tế cũng giúp cho việc thực thi pháp luật về phòng, chống tham nhũng tốt hơn.

2. Yếu tố chính trị

Yếu tố chính trị gắn chặt với quyền lực nhà nước. Quyền lực nhà nước được thể hiện thông qua các chủ thể có chức vụ quyền hạn, do đó, quyền lực nhà nước không được kiểm soát chặt chẽ sẽ bị lạm dụng, chiếm đoạt, bị tha hóa thành quyền lực cá nhân biến thành công cụ để thực hiện các hành vi tham nhũng. Dưới góc độ chính trị, nguồn gốc của tham nhũng xuất phát từ hai yếu tố là: Sự tồn tại của quyền lực và sự tận dụng quyền lực để thỏa mãn nhu cầu cá nhân một cách không hợp pháp. Do đó, hệ thống chính trị cần xây dựng được tiêu chuẩn và hệ thống kiểm soát quyền lực để hạn chế tham nhũng, tiêu cực.

Pháp luật về phòng, chống tham nhũng là sự thể chế hóa quan điểm của Đảng về công tác này, tạo cơ sở pháp lý cho tổ chức và hoạt động trong cả nước. Để thực hiện pháp luật về phòng, chống tham nhũng đúng mục tiêu, định hướng, pháp luật thì yếu tố quan điểm, thái độ và quyết tâm chính trị của từng cá nhân, cơ quan, tổ chức, chính quyền có ý nghĩa quyết định đến hiệu quả của công tác này. Thực tế cho thấy, ở thời điểm hệ thống chính trị có quyết tâm đẩy mạnh công tác phòng, chống tham nhũng lên cao thì chính quyền sẽ kịp thời phát hiện, ngăn chặn và đấu tranh với các hiện tượng tham nhũng.

Mặc dù, Luật Phòng, chống tham nhũng đã được ban hành từ năm 2005, nhưng số vụ tham nhũng bị phát hiện trước đây còn ít và cơ bản là các vụ nhỏ, liên quan đến đến những người có chức vụ, quyền hạn không cao trong hệ thống chính trị. Từ năm 2012 khi thành lập Ban Nội chính Trung ương - cơ quan thường trực về phòng, chống tham nhũng của Đảng và với việc ban hành rất nhiều các nghị quyết của Đảng về công tác này, cho đến nay, chúng ta đã chứng kiến rất nhiều các vụ đại án như vụ Việt Á, vụ Vạn Thịnh Phát, vụ Tập đoàn Phúc Sơn, vụ chuyến bay giải cứu… trong đó đều có liên quan đến nhiều nguyên lãnh đạo giữ các vị trí, trọng trách cao trong nhà nước. Kết quả trên cho thấy, công tác phòng, chống tham nhũng phụ thuộc rất lớn vào nhận thức chính trị, quyết tâm chính trị của các cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền. Điều này ảnh hưởng trực tiếp đến thực hiện pháp luật về phòng, chống tham nhũng thông qua các hành động chính trị cụ thể.

3. Yếu tố văn hóa - xã hội

Xét từ góc độ văn hóa - xã hội, tham nhũng xuất phát từ quan điểm lệch lạc và thái độ thiếu tôn trọng giá trị công cộng, giá trị cá nhân. Khi giá trị cá nhân không được coi trọng sẽ dẫn đến xâm hại giá trị công cộng. Việc chống chủ nghĩa cá nhân thái quá dẫn đến cực đoan trong đời sống tinh thần, xã hội. Việc xem nhẹ giá trị cá nhân sẽ dẫn đến thiếu trách nhiệm đối với hành vi của mình, dễ dàng tiếp nhận lợi ích không chính đáng. Sự nhận thức lệch lạc về giá trị cá nhân, giá trị tập thể sẽ dẫn đến tham nhũng tập thể.

Tham nhũng còn được hỗ trợ bởi các yếu tố tiêu cực trong nền văn hóa như văn hóa Á Đông là văn hóa biếu, tặng quà, văn hóa “cảm ơn”. Việc biếu, tặng quà, cảm ơn nếu theo nghĩa tích cực và không đặt nặng vấn đề vật chất thì là hành vi đẹp bày tỏ sự biết ơn của mình với những người thân, những người đã hỗ trợ mình trong cuộc sống và thông thường được thực hiện vào các dịp lễ tết, tuy nhiên, nếu những người lợi dụng văn hóa này theo hướng tiêu cực thì các món quà tặng, sự cảm ơn bằng tiền, bằng rất nhiều tiền để đạt được mục đích cá nhân thì chính là hành vi dẫn đến tham nhũng. Bên cạnh đó, tâm lý tiểu nông, thu vén cá nhân đã dẫn đến tư duy chỉ chăm chăm lợi ích cá nhân, mà không quan tâm đến lợi ích chung, lợi ích tập thể. Đây là khởi nguồn của tham nhũng. Thói quen “trọng tình, trọng nghĩa hơn trọng lý” dẫn đến tình trạng cả nể, vô nguyên tắc, thiếu tôn trọng pháp luật. Tâm lý “dĩ hòa vi quý”, “im lặng là vàng” sẽ dẫn đến việc “thui chột” tinh thần đấu tranh, phòng, chống tham nhũng.

Quan hệ dòng họ, thân tộc, quyến thuộc cũng có tác động tiêu cực đến việc thực hiện pháp luật về phòng, chống tham nhũng, dễ nảy sinh tính cục bộ, lợi dụng, thu được các lợi ích bất hợp pháp.

Công tác truyền thông cũng đóng vai trò quan trọng trong công tác phòng, chống tham nhũng. Truyền thông đối với gương người tốt, việc tốt trong phòng, chống tham nhũng sẽ làm mỗi công dân, cơ quan, tổ chức tự tin, dám đấu tranh với tham nhũng, tiêu cực. Truyền thông về các mặt trái của tham nhũng, kết quả của cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng sẽ giúp cho mỗi cá nhân nhận thức đúng đắn về tham nhũng, từ đó tự hạn chế, loại trừ tham nhũng. Chúng ta cũng thấy rằng, gần đây, mỗi vụ việc tham nhũng bị phát hiện, bị xử lý thì truyền thông chính thống trong nước đã có nhiều bài viết, phân tích, đưa tin về vụ việc một cách khách quan để từ đó định hướng dư luận trong việc tích cực đóng góp cho công cuộc phòng, chống tham nhũng. Tuy nhiên, nếu đọc thông tin từ báo chí phản động trong và ngoài nước thì thấy rằng thông tin có tính suy diễn để bôi nhọ và làm giảm sút uy tín của Đảng. Do đó, việc lãnh đạo, chỉ đạo, kiểm soát công tác truyền thông đóng vai trò vô cùng quan trọng trong việc định hướng dự luận và tạo niềm tin trong công tác phòng, chống tham nhũng.

4. Yếu tố pháp luật

Yếu tố pháp luật là yếu tố rất quan trọng trong việc thực thi pháp luật. Muốn thực hiện được công tác phòng, chống tham nhũng thì cần phải có quy định pháp luật về phòng, chống tham nhũng. Pháp luật sẽ đóng vai trò là cơ sở, là nền tảng và là công cụ để thực hiện công tác phòng, chống tham nhũng. Trong các công cụ thực hiện việc phòng, chống tham nhũng thì công cụ pháp luật là công cụ hữu hiệu nhất. Nếu không có hệ thống các quy định pháp luật về phòng, chống tham nhũng thì không có cơ sở pháp lý để tiến hành các hoạt động phòng ngừa và xử lý tham nhũng. Do đó, khi hệ thống pháp luật về phòng, chống tham nhũng được ban hành đầy đủ, phù hợp với thực tiễn và có tính khả thi cao là điều kiện cần để thực hiện việc phòng ngừa và đấu tranh với tham nhũng. Nhưng nếu hệ thống các quy định pháp luật không đầy đủ, chồng chéo, mâu thuẫn hoặc xa rời thực tế sẽ cản trở quá trình thực hiện pháp luật trong cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng. Quy định pháp luật về phòng, chống tham nhũng càng chặt chẽ, nghiêm minh, hình phạt tương ứng với hành vi tham nhũng thì sẽ hạn chế được tình trạng tham nhũng vì pháp luật có tính răn đe rất cao. Ngược lại, nếu các quy định này không đủ sức răn đe thì sẽ không tạo được sự cảnh tỉnh đối với các cá nhân có khả năng tham nhũng, sẽ dẫn đến “nhờn” pháp luật, sẵn sàng vi phạm pháp luật vì mục đích cao hơn.

Bên cạnh đó, ý thức pháp luật của các cán bộ, công chức, viên chức cũng như của các tổ chức, cá nhân cũng là yếu tố ảnh hưởng đến thực hiện pháp luật về phòng, chống tham nhũng. Ý thức pháp luật được biểu hiện qua các hành vi ứng xử của từng cá nhân cán bộ, công chức, viên chức là bộ phận có cơ hội để thực hiện các hành vi tham nhũng. Vì vậy, nếu cán bộ, công chức, viên chức có ý thức pháp luật cao thì họ sẽ có khả năng lựa chọn hành vi để có sự xử sự đúng đắn trước những cám dỗ của lợi ích, có đủ bản lĩnh để từ chối và giữ được sự liêm chính của mình. Về phía công dân, khi đã có ý thức pháp luật về phòng, chống tham nhũng tốt thì họ sẽ không thực hiện các hành vi tiếp tay cho tham nhũng như hành vi hối lộ và cũng sẽ không ngần ngại, không sợ hãi, không nao núng trước hành vi tham nhũng và sẵn sàng cung cấp thông tin để xử lý các hành vi tham nhũng.

5. Yếu tố hội nhập quốc tế

Hội nhập quốc tế cũng có tác động đến công tác phòng, chống tham nhũng. Khi hội nhập quốc tế các quan hệ giao lưu với các nước trên thế giới được rộng mở, do đó cũng đặt ra thách thức cho công tác phòng, chống tham nhũng, bởi lẽ, tham nhũng sẽ tinh vi, phức tạp hơn khi có sự giao lưu học hỏi các cách thức khác nhau của tham nhũng và sự tiếp tay từ bên ngoài thông qua các hành vi như chuyển tài sản, tiền tham nhũng ra nước ngoài hoặc hành vi rửa tiền của các tổ chức, cá nhân ở nước ngoài vào Việt Nam, trốn ra nước ngoài để tránh việc bị điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án. Bên cạnh đó, hội nhập quốc tế cũng tạo cơ hội cho công tác phòng, chống tham nhũng như việc tham gia các điều ước quốc tế song phương hoặc đa phương về phòng, chống tham nhũng sẽ đòi hỏi các quốc gia phải nỗ lực để thực hiện các cam kết này, đồng thời hội nhập còn là quá trình chia sẻ các kinh nghiệm hay về công tác phòng, chống tham nhũng…

Nhìn chung, tham nhũng xuất phát từ chính bộ máy công quyền, có gắn kết chặt chẽ với quyền lực nhà nước, người có chức vụ, quyền hạn, vì vậy, phòng, chống tham nhũng nói chung, thực hiện pháp luật phòng, chống tham nhũng nói riêng chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố, trong đó quan trọng nhất là các yếu tố về kinh tế, chính trị, văn hóa - xã hội và pháp luật. Việc nhận diện các yếu tố này sẽ giúp cho hoạt động thực hiện pháp luật phòng, chống tham nhũng ở nước ta có những cơ chế phù hợp nhằm phát huy yếu tố tích cực, giảm thiểu tác động trái chiều, giúp cho kết quả của công cuộc phòng, chống tham nhũng đạt kết quả cao hơn./.

Đặng Kim Hoa

Phó Cục trưởng Cục Bổ Trợ tư pháp, Bộ Tư pháp

[1]. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, Đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực: Nhìn lại 10 năm qua; định ra phương hướng nhiệm vụ cho thời gian tới - TIÊU ĐIỂM, Tạp chí Cộng sản (tapchicongsan.org.vn).

[2]. ThS. Nguyễn Văn Hùng, Thực trạng và một số giải pháp phòng, chống tham nhũng ở Việt Nam hiện nay, Tạp chí Tổ chức nhà nước, (tcnn.vn).

[3]. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, Đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực: Nhìn lại 10 năm qua; định ra phương hướng nhiệm vụ cho thời gian tới - TIÊU ĐIỂM, Tạp chí Cộng sản (tapchicongsan.org.vn).

[4]. https://luatduonggia.vn/yeu-to-kinh-te-tac-dong-den-hoat-dong-thuc-hien-phap-luat/, truy cập ngày 20/3/2024.

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 1 (Số 402), tháng 4/2024)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Định danh địa điểm: Bước chuyển quan trọng trong hiện thực hóa chủ trương quản trị hiện đại về đất đai

Định danh địa điểm: Bước chuyển quan trọng trong hiện thực hóa chủ trương quản trị hiện đại về đất đai

Ngày 19/8/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 326/2026/NĐ-CP quy định về định danh địa điểm, đánh dấu bước chuyển quan trọng trong việc thể chế hóa quan điểm, chủ trương của Đảng về chuyển đổi số quốc gia, hiện đại hóa quản lý đất đai, số hóa dữ liệu trên hệ thống quản lý của Nhà nước. Đây là bước đi mang tầm chiến lược, lấy dữ liệu làm nền tảng, người dân và doanh nghiệp làm trung tâm phục vụ. Nghị định số 326/2026/NĐ-CP gồm 04 chương với 18 điều, thiết lập một khung khổ pháp lý đồng bộ, toàn diện cho việc định danh các địa điểm cụ thể trên toàn lãnh thổ quốc gia. Nghị định đã chứa đựng nhiều điểm mới có tính đột phá về tư duy lập pháp và tư duy quản trị hiện đại.
Chăm lo sức khỏe và bảo đảm an sinh cho người dân Thủ đô

Chăm lo sức khỏe và bảo đảm an sinh cho người dân Thủ đô

Với định hướng xây dựng Thủ đô phát triển hiện đại, văn minh, có chất lượng sống ngày càng cao, Luật Thủ đô năm 2026 đã dành 01 điều riêng quy định về những cơ chế, chính sách trong lĩnh vực y tế và an sinh xã hội (Điều 17). Với các quy định tại Điều 17 của Luật đã tạo cơ sở pháp lý để Hà Nội chủ động hơn trong việc tổ chức các dịch vụ chăm sóc sức khỏe, hỗ trợ người dân và từng bước hoàn thiện mạng lưới an sinh xã hội theo hướng toàn diện, bền vững.
Cơ chế thí điểm chính sách mới: Không gian để Hà Nội kiểm nghiệm và hoàn thiện pháp luật

Cơ chế thí điểm chính sách mới: Không gian để Hà Nội kiểm nghiệm và hoàn thiện pháp luật

Luật Thủ đô năm 2026 dành một cơ chế riêng cho Hà Nội trong việc thí điểm các cơ chế, chính sách mới, qua đó tạo thêm không gian để thành phố chủ động xử lý những vấn đề phát sinh từ thực tiễn. Tuy nhiên, quyền thí điểm không phải là quyền "làm khác" không giới hạn, mà được đặt trong khuôn khổ pháp lý với những yêu cầu cụ thể về phạm vi, thời gian, đánh giá tác động, kiểm soát rủi ro và trách nhiệm của cơ quan thực hiện.
Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2026 được ban hành với nhiều điểm mới nhằm khắc phục những khó khăn, vướng mắc của Luật hiện hành; đổi mới hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật theo hướng lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm; bảo đảm quyền tiếp cận pháp luật, quyền tham gia góp ý, phản ánh, kiến nghị về chính sách, pháp luật; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo; đồng thời góp phần xây dựng văn hóa thượng tôn pháp luật và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chủ trương khởi nghiệp sáng tạo tại Việt Nam được Đảng và Nhà nước nhận thức, định hướng trong sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư khi nền sản xuất toàn cầu có sự kết hợp của các công nghệ hiện đại như trí tuệ nhân tạo, Internet of Things (IoT), robot tự động, dữ liệu lớn và nhiều công nghệ tiên tiến khác. Để thúc đẩy, tạo động lực cho cá nhân, tổ chức phát huy đam mê khởi nghiệp sáng tạo, tối đa hóa năng lực, nguồn lực, cống hiến trí tuệ cho sự phát triển chung của đất nước, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế- xã hội, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã từng bước đề ra chủ trương, chính sách pháp luật, chiến lược lâu dài nhằm kiến tạo hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo. Từ định hướng chiến lược tại Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân, đến việc thể chế hóa chủ trương của Đảng trong Luật Khoa học, Công nghệ và đổi mới sáng tạo năm 2025 và Chính phủ cụ thể hóa thông qua Nghị quyết số 86/NQ-CP ban hành Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo. Những chủ trương, chính sách đã góp phần thúc đẩy khởi nghiệp sáng tạo trong hệ thống kinh tế tư nhân trở thành một động lực phát triển quan trọng của đất nước trong kỷ nguyên số.
Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Tại Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI đã thông qua Luật Phát triển đô thị số 18/2026/QH16, Luật có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/10/2026. Luật được kết cấu gồm 05 chương, 66 điều quy định các cơ chế, chính sách nhằm tạo lập hành lang pháp lý ổn định, đồng bộ, đột phá và khả thi để thúc đẩy phát triển Thành phố Hồ Chí Minh, phát triển đô thị đặc biệt khác, thành phố khác và khu kinh tế đặc biệt; bảo đảm cơ sở pháp lý cho việc áp dụng các cơ chế, chính sách đặc thù, vượt trội phù hợp với điều kiện, yêu cầu phát triển và năng lực thực thi của từng địa phương; qua đó khai thác hiệu quả tiềm năng, lợi thế, tạo không gian phát triển mới, thu hút nguồn lực đầu tư chất lượng cao và hình thành các động lực tăng trưởng mới.
Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Trên cơ sở kế thừa những quy định của Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013 đã được thực tiễn chứng minh là phù hợp, Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026 đồng thời bổ sung nhiều quy định để tháo gỡ những vướng mắc, bất cập, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, tạo cơ sở pháp lý đầy đủ, đồng bộ cho công tác hòa giải ở cơ sở.
Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chuyển đổi số trong hoạt động ngân hàng đã làm thay đổi căn bản phương thức xác lập và thực hiện các hợp đồng, giao dịch. Nhiều giao dịch được thực hiện hoàn toàn trên môi trường điện tử thông qua Internet Banking, Mobile Banking, eKYC, chữ ký điện tử, xác thực OTP và các hệ thống ngân hàng lõi (Core Banking). Khi phát sinh tranh chấp, chứng cứ không chỉ là hồ sơ giấy mà còn là dữ liệu điện tử được lưu giữ trên các hệ thống thông tin của ngân hàng và của khách hàng. Mặc dù Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015) và Luật Giao dịch điện tử năm 2023 đã thiết lập cơ sở pháp lý quan trọng cho việc thừa nhận dữ liệu điện tử là nguồn chứng cứ. Tuy nhiên, việc xác định giá trị chứng minh của loại chứng cứ này vẫn còn nhiều khoảng trống cần tiếp tục hoàn thiện.
Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Ngày 25/6/2025, Quốc hội khóa XV đã thông qua Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 (Luật số 89/2025/QH15) đánh dấu bước quan trọng trong tư duy lập pháp, quản lý của Nhà nước đối với hệ thống ngân sách nhà nước, đáp ứng yêu cầu tổ chức mô hình chính quyền địa phương hai cấp trên phạm vi toàn quốc. Bài viết đề cập nội dung của Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 gắn với việc tổ chức mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, làm rõ những kết quả từ việc sửa đổi Luật phù hợp với thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội, tổ chức bộ máy hành chính hiện nay.
THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

Trong cấu trúc an ninh phi truyền thống hiện đại, an ninh năng lượng đóng vai trò là “mạch máu” sống còn, quyết định sức bền kinh tế và vị thế quốc gia. Bước vào giai đoạn 2026 - 2030, trước yêu cầu bứt phá tăng trưởng GDP ở mức hai con số gắn liền với cam kết lịch sử phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050, Việt Nam đứng trước bài toán vừa bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng trước biến động địa chính trị toàn cầu, vừa chủ động chuyển dịch năng lượng xanh theo chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước.
Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp, cải cách thủ tục hành chính tiếp tục được đẩy mạnh gắn với chuyển đổi số, phân cấp, phân quyền và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Kết quả thực hiện trong tháng 8/2026 cho thấy nhiều chuyển biến tích cực, đồng thời đặt ra yêu cầu tiếp tục đồng bộ dữ liệu, hoàn thiện quy trình và nâng cao hiệu quả phối hợp trong cải cách thủ tục hành chính.
Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp về tình hình, kết quả cải cách thủ tục hành chính (TTHC) tháng 8 và nhiệm vụ trọng tâm tháng 9/2026, cải cách TTHC đang chuyển sang một giai đoạn mới, trong đó dữ liệu và công nghệ số ngày càng giữ vai trò quan trọng trong quản trị và tổ chức thực hiện. Việc khai thác, kết nối, chia sẻ dữ liệu để tái cấu trúc quy trình, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục đang từng bước làm thay đổi phương thức quản lý, hướng tới nền hành chính hiện đại, hiệu quả, phục vụ tốt hơn người dân và doanh nghiệp.
Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bài viết phân tích yêu cầu tái cấu trúc phương thức bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong điều kiện tiếp tục tinh gọn tổ chức bộ máy và đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia. Từ cách tiếp cận hệ thống, bài viết làm rõ sự dịch chuyển từ bảo vệ bằng tuyên truyền tuyến tính sang bảo vệ bằng năng lực thể chế hóa, năng lực quản trị và hiệu quả tổ chức thực hiện; đồng thời phân tích vai trò của Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 66-NQ/TW) và Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 57-NQ/TW) như hai trục lớn của quá trình tái cấu trúc này. Trên cơ sở đó, bài viết khảo sát thực tiễn thi hành án dân sự, qua đó cho thấy “gọn hơn về tổ chức, mạnh hơn về quản trị” không chỉ là yêu cầu cải cách hành chính, mà còn là một phương thức củng cố niềm tin của Nhân dân vào hệ thống chính trị.
Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô số 02/2026/QH16 được Quốc hội khóa XVI thông qua ngày 23/4/2026, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026, thay thế Luật Thủ đô số 39/2024/QH15. Với 09 chương, 36 điều, Luật Thủ đô năm 2026 tiếp tục thể chế hóa chủ trương xây dựng Thủ đô Hà Nội trở thành trung tâm chính trị, hành chính quốc gia, trung tâm lớn về kinh tế, văn hóa, khoa học, giáo dục, đào tạo và đổi mới sáng tạo; đồng thời tạo dựng một không gian pháp lý mới với mức độ phân quyền, phân cấp và trao quyền mạnh mẽ hơn cho Thành phố.
THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả không chỉ là giảm bớt hóa đơn tiền điện, mà còn trở thành “chìa khóa” bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, bảo vệ môi trường và hướng tới tăng trưởng xanh. Đứng trước những biến động phức tạp của chuỗi cung ứng toàn cầu, sự ra đời của các văn bản chỉ đạo chiến lược như Chỉ thị số 09/CT-TTg, Chỉ thị số 10/CT-TTg và Công điện số 27/CĐ-TTg từ Chính phủ đang tạo ra những bước ngoặt lớn. Cuộc cách mạng này đòi hỏi sự đồng bộ từ hoàn thiện hành lang pháp lý, đổi mới công nghệ, đến sự thay đổi tư duy và hành động của mỗi người dân, doanh nghiệp.

Theo dõi chúng tôi trên: